Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2021

Mạn ngược xa xôi

Mạn ngược hoang sơ 1
.Tôi thích sông nước, thích được ngắm mấy chiếc thuyền buồm đậu chật bến sông quê tôi. Cái bến bé tí tẹo, nhưng có thuyền đậu là vui. Cái thích của sự tò mò, trẻ con. Bến sông gần ngay nhà, nơi tôi một thời ở với ông bà nội. Nói đến sông quê tôi là tôi nhớ đến Ngô Quyền, chẳng cách bao xa, bên kia Thủy Nguyên có bãi cọc Bạch Đằng. Cũng chẳng hiểu sao, ấn tượng đến tận hôm nay, con sông quanh quanh, đỏ ngầu, đầy rều rác khi thủy triều lên, tôi thấy rất mênh mang vì cảm như có thêm rất nhiều thuyền bè và chiến công một thời chói lọi. Còn với con đường cong cong bẩn thỉu, lép nhép, toàn người nói tiếng Quảng Đông, họ tụ lại thành dãy nhà san sát, như một xã hội nhỏ riêng, tôi nghĩ, dãy nhà mang nặng chất “Tàu ô”, tôi thích sông nhưng lại ghét dãy nhà đó, đến đó, tuy là quê mình, tôi thấy lạ lẫm hơn các chỗ khác. Chẳng vậy mà người quê tôi, từ bao giờ không biết, gọi là xóm Tàu. 
Nhìn những chiếc thuyền to nhỏ đậu san sát bên nhau, tôi cho đấy là một cuộc sống thú vị và rất mong một ngày nào đó, được xuống thuyền, xem những bí mật trên thuyền, biết cách ăn ở trên thuyền và xem những con cá mà họ bắt được… Lạ cái là, tôi nghĩ ở thuyền, chỉ có mỗi chuyện thuyền và cá. Cứ làm như thuyền chỉ để bắt cá. Và tôi nghĩ về những người làm nghề chài lưới chuyên sống với sông nước, và ước… sẽ được ra sông, bơi lội, lặn ngụp, vỗ về cùng sóng nước. 

Nhưng sông nước là chỗ chơi mà người lớn cấm kỵ. Bất cứ đứa cháu nào, đến với ông bà, đều không được ra sông. Đe mãi, nên cái bến sông chỉ là nơi còn hấp dẫn với riêng tôi. Với sở thích đó, tôi đơn độc.
 Đúng là sông nước thì rất hấp dẫn và có lẽ, sau này tôi còn biết, luôn mãi là hấp dẫn. Nó hấp dẫn bởi sự êm đềm, lặng lờ. Cái lặng lờ êm đềm đó cho hồn ta trôi về miền ký ức với những mộng ảo, diệu kỳ, tươi xanh, không thực nhưng lại rất đỗi hiển nhiên. Nó hấp dẫn bởi dòng sâu của nó. Đố ai biết những gì xảy ra trong lòng nó. Nhìn những dòng xoáy tròn tròn mãnh liệt, dữ dội, cuốn về nơi sâu hút mới thấy kỳ bí và hiểm nguy làm sao. Vậy mà, con người luôn hướng về phía dòng sông, nơi hội tụ bao điều bí ẩn. Rồi nhiều con sông tạo thành vùng châu thổ phì nhiêu, những cánh đồng bát ngát, những cuộc sống ấm no, những làng mạc trù phú và vì thế, luôn là miền chất đầy nỗi khát khao của con người. Trong số những đứa cháu ngoan, biết vâng lời người trên, không có tôi. 
Tôi đứng nhìn con sông với cuộc sống của những người trên thuyền không biết chán. Tôi chỉ thấy đó là một cuộc sống vô cùng lý thú. Lý thú về sự lênh đênh. Cái lênh đênh với tôi, ngày đó, nhẹ như chiếc là trôi trên mặt nước, chiếc lá trôi theo bất cứ ngả nào, trồi lên trụt xuống, xoay ngang, lộn ngược ở bất kể ghềnh thác nào. Tôi muốn được như chiếc lá, trôi tận mọi bến bờ, đến tận mọi ngóc ngách, chẳng suy nghĩ đắn đo, chẳng nơm nớp nỗi sợ hãi của người lớn. Hình như, muốn bơi dưới sông như cá, muốn bay trên trời như chim là nỗi khát vọng của con người từ xa xưa. 
Tôi cũng chỉ là một trong số những đứa trẻ có ước vọng viển vông ngây thơ, rất trẻ con đó. Và chiếc thuyền lênh đênh kia chính là sự thể hiện khát khao của con người. Ở trên đó, con người sống được cùng sông nước. Cái mong ước lênh đênh sông nước đó được thực hiện bằng những chuyến đò ngang qua sông. Tôi xuống thuyền cùng bà và gỡ tay bà, tót ngay ra mũi thuyền ngồi. Đò ngang không phải phiên chợ nên không đông khách, bà để cho tôi ngồi chéo chân bên mũi, người xoay lệch, thích thú cho mấy đầu ngón tay xuống nước, nhìn những cái bọt trắng bắn ra qua kẽ tay, hình như đó là cảm giác hòa tan đầu tiên với thiên nhiên của một tâm hồn bé bỏng, nước tóe ra qua các kẽ ngón tay thành những con sóng li ti và tan biến. 
Đò cặp bến mà tôi vẫn còn cố đưa tay xuống nước. Bà kéo tôi lên, tôi tiếc rẻ, sao nhanh thế, hả bà? Cho con đi nữa đi… Bà cười, thôi lần khác, bà lại cho đi. Nếu ngoan, bà cho đi đò dọc, tha hồ mà chơi. Tôi bỗng hỏi, bà ơi, đò dọc quan cấm, thì sao hả bà. Bà cười, đó là ngày xưa. Ngày đó chắc lâu rồi, bà cũng không biết nữa, nhưng… đi với bà thì cháu lo gì. Cứ ngoan và học giỏi đi, bà sẽ thưởng cho chuyến chơi đò dọc. 
