Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

KHAI BÚT NĂM NGỌ


Khai bút năm Ngọ

 

Buồn! Đó là bởi sự hoài niệm ngày xưa dồn về quá nhiều; đó là bỗng thấy sự thờ ơ, vô cảm của những người rất gần gũi trong họ hàng và gia đình về những điều sát sườn của cuộc sống; đó là sự ra đi vĩnh viến của thằng bạn thuở thiếu thời. Hơn tất cả đó là nỗi buồn thế sự. Sao mà nó mênh mang, nỗi buồn sáng nay mang tên mênh mang trong tôi, khi mình nhìn thấy những chiếc đèn lồng, cái văn hóa nô dịch chết tiệt nhập về từ phương Bắc.

Sáng nay hơn chín giờ, như mọi năm, muốn tìm sự thanh thản cho cả năm hai vợ chồng thẳng hướng lên chùa, phía Hồ Tây, nơi có đền Quán Thánh và chùa Trấn Quốc.

Tại đền Quán Thánh, hình như năm nay có cái mới hay mọi năm mình không chú ý, giữa sân đền, như mọi năm vẫn treo một lá cờ nhiều mầu nhưng lại có chữ Trấn Bắc. Dẫu rằng nó vẫn như ngày xưa, mình vẫn cứ thích.

Đọc đi đọc lại những bản hướng dẫn và giới thiệu về thời gian xây dựng, về tứ trấn của Hà Nội mà đền này là một trong tứ trấn của Thăng long xưa, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, (Thăng long có tứ trấn gồm đền Quán Thánh, đền Bạch Mã, đền Voi phục, đền Kim Liên), về bức tượng hơn bốn tấn bằng đồng đen, về chiếc khánh và về những vật quý hiện còn ở ngôi đền vẫn thấy nao nao một điều gì anh ách trong dạ.

Hóa ra, cái sự nao nao trong dạ và như bị ngáng ở cổ đó là những chiếc đèn lồng giăng từ ngoài đường vào tận cổng chủa Trấn Quốc mà mình nhìn thấy từ sáng hôm qua (ba mươi tết) khi xuống chợ hoa Quảng Bá. Vốn dĩ trong đầu, Hồ Tây và Trấn Quốc hay Quán Thánh cũng là những địa danh quá đỗi quen rồi. Nhưng từ bao giờ, mình vẫn thích đứng ở phía bìa ngoài chùa Trấn Quốc ngày đầu năm hơn cả để ngắm ra phía hồ xa xa mờ ảo ngoài kia trong gió lạnh và đôi khi có cả tiếng sóng vỗ bờ kia. Cũng rất nhiều lần, đứng phía cây bồ đề được mang từ đất Phật về, được cụ Hồ và tổng thống Ấn Độ, trồng trong khuôn viên chùa, để nhìn cái mái thấp lè tè, có cảm giác khi vào phải cúi đầu xuống không sẽ bị chạm đầu vào mái. Trong ý nghĩ của mình, cái nhỏ bé và sơ sài nó có vẻ thật hơn cái đồ sộ, tân kì như cái cổng chùa mới bị phá vỡ năm nào để được thay bằng cái cổng mới. Mình đến những nơi có tuổi đời trăm năm chỉ thấy thích ngắm cái cũ mà thôi. Có phải cái cũ kĩ nó cho mình cái thật, không giả dối? Các đền chùa từ xa xưa của nước mình có cái nào đồ sộ, nguy nga đâu. Hình như sự nguy nga, đồ sộ trong tâm thức người Việt nó phô trương và kệch cỡm lắm, nó không giống cái tính khí dân tộc ta vốn rất giản dị, nhún nhường, vị tha.

Lại nói về cái ngáng cổ. Dãy đèn lồng nó có ăn nhập gì với ngôi chùa trong không gian và tâm thức của người Việt không nhỉ? Cái văn hóa đèn lồng đỏ nó xuất hiện từ bao giờ, mà có nơi ở Hà Nội ( một khu nhà tập thể ở một phường của quận Hoàng Mai, treo trên cầu thang , làm lối đi tăng cái sự nhập nhèm, ma quái, đỏ loe lóe). Ở Việt Nam, Hội An cũng có văn hóa đèn lồng. Đèn lồng Hội An nhiều kiểu dáng và nhiều màu sắc. Có người giải thích đèn lồng Hội An đã có cách đây năm, sáu trăm năm. Gốc gác của nó cũng là từ những người dân từ Phúc Kiến, Quảng Đông lặn lội tới đây, họ treo đèn trước nhà để tưởng nhớ về quê hương. Hội An chỉ là một thành phố nhỏ, còn Hà Nội nó khác, nó khác nhiều lắm với Hội An, phải không ạ? Đặc biệt, nó lại là điểm du lịch, tham quan và tín ngưỡng của người dân Việt và cả khách quốc tế nữa.

Tôi dám chắc rằng, nếu một ai đó ở cấp không phải Nhân dân (Nhân dân viết hoa như trong Hiến pháp) muốn ca ngợi, để nói về sự kết hợp với một sự hòa nhập “sáng tạo, mới lạ”, muốn nói về sự sáng suốt hay đổi mới, đẹp đẽ lung linh bên một góc hồ mơ mộng, chắc chắn lại sẽ có bài viết ca ngợi ngay lập tức về tính dân tộc hay cái tính chết tiệt (mình xin lỗi) nào đó mà từ lâu mình không muốn nhắc tới.

Vậy là sáng nay, mình quyết bỏ, không vào Trấn Quốc nữa. Bù vào đó, mình nhẹ nhàng cùng vợ tản bộ để ngắm hồ. Cái hồ tưởng đã quá quen thuộc vậy mà sao sáng nay, mình mới thấy có một luồng gió mát thổi vào đầu nhỉ? Những ngày đói khát hối hả đạp xe ngày xưa mải lo chạy ăn nên cũng chẳng mấy khi nhìn ngắm hồ lấy một lần để thấy cái đẹp mênh mông của nó. Hôm nay cũng vậy, bỗng dưng nhận ra hồ Tây có một nỗi buồn mênh mông!

                                                                                                                    (23h59 mùng một tết)

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014




                                              MỪNG XUÂN MỚI

                CHÚC CÁC BẠN VUI VẺ VÀ HẠNH PHÚC


 
 
 
                                                                                                                                                                                                                      ảnh internet

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

NGHĨ VỀ TẾT


Nghĩ về tết “ngày xưa”-
(Viết cho các con) 
 

 

Ngày xưa nhưng mà chưa lâu. Đó là ngày mà các con còn nhỏ, rất nhỏ, mọi việc đều phải nhờ cậy bố mẹ, bởi vừa mới đến tuổi cắp sách đến trường thôi mà. Vậy mà đã trôi vèo hai mươi năm. Đến hôm nay các con đã lớn, đã ra trường và có công ăn việc làm rồi.

Hai mươi năm nhanh là thế và hai mươi năm cũng đọng lâu là thế! Bố nhớ lâu và sẽ nhớ mãi, bởi đó là một thời gian khổ, không phải gian khổ của bom đạn chiến tranh, mà là cái khó khăn của cuộc sống.

Ngày đó, bây giờ nghĩ lại sợ lắm. Nghĩ đến cuộc sống là chỉ thấy những tất bật lo toan về cơm, áo, gạo, tiền. Ngày thường đã vậy, tết càng lo. Thấy thấm thía điều ông bà xưa nói: “Húp cháo quanh năm, no ba ngày tết” lắm. Các con đã chào đời và sống tuổi thơ trong những tháng năm  như thế.

Ngày đó bà con lối xóm sống với nhau chan hòa lắm. Đấy là bố nghĩ thế. Hình như khi không nghĩ nhiều đến bon chen, con người có một vẻ đẹp khác. Ở đây, bố không nói về sự cào bằng mà bố nói về sự đồng cảm. Xã hội chưa phân chia ranh giới rõ nét, con người dễ cởi lòng với nhau hơn. Bây giờ nhiều tuổi rồi, bố ngẫm thấy ngày xưa đó, con người mình thật trong veo, xã hội mình cũng thật trong veo.

Bố nhớ ngày đó, phải trước cả tháng, cái tết đã rục rịch. Nhà Nước rục rịch, nhà nhà cũng rục rịch chuẩn bị cho “no ba ngày tết”. Mẹ con cứ than thở: “Chỉ có ba ngày tết thôi mà cứ lo đờ đẫn…” mà ngày đó mẹ còn trẻ lắm, mới có ba mươi. Mẹ làm vợ, làm mẹ và làm chủ gia đình từ rất sớm. Để lo ba ngày tết được như mọi nhà, mẹ con phải chạy đôn, chạy đáo bán thứ nọ, mua thứ kia. Đến ngay những thứ mà tiêu chuẩn cán bộ công nhân Nhà Nước có tiêu chuẩn, để mua được đầy đủ và ngon lành, cũng là một chiến công. Một chiến công thực sự đấy các con ạ. Điều này hiện nay không thấy có ở các con. Các con thông minh hơn, giỏi giang hơn nhưng các con cũng ỉ lại nhiều hơn bố mẹ ngày xưa. Đó là do hoàn cảnh mỗi người, hoàn cảnh thời cuộc khác nhau, bố không so sánh nhưng bố muốn các con cần phải biết.

