Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

NẺO ĐỜI (tiếp-phần 16-tiểu thuyết)

VINH ANH

                                            NẺO ĐỜI

                                                                                                                       Tiểu thuyết



16. Ngọc nhớ năm đầu nhập ngũ, ba chàng lính mới mười lăm, mười sáu, được hưởng cái rét xứ Lạng.  Co ro trong áo bông, chăn bông, đệm rơm mà thích. Áo mượn, chăn mượn, vỏ đệm mượn. Rơm vào làng xin của dân. Cái gì mà lính không có đều đi xin hết. Dân mình sao tốt với bộ đội thế.

          Nghĩ đến cái rét mà thú vị. Đêm hôm trước, bỏ cái đĩa chia thức ăn của lính ra ngoài hè, đổ vào đó một ít nước. Sáng hôm sau í ới gọi nhau xem nước đóng băng trên mặt đĩa. Thích. Dân xứ nhiệt đới, lại ở đồng bằng lấy đâu ra cái rét thấu xương thế này để thấy được nước đóng băng như ở bên Tây. Băng với tuyết chỉ có Liên Xô. Lấy cái sự đóng băng của nước để xác định nhiệt độ ngoài trời. Truyền mồm nhau đêm qua rét năm độ xê.

Vẫn chuyện rét. Sáng báo thức buốt cóng không thể chui khỏi chăn bông đang ấm. Vượt qua được thử thách đó xứng đáng lao động tiên tiến, gương mẫu cuối tuần. Khối thằng không thích tiên tiến, giả ốm. Giả ốm phải nhịn ăn cơm thì nó mới thật, tiểu đội hay trung đội mới tin. Bỏ bữa, đói. Rõ khổ, sướng cái nọ hỏng cái kia. Không vượt qua cửa ải rét buốt thì lại phải vượt cửa ải đói. Vậy thì xin chừa. Ốm một hôm thôi. Sáng hôm sau cố trở dậy, vẫn ra cái vẻ mệt mỏi.






          Lại nhớ cái đói. Tuổi trẻ ăn bao nhiêu cũng đói. Cơm độn sắn khô, mốc, cứng ném cho chó, chó chê, rải đầy mặt bàn ăn. Vừa buông đũa, trên đường từ nhà ăn về nhà, đã thấy đói. Bởi đói nên sinh ra ăn trộm. Trộm vặt, vui là chính.

          Buổi tối, mấy thằng lính táo tợn tìm ra rưộng tăng gia của các “thằng khác”, nhổ trộm một, hai củ su hào, đã được “tia” sẵn từ vài hôm trước rồi. Vội lủi và phi tang thật nhanh. Sáng hôm sau nghe mấy thằng bị mất cắp chửi đổng, mặt tỉnh bơ, ra chỗ vắng ôm bụng cười, tranh nhau kể chiến tích anh hùng.

          Thú vị nhất là trộm bí ngô nấu cháo đêm. Sau hôm lĩnh đường tiêu chuẩn, mỗi thằng lính được ba lạng. Chung lại nấu chè cháo bí ngô. Phải nấu ăn ban đêm. Quả bí ngô tầm tầm năm thằng ăn đã “xin” được từ mấy đêm trước. Nháy trước với thằng gác, nổi lửa. Nồi chè cháo chín rất nhanh. Sở dĩ phải gọi chè cháo vì có một trận tranh cãi về sự khác nhau giữa cháo và chè. Thằng Nhân bảo “Nồi cháo ngon quá” “Chè chứ…” “Cháo hay chè cũng được, miễn là có cái ăn”. Thằng Nhân gắt. Lại nghe thằng lính gác “Cháo phải cho nắm gạo vào cơ” “Lấy đâu ra gạo” “Thôi, chúng mày, vẽ chuyện, gọi chung là chè cháo ”. Nhoáng cái, chỉ nghe tiếng húp xì xụp, cười khúc khích, nồi chè cháo hết. Thỏa mãn cái bụng. Đi ngủ tiếp. Nằm trên giường, bụng căng quá cũng không ngủ được. Hôm sau, gặp nhau, ân hận, hứa, thôi thì lần sau xin chừa.






          Chừa được thật. Lần sau có tụi rủ câu trộm cá để nấu cháo đêm. Nghĩ cũng khoái, định tham gia hội cháo cá đêm. Cũng lý sự vui là chính. Bào chữa như vậy cho nhau. Nhưng nghĩ lần trước đã thề rồi. Thôi, quyết thôi.