Tôi tin là bà sẽ cho đi đò dọc. Đò dọc thì được đi lâu hơn, tôi nghĩ thế. Vậy là đến cái mùa hè đó, kết thúc năm học, tôi ôm về cho ông bà một đống sách tiếng Tây, toàn tiếng Tây, phần thưởng cuối năm học. Bà nói, con học giỏi hơn bố. Bố con học mãi không nhận được cái bằng, chỉ thạo đánh bóng. Đánh bóng cũng được rất nhiều phần thưởng, nhưng phần thưởng của con, bà tự hào hơn. Tôi biết bà đang thích, liền nhắc, bà cho con đi đò về quê đi. Bà cười, cha bố anh, nhớ dai thế. 
Nhưng không phải về quê mà là ngược. Bà với tôi cùng bác dâu trên chiếc thuyền chất rất nhiều hàng hóa, trong đó có những súc vải đẹp của Tây, củaTàu, của Ấn từ trước. Bà đưa hàng lên mạn ngược. Tôi hỏi thế vải của mình đâu. Bà bảo còn phải học Tây, học Tàu, học Ấn nhiều nữa, mới có cháu ạ… Khỏi phải nói tôi sướng biết chừng nào. Trước cái đêm xuống thuyền để đi, tôi nhảy tưng tưng và chẳng hiểu nguyên do gì mà lại đi về đêm. Tôi hỏi bà, bà bảo cho hợp con nước. Con nước là gì, tôi không tìm hiểu thêm, chắc là đi cho thuận, tôi nghĩ.
 Đêm đó tôi như không ngủ. Tôi ngồi đầu mũi, ngắm người chủ thuyền ngồi bên lái, giăng buồm cho gió đẩy thuyền đi. Tôi nhìn giời đầy sao, rồi nhìn hai cánh buồm một to, một nhỏ lung lay, chút chút ngả nghiêng chút chút, kẽo cọt chút chút và cảm thấy, chao ôi, sao mà sướng. Người cứ lâng lâng, khó tả. Tôi lân la xuống cuối thuyền, chỗ ông chủ hỏi, ông ơi, ông dong buồm thế nào, mà thuyền đi được. Ông chủ thuyền nhìn tôi ngạc nhiên. Ông chưa thấy thằng bé nào hỏi như thế. Ông cũng không đủ lý lẽ để giải thích cho hắn hiểu. Ông nói đơn giản, ông đi nhiều nên biết mọi chuyện gió máy, biết cả khi nào trời mưa trời nắng. Nghĩa là ông sống lâu, đi nhiều nên biết nhiều. Cháu lớn lên sẽ còn biết nhiều hơn ông. Tôi hiểu được những lời ông chủ thuyền. Tôi bảo, đi một ngày đàng học một sàng khôn, ông nhỉ. Bà cháu cũng bảo vậy. 
 Tôi lên mũi thuyền, nhìn màn đêm. Đêm mát rượi. Nằm dài nhìn lên trời rồi lại ngổi dạy, nhìn đêm. Tôi loay hoay không biết làm gì mà đầu thì bao nhiêu câu hỏi. Tôi lại xuống với ông chủ lái thuyền “Thế ông ơi, ông có ra biển không? Hồi trẻ ông cũng đã đi, nhưng ra biển sóng lớn, thuyền phải chắc chắn, thuyền này không đi được. Thế ông có bắt được cá không? Ông không đánh cá. Thế ông đi đến đảo xa bằng cách nào, làm sao mà ông nhìn thấy đảo?... Hắn hỏi liên tục và rồi hắn quay ra ngủ ngay bên chân ông chủ thuyền trong khi mồm vẫn muốn hỏi. Với hắn cái gì cũng lạ. Bà nội nằm trong khoang đã mấy lần nói với ra, bảo hắn ngủ đi, mà đâu có bảo được. Cái ngủ đến tự nhiên với nó. Ông chủ nhìn nó, buột miệng, thằng bé đến là thông minh. Những câu hỏi ngây thơ đêm qua với ông chủ thuyền cho nhận ra cái trong veo, tinh khiết trong hắn 
Sáng sau, thức dạy đã thấy thuyền neo ở một vùng hoang vu, heo hút lắm. Thực ra, ngay khi xuất phát, nhìn vào màn đêm, tôi đã thấy heo hút, tôi đã thấy cái “mạn ngược” với nhiều khổ ải và mù mịt. Đôi khi, chỉ đôi khi, thấy xa lắm, rất xa, thấp thoáng, mập mờ ánh đèn, những mập mờ ánh đèn đỏ không ra đỏ vàng không ra vàng, nó nhòe nhạt như những con đom đóm, tôi cũng nghĩ đến cả mấy con ma trơi đang bay lượn bên sông. Tôi rùng mình cũng hơi sợ nhưng nhìn ông chủ thuyền, tôi vững tâm ngay. Đúng là qua sông phải lụy tay chèo. Đằng này mình đi dọc sông, khó vạn lần ấy chứ. 
Thuyền của bà neo kề cùng với dăm bảy chiếc thuyền nhỏ khác, sát nhau, ken nhau trên một bến như một vũng nước sâu “bằng cái bàn tay”. Tiếng người nói râm ran. Tôi mở mắt và tỉnh ngay. Một giấc ngủ thần tiên, không mộng mị giữa hoang sơ, khiến tâm hồn thanh thản, nhẹ lâng lâng. Tôi thấy bác dâu, bà và ông chủ thuyền đứng bên những người lạ như vừa xong chuyện mua bán. Thuyền đã bớt đi những xúc vải nhưng thay vào đó là những sọt hàng có mùi thơm lẫn cay của các vị thuốc bắc, mà tôi thường ngửi thấy ở các cửa hiệu người Tàu trong phố của tôi. Có cả những cái hũ da lươn xanh xanh, đen đen, nằm yên lặng trong đống rơm. Đặc sản của núi rừng. Bà bảo đấy là mật ong. Mật ong rừng về xuôi quý lắm.