Với dân tộc mình, giàu nghèo, sang hèn gì cũng vậy, ngày tết phải gói bánh chưng. Ra đường mọi người chỉ hỏi quanh quẩn về cái nồi bánh chưng. Để được những chiếc bánh chưng hoàn hảo, mọi người đều giúp đỡ lẫn nhau. Chuyện đó là chuyện của những bà chủ nhà. Các bà chủ giúp nhau từ cái lạt buộc cho đến cân gạo, lạng thịt làm nhân. Vui và rôm rả lắm các con ạ. Khi người ta nghèo, tấm lòng người ta lại rộng mở thật lạ lùng. Bố không thật hiểu về bản sắc dân tộc đậm đà mà ngày nay người ta hay nói, nhưng bố thấy những ngày gói bánh, luộc bánh cho ngày tết thì cái tính dân tộc của nhân dân ta cao lắm, đặc sắc lắm.

Bố nhớ nhất một tết. Lần đó bố phải trông nồi bánh chưng nấu chung cùng với mấy gia đình. Khoảng mười một giờ đêm, đang chuẩn bị vớt bánh thì có một người đàn bà già đến ngồi nhờ sưởi ấm. Hỏi chuyện mới biết bà ta trú ở một góc chợ, nơi có những tấm xi măng đúc làm công sự cho đánhs quân xâm lược biên giới phía Bắc, bỏ lại la liệt khắp chốn thời bấy giờ. Ở đó bà già còn một người chồng mù nữa. Bố không nỡ hỏi thêm. Hỏi thêm càng thấy thêm đau khổ ở đời. Bố vớt bánh và biếu bà cụ một cặp bánh chưng của nhà mình để họ ăn tết.

Chẳng hiểu sao chuyện đó hang xóm nhà mình biết được. Vậy là cả năm gia đình đều đòi được nhận phần biếu bánh chưng cho cặp vợ chồng ăn mày kia. Xử lý việc đó cũng đơn giản thôi, ngày hôm sau, đúng giao thừa, năm gia đình cùng góp phần đón xuân với nhau. Cũng chẳng chú ý tục lệ rườm rà, kiêng kị như ngày nay nữa.

Chuyện đã hơn hai chục năm rồi đấy.  Một mùa xuân rất đậm chất dân tộc và đầy tình người phải không các con? Các con hãy nhớ nhé!

 
                                 12/01/2012-ảnh internet
                                                                            

                                                                                               

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

NẺO ĐỜI (tiếp-phần 26)

VINH ANH
                                                 NẺO ĐỜI
                                                                                                                          Tiểu thuyết


26. Hà thi thoảng gửi về Hà Nội những bài ký và tùy bút về thanh niên xung phong và bộ đội trên con đường tuổi trẻ, đặc biệt có một truyện ngắn gần giống với sự thật đã xảy ra. Chuyện kể về quan hệ khăng khít giữa lính công binh và thanh niên xung phong Quảng Bình. Trong truyện có nói về một đôi trai gái. Họ cùng sống chung với nhau trong một mùa vận chuyển trên cổng trời, bảo đảm một cung đường trọng yếu. Chuyện kể cô gái và anh lính bằng tuổi nhau, cô gái không chịu gọi anh xưng em với anh lính. Cuối cùng họ thỏa thuận chỉ gọi nhau bằng tên. Một đêm xe hàng lên rất nhiều. Chiếc xe đầu bị đánh cháy, cả đoàn xe bị ách lại. Nguy cơ mất cả đoàn xe nếu không giải phóng kịp chiếc xe bị cháy. Cô gái và anh lính cùng nhảy lên xe, cho đi tiếp. Cô gái đứng bên ngoài cửa xe chỉ cho anh lính cho xe lao dốc, phá hủy một chiếc xe, cứu cả đoàn. Khi xe lao xuống vực, cô gái bị hất ra ngoài. Anh bộ đội trong ca-bin vẫn bám được vào vành tay lái và thoát được ra. Xe cháy. Cô gái hy sinh. Sau mùa vận chuyển, anh lính được cử đi học sĩ quan để đào tạo các thế hệ nối tiêp sự nghiệp quang vinh của những người giữ cổng trời. Cô gái nằm lại bên cánh rừng  săng lẻ. Đồng đội của cô gái và anh lính bảo cánh rừng lúc nào cũng thoang thoảng mùi hương. Hương thơm tỏa từ một loại hoa dại trên mộ cô gái. Loài hoa chỉ mọc trên mộ những người con gái đồng trinh. Họ bảo nhau gọi đó là hoa “con gái”. Bông hoa dài nhỏ, mảnh dẻ và trắng. Hệt như dáng hình người con gái thơ ngây.

Hà lấy bút danh là Ngân Hà cho các bài viết của mình. Khi mọi người hỏi về nguồn gốc bút danh. Cô trả lời: “Nó liên quan đến một người lính trên “con đường tuổi hai mươi” mà Hà tình cờ gặp. Anh ta lúc nào cũng rất thương các cô gái trẻ phải vật lộn trên đường, phải sống kham khổ. Anh lính lúc nào cũng muốn chìa vai gánh một phần việc cho các cô gái.”

Truyện ngắn được đọc trên đài phát thanh ở chuyên mục “ Dành cho đồng đội đêm khuya”. Một số bạn bè cùng học nghe được, thấy hao hao là giọng của “Ngọc Hà” chứ không phải Ngân Hà. Ngân Hà xa xôi quá, biết người tận nơi nào trong thăm thẳm vũ trụ.

Nhưng một người biết. Đó là Ngọc. Vậy là họ đã nhận ra nhau trên tuyến đường của tuổi trẻ. Thì ra trái đất quá nhỏ bé! Ngọc không biết mình buồn hay vui, chỉ mỉm cười đuyễnh đoãng.

Toán học nói đường thẳng là đường ngắn nhất. Nhưng ai cũng biết, đường đời không phải vậy. Một đích, nhưng có nhiều con đường có thể đi đến. Ngọc muốn tìm đường ngắn nhất. Chẳng kể gì Ngọc, ai cũng muốn vậy. Để thực hiện được điều đó lại không phải tất cả.

Ái tình là một sự ích kỷ của cả hai phía. Từ đây có thể xuất hiện cả mật ngọt lẫn chua cay nọc độc. Chỉ có ái tình mới đủ mạnh để chế ngự, chinh phục hoặc chống lại ái tình. Nó - thần ái tình - có thể là hy vọng và cũng có thể là tuyệt vọng. Nó - thần ái tình - có thể làm kẻ phàm phu thành tráng sĩ hay thành nhà thơ. Ái tình luôn đòi đổi mới và những cuộc tranh luận, những cuộc cãi vã, những sự đỏng đảnh, giận dỗi chính là một sự đổi mới của yêu đương. Sau những phút giây sóng gió, người đang yêu lại có thể lao vào ái tình mãnh liệt hơn.

Ngọc biết những điều đó nhưng Ngọc không sa đà vào chuyện ái tình. Ngọc biết tự kiềm chế. Ở mỗi một góc nhìn, người ta có thể có những đánh giá khác nhau. Mỗi con người có một chí hướng riêng. Trong tình yêu với Hà, Ngọc  không hoàn toàn vô tư. Ở nhiều góc độ, đều có sự tính toán. Thường những tính toán đó, Ngọc đều xét đến cả hai người và luôn cố tìm lời giải hay nhất. Không thể trách Ngọc được về điểm này. Bản tính con người vốn tự trời cho.

“Tình yêu luôn là sự khám phá. Đừng bao giờ để nó cạn khô, cũ kỹ. Tình yêu là nghệ thuật, trong mắt nhau luôn cần có sự đổi mới. Nếu cạn kiệt hết tài trí thì tình yêu cũng như nghệ thuật đều có thể đi đến nỗi bất hạnh.” Những câu nói của các bậc tiền bối như đã trở thành các bài giảng trong sách giáo khoa mà sao đến bây giờ mình mới thâm thấm một chút nhỉ. Chẳng lẽ mình chưa già mà đã cũ? Cái cũ của mình bắt nguồn từ đâu? Mình bắt nhịp với cuộc đời quá nhanh nên cũng bỏ tuổi trẻ quá nhanh? Hà không vậy và Ngân chắc càng không vậy. Tối hôm nó đi, nó vẫn vô tư, còn nói khả năng sẽ vào sâu, khó gặp lại. Vậy mà vẫn vô tư khi trả lời câu hỏi thẳng thừng, hóc búa của Nhân. Nó nói nó không nghĩ ngợi nhiều, vẫn đấy bầu nhiệt huyết tuổi trẻ. Nghĩa là nó trong sáng. Người đi vào chốn hiểm nguy thường có một tâm trạng u uẩn. Vậy mà nó trong sáng. Nó chưa dính bụi bẩn cuộc đời như mình.

Có phải Hà từng nhận xét, mình luôn lặp lại những điều cũ kỹ. Người nghe một lần không sao, người nghe nhiều lần thấy nhàm chán. Liệu có phải mình đang tạo ra sự nhàm chán với người mình yêu? Nhưng muốn có một sự đổi mới, đặc biệt trong tư duy, đâu phải dễ. Muốn vậy phải thay đổi môi trường sống. Thay đổi môi trường sống, đâu có dễ, đâu tự quyết được. Một loạt những vấn đề xã hội được Ngọc đưa ra để lý giải cái sự khó của mình.