          Nhưng những ngày hè thích hơn. Cả ba đứa đều thích leo núi, leo đồi. Sang bên kia Kỳ Lừa, đi vào sau phía động Tam Thanh, Nhị Thanh là đồi rồi. Trên đồi có thành nhà Mạc, có lô cốt của Nhật xây và mấy khẩu pháo hỏng cũng của Nhật. Tất cả đã thành phế tích. Nghe nói thành nhà Mạc như một danh thắng, nếu như ở đâu đó dưới xuôi, có lẽ di tích này được nhiều người biết và chắc sẽ là một điểm tham quan đẹp, không như hôm nay chỉ có ba thằng lính học trò. Ngân và Ngọc nhớ đâu nói đó. Vốn sử của Nhân khá nhất. Nó kể về thời nhà Mạc. Về niên đại, Nhà Mạc cai quản đất nước từ khi nào đến khi nào. Ngọc hỏi tại sao lại xây thành đắp lũy nơi đây? Nó chê hai thằng dốt. Mà dốt thật. Từ nãy chuyện hai đứa nói đúng sai đâu có ai biết. Nhân lặng im nghe hai thằng nói. Mãi sau cậu chàng mới lên tiếng, giọng rất kẻ cả. Để tao nói cho mà nghe:

- Nhà Mạc chiếm ngôi nhà Hậu Lê nên mới sinh ra chiến tranh với nhà Hậu Lê-Trịnh. Người trong một nước mà đánh nhau như thế người ta gọi là “nồi da nấu thịt” đấy, biết chưa? Đó là cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Bởi sao? Bởi ngai vàng, bổng lộc và quyền lợi. Chẳng một chính quyền nào chịu tự giác rời bỏ ngai vàng hết. Một khi người dân chưa phát huy được hết vai trò con người của mình, thì còn chịu áp bức. Không triều đại này thì triều đại khác. Hết Lý đến Trần, Hết Trần lại đến Lê-Hậu Lê ấy. Người dân vẫn chỉ suốt đời là con sâu cái kiến. Thành này nằm trên con đường độc đạo hiểm yếu giữa hai hẻm núi sang Tầu. Ngày xưa nó hoang vu heo hút và làm gì có đường ô-tô. Chỉ độc có đường bộ và đường ngựa thôi. Vì vương hầu và quan lại nhà Hậu Lê-Trịnh mất hết bổng lộc, nên chúng mới sang cầu cứu bên Tầu. Thời gian xây thành này là cuối thế kỷ mười sáu đến giữa thế kỷ mười bảy. Nhà Mạc chỉ nắm quyền cai trị có hơn sáu chục năm và cũng không thiết lập được quyền quản lý trên toàn quốc, chỉ từ Ninh Bình trở ra thôi. “Bài giảng đến đây kết thúc, các em nghỉ.” Nhân vênh mặt.






- Mày đọc ở đâu thế?

- Hôm qua, tao lên thư viện.

- Thảo nào, nói như sách… Mày chỉ được cái ranh ma, khôn lỏi.

- Thế sao chúng mày không khôn lỏi, ranh ma đi…

- Thôi đi lên đồi hái sim đi. Nó khôn kệ nó.

          Cả bọn lại khom người leo đồi. Đồi không có cây to, chỉ toàn một loại cây lúp xúp, mua với sim. Thỉnh thoảng có cây ổi, chắc là do hệ tiêu hóa của chim sinh ra. Những bông hoa mua tím đẹp nhẹ nhàng, dìu dịu. Không thấy mấy hoa sim. Hoa sim bé hơn hoa mua, như là chỉ một sự khiêm tốn của cây cỏ.