 Tôi lên bến. Bến ồn ào, nhao nhác với đủ mùi vị và đủ các loại giọng nói. Và bến cũng là chợ. Chợ bán đủ các loại quả rừng và sản vật khác của rừng. Những mật ong, sa nhân, quế, hồi, đẳng sâm, ba kích… mà ta có thể gặp trong bất kỳ một đơn thuốc Bắc của mấy nhà thuốc người Tàu với những tiếng gảy lách cách của bàn tính và cả những thứ quả hái ở rừng về như quít hay mắc cọoc, nhìn đã tứa nước miếng vì chua. Thật thú vị nhìn ngắm những thứ trước đây chỉ biết trong sách và nghe người lớn kể lại. Tôi lại gặp lại quán hàng thơm phức với các mùi thơm rất dễ chịu của miền xa ngái. Từ xa đã ngửi thấy mùi hương, hương núi rừng, hương cây cỏ, hương bay phảng phất trong không gian. Tôi chạnh nghĩ, chỉ hít thở mùi hương đó cũng không thể mắc bệnh. 
Tôi đang đứng trước một gian hàng thuốc. Các loại cây cỏ đã khô và thái mỏng thành từng lát như miếng vỏ trầu của bà, mà tôi chẳng thể nào phân biệt, chắc bà đã chất những thứ này xuống thuyền lúc tôi còn ngủ. Những cánh hồi như cánh sao, có mùi thơm của vị thuốc mà tôi biết qua món thịt kho Tàu của ông ngoại, đây là những thanh quế, đen sậm như những vỏ cây khô, mắt nhìn chẳng thể nào phân biệt. Tôi cũng đã được ăn quế. Vị cay cay và ngọt ngọt của nó chữa được bệnh sổ mũi, rức đầu. Con bé cùng lớp cho tôi một mảnh, bé bẳng cái móng tay, bảo ăn đi, nhưng đừng có khóc. Tôi bĩu môn, tao mà khóc á rồi đưa miếng vỏ cây vào mồm, nhai và thấy cay thật. Vậy, nhưng vẫn lớn tiếng sĩ, thế này mà cay… Con bé che miệng, rồi, thấy rồi, không cay, đừng khóc nhè nhé. Nó quay mặt bỏ đi theo mấy đứa bạn với cái đuôi sam vung vẩy, lắc lư trên vai… rất ghét. 
Tối, tôi hỏi bà ơi, cho con miếng quế, miếng nào cay nhất ấy. Rồi, bà cho, mày lại bạn bè chứ gì. Ừ, cũng nên có quà cho bạn. Để bà lấy. Thế cháu thích cái gì, bà thưởng. Cháu chỉ thích bà cho cháu đi thuyền. Bà ơi, bao giờ bà cho cháu đi thuyền ra biển. Biển có sóng to, ông chủ nói thuyền này không đi được. Đi thuyền to chắc là thích hơn, phải không bà. Thôi, tôi xin anh. Anh cứ loanh quanh với tôi là đủ rồi. Lớn hãy hay, khi đó tha hồ bay nhảy, chẳng ai cấm. Nhưng vẫn phải nhớ là phải ngoan và học giỏi đấy. 

Hết chuyện, tôi lại mò ra phía ông chủ đang cắm sào đẩy thuyền ra xa bờ. Ông đi từ phía bánh lái lên mũi thuyền. Chiếc thuyền nan nhỏ hơn chục mét chòng chành, chòng chành. Đi nữa hả ông? Còn đi qua thác qua ghềnh nữa chứ. Cả đêm qua mới một đoạn đường, ăn thua gì. Cậu có thích lên rừng chơi không. Có ạ, cháu thích rừng lắm. Ừ thì nói với bà cho cậu lên rừng. Nhưng trước hết phải vượt thác đấy. Có sợ không? Cháu chỉ thấy thích thôi ông ạ. Ông nhớ cho cháu lên rừng nhé. Rừng vàng biển bạc ông nhỉ? Không hẳn đâu, cháu ạ. Lên đến đó cháu sẽ thấy khác. Còn nhiều người khổ lắm.
 Tôi nghĩ đến những người miền ngược đôi khi, họa hoằn lắm, gặp ở gần bến sông quê nhà hay gần chợ Sắt, khi cùng bà đi chợ. Bà bảo họ sống trên miền núi, xa lắm. Những người đàn bà mặc quần áo màu mè, thêu xanh, dệt đỏ, miếng vải vuông quấn trên đầu và buộc kín cẳng chân, trông như đi ghệt. Cái màu chủ đạo ở họ toát ra là màu núi rừng, màu của xa xôi, heo hút cả phần hoang dã nữa. Cũng có phần dài dại, không thật như người xuôi. Không hiểu sao không thấy đàn ông đi cùng. Cũng có lần thấy đứa bé đi theo. Những người này lưng đeo túi lưới đựng những cái gói giống cái bánh, bọc ngoài bằng lá khô, mà bà nội bảo đó là thuốc họ mang đi bán đấy. Có những loại thuốc hiệu nghiệm lắm. Còn bọn bạn trẻ thì thầm “Mẹ mìn đấy. Đừng đến gần, nó bắt đi đấy…” Mẹ mìn chuyên bắt trẻ con. Từ bé lắm, tôi đã nghe như vậy và tôi sờ sợ những người này. Tôi chỉ dám đứng nhìn những người miền ngược này từ xa và sẵn sàng bỏ chạy nếu họ tiến lại gần.
 Ông chủ cho hạ buồm, chống thuyền đi ven bờ. Bờ đầy lau lách. Những bông lau nở hoa trắng muốt. Một chút xa nữa kia là rừng. Nhìn lau, tôi nghĩ ngay đến Đinh Bộ Lĩnh, thủ lĩnh bọn trẻ trâu, phất cờ lau, đánh giặc. Tôi thuộc chuyện lịch sử về ông vua họ Đinh làu làu. Tôi nói với ông chủ thuyền, giá mà có nhiều bạn, chơi đánh trận giả ở đây, giống y ngày xưa, ông nhỉ. Ông chủ hỏi, thế ông tướng nào bơi giỏi, cháu biết không? Biết ạ, đấy là ông Yết Kiêu, tướng của Trần Hưng Đạo. Cháu rất thích bơi. Ông có lặn giỏi như Yết Kiêu không? Ông chỉ biết bơi thôi. Người như Yết Kiêu là thánh, chỉ có một thôi cháu ạ.
 Tôi im lặng nhìn đôi bờ. Sao âm u mịt mù thế nhỉ, cái mịt mù thanh vắng, tĩnh mịch. Cái thanh vắng rừng núi rờn rợn khiến tôi nảy ra rất nhiều ý nghĩ, rằng đây chắc rất nhiều voi và hổ báo. Cả hươu nai với rắn rết, lợn nòi... Nhưng kia kìa, đàn cò về đậu trắng cành cây bên sông. Trắng toát, đẹp quá. Người ta bảo cò đi ăn ngày nên lông nó trắng còn con vạc đi ăn đêm nên nó màu tro xám. Tôi lại nghĩ ngay đến câu ca dao “Con cò mày đi ăn đêm” Vậy thì sao? Nhìn từng đôi, từng đôi đang ríu rít rỉa cánh, đấu mỏ, tôi ước, giá mình biết được tiếng của loài cò nhỉ. Chúng sống quần tụ như trong một gia đình lớn. Những con nhỏ mỗi lần mẹ về là một lần cãi nhau ỏm tỏi. Đặc biệt chúng rất dạn người. Thuyền lướt qua nhưng cành cây mà phía trên chúng đậu, chúng cũng chẳng hốt hoảng. Một miền đất của sự thanh bình, yên ả. Tôi thấy dính kết với cảnh sắc êm ả, lặng lờ, kì bí một bên sông, một bên rừng và những đàn chim, đàn thú... Ôi cái miền ngược, cái miền ngược hoang sơ nhưng lại gợi nhiều điều tò mò vì những bí ẩn nó mang trong lòng. Tôi cũng nghĩ ngay đến Sơn Tinh khi mình đang ở trên “đất” của Thủy Tinh, tôi đang trên thuyền mà. Nếu nước dâng lên thì sao? Lại nghĩ về những loài thủy quái, tướng sĩ của Thủy Tinh. Không hiểu sông này có cá sấu không. Trong đầu tôi, luôn nghĩ cá mập, cá sấu đều là những thủy quái của Thủy Tinh, đặc biệt cá sấu, hàm răng của nó mới khủng khiếp chứ, lại còn bộ da sần sùi nổi lên toàn mụn với mụn, trông đến là sợ. Đúng là thủy quái còn gì… Nhưng đặc biệt hơn, tôi nhớ tới “cô bé quàng khăn đỏ”. Tôi chắc chắn trong rừng phải có chó sói và bác thợ săn. Tôi hỏi ông chủ thuyền, ông ơi, trên rừng có thợ săn không? Có chứ, nhà nào cũng có thợ săn. Đàn ông trên đây đều đi săn bắn và họ săn rất giỏi. Chính ông đây được thợ săn cứu sống đấy. Tầm chiều, thuyền sẽ đến chỗ ngày xưa ông ở và được cứu sống. Cháu sẽ tha hồ hỏi. Thế bác thợ săn cứu ông khỏi chó sói ăn thịt à? Ồ, không phải, chuyện dài lắm, khi nào rỗi, ông kể cho cháu nghe. Bây giờ thì ngồi chắc vào, cháu thấy nước chảy mạnh chưa, sắp đến thác rồi đấy. 
 Tôi nhìn xuống sông, đúng là nước chảy nhanh hơn. Những chiếc lá hoặc cỏ rác trôi theo dòng rất nhanh. Thi thoảng gặp những tảng đá to giữa dòng. Nhưng nhiều nhất vẫn là những phiến đá bên bờ. Màu xám đen của đá toát ra sự lạnh lẽo. Nhưng cái sắc nhọn của chúng chính là dòng xoáy nước. Chính những dòng xoáy này cho ta thấy sự nguy hiểm, gian lao của đường đi. Trên bờ, cũng thấy đôi chỗ in dấu chân người. Đó là những bếp lửa bên dòng sông mà dấu ấn để lại là những hộc củi bị đốt cháy nửa chừng, đầu cháy còn đen màu đen của than cháy. Tôi nghĩ, tất cả những thứ tôi nhìn thấy là sự hoang dã và chứa chất nhiều hiểm nguy của mạn ngược. Mạn ngược với tôi luôn là như vậy. Khi nào nghĩ về nó là tôi nghĩ, đó là những cánh rừng xa xôi heo hút, âm u bí hiểm, kỳ bí với ma quái và thần linh. Trong rừng nhất định nhiều yêu quái và đương nhiên các vị thần sẽ trừ khử chúng. Ngày đó, tôi chưa từng nghĩ, rừng lại là bạn của con người. Cứ nghĩ đến rừng là tôi thấy ma quỷ và bí hiểm. Tuy cũng biết, rừng nuôi sống con người và cũng có những sản vật làm con người sống sung sướng. Thậm chí, rừng còn cứu con người thoát khỏi rất nhiều chứng bệnh nan y mà thế giới văn minh phải bó tay. Nghĩa là rừng mãi vẫn là thâm nghiêm, kỳ bí. 
Cái mát lạnh của hơi nước cảm nhận được dần dần theo hướng đi lên của con thuyền. Ông chủ thuyền hỏi tôi đã nghe thấy tiếng thác nước đổ chưa. Tôi lắng nghe và từ phía trên đâu đó dội về tiếng nước đổ. Tôi ngóng cổ nhìn về phía trước, trên cao và thấy một tấm màn trắng khổng lồ trải xuống. Đẹp một cách kỳ diệu, đẹp một cách thần tiên. Vẻ đẹp đúng như trong truyện cổ tích mà tôi đã đọc. Ở đó, những đêm sáng trăng, có những thiên thần áo trắng bay lượn. Ở đó có những cô tiên áo dài thướt tha múa hát. Ở đó có hoa lá cỏ cây muôn màu rực rỡ, hươu nai lững thững gặm cỏ… để rồi sáng sớm, các nàng tiên lại bay về trời và để lại dưới trần thế, cho những ai nhìn thấy, sự nuối tiếc kèm theo mơ ước và nhớ nhung. Cổ tích có nói về một cô tiên, do ham chơi, về muộn và bị vua cha phạt, không cho về trời. Những ý nghĩ lẫn lộn ùa vào tôi, dồn dập, cái nọ tiếp cái kia, truện này qua truyện khác. Những cái gì đẹp nhất mà tôi đã đọc được, tôi nghĩ chính là ở chốn này. Nơi đây đúng là thiên đường mà con người mong ước. 
Thuyền dừng lại nghỉ đêm ở gần thác nước. Đêm mát lạnh vừa vì khí hậu núi rừng vừa vì gần bên thác. Đứng ở đây mà tôi như ngửi thấy mùi của chiều thu se se, tôi cũng cảm thấy cái mùi của mưa phùn mùa xuân qua cái vị âm ẩm mà thác nước tạo ra các hạt li ti và bay tứ tán khắp nơi. Còn nữa, tôi thấy cái tráng lệ, cái tuyệt mĩ và ao ước làm sao biết được bí mật của dòng nước đang đổ xuống qua một khe hẹp, đầy rong rêu xanh thẫm. Nhìn nước đổ xuống, thấy thiên nhiên trời đất quả quá tuyệt vời. Thác nhỏ thôi, nhưng cao, cao lắm, nước từ tít tận đỉnh núi mà tưởng như từ tít trên trời đổ xuống. Phía dưới là một vũng rộng, to như cái ao thả cá của làng, và tôi nhìn ra sự trong veo, sự tinh khiết và cả sự bộc bạch hồn nhiên của núi rừng. 
Nhưng đây lại đang là mùa hạ. Tôi đang được bà cho đi chơi và lần đầu tôi thấy cái đẹp mà tôi cảm nhận rất người lớn. Đứng một chỗ mà nhận ra vẻ đẹp quanh năm của một con sông mạn ngược, một cái thác tuyệt vời chỉ có trên mạn ngược với những làn nước trắng phau, mỏng tang, có thể nhìn xuyên thấu và đẹp mê hồn, nơi mà mới chỉ mới đây mấy ngày thôi, từ nơi tôi ở có con sông Cấm với thuyền bè đậu chi chít, thì đây chỉ là heo hút dặm dài chỉ với tiếng gõ đều đều của móng ngựa trên miền đá sỏi vùng sơn cước. Tôi luôn cảm thấy mình là kẻ được hưởng thành quả của cha ông đã gìn giữ biên thủy xa thẳm và nơi đây chất đầy xương máu cha ông. Cứ nghĩ đến vùng sơn cước là thấy mạn ngược xa xôi. Bà không cho tôi lên. Đứng gần đây cũng đủ thích rồi, nhất anh rồi. Leo lên cao nguy hiểm lắm. Nguy hiểm nhưng phải gìn giữ, bà nhỉ? Tôi nghĩ thế, Vậy là trong tôi, ngay từ tuổi ấu thơ, mạn ngược đã rất kỳ vĩ và bí ẩn. Mạn ngược cũng tinh khôi trong kỳ bí lịch sử và cũng rất lãng mạn thần tiên trong cổ tích.

 
 ***** Miền ngược xa xôi (phần 2) 
2. Sau này, cả chục năm trôi, mạn ngược với tôi còn nhiều khăng khít tiếp diễn, vậy mà tôi vẫn cứ thấy nó hoang sơ, dài dại và tôi không quên ngày xưa đầu tiên tiếp xúc với nó, gặp nó và có tình cảm với nó. Tất cả những gì xảy ra trong chuyến đi đầu tiên bằng thuyền với bà nội lên mạn ngược là một chuyến đi lịch sử. Chuyến đi đó chứa đựng tất cả những heo hút, xa ngái và gom đầy, gom chặt bao nhiêu thú vị cho tuổi thơ của tôi khiến không thể nào quên.
 Tôi ơn bà nội đã tạo điều kiện cho tôi thân thiết rồi gắn bó với mạn ngược và đương nhiên có cả cái mà mạn ngược khai phá đầu óc tôi. Khái niệm mạn ngược của tôi được mở rộng hơn, mạn ngược với tôi bây giờ không chỉ là những nơi heo hút, ít dấu chân người, nền văn minh khai sáng chưa đến cùng với những ngã nước, sốt rét, mặt ủng dà chì, bụng cóc nữa. Mạn ngược với tôi ở khía cạnh khác, nhân bản hơn, sâu xa hơn: nơi đó có những con người. Con người chất phác, nhuần nhị, chân thật, giản dị, trong veo như dòng suối nguồn, được tách triết từng giọt, tí tách nhỏ ra từ những kẽ đá sẫm màu rêu, từ trong những sâu thẳm rừng già hiểm bí, không thể xác định. 
Hai năm trai trẻ của tôi, tôi sống trong hoang dã với những hoang sơ nguyên thủy và với những con người mộc mạc, đôn hậu như vậy. Có cái điều ít ai ngờ đến, tôi cũng không ngờ sự việc nhanh thế. Tôi không thích sống chung với gia đình từ khi tôi về ở với mẹ đẻ, không ở với bà nội nữa. Trong tôi ngấm ngầm sự nổi loạn, bứt phá. Tôi mê cuộc sống tập thể, được tự lập trong suy nghĩ và hành động. Tôi muốn tôi tự nuôi mình. Tôi muốn đi theo con đường riêng, dẫu chẳng hề xác định được và biết tí teo nào về cái riêng đó. 
Tôi muốn có lớp bạn mới, bạn trong cuộc sống. ÔI, giá như có những thằng bạn thân, đêm đêm sưởi ấm bên ngọn lửa, nói mọi chuyện trên đời và về những người con gái trong tưởng tượng. Tôi ảnh hưởng rất nhiều những thi vị của tình yêu mà tôi đọc qua sách và phim ảnh. Tôi ước mình cũng sẽ có những cuộc tình say đắm và đẹp tuyệt vời với những cô “On-ga, Lê-na hay Na-ta-sa…” Tôi lớ ngớ vào nghề đo đạc bản đồ địa chất làm anh loong toong nấu cơm và sai vặt trong một buổi hóng chuyện “các nhà thám hiểm”, chuyện trèo đèo lội suối của những ông địa chất. Nói thật lòng, ở tuổi đó, tôi say đắm mọi chuyện khám phá, cái gì cũng muốn biết, dẫu rằng chỉ là thằng loong toong. 
Cũng quả thật, tôi không ngờ tôi lại liều, dám bỏ nhà đi lang thang như vậy. Tôi nghe kể và đã biết có rất nhiều vụ nguy hiểm chết người. Nhiều cái chết tức tưởi chỉ vì môi trường sống quá hoang dại. Sốt rét cũng chết người, rắn độc cũng chết người, thú dữ cũng chết người, lũ chết người, bão chết người, leo núi chết người, cây đổ chết người, xuống vực chết người… Chẳng có gì là không nguy hiểm cả. Mạng sống chúng tôi mong manh lắm, nhẹ hều như làn mây, mà khi đó, tôi có coi cái chết là gì đâu. Khi chết, chúng tôi cũng hóa thành làn mây. Mây bay và mây vần vũ, rồi mưa. Chúng tôi bốc hơi hoặc thấm vào đất. Chúng tôi tan vào cái không gian đầy nguy hiểm đó. 
Tôi mê những đêm đốt lửa sưởi trong hơi nóng ngọn lửa bập bùng và theo già bản đi săn. Cứ vào cữ rét buốt người là đi. Bỏ bếp lửa ấm áp chui vào rừng rét lạnh giá, thấy rõ mồn một cái ngấm của sương ướt vào cơ thể. Ông già dắt tôi đi có cái mũi của loài chó, khứu giác rất phát triển. Ông vào rừng và ngửi được tất cả mùi vị của rừng. Ông bước đi mà không một tiếng động, không chạm vào giấc ngủ cây cỏ. Khả năng đó chỉ có những người gắn bó với rừng mới có, khả năng đó cũng là một tiêu chuẩn của kẻ săn mồi. Ông như sợ đánh thức giấc ngủ của chúng. Tôi thấy ở ông tỏa ra đầy ăm ắp chất núi rừng và gắn bó với nó vô bờ bến. 
 Vùng núi lạnh lắm. Có thời gian ở vùng núi đá Hòa Bình bên sông Đà, đêm đêm đốt lửa sưởi, ngủ bên đống lửa, thật thi vị và nghe các nhà thám hiểm kể chuyện. Đang ấm áp như vậy mà bật dạy, lõn cõn theo sau ông già như chó con cũng đủ thấy trong tôi có một sự quyết tâm và một niềm say mê khám phá ghê lắm. Rừng núi kỳ lạ hấp dẫn con người từ mọi sắc thái. Đi bao xa tôi không rõ. Mọi ý thức mà tôi thu nhận được trong những chuyến đi săn là im lặng để tập trung vào đôi mắt, đôi tai. Tôi tập xác định phương hướng giữa rừng già chỉ toàn cây cổ thụ với giây leo chằng chịt, tập mở đường bằng dao phát giữa rậm rì cây cỏ lác, gai góc, tập nhìn vào màn đêm mênh mông vây quanh với vô vàn tiếng kêu rờn rợn, quỉ quái.
 Đôi khi tôi cũng nghe nghe thấy tiếng nai tác gọi nhau hay tiếng động của một con thỏ, con chuột nhưng ông già săn bỏ qua. Mùa này, ông không đặt bẫy các loại sóc, thỏ… ông bảo, giống như một gia đình phải có tiếng trẻ. Chúng chỉ là những đứa trẻ của ma núi, thần rừng. Rừng vui nhộn, có sức sống, có âm thanh vì có những con vật nhỏ bé đáng yêu đó. Ông nói, cháu phải nhớ, rừng cho mọi loài sự sống. Nếu chúng không sống được, thì đó không phải là rừng. Rừng chia đều và công bằng cho tất cả. Nếu một ngày nào đó, có kẻ nào phản lại rừng, kẻ đó sẽ bị hủy hoại bởi chính hành động hủy hoại, tàn ác đó. 
Ông chỉ cho tôi chỗ đặt bẫy bắt lợn rừng. Ông nói, không chỉ lợn rừng, mà các loài thú lớn khác như hươu nai, cũng bị sa bẫy. Nhưng lợn rừng là con vật ác. Ác vì tính dã thú của nó. Nó phá nương ghê lắm. Theo vết lợn rừng rất mất công. Cháu có thấy cái mõm dài ngoẵng của nó không? Cái mõm ấy chuyên đào xới, phá hoại hoa màu của dân bản đó. Nó mà phá thì không còn gì. Ác độc là thế. Dữ dằn lắm. Có khi còn rất nguy hiểm nữa đấy. Đây… cái vòng này sẽ túm chân con thú và sợi dây này sẽ thít lại, còn sợi dây kia, sẽ kéo cao nó lên, nó giãy dụa, kêu gào, mệt lả rồi mới bắt được. 
Những ngày đầu, tôi rất thích được đi săn, cái thú của tôi là biết được cuộc sống hoang dã với núi rừng chứ không phải những con vật mang về. Tôi hình dung cuộc sống của người xưa. Tôi nghĩ về những cuộc vây bắt và những chiếc lao phóng ra từ những bàn tay cơ bắp của những thợ săn dũng cảm. Nhưng tôi thấy sự man rợ. Vậy là tôi không thể thành thợ săn. Thợ săn là phải biết say và dám say với những con mồi. Trong mênh mông màn đêm phải dám đối mặt với nguy hiểm và thần bí kia, cả người và con thú đều vờn nhau và là đối thủ của nhau. Nào có thể biết, thợ săn gặp phải con vật nào. Nó có thể là những con vật nhỏ bé như thỏ hoặc cáo. Những con vật đó chỉ dùng đàn chó để xua chúng mệt nhoài và những con mồi sẽ bất lực trước những chú chó săn. Cũng có thể là loại thú dữ như hổ, gấu hay lợn nòi và cả những con hiền lành như hươu nai. Lúc đó là cuộc đấu trí. Bản lĩnh và trí khôn con người được bộc lộ.
 Rừng là thế. Rừng cũng là cái bẫy với con người chứ chẳng riêng gì với thú. Lần nào cũng vậy, tôi thấp thỏm chờ con mồi bị bắt. Tôi không nhìn con mồi cũng chẳng nhìn ông thợ săn mà tôi nghĩ về cuộc sống mong manh. Tôi ít khi nghĩ về cái chết nhưng lúc này lại nghĩ về nó và sợ không dám nhìn cảnh chết của con vật mà mình góp phần tiêu diệt cuộc sống của nó. Cái thú được hòa lẫn với núi rừng của tôi bỗng chốc tan biến. Tôi nhìn trộm vào mắt con thú với đôi mắt ân hận. Nó có biết không?
 Rồi tôi không đi săn nữa. Tôi mượn cớ muốn ngủ. Đang ngủ ngon, ngại lắm. Quấn chăn bên bếp lửa, ăn sắn nướng và nướng bắp ngô thích hơn. Tôi biện luận, tôi không có tố chất để thành thợ săn. Các cụ bảo là trẻ người non dạ.
 Nhưng ấn tượng nhiều nhất với tôi lại là những ngày mưa. Mưa rừng mới não nề và thê thảm làm sao. Cái giọt gianh tí tách nhỏ giọt khi mau, khi thưa theo nhịp cơn mưa cho thấy cái cảnh đợi chờ dấm dứt, buồn bã, thê lương, mỏi mòn. Đó là điều kiện tạo ra nỗi ngấm của cô đơn. Cô đơn sẽ gậm nhấm tâm hồn ta từ từ. Không thể đi đâu khỏi nhà khi ngoài trời đang mưa. Đường lầy ư, nhiều dốc ư, rét buốt ư, ẩm ướt nhem nhép ư… có lẽ cũng một phần vì những cái đó. Nhưng hơn cả, tôi thấy mưa rừng cứ hun hút không ngớt và sâu thăm thẳm ấy. Chính cái buồn hun hút khiến không gian não nề. Và chính những ngày buồn sâu thăm thẳm đó khiến tôi tìm đến em.
 Em đẹp một cách núi rừng. Em là mạch nguồn kín đáo, yên tĩnh, phẳng lặng, được âm thầm chắt ra từng giọt từng giọt trong thẳm sâu rừng già một cách chầm chậm, nhẫn nại. Em chân xác, thơm tho, trong veo như chính mạch nước đó. Em là sự ấm áp bếp lửa. Đang bên bếp lửa ngày mưa thì ai muốn rời xa. Có phải đó cũng góp phần khiến tôi rời xa thú vui săn mồi? Em là sự mượt mà dịu êm của bất chợt bãi cỏ xanh, em là bông hoa dại bé xíu ẩn dấu trong đại ngàn. Đại ngàn thì rộng mênh mông. Em lọt thỏm trong mênh mông đó, ai thấy mà lại không giang tay che chở. Chàng thanh niên mới lớn là tôi xôn xao nghĩ về em như thế. Ý nghĩ đến nôn nao. 

Để bên em một cô gái tân thời dưới xuôi về đây, cô ta có thể nổi bật khi bên “gam trầm”của sắc núi, sắc rừng. Nhưng dễ bị lạc lõng ngay. Cái nổi bật thì làm mọi người chú ý vì tò mò. Còn em, em cứ vậy nhỏ nhoi bình dị trong cái miền xa xôi, hoang vắng và cả hoang dã nữa. Em đứng phía sau, hòa với sắc rừng quê em, lẫn vào tất cả. Em là hoa lá cây cỏ và có mùi hương riêng, hương rừng. Nếu thiếu em là thiếu hương rừng, thiếu hương rừng là thiếu bản sắc cả một vùng hoang sơ nhưng vô cùng kỳ bí, hấp dẫn tạo nên những đam mê. Vì thế, em là một thành phần của rừng, cũng có nghĩa rừng không thể thiếu em, mạn ngược không thể thiếu em. 
Nhà em nghèo. Ở đây và nói chung mạn ngược, nhà nào cũng nghèo. Cái nghèo có từ xa xưa và cứ thế, đời nọ truyền đời kia, mãi cũng chẳng thấy khấm khá. Nghèo đã là một cái gì đó đeo bám con người. Vì thế, con người nơi đây như đã chấp nhận số phận mà thượng đế đã ban từ khi sinh ra. Sự chấp nhận rất tự nhiên và cũng nhận ra, thượng đế rất không công bằng. Tôi vô cùng ngạc nhiên trước sự thật đau xót và rất oái oăm đó. Rồi luôn tự hỏi, sao như vậy? Cuộc sống cứ vậy tối tăm, đói nghèo. Ai kia trong nhung lụa, có thể tưởng tượng, một năm tới chín tháng phải vào rừng đào củ mài thay cơm, thay nếp. 
Tôi nhớ ngày trước ở với ông bà, gần bến thuyền, nơi nhìn ra sông, có một ngôi chùa. Với tôi, chùa là chỗ xa lạ, tôn nghiêm nhưng chứa chất rất nhiều bí hiểm khiến tôi tò mò. Những tiếng chuông vang lên cả sáng và chiều, nhiều lúc tôi thấy lạnh lẽo, cô đơn, đặc biệt về đêm tối khuya khoắt. Cảnh hương khói, cầu lễ mà đôi lần tôi thấy, cũng gợi cho tôi những suy đoán bí hiểm. Vậy chùa không phải là chỗ chơi, nhưng không cấm được sự tò mò của tôi. 
 Tôi thường ra bến sông để ngắm những con thuyền, thả ước mơ, cho ước mơ trôi về đâu đó ở dòng sông đục ngầu kia và chắc chắn nghe được tiếng chuông chùa. Ngôi chùa ở vị trí rất riêng, sự biệt lập, thầm lặng, tĩnh mịch, cô quạnh rất riêng. Cái riêng mang sự linh thiêng, cái riêng tạo ra sự bí hiểm làm tăng tính tò mò. Chiều chiều, tiếng chuông vang trong không gian và lan trên mặt nước, tạo trong tôi cái gì đó xôn xao, rất vu vơ và mơ hồ. Cái mơ hồ huyền ảo, thần linh, sương khói. Tôi cảm nhận được một làn gió sạch thổi qua tâm hồn, cái trong sạch như luồng sinh khí, nhẹ mềm, dịu dàng như ánh trăng đêm thu và muốn biết cuộc sống của những người trong ngôi chùa thâm nghiêm, tĩnh mịch kia. Thậm chí, còn muốn biết quan hệ của họ thế nào với thần linh, với những người đã chết mà qua tiếng chuông, qua những lời rì rầm đọc kinh cầu nguyện, đôi lúc tôi nghĩ đó là những lời tâm sự với những người ở cõi niết bàn. Không hiểu tiếng chuông sẽ vang đến đâu, không hiểu những lời cầu nguyện sẽ đến tai ai, nhưng tôi nghĩ chắc ở một nơi nào đó, có người muốn nghe và nghe được những lời khấn cầu ở ngôi chùa này.
 Có lần, tôi thấy mấy đứa trẻ con đứng thập thò, ngó vào trong chùa. Tôi cũng ngấp nghé nhòm vào xem họ đang làm gì. Khi tiếng cầu khấn mà tôi không nghe được trọn vẹn một câu và tiếng chuông gõ nhịp, thỉnh cầu xong, tôi thấy một ni cô còn trẻ cầm đĩa oản và hoa quả, phát cho bọ trẻ đang đứng tò mò, thập thò ngoài cửa nhìn vào. Đứa nào cũng được một cái oản bọc giấy bóng kính xanh đỏ và mấy quả mận. Tôi cũng được nhận một phần như chúng nó. Bọn trẻ nhận xong, chạy ùa ra phía mặt sông, tản ra như vòng sóng, hình như chúng biết hôm nay có phát lộc của chùa, chỉ tôi là ngu ngơ không biết. 
Tôi mang lộc về đưa cho bà. Bà hỏi, sao lại ra sông. Tôi nói, con không ra, vì có bọn trẻ gọi con vào chùa. Bà bảo, hôm nay rằm, lộc chùa đấy, con ăn đi. Tôi bảo con sợ có người chết trong đó. Bà cười, bóc oản ăn. Tôi cầm quả mận rón rén cắn, tôi vẫn sợ có hồn người chết trong đó.
 Còn nơi đây, những sáng sớm tinh mơ, sương mù dày đặc, gió thổi ù ù, cách một tay với là mọi vật trở thành mờ ảo, tôi vẫn nghe thoang thoảng tiếng chuông chùa. Cái màn sương kỳ lạ, như dính kết được, như đổ ra, rót vào được, như truyền tải được, như cứ huơ tay là nắm được, mà lại nhẹ bẫng, mà trơn tuột và cũng rất vô hồn ấy cho cảm giác lạnh lạnh của sương khí biên cương, cho biết thế nào là xa xôi heo hút mạn ngược. Tôi như đã nghe được tiếng vọng từ rừng già, qua cái màn sương đặc quánh, mờ ảo đó, tiếng chuông chùa đâu đó vọng về. 
Tôi nói chuyện với em về tiếng chuông mơ ảo đó. Em cười, nụ cười như có lửa ấm bên bếp ngày đông. Có phải tôi đã động chạm đến một nơi sâu kín trong tâm hồn con người, nơi con người đặt niềm tin. Ở đâu chẳng có sự mê tín? Càng tăm tối, lạc hậu càng mê tín. Khi con người không chống đỡ nổi thiên nhiên dữ dội, thì chỉ còn biết gửi gắm mọi ước vọng của mình, đặt niềm tin của mình vào đấng tối cao. Đấng tối cao ở đâu? Đấng tối cao ở ngay trong cuộc sống của họ, đã sẵn có trong lòng họ, trong tâm khảm của họ, ngay từ khi họ cất tiếng khóc chào đời. 
Vào ngày đầu tháng, em đưa tôi lên chùa. Chùa cheo leo bên sườn núi. Đầu tiên đi mảng. Em chống sào, đẩy chiếc mảng nhỏ rẽ nước rất thuần thục khiến tôi nghĩ đến ông chủ thuyền ngày xưa chở hàng của bà nội lên trao đổi hàng hóa với vùng cao. Tôi tự hỏi và không thể trả lời, tại sao người xưa lại dựng chùa chốn thâm cung như vậy và dựng nơi cheo leo thế này thì lấy đâu ra những con nhang đệ tử đến thờ phụng, cúng bái. Vậy, nhưng không phải, tôi và em sau chống mảng một thôi, bỏ mảng, trèo dốc. Em nói, mệt đấy, phải leo dốc cao, mất độ một tiếng đồng hồ, mới đến được chùa. Trước chúng tôi, cũng đã có khoảng gần chục người đi