Thực ra, quyết tâm đi vào tuyến lửa công tác như Hà đâu phải khó. Cái khó nhất là vượt qua mình. Đấy không phải là điều gì mới mẻ với Ngọc. Ngọc có thể biết cả lý thuyết lẫn thực tế và có thể có được một thuyết trình nghiêm túc về nó. Nhưng nói và làm về cùng một vấn đề là hai việc rất khác nhau. Nói dấn thân liệu có dám dấn thân, nói hy sinh liệu có dám hy sinh, nói từ bỏ đặc quyền đặc lợi liệu có dám từ bỏ đặc quyền đặc lợi… Cuộc sống của con người vẫn tồn tại các vấn đề như thế.

Cũng một sự tình cờ khác, ngoài ý muốn của Ngọc, một cán bộ theo dõi công tác cán bộ khoa học được dự một buổi giảng của Ngọc về “Chính quyền nhân dân”. Ngọc bỗng được để ý và ít lâu sau, có quyết định điều động Ngọc về công tác tại Tổng cục. Sau này, Ngọc mới biết nguyên do, vị đó chính là bạn của mẹ Ngọc trong kháng chiến chống Pháp, thời mà cuộc sống của anh bộ đội còn gian nan, vất vả. Thời đó người ta quý nhau và thương nhau thật lòng.

Lại một sự kiện khiến Ngọc thấy cuộc đời là sự liên kết của một mớ những sợi dây rối rắm, không lường được. Một lần, Ngọc đã nói với hai thằng bạn thân “cần có người đỡ đầu mới có thể thăng tiến nhanh được”. Điều này có nghiệm vào mình không?

Do được điều về cơ quan cấp cao, tầm nhìn của Ngọc cũng mở rộng. Nhiều vấn đề mà trước đây không thể hay biết thì nay lại là chuyện hàng ngày. Thí dụ sinh động nhất là chuyện đề bạt, điều động. Thời buổi chiến tranh, mọi công việc đều có thể nói là bị cuốn vào guồng ào ào, ầm ầm. Điều động cán bộ là có sự lên chức,  là đi chỗ nọ, đến chỗ kia, điều mà mọi người đều rất quan tâm, nhưng nhiều khi được ngụy trang rất khéo bằng ngôn từ chuẩn mực “phục tùng sự phân công của tổ chức”. Vui cũng như buồn, câu nói đó che đậy được tất. Nhưng điều đó nhiều khi cũng mới chỉ là “chuyện tập một”, chuyện của những tập tiếp theo mới là chuyện dài dài, đáng suy ngẫm.

Có một điều rất con người mà đến khi lên cơ quan cấp trên, Ngọc mới hiểu kỹ và buồn cười cho sự ngây ngô ngày xưa của mình. Từ ngày vào bộ đội, rồi vào trường sĩ quan, để gặp được một vị lãnh đạo, với một học viên, hầu như đó là chuyện không bao giờ có thể. Đến cấp tiểu đoàn thôi cũng khó gặp huống chi là cao nữa. Tự dưng, giữa một thằng lính và một ông chỉ huy có khoảng cách, khoảng cách càng xa khi ông cán bộ càng cao. Giải thích được điều đó cũng không khó. Nó là một điều dễ hiểu khi cấp chức, tuổi tác, cả sự thụ hưởng đều khác nhau và vậy là ông cán bộ cấp trên thành một ông “khó gần”. Đương nhiên, với lính tráng cấp dưới, việc xảy ra xung quanh ông là một màng mờ ảo. Càng mờ ảo thì cảm như uy tín của ông cán bộ càng cao, càng được thần thánh lên.

Những ngày đó, Ngọc cũng chẳng bao giờ thèm biết đến cái cơ quan quản lý phần hồn, nghĩa là cơ quan quản lý lý lịch mình, quyết định cho mình đi đâu về đâu, khi nào thăng quân hàm cho mình. Mọi sự xảy ra chỉ có một ý nghĩ đơn giản, làm theo sự phân công của tổ chức.

Nhưng về đây, thấy nhiều cái khác. Đời thường mà vô cùng phức tạp. Đời thường ở đây còn có thể hiểu thêm nữa về nghĩa: nó trần trụi và nhơm nhớp những bụi bặm và mồ hôi cuộc đời. Còn cuộc đời, vốn được hiểu từ ngày xưa, thì nó bị che đậy, nó không thật, nó giả. Nhiều điều giả lắm nhưng mà phải nói như thật. Ở đây, nó mới thật là cuộc đời. Nó không phô ra những cái gì là bẩn thỉu, gian giảo, xảo quyệt nhưng lại vẫn có thể nhận ra những bẩn thỉu, gian giảo, xảo quyệt và cũng thật ngậm ngùi cho nhiều thân phận.

Một hôm, tình cờ đứng cạnh một đôi rất đẹp. Một trung úy trẻ măng, rất học trò. Chắc cậu ta chỉ bằng tuổi Ngọc. Bên cạnh là một cô gái Hà Nội chính hiệu, còn trẻ nhiều so với Hà, nét thanh xuân vẫn lộ trên khuôn mặt có lúm đồng tiền rất sâu. Ngọc nghe loáng thoáng: “Ai bảo học lắm vào cho nó sinh bệnh. Thôi chẳng gì phải lo, ở lại càng được gần nhau. Anh đi, em cũng không thích đâu” “Thì anh đâu muốn xa em lúc này” “Vậy thì tiếc nỗi gì?” “Tức! Cái thằng thế chân anh, có hơn gì anh… Nó vin cớ anh đau dạ dày. Đau dạ dày mà ở chiến trường thì được, còn đi nước ngoài không được. Vậy có tức không? Nghe nói nó quen biết ông cục phó…” Thì ra là thế! Chuyện đấy tớ biết ối… Ngọc cười, chẳng ra một nụ cười.

Ngọc ở cơ quan tổng cục, đại bản doanh đóng tại Thủ đô, nhưng có nhiều bộ phận đi sơ tán ra ngoại vi thành phố và tất cả vẫn hưởng mọi tiêu chuẩn chế độ lính chiến. Tiêu chuẩn không có gì khác nhau nhưng “gia giảm” lại khá hơn thằng lính chiến trường nhiều. Bọn Ngân, lính chiến xịn, chẳng có gì ngoài mấy phong lương khô. Cũng may bởi là lính pháo cơ giới, nhờ cái xe nó vác cho, nếu không, có bao nhiêu cũng chén hết, chén đi cho nó nhẹ, chén đi lỡ chết không được chén. Đường sữa cũng rất hiếm hoi, phần cho mấy thằng không may bị thương. Ngọc đã thấy những nét mặt hớn hở khi cán bộ các cấp được chia thêm khẩu phần như thịt, như gạo, như dầu đun, như xà phòng… để mang về phụ thêm cho gia đình. Toàn là những loại nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống. Cái phần thêm thắt đó nhiều khi làm tăng giá trị cho một sự gắn kết, đảm bảo sự bền vững của cuộc sống. Nhưng gia đình Ngọc thì đâu có. Vậy đấy, đã ở ngay Hà Nội, vẫn còn được thêm thắt, còn thằng ở chiến trường, thiệt đủ điều. Mà chắc cái thiệt lớn nhất của nó là cái sinh mạng. Người lính cũng như bất cứ ai vào chiến trường phục vụ đều quý nhất cái sinh mạng, những thứ khác đều là phù du.

Hà trở lại Hà Nội dịp này. Tư tưởng thoải mái. Thu lượm qua một chuyến công tác bằng cả mấy năm đèn sách. Cái lớn nhất mà Hà nhận được là tình người. Ở nơi gian khó, nguy hiểm vào bậc nhất này, sự sống và cái chết cách nhau chỉ trong gang tấc, tình cảm con người thể hiện thật rõ. Cái nghĩa đồng bào, đồng đội không nơi nào thể hiện bằng nơi đây. Lòng yêu nước của người dân nơi đây cũng thể hiện rõ nét nhất. Nhiều gia đình Hà ở nhờ tạm vài ba bữa, nhà cũng không còn là nhà. Tất cả như đã cống hiến cho Tổ quốc. Khẩu hiệu “xe chưa qua, nhà không tiếc” chính khởi xướng từ đây. Hà đã khóc hết nước mắt vì sự ra đi của những người bạn đồng trang lứa bởi bom đạn giặc, bởi những trận sốt rét tàn phá thân thể con gái và cả những thiếu thốn tình cảm mà chỉ có là phụ nữ, mới thông cảm được  với nhau.

Gặp lại Hà Nội, Hà phải mất mấy ngày để quen lại với tiện nghi, với nước máy, đèn điện, xe đạp, tầu điện và cả với Hà Nội nữa… Trong đầu lúc nào cũng lâng lâng, hóa ra ta đã trở lại. Tiếng bom không còn nữa, tiếng máy bay cũng không thấy và đặc biệt là không còn những cung đường nhày nhụa, lở loét đã bao ngày đêm cùng các bạn vật lộn, đảm bảo cho xe thông suốt. Đôi khi bạn bè bắt gặp ở Hà nụ cười ngơ ngác. Mới chỉ non một năm, chiến tranh, bom đạn, sự sống, cái chết đã làm thay đổi tâm tính con người biết là bao!

Người bạn đầu tiên Hà nhớ là Sen. Chiều thứ bảy, nghe tin Hà đến, Sen ào xuống như một cơn gió. Trước mắt Sen không phải là chị Hà ngày xưa nữa: “ Chị Hà bây giờ cũng sương gió và chinh chiến như những cô thanh niên xung phong làm đường hay trên đường tải đạn… Chị mặc bộ quân phục bạc mầu vẫn còn đang chứa đầy hơi thở của con đường tuổi trẻ và của cả rừng núi miền Tây Quảng Bình. Những cơn mưa rừng, những con lũ, những trận bom có trong bộ quần áo rất thời chiến của Hà…” Sen ôm ngang người chị, hít hít và bập bõm từng câu như vậy qua vai Hà.

- Chị có gặp anh Ngân không? Em đoán là có, bởi thấy chị “Ngân Hà” lắm. Chắc anh Ngân cũng vậy. Anh ấy còn “hiệp sĩ và phong sương” nhiều nữa không? Em rất nhớ anh ấy. Chị nói đi, anh ấy thế nào?

Sen định kéo Hà lên phòng mình ở ký túc xá nhưng lại thôi: “Chỗ em bây giờ đông lắm, đi ra bãi cỏ ngoài kia ngồi đi chị. Chị về hẳn chưa? Ở đây chỉ thi thoảng gặp anh Ngọc thôi. Anh Ngọc sơ tán ở xa, anh ấy biết chị về chưa? Anh Nhân thì đến luôn nếu không đi công tác.

- Chưa gặp ai hết, gặp em thôi. Mọi người rồi sẽ gặp. Không phải sốt ruột. Nói chuyện em đi.

- Chuyện em nói làm gì, chuyện chị cơ. Chị có bài báo nào là em đọc hết. Anh Ngọc còn lên tận đài phát thanh lấy cái truyện ngắn của chị về cho em đọc đấy. Chị tuyệt vời lắm. Bọn em cứ bàn về kết cục của cô gái với chàng công binh của chị. Sao chị không cho cô ấy sống, bắt chị ấy chết, tiếc quá, thương quá. Làm con gái thiệt thòi quá.

- Nhân vật của chị hy sinh thật mà. Kỷ niệm đau xót của chiến tranh đấy em ạ. Mong đừng có những câu chuyện như vậy với chị em chúng mình.

- Nhưng mà sao chị lại không ký tên Ngọc Hà? Ngọc Hà vừa là Hà Nội của chị, vừa là tình yêu của chị. Sen nhìn Hà thăm dò.

- Con bé này chỉ hỏi vớ vẩn. Tên đó nhiều người lấy rồi.

- Em nghĩ khác. Ngân Hà xa xôi lắm và có lẽ chị cũng nhiều tâm tư. Tâm tư của chị chắc cũng mênh mông như dải Ngân Hà. Nói với em được không?

- Được rồi, chuyện đó nói sau. Dài lắm! Em sắp ra trường chưa? Yêu ai chưa? Có chàng trai nào níu được áo em ở lại Hà thành?

- Em còn một năm nữa. Bạn bè nó cứ bảo em kiêu, chúng nó chẳng hiểu gì cả, phải không chị. Chỉ có chị mới hiểu em thôi. Chẳng ai hiểu em hết.

- Lại Nhân phải không? Vẫn coi như cô bé quàng khăn đỏ chứ gì? Hay đấy! Để chị nói chuyện với Nhân. Ai lại người ta thế này mà cứ coi như trẻ con.

- Ứ nói chuyện anh Nhân. Thế anh Ngọc thì sao? Anh ấy dạo này có lẽ “quan trọng” lắm. Đúng là Ngọc “già”. Thoáng qua thôi: “Anh bận lắm”, rồi đi ngay. May ra có chị mới giữ được anh ấy. Kể cả anh Nhân cũng không giữ được.

- Vậy a? Mà chắc gì chị giữ được. Con người ta dễ thay đổi lắm… Cái thuở tinh khôi như em không còn nữa rồi. Giá mà… Em cứ trong veo thế này mãi nhỉ. Chị em mình ở với nhau, được không?

Hà ngong ngóng nhìn ra ngoài, nơi cổng trường tấp nập người vào ra. Các bóng nữ sinh nhẹ nhàng lướt như gió thoảng, các chàng trai gọn ghẽ và đỏm dáng, lịch sự đi đón người yêu. Xe đạp đứng khắp nơi, cả ngoài cổng và trong khuôn viên nhà trường.

Vẫn thanh bình như ngày xưa. Hà Nội mình vẫn vậy, đáng yêu và da diết nhớ khi xa. Vậy mà sao mấy ngày nay về lại Hà Nội, vẫn nôn nao nhớ các bạn trên “con đường tuổi trẻ”. Chúng nó bây giờ đang chuẩn bị lên tuyến. Từ bữa đó đến nay lòng cứ không yên, thương chúng nó quá. Đứa nào sắp hết hạn được về. Được về lại ôm nhau khóc, y như hôm tiễn mình thôi. Thanh niên hỏa tuyến thì ngắn hạn nhưng cũng nhiều kỷ niệm sâu sắc lắm. Sâu sắc nhất chắc là kỷ niệm một thời con gái. Thời con gái là thời của yêu đương mà chúng ta lại lên đây mở đường. Mấy ai đã được sống những phút giây như chúng ta, các bạn nhỉ? Nhưng thanh niên xung phong đa phần đã biên chế vào các tổng đội. Bọn này gian khổ chẳng khác mấy anh công binh. Số phận cuộc đời sao trao cho người con gái nhiều thử thách thế? “Muộn rồi chị ơi.” “Không, đợi chút đã, chị đã hẹn Nhân đến đây cùng đi chơi rồi” “Em không muốn đi cùng anh ấy…” “Thôi nào, chị sẽ nói rằng em đã lớn, đồng ý không?” Hà bừng tỉnh vì giọng nói dỗi hờn của cô bé. “Ta cùng ra cổng đón Nhân nào”.

 

 

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

CHÚNG TA ĐANG LƠ LỬNG... (ngẫm nghĩ)


Chúng ta đang lơ lửng trong cuộc đời này

 

Chúng ta là nước Việt Nam, người Việt Nam, là 80% hay 90% nhân dân lao động bình thường ấy. Nói vậy là đã xác định được ngôi vị chủ thể. Còn ở đâu? Đã nói là trong cuộc đời rồi còn gì. Nhưng mà cuộc đời thì mênh mông, thậm chí nhiều khi cái nghĩa cuộc đời rất mơ hồ. Thí dụ, ta hiểu cuộc đời là toàn bộ cuộc sống xã hội, cả cái môi trường mà ta sống và mọi sự diễn biến xảy ra trong nó. Liệu ta có hiểu nó được không và hiểu theo góc độ nào. Ôi chao, phức tạp lắm. Mỗi người có thể hiểu theo một cách. Vậy nên với một người bình thường hiểu nó cũng mơ hồ thôi, ai ở góc độ nào cũng chỉ biết về góc độ đó. Để có một cái nhìn tổng thể và khách quan, không dễ!

                Cụ thể hơn nữa, theo cách hiểu của từng người, cuộc đời nó cũng rộng hẹp, nông sâu, cao thấp, tốt xấu khác nhau… khó xác định lắm. Để dễ hiểu lại lấy một thí dụ, một anh nhà quê mà nếu sống ở nơi xa lơ xa lắc như Mù cang chải chẳng hạn, có cái nhìn cuộc đời khác với một anh viên chức thành phố. Anh viên chức thành phố này cũng có cuộc đời khác anh viên chức thành phố kia. Chung qui nó khác nhau vì cái nhìn, vì quan niệm, vì vị trí mà cuộc sống từng người bị cuộc đời tác dụng vào.

Nhưng trong mỗi con người có cái thống nhất được, đó là lòng yêu nước. Yêu nước là yêu Tổ quốc, là yêu cái nơi mà mình sinh ra và lớn lên, yêu cái mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn và con người mình. Có một câu nói rất hay: “Với mỗi đứa trẻ, điều đầu tiên phải dạy cho nó là lòng yêu Tổ quốc và mẹ của nó.” Vậy là yêu nước hay yêu Tổ quốc là một mẫu số chung cho mỗi con người chúng ta.

Ngày xưa chưa lâu đâu, năm 1975 trở về trước, những người lính hai miền Nam-Bắc nước ta đều cầm súng bắn vào nhau và đều được tuyên truyền là để bảo vệ Tổ quốc. Đấy là do chỗ đứng khác nhau, góc nhìn khác nhau nên đã xảy cuộc chiến tương tàn. Chẳng thiếu trường hợp anh em đồng bào, máu mủ đi bắn giết lẫn nhau. Nhưng đến cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, năm 1979, cả nước chúng ta đã có một cái nhìn cơ bản giống nhau và những người lính đều cầm súng để bảo vệ Tổ quốc của mình. Điều đó xảy ra là do thời thế đã khác.

Vậy mà hôm nay, đất nước im tiếng súng, cớ sao lòng người tứ tán thế? Mẫu số chung để chỉ lòng yêu nước đã không còn nữa, có nghĩa là lòng yêu nước đã được hiểu theo những kiểu cách khác nhau, đối ngược nhau y như cái thời chưa xa trước năm 1975 vậy. Mất bao nhiêu xương máu để đi đến sự thống nhất lại để tuột mất. Và bây giờ chúng ta đang ở trong cái mớ bùng nhùng, tự ta làm khó cho ta.

Thực ra hồi trẻ, khi nghe nói mù mờ đâu đó “lịch sử chọn ta làm điểm tựa” dù chẳng biết có thật là có những ai người ta đặt hy vọng vào mình và dân tộc mình hay không, vẫn cứ thấy khoái. Cái khoái của sự kiêu hãnh ngu dốt mà không biết mình ngu dốt. Đáng thương thay!

Còn hôm nay, khi thế giới người ta phăng phăng đi lên, để lại mình phía sau mấy chục năm, chúng ta vẫn cứ khăng khăng ôm lấy cái mớ lí thuyết lạc hậu có khoảng cách của độ dài thời gian cả hai thế kỉ. Vẫn cố tình không hiểu chúng ta đang ở chỗ nào của cuộc đời đang biến đổi như vũ bão, vẫn đi nói và bắt dân chúng làm những điều cũ kĩ mà người ta đã vất đi từ lâu. Thậm chí, ngay tại cái nước phát minh ra mớ lí thuyết đó, họ cũng chẳng sĩ diện gì là người phát minh cả. Khi sản phẩm đã là thứ bỏ đi, thì hoặc bị chôn vùi theo năm tháng lịch sử hoặc để trong viện bảo tàng ghi dấu ấn một thời. Có lẽ ở nơi đó, người ta hiểu sâu sắc câu nói “chẳng có gì trên đời là bất biến, là vĩnh cửu”.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải biết thực lực của mình, đừng bị ảo tưởng huyễn hoặc bởi những điều mù mờ. Một nước gần trăm triệu dân, đứng hàng thứ mười ba trên thế giới là một nước lớn. Nhưng nếu cuộc sống của người dân cũng đứng thứ mười ba trên thế giới thì hãy tự hào. Còn nếu như hàng năm cứ chen nhau đi xuất khẩu lao động, xuất khẩu phụ nữ, kêu gọi sự giúp đỡ này nọ của thế giới thì phải biết xấu hổ, đáng xấu hổ mới phải. Hãy thử nghĩ, hãy tự đặt mình vào hoàn cảnh của những người có những người thân trong gia đình, một ngày nào đó, sẽ thăm thẳm biền biệt ở một phương trời xa xôi nào đó?



Chúng ta có quá khứ vinh quang, có lịch sử đáng tự hào và phải biết khơi dạy điều đó. Thời mà dân tộc ta dám khắc trên cánh tay hai chữ “sát Thát” là một thời oanh liệt. Ngày đó, dân nước Nam này có được chục triệu không? Chắc không đến. Nhưng đã ba lần đại phá quân Nguyên, đội quân làm khuynh đảo thế giới một thời, giữ gìn toàn vẹn bời cõi. Đáng tự hào quá chứ! Vậy hà cớ gì, thời nay, khi mức độ giác ngộ và hiểu biết của nhân dân đã ở trình độ cao, thì ta lại không dám chỉ mặt những kẻ xâm lược, vạch trần những thế lực hắc ám, lại cứ lưỡng lự, phân vân, đắn đo, chọn lựa.

Những người lãnh đạo chắc hẳn biết rõ câu của ngài thủ tướng quá cố nước Anh thời thế chiến thứ hai “Không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi của dân tộc là vĩnh cửu”. Vâng, nếu hiểu như vậy, ta hẳn biết cách chọn lựa bạn và nhận diện kẻ thù.

Phải dám nhìn vào sự thật, đừng giả dối và bám lấy những gì cổ cựu đáng phải vứt bỏ, đừng huênh hoang cái oanh liệt một thời và phải nhớ rằng nhân dân mình rất vị tha, không bao giờ đánh kẻ chạy lại. Hãy vì sự tồn vong của dân tộc, của đất nước để tạo nên sự hòa hợp và sức mạnh. Quay lại là bờ, là bám chắc vào đất.

Đừng lơ lửng chân không đến đất, cật không đến trời nữa!

 
  Vinh Anh-2/10/2013
Ngày xử Lê Quốc Quân
ảnh internet

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

PHỐ CỔ VÀ HỒ TÂY (tản văn)


 Phố cổ và Hồ Tây

 

Đang ngồi bên quán cóc liêu xiêu ở phố cổ, bất chợt nhớ câu thơ mới của Việt Phương “Một mảnh Hồ Tây bé tí teo/cũng mênh mông phiêu diêu ngút ngát/ một phố cổ tiêu điều xơ xác/ cũng nâng niu cây lạc cành xiêu...” Thích thú với câu thơ vì cảm thấy hình như câu thơ nói hộ mình cái gì vẫn muốn nói mà chưa nói được, vương vướng trong người, rồi thì như được thoát ra, người nhẹ bẫng. Ngồi lại và ngắm nghía thêm một lúc, chỉ thấy nườm nượp người và xe. Sự ồn ào phố xá xua đi cái buồn cô đơn này, cái buồn cô đơn khác lại ập đến. Mà lạ, phải trong cái hoàn cảnh đang ngồi ở phố cổ mới thấy thấm thía.

 

Hoá ra, mình yêu phố cổ cũng chỉ là yêu theo cái kiểu mình là cư dân sống ở đất Hà thành, hời hợt lắm, cứ như là phải yêu, chẳng lẽ không yêu, không yêu không thành được người Hà Nội. Có ông bạn ở phố Cầu Gỗ, ngày xưa, nhà có ba anh em trai đều có gia đình riêng, tất cả ở chung với một mẹ già. Mỗi hộ, nghĩa là mỗi gia đình ấy, có một chiếc giường với những rèm che mềm mại ngăn cách, bà mẹ già cũng có ngăn riêng. Không hiểu họ sống thế nào. Sau này được sửa chữa, cơi nới gì đó, mỗi gia đình có một phòng riêng. Nghe nói khoản thủ tục cho cái chuyện cơi nới cũng trần ai lắm. Sợ và bực mình, không muốn nghe tiếp. Nghe nói, cũng chỉ nghe nói thôi, còn vô khối gia đình như vậy. Thôi thì nếu yêu để mà oai, mình xin nhường cái oai đó, mình về sống ở ngoại thành cũ, vừa mới lên phố cách đây một năm, oách chán!

 

Đứng dậy bởi một vị khách, một thiếu phụ dắt tay một đứa bé chừng năm tuổi mới đến, ăn mặc rất diêm dúa và vẻ mặt rất sáng sủa, hương thơm son phấn ngào ngạt: “Cho một cà phê lóng nhé” và cúi xuống đứa bé đang ngậm trong mồm miếng xôi “Sao nâu thế, không luốt đi!”. Mất bao cái duyên, cái đẹp của phố Phái rồi!

 

Thì vậy đấy, cái lõi của phố cổ bây giờ là sự pha tạp và xuống cấp. Mình nói xuống cấp không hiểu có động chạm với ai và ở đâu không. Nhưng mà nghĩ thế thì nói thế. Những Hàng Bạc, Hàng Thiếc, Hàng Chiếu, Hàng Đồng... đâu đó vẫn có chút duyên xưa lởn vởn. Nó ẩn trong nét khuất thời gian, ở những ông bà già da mồi tóc bạc ngẫm nhiều hơn nói, ở những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làm nên các sản phẩm được đặt làm tặng phẩm cho cỡ nguyên thủ quốc gia. Và với mình, nhìn thấy các cụ với hình hài vóc dáng cổ xưa đó, mình mới thấy thật là “phố cổ”. Cái cổ nó thấm vào thời gian và đấy mới là lõi. Nét đơn sơ, mộc mạc trong sự cần mẫn và chí cốt với nghề thể hiện trên từng nếp nhăn vầng trán và con mắt. Tình yêu nghề cứ như thoảng đâu đó xa xăm. Bởi với sự phát triển của khoa học, của xã hội, mình thấy ở các cụ có điều tiếc nuối. Phải chấp nhận thôi! Tất cả rồi sẽ đi vào hoài niệm. Nhưng mình không thích sự diêm dúa, sao chép, đua đòi, trưởng giả. Phố cổ bây giờ cứ như là “giả cổ” ấy. Cả con người cũng vậy. Họ bảo họ ở phố cổ. Cứ như là những nét tinh hoa của ngàn năm văn hiến đã ngấm vào họ ấy. Có phải vậy mà nhìn phố cổ, mình không thấy nét đẹp, nét tinh hoa và cả cách cư xử tinh tế. Nhưng người ta vẫn khen. Thì bây giờ ai khen thì cứ khen, khen theo phong trào, nếu có lời nói lại đôi khi lại mang tiếng. Còn mấy ngôi nhà trăm năm hãy cứ cố giữ, và theo mình, đừng làm nó tiêu điều thêm. “Những ngôi nhà rêu phong cổ xưa ơi/ nét xù xì...mãi rồi hoá cũ/ cứ lẳng lặng đứng giữa đời như là hoang bỏ/ không được xây, nhà mái cứ xiêu dần/ nên trở thành cũ kĩ , chênh vênh...” Có phải vậy mà mình đồng cảm với Việt Phương.

 

Vậy là rời quán cóc liêu xiêu vài phút sau ra đến Hồ Tây. Cái hồ mà ông Việt Phương bảo là bé tí teo ấy. Ra đâ thấy đầy gió. Những ngọn gió tươi rũ sạch cái ồn ào bụi bặm phố phường. Gió thổi và sóng trên hồ vỗ mạnh. Mênh mang tầm mắt đấy chứ, ngút ngát mây trời đấy chứ. Ra với thiên nhiên, thấy tự tin hơn, cái quê kiểng nơi mình không bị ai nhòm ngó. Bọn trẻ sánh vai nhau, chúng nó đẹp quá. Con đường ven hồ vắng tanh. Mong rằng cái vắng tanh tinh khôi hoang sơ thơm ngai ngái mùi cây cỏ và nước hồ tanh tanh này được duy trì đừng để các quán hàng liêu xiêu lấn chiếm. Những hàng cây con mới trồng chỉ vài năm nữa là chúng sẽ chìa tay cuốn lấy nhau, bóng sẽ lại phủ kín mặt đường che cái ánh nắng chói chang của tháng năm, của mùa hè. Rồi sẽ lại hình thành những lối đi của tình yêu, của ước mơ như ngày nào mình cầm tay người ấy của mình trên đường Cổ ngư và thầm thì ngỏ lời yêu đầu đời run rảy.

 


Ấn tượng nhất là những ông “Phùng Quán” thời hiện tại. Các ông vô tư hơn Phùng Quán ngày xưa. Cám ơn cái “mảnh hồ tí teo này” đã nâng và đỡ thêm phần nào vào cuộc sống vật chất những năm khó khăn của ông. Cả quãng dài ven hồ vài ba cây số, những chiếc cần câu vươn ra mặt nước. Tôi lại thấy cái an bình của Thăng Long cổ xưa. Hình như đâu đây vẫn thấy “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ lầu cũ lâu đài bóng tịch dương” hoà lẫn trong cái ồn ào đô thị ngày nay.Tôi thoáng thấy những cô gái trong trang phục “mớ bảy mớ ba” dịu dàng, kín đáo của làng dâu tằm, như thấy đầm sen quê mẹ đang làm dịu mầu nắng bởi dải mây xanh mướt màn của lá sen, tôi thấy làng quê của tôi với cánh đồng và con sông làng nho nhỏ... Chỉ mấy bước chân thôi mà mình đã sang một thế giới khác, thế giới của thủa xa xưa tinh khiết, tâm hồn thuần chất và đôn hậu. Khát vọng của con người gắn với tự nhiên thật mật thiết và bền chặt.

 

Rồi cái oi bức của phố cổ được giải toả bằng cơn mưa. Chắc người phố cổ và cả mấy quận nội thành nữa bớt ngột ngạt đi nhiều lắm. Gió trời quyện hơi nước tươi rói chẳng máy lạnh nào sánh nổi. Cả triệu con người được hưởng cái mát lành trong đó có Hồ Tây tạo ra. Đứng ngắm Hồ Tây trong mưa mà xuýt xoa cho ý tưởng con đường ngầm định xuyên qua đáy hồ. Ôi, Hồ Tây thiêng liêng như vậy thì mong rằng mỗi đụng chạm vào nó hãy coi như là đụng chạm vào lịch sử tổ tiên chúng ta, mọi động thái của chúng ta với hồ đều rất cần cẩn trọng.

 

Tôi trú mưa trong nhà bát giác, nghe thấy ồn ào tiếng chim non bên trường Chu Văn An. Ngôi trường được vinh dự mang tên ông thầy đã có một hành động đầy khí phách bất khuất của kẻ sĩ để người đời mãi mãi kính phục. Sĩ phu Thăng Long là như thế. Đất nước này sẽ vẫn còn những con người như Thầy khi nước nhà nguy biến.

 

   

     30/07/09 
 
  ảnh internet 

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

HỎI (thơ)


 Hái

 

CÊp trªn hái: Ta cßn trung víi §¶ng?

LËp tøc tr¶ lêi lµ lÏ ®ư­¬ng nhiªn

Còng bëi v× cuéc sèng vµ lîi riªng

Ta ®ư­îc hư­ëng tõ lßng trung víi §¶ng.

 

B¹n ta hái: Cã cßn trung víi §¶ng?

Che mÆt cư­êi: mµy hái l¹ lïng chi

Thõa biÕt råi, sao cßn hái, nhiÒu khi

Lµm khã nãi, th«i im ®i, tù biÕt!

 

Ng­êi d©n hái: Ngµi cßn trung víi §¶ng?

Ngät ngµo, nhÑ nhµng, t«i hái l¹i: Cßn «ng?

Vµ cïng cư­êi, vai s¸nh gi÷a phè ®«ng

Ng¾m dßng nư­íc, nh×n dßng ®êi xoay chuyÓn

 

Con ta hái: Bè cßn trung víi §¶ng?

Nãi lµm sao cho con hiÓu ®ư­îc m×nh

Ta dèi ch©n thµnh, con l¼ng lÆng lµm thinh

Bëi cuéc sèng, bè cßn trung víi §¶ng.

 

Ta tù hái: Ta cßn trung víi §¶ng?

Lêi thÒ n¨m x­a v¨ng v¼ng ®ã c¬ mµ

Lý tư­ëng ta m¬, vÉn ë ®©u rÊt xa

Vµ ta thÊy ta th× xư­a mµ §¶ng ®ang ®æi míi.
 
 2000

 

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

TIẾNG HÁT MÙA XUÂN (tản văn)


 
Tiếng hát mùa xuân

                            




 

Tôi sinh ra ở thành phố. Từ đời ông tôi, cả gia đình đã chuyển ra thành phố sinh sống. Cách mạng thành công, rồi kháng chiến, rồi chiến tranh. Ngày đó tôi còn bé, chắc chỉ độ chín mười tuổi. Bởi chiến tranh, tôi được gửi về quê, nhờ họ hàng chăm sóc. Vậy là tôi may hơn số anh em trong nhà, được biết quê. Tôi được hưởng hương vị quê mùa dân dã, biết cánh đồng óng ả ngày mùa,  biết chăn trâu, biết thế nào là hai sương một nắng và biết nhiều thứ mà sau này, mãi là kỉ niệm của tôi.

Tôi nhớ nhiều những ngày đông tháng giá. Khi những tia nắng vàng yếu ớt rải trên mái tranh, rải trên đường làng bụi bặm và khô khốc, hơi ấm của mùa xuân như bắt đầu nhen nhúm, bọn trẻ chăn trâu chúng tôi tụ tập lại trên bãi trống, mỗi đứa một chân một tay, nhặt nhạnh tất cả những gì có thể đốt được. Chúng tôi đốt lửa và xoa xít kêu rét. Khói lửa cuộn lên và chúng tôi cùng hơ tay lên đống lửa, những bàn tay bé xíu, gầy guộc.

Chợ làng tôi họp hàng ngày. Chợ họp trên bãi trống đầu làng, là nơi giáp ranh của đến những năm thôn khác nhau. Nếu không phải phiên chính, chợ đông nhất vào lúc mặt trời mới nhú khỏi ngọn tre và trong chốc lát, nắng găn gắt một chút, chợ lại vắng teo, để lại trên bãi trống vô số là rơm rác, rau dưa và vỏ bánh trái. Người vắng, chợ trơ ra những mái lều xiêu vẹo, quặt quẹo, gió thổi bay lất phất, rõ vẻ tiêu điều, nét đặc trưng làng quê ta hồi đó. Những ngày nghỉ học, tôi thích được đi chợ với bác tôi. Bác tôi không có con trai, nên tôi được bác chiều lắm. Nghe nói, ngay từ ngày tôi mới đẻ, bác đã nhận là cha đỡ đầu của tôi.

Ngay cửa chợ có một cây gạo. Không biết có tự bao giờ, những người già trong làng lớp lớp kế tiếp đều nói “Khi đẻ ra đã có nó rồi”. Thân cây thẳng tắp và cao. Dưới gốc gạo là tuềnh toàng một quán bán nước, một quán cắt tóc và đôi khi, những phiên chợ chính, là chỗ hành nghề của gia đình vợ chồng xẩm già. Ông bà xẩm có một đứa con gái trạc tuổi tôi. Gia đình xẩm này lang thang đi kiếm ăn khắp chốn làng quê, cứ nơi nào có hội hè, đông người là họ có mặt.

Lâu lâu không nghe vợ ông xẩm và đứa con gái hát là tôi lại nhớ. Nhớ nhất là giọng hát của con bé. Tôi thường nghe đám người nghe hát nói với nhau: “Cóc cụ đẻ ra cóc vàng”.

Quả thật, ngoài cái bề ngoài rách rưới, nghèo khổ, con bé có giọng hát rất ngọt ngào và trong trẻo. Tiếng nhị cò cưa của ông xẩm già nghe cứ ngang phè khe khé càng làm cho giọng của nó nổi lên mướt mát. Nét mặt gầy gò vì đói ăn nhưng thanh tú và hiền lành như thiên thần. Người ta đồn là vợ chồng ông già nhặt được nó cũng ở cửa chợ một vùng công giáo. Thảo nào, gương mặt nó dịu dàng, thánh thiện thế.

Bao giờ cũng vậy, sau tiếng dạo đầu chua loét vang lên từ cây nhị cũ kĩ, èo uột và sứt sẹo, là giọng ca sầu não ai oán của bà xẩm già. Mọi người bắt đầu xúm lại thành vòng tròn. Cứ độ có gần hai chục người xem là con bé hát. Con bé đóng vai kép chính của gánh xẩm. Tự nó cũng biết như vậy. Tôi ngồi phệt xuống đất vòng trong cùng, sát ngay mẹ nó. Tôi thấy nó nhìn tôi khang khác, hình như nó nhận được mặt tôi. Tôi không dám nhìn vào mắt nó, đôi mắt to và buồn vô tận.

Nó hát từ “Chinh phụ ngâm”, đến “con cò lặn lội”, chuyển sang “anh lính trấn ải nơi biên cương Cao Bằng”. Không hiểu sao, bài nào cũng buồn não nề, bài nào cũng thấy gió bụi xa ngái và heo hút cô đơn. Người nghe cứ lặng đi, tôi cũng 聣ứ lặng đi theo từng câu hát. Như聮g tôi thấy có một ánh gì ấm áp khi nó nhìn tôi- tôi cảm thấy!nó hay nhìn tôi và mặt tôi nóng bừng. Tôi thương cho người cô phụ, thương anhȠlính trấn ải lưu đồn- thương con cò l麷n lội và tôi thương nó. Nó cũng mong manh, phất phơ như cây lau cây sậy bên bờ sông gió bấc.

Con bé hát xong, cầm cái nón mê đã mất vành ngoài của mẹ, đi vòng một lượt. Chờ người nghe vất vào đó những đồng xu lẻ, những tờ giấy bạc nhàu nhĩ. Nó không đến chỗ tôi ngồi. Tôi cũng đã chuẩn bị một hào, tiền của bác tôi cho. Tôi có cảm tưởng, tờ giấy bạc cứ ngó ngoáy trong túi quần của tôi.

Khi chợ đã vãn, mọi người đã ra về, tôi đến bên nó, đưa cho nó đồng một hào và cái bánh rán mà bác tôi vừa cho. Nó nhìn tôi cười. Tôi nghĩ đó là nắng ấm và mùa xuân. Tôi quên cả rét. Mùa xuân đã về thật rồi!
 
1/09-ảnh internet

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

NẺO ĐỜI (tiếp phầnf25)

VINH ANH

                                            NẺO ĐỜI
                                                                                                                        tiểu thuyết

Ngày      tháng      năm

          Cứ nhìn thấy biển bao la là mình thấy ước mơ trào dâng. Lần trước ngắm từ Đèo Ngang. “Bao nhiêu người làm thơ Đèo Ngang / mà quên mất còn đường chạy dọc”. Mình thích câu thơ này của ông nhà thơ là dân 559, có lẽ vì cùng là lính với nhau. Con đường chạy dọc người ta cũng viết nhiều đấy chứ, nhưng rõ ràng về biển thì còn viết ít lắm. Biển của mình bị nó khống chế hết. Cực lắm, ra ngoài khơi xa xa là bị pháo hạm, máy bay “tiu” chết ngay. Biển coi như bị nó phong tỏa. Thủy lôi, tàu chiến, máy bay…coi như bị nó phong tỏa. Vậy là hết. Nhà ông ngư phủ mà lính mình đóng quân, ngủ nhờ mấy hôm ở gần Cửa Hội đấy, tối đi sáng về cứ như công nhân đi làm ca “đánh loanh quanh thôi chú ạ”. Mọi bữa đi vài ba ngày, chừ không ra xa được nữa…quanh quẩn trong lộng kiếm vài con nhì nhằng…”

          Biển với ngư dân là môi trường kiếm sống, nhưng với mình, mình lãng mạn hơn, biển là tượng trưng cho trí tưởng tượng bao la. Nó sâu thăm thẳm và vô cùng bí ẩn. Có nhà khoa học đã nói “con người đã khám phá ra các hành tinh xa xôi cách trái đất chúng ta hàng ngàn, hàng vạn năm ánh sáng, nhưng với lòng đất, lòng biển đã biết gì nhiều về nó đâu”. Mình cứ nghĩ, nếu như chúng ta chỉ lợi dụng được con sóng biển thôi…cũng ăn cả đời không hết… Ấy vậy mà cứ để nó rì rào suốt ngày đêm, lúc thì thở than, lúc thì nổi trận lôi đình, khi thì êm êm nghe biển hát, khi thì dào dạt trào dâng. Nhiều lúc con sóng rất rách việc!

          Nhớ hồi đầu tới Quảng Bình, có ai được ra biển đâu. Ngay bãi biển thôi cũng không được ra. Tầu chiến nó chiếm hết mặt biển, trực thăng nó bay sát bãi biển, dò xét, nhòm ngó. Ngày đó, mấy cái cảng bị phong tỏa bằng thủy lôi, tầu hàng không vào được, thuyền ta không ra được,  gạo nằm chết dí trên tầu Hồng Kỳ Trung Quốc. Vậy là tầu chở gạo chi viện cho ta đậu chơ vơ, cô đơn trên biển, còn dân thì không có gạo ăn. Chẳng có cách nào chuyển tải. Chẳng có cái gì thoát khỏi mắt cái  trực thăng bay trên đầu. Bọn Mỹ biết tầu Trung Quốc chỉ còn mỗi biện pháp là thả đại gạo xuống biển, vậy là thấy cái gì bồng bềnh trên biển là nó bắn, chẳng mấy bao gạo “bơi” đến được bờ. Sáng sớm, mấy ông dân quân bám biển của ta đi tuần, may ra kiếm được một bao. Thật đúng là bực mà không làm gì được nó. Nhịn như nhịn cơm sống.

          Ờ mà mình nghĩ, cái lão Trung Quốc này cũng nhát thật. Cứ hô hào Việt Nam mình đánh Mỹ, bám biển. Vậy mà mấy ông chỉ đứng trên tầu thả mấy bao gạo ủng hộ. Rõ chán mớ đời! Sao không cắm cờ Trung Quốc, chở gạo bằng mấy cái xuồng máy, lao thẳng vào bờ. Nắn gân nó một chút xem sao. Chung quy cũng chỉ dân mình chịu thiệt mà thôi. Mấy bao gạo dạt vào đến bờ, ăn được mấy bữa?

 

Ngày      tháng       năm

Hôm chia tay ở Hà Nội, thằng Nhân có hỏi mình, đại loại là, cùng với thời gian trôi, suy nghĩ con người cũng thay đổi, nhiệt huyết và bầu máu nóng của tuổi trẻ cũng thay đổi. Cuộc chiến càng ngày càng cam go, chiến tranh kéo dài làm mệt mỏi mọi người, hành động thoái thác, chối bỏ nhiệm vụ xuất hiện ngày càng nhiều. Những đắn đo về hơn thiệt, khôn dại, được mất sẽ tác động đến từng con người trong chiến tranh và cả sau chiến tranh…Mình trả lời là mình ở nơi rừng rú, không có thông tin, không biết nhiều và những vấn đề đó không ảnh hưởng đến mình, mình vẫn hăng hái, nhiệt tình như thuở ban đầu. Vậy đấy, thế là mình không thật. Mình giả dối, mình sĩ diện. Chỉ có một điều đúng với lương tâm mình, hồi đó, mình sẵn sàng đi B dài không “đắn đo”. Tại sao mình lại nháy nháy từ đắn đo? Đắn đo chứ, nhất định có đắn đo nhưng mình thấy việc đi là đúng, là nghĩa vụ và trách nhiệm không thể trốn tránh, vậy nên mình vượt qua. Thế là mình vào đây, xông pha lửa đạn và trưởng thành. Bây giờ Nhân có hỏi mình nghĩ thế nào, mình sẽ trả lời nó đúng những gì mình đã nghĩ từ trước tới nay. Với nó, mình không dấu diếm nhưng với nhiều người khác thì không thể nói vậy được. Không thể vậy được. Có nghĩa là mình sống không thật. Liệu trong trường hợp này, tìm được ai trên đời cơ chứ?

Hôm nay ở đây, biển đẹp thế này, ngư trường giàu có thế này, mà ngư dân đâu dám ra ngoài khơi đánh cá. Vì sao? Đều là vì sinh mạng sống của con người. Ra ngoài khơi đánh cá cầm bằng với cái chết. Ai muốn chết? Chẳng ai cả. Vậy tuyên truyền cho sự xả thân, không nên cứng nhắc. Cách nói và tuyên truyền của chúng ta cứng quá, vào nhiều chỗ nguy hiểm mà cứ như là vào chỗ vui chơi.  Sự thật gian khổ, sự thật ác liệt, sự thật phải đổ máu hy sinh đều cần được nói rõ. Chuyện làm lễ tiễn đưa như tế sống các chiến sĩ đi tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ là một ví dụ. Người giác ngộ sẽ biết và sẽ tự nguyện dấn thân.

Cuộc sống đâu phải mầu hồng. Ngay khi đất nước không còn chiến tranh, cuộc sống đâu cũng chỉ mầu hồng. Thậm chí khi chiến tranh kết thúc, cuộc chiến đấu chống cái đói, cái nghèo để khôi phục lại “cái ngày xưa” vẫn còn tiếp dài dài. Khắc phục được hậu quả của chiến tranh đâu phải ngày một ngày hai. Có khi lúc đó, tư tưởng công thần, địa vị còn nặng nề hơn. Lợi lộc, xa hoa, quyền quý xóa hết tình vua tôi. Lịch sử nước mình là như vậy đấy. Những ông vua ban đầu nhờ vào lòng yêu nước của nhân dân, sự hy sinh và máu đào của nhân dân, dành được ngai vàng. Nhưng hậu duệ của họ thì không được như vậy. Càng ngày càng xa rời dân, sống hoan lạc và quyết bấu víu ngai vàng, mặc dân thống khổ, để rồi lại mất nước. Chu trình đó từng đã lặp đi lặp lại với bao triều  vua ở nước ta. Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn, triều nào cũng thế. Cuối cùng, vẫn là người dân chịu đau thương, thiệt hại.

Chúng ta nói nhiều đến lý tưởng. Thực ra, nói lý tưởng nghe có vẻ cao siêu và cách mạng quá. Cứ lấy mấy nhà nghiên cứu khoa học ra mà hỏi, lý tưởng của các ông ấy là gì? Tìm tòi, khám phá, phát minh chứ còn gì nữa. Nhưng các ông ấy không nói đến cái từ lý tưởng. “Lý tưởng” nghe rất máu lửa, cao sang, khó với. Câu nói nhẹ hơn, dễ chấp nhận, đó là mục đích sống. 

Mục đích cuộc sống hay lý tưởng cuộc sống ở trên đời thay đổi theo hệ tư tưởng xã hội. Xã hội Tư bản và xã hội Xã hội chủ nghĩa có những mục tiêu khác nhau. Vì thế, nhiều quan điểm của những lớp người sống ở hai chế độ xã hội đó về cuộc sống cũng khác nhau. Không hiểu có đúng không? Phải hỏi ông bạn “chính trị viên” Ngọc. Thực ra, đứng về phía con người, mình vẫn thấy cái điều sâu xa giống nhau của hai chế độ. Đó là họ, những người lính, đều ngã xuống vì Tổ quốc. Vậy là cả hai phía, chắc chắn họ vẫn là những người anh hùng. Vì họ được tuyên truyền sự hy sinh đó đều là vì Tổ quốc của mình. Hình như ở đây có vấn đề. Chỉ nhìn vấn đề với quan điểm người Việt, những người lính Cộng hòa họ bảo vệ Tổ quốc hay là họ bán nước. Nếu nói họ bán nước thì họ có nói mình bán nước không? Chắc có. Vậy thì chỉ có thể, chúng ta, cả Cộng hòa và cả Xã hội đều chết vì bảo vệ cho các chế độ khác nhau, mà nếu như là ngày xưa, thì họ cũng là những người lính chết để bảo vệ ngai vàng cho vua chúa mà thôi. Đúng không nhỉ? Lại phải hỏi ông “chính trị viên” của mình thôi. Nhưng có lẽ…

 

Ngày      tháng      năm

Cuộc đời đẹp nhất là gì nhỉ? Câu hỏi đó đã có nhiều luận bàn và trả lời và mình đều thấy không thật, còn khiên cưỡng, thậm chí nhiều trường hợp còn thấy xốc nổi và bồng bột. Mình thấy các câu trả lời chưa đậm tính người. Vứt bỏ đi những vỏ bọc giả dối, không chính trị, không tuyên truyền, không giáo dục, không tạo dáng đánh bóng…Và mình chọn câu này: “được sống trong tình yêu thương.” Chỉ vậy thôi và bỏ đi hết những cái đuôi, những từ ngữ giải thích phía sau.

Mình đang ở lứa tuổi yêu. Và bây giờ đang ở độ tuổi của tình yêu lứa đôi, giữa nam và nữ. Đã qua tình yêu thuở học trò với đơn thuần chỉ là yêu qua cử chỉ, hình dáng, tiếng nói, thái độ…Hồi đó sao mà… đẹp thế. Chẳng còn thiết gì cả. Mình yêu gì ở Sen? Không thật rõ và vì vậy thật khó trả lời. Có lẽ là yêu tất cả những gì thuộc về cô bé. Cái gì cũng thấy hay hay. Đó là vì vẻ đẹp nửa trẻ con, nửa thiếu nữ đập ngay vào mắt. Đó là vì giọng nói con gái cao cao thanh thanh. Đó là vì cái dáng mong manh, hồn nhiên. Đó là vì… cô bé rất có cảm tình với bộ đội. Có lẽ còn nhiều nữa,  thí dụ như, mình  cảm thấy cô bé đảm đang vì cô ấy là chị cả, mình thấy cô bé sẽ rất đẹp vì bây giờ đã đẹp… Nhưng có lẽ mình yêu chính vì sự hấp dẫn của sự khác giới. Đó là quy luật của tình yêu nam nữ.

Những ngày đó mình cứ tê mê sướng, cứ coi như là đã được yêu. Chỉ bởi hai thằng bạn chết tiệt cứ vun vào và coi như Sen đã là của mình. Cái ý “của mình” có lẽ vì chúng nó cho là mình đã phát hiện ra bông hoa rừng, tìm được cô sơn nữ, và lao vào như… mặc dù cô bé đó còn chưa hết lớn.

Vậy đấy, bảo nó là thoáng qua thì nó là thoáng qua. Nhưng bảo nó là nguyên khôi, trinh nguyên, đầu đời, trong sáng, không thể quên thì… nó chính là như thế. Còn bây giờ mình yêu Sen bằng tình yêu người anh. Mình nhận thấy rõ như vậy. Chắc như vậy. Kỷ niệm những ngày trên xứ Lạng là kỷ niệm đẹp nhất của thời niên thiếu sang tuổi thanh niên. Cả ba thằng hồi đó chẳng vụ lợi gì hết. Nghĩ cái gì là cứ thông thốc nói ra để tìm cách thực hiện. Biết nghĩ sâu xa gì đâu, may ra có thằng Ngọc “già”. Để bây giờ nó làm “chính trị viên” thật đúng.

 

Cả cái ngày học sĩ quan hậu cần nữa. Tự dưng “Để ta nhớ” rồi thì đọc thơ. Cái giọng đọc của mình có được là từ cái ngày theo rạp phim “ống nhòm”. Không hiểu bây giờ cái rạp đó còn tồn tại hay không, ông chủ rạp còn sống hay chết, mười mấy năm rồi còn gì? Ôi thế mà nhanh khiếp. Mấy cô nữ sinh mộng mơ nữa. Những hôm mưa rừng, nằm trên võng, nghĩ thích lắm, thấy đời mình rất đẹp, con gái cứ vây quanh… Nếu không có những kỷ niệm đó mang theo vào đây thì buồn lắm. Mình coi đó là những vật kỷ niệm thình thoảng lại giở ra xem.

Nhưng có lẽ thích nhất là đọc bài thơ viết dở. Mỗi lần mở sổ, đọc lại, lại thấy bâng khuâng, thấy nhớ và muốn làm thơ tiếp tặng “nàng”. Có thể vì bài thơ viết dở đó mà mình phát hiện ra mình “có tài” làm thơ. Thầy giáo bảo cái nghề dầu mỡ… “Cách ba cây số còn nghe mùi dầu”, bọn con gái nó tránh xa. Vậy mà cái số…Ừ, giá mà biết được tương lai nhỉ?

 

Vậy đã phải là sống trong tình thương chưa? Hoàn toàn chưa đầy đủ, bởi mới chỉ đơn thuần là tình yêu đôi lứa. Những ngày ở rừng, mình thấy quý và thương bạn bè lắm. Hôm kéo khẩu pháo và cái xe đổ ở đường 20 là một ví dụ. Bọn thanh niên xung phong, toàn con gái, nơi bom đạn, sốt rét, rụng tóc, xanh mét làn da, nhạt nhòa gương mặt… Mình thấy thương, tình thương đồng loại, tình thương đẩy trách nhiệm nam nhi lên cao… Nghĩ cả về tình yêu của cô bạn gái. Nếu điều bất ngờ xấu nhất  xảy ra với cô ta… Sao Ngọc không đi mà Hà lại đi, mình thắc mắc quá. Đúng là số phận trớ trêu… Bây giờ chúng nó đang vai kề vai trên đường “Thanh niên”, nói những điều về ngày mai thanh bình…

 Mình được bao bọc bởi đồng đội, cùng đồng đội vượt qua lửa đạn… Sau mỗi lần như vậy, thiếu đứa nào là thấy lòng xót xa như muối xát. Biết bao lần mình cầu mong, lạy giời, đừng lấy đi của tôi đứa nào nữa, hết thảy chúng nó đều là anh em của tôi.

Tình yêu, tình bạn, tình đồng đội trong chiến đấu… đã đầy đủ cái nghĩa của “sống trong tình thương” chưa nhỉ? Mình vẫn phân vân, hình như vẫn thiếu. Vậy mình đòi hỏi có nhiều quá không? Không biết nữa, nhưng vẫn thấy chưa đủ, vẫn chưa yên… cái nghĩa của tình thương nó bao la lắm. Đọc lên hai tiếng “tình thương”, cảm thấy sự ấm áp của ánh mắt nhìn, nhìn thấy nụ cười rạng rỡ khuôn mặt, nghe thấy tiếng rộn ràng của con tim. Tình thương mênh mông vậy nên khó có thể diễn tả được bằng lời. Hãy tạm gác đó để suy nghĩ thêm.