           Hoa mua đẹp nhưng lá mua không đẹp, ram ráp lại như có lông. Lá sim nhỏ hơn, xanh thẫm hơn như lá chè tươi nhưng nhỏ và dày hơn, bóng hơn, khác hẳn lá mua. Nhưng trên đồi, nhiều nhất vẫn là cỏ may. Đi một lúc trên đồi, cỏ may găm chạt ống quần. Mệt, ngồi xuống một thảm cỏ xanh, tay liên tục nhổ, gỡ, phủi mãi mà không hết. Nhân nói như thơ: “Cỏ may dệt những đường vơ vẩn mà lại dứt day cuộc đời…”





 Nói đến hoa sim, thằng Nhân lại đố Ngọc và Ngân đọc được bài thơ của Hữu Loan. Ngân có nghe loáng thoáng về Hữu Loan, đâu như Nhân văn-Giai phẩm, phản động gì gì đó. Còn Ngọc có lẽ ngày đó còn đang mải theo xe thuyết minh chiếu phim “ống nhòm”, nên hoàn toàn không biết. Nhân bảo đây là một chuyện tình rất tội, rất đáng thương. Tao nói và chúng mày phải để bụng. Đúng là đang có ý kiến cho ông ta là phản động đấy. Khối ông ở nhóm đó đi tù rồi. Hồi đó mới hòa bình. Tao đọc khối sách của các ông ấy nên khi nghe tin các ông ấy thuộc cái phe phản động, tao vẫn không tin. Chúng mày đi hái sim đi, về tao sẽ kể cho nghe.

Hai thằng nghe Nhân nói, bực, xúm lại, xách tai Nhân đứng dậy. Nhân đau quá, kêu trời: “Thôi để tao cùng đi” “Có vậy chứ!” “Hai đánh một, hèn…”

          Sim nhiều nhưng chưa chín rộ. Vẫn tốt. Cả mấy quả đồi thế này mà chỉ có ba thằng, ăn chán vứt đi không hết. Nhưng ít quả mọng. Quả mọng béo căng tròn, ăn mới ngọt. Quả chín mà dài dài trái xoan thì không ngon bằng. Ngân nói hồi ở quê, phiên chợ vẫn có những người bán sim. Người ta đong bằng bơ sữa bò. Đôi khi mẹ tao đi chợ về, mua cho tao và mấy chị em hàng xóm một bơ. Vừa ăn vừa để dành. Ngon thế! Ngân nói như nuốt cả tuổi thơ ngọt lành của mình vào trong miệng đã tím đen vì sim.

          Chán sim, các chàng cũng mệt, tìm chỗ mát dưới lùm cây, ngả lên thảm cỏ, ngắm trời. Mơ mộng học trò một chút, thả hồn bâng khuâng một chút, cả đăm chiêu ngẫm ngợi một chút. Ngân nhắc Nhân kể về ông Hữu Loan.





- Ông Hữu Loan là bộ đội như bố mẹ bọn mình. Cũng tú tài Tây như bố tao. Làm cán bộ to to ở quê. Lấy vợ. Ông tiếp tục đi chiến đấu, vợ ở quê chết. Ông khóc vợ bằng bài thơ nổi tiếng “Màu tím hoa sim”. Bài thơ có giọng buồn ai oán kiểu “Chinh phụ ngâm”. Nhưng ở Hữu Loan khác, “không chết người trai khói lửa mà chết người em gái hậu phương”. Người con gái chết vẫn cho người đời cảm giác tiếc nuối hơn người trai. Con gái làm đẹp cho đời hơn con trai mà.

- Vậy thì có gì mà ghê. “Viếng bạn” của Hoàng Lộc mà không xót xa à. Ngọc ngắt lời Nhân. Tao thấy “Ông đồ” ngậm ngùi hơn.

- Bình tĩnh! Đúng! Nhưng số phận kia, số phận tác giả kia. Cái quan trọng là thế. “Ông đồ” với “Viếng bạn” thì được in trong sách giáo khoa cho chúng ta học, còn “Màu tím hoa sim” thì cấm. Cấm là gì mày biết không? Là phản động. Phản động đấy…

- Vậy thì tiếp đi… ly kỳ nhỉ?

- Thì vưỡn… Tiếp nhé: “ Số phận ông Hữu Loan long đong lắm. Về quê nhưng không giống như những bậc nho sĩ “cáo ấn từ quan”. Ông này đau hơn, về quê không kèn không trống. Mất sạch. Trình độ tú tài Tây đấy nhé. Về đập đá, nuôi vợ con. Các nho sĩ ngày xưa về quê thì còn được gõ đầu trẻ, làm thầy, người đời vẫn kính trọng. Hữu Loan về kéo xe bò chở đá đi bán. Dính dáng đến hai từ “phản động” là chết luôn, hết đời luôn.”

 Im lặng phủ khắp mấy quả đồi như để các bạn trẻ ngẫm nghĩ về thân phận con người. Mây trắng cứ nhẩn nha bay. Chim cứ hót. Gió cứ thổi. Tất cả đều gắn với một bầu trời tự do. Tuổi học trò áo lính có lẽ thâm trầm hơn tuổi học trò áo trắng.

- Nhưng tao thấy-Nhân tiếp-cảm giác thôi, ông ấy bị oan. Bị oan ra sao? Không có lời giải! Vậy là cái oan nối tiếp cái oan, chất lên lưng ông nhà thơ. Tao như thấy ông oằn mình hơn khi kéo xe bò đá. Sức nặng của oan trái nặng hay sức nặng của những hòn đá nặng. Cả hai đều nặng! Và cuộc đời con người ta như vậy là chấm hết ngay khi vẫn còn hiển hiện sờ sờ trên cõi đời.





Ngày chưa đi lính, tao đọc quảng cáo dán khắp nơi ở Hải Phòng: “Nội dung pháp lý của sở báo chí Trung ương ra thông báo thi hành kỷ luật với báo Nhân Văn” và tao phải đến thư viện đọc mấy số báo đó đấy. Hình như chỉ ra được năm sáu số gì đó thôi thì báo Nhân văn phải đình bản. Thư viện cũng cất luôn. Phải nhờ vả, xin xỏ họ mới cho mượn để đọc tại chỗ. Rồi cũng chẳng nghe ai nói tới nó nữa. Có ai biết gì đâu mà nói ngoài mấy ông “nho sĩ” thời nay. Nhưng mà có dám nói đâu. Báo chí không nói, ra-đi-ô không có. Vậy là im. Tất cả rơi vào im lặng. Ngày đó tao hiểu là mấy ông ấy phản động. Thực ra, ngay hồi bé ấy, đọc “Người người, lớp lớp, Vượt Côn Đảo, Con trâu, Xung Kích” tao không thích. Tao thích “Đất nước đứng lên” hơn. Thích thơ yêu của Xuân Diệu, thích “Núi đôi” của Vũ Cao. Đương nhiên là thích cả “Ông đồ” với “Viếng bạn”.

Có một điều tao không thích. Thơ các ông Hữu Loan, Trần Dần ấy xuống hàng nhiều lắm. Nghe nói học ở ông Mai-a-cốp-xki của Liên Xô. Gọi là thơ bậc thang. Chúng mày đã đọc thơ của ông này chưa? Chưa, đúng không? Ông ấy, cái ông Mai-a ấy, giỏi thơ cách mạng tuyên truyền. Tao xem một bộ phim, ông ấy đứng xem tranh và xem xong mỗi bức tranh, có ngay một câu thơ cổ động. Lại còn nghe hồi Lê-nin ốm, bà Crup-shai-a có đọc thơ của Mai-a cho Lê-nin nghe, có câu “ta tung xi măng cốt thép lên trời”. Lê-nin gần như quát “Thế này mà là thơ hả trời?” Ông Lê-nin nói Mai-a chỉ là cái loa cho  giai cấp vô sản Nga. Vậy đấy! Hồi đó, tao bị coi như trẻ con, nghe hóng hớt, đọc để mà biết chứ ăn thua gì. Nhưng nghe bố tao nói, các ông ấy cũng tranh cãi về học thuật, về đổi mới thơ… Những tính chiến đấu với tính hiện thực, tính hiện đại, tính giai cấp và cả tính Đảng nữa. Có cả đấu tranh với nhau về chức tước, quyền hành, tranh giành ảnh hưởng. Đại loại  thời kỳ ông Hữu Loan sống, làm thơ, làm phu chở đá là như thế. Buồn không?

Ba chàng đứng dậy đi về. Ngọc buông một câu vào đâu đó, chẳng ra nói với ai: “Chính trị và cuộc đời éo le nhỉ? Bố tao bảo, chính trị là xảo trá nhất. Càng tránh xa chính trị càng tốt. Nhưng ông lại hỏi: “Đó là loại người gì…? Chẳng hiểu ông hỏi loại người chính trị hay loại người không chính trị” Im một lúc, lại nói: “Ông bố tao đã dẹp đường cho tao đi” rồi thâm trầm nói với hư không: “Mỗi người một nẻo đường đi, một số phận” mà!
 





 
                                     

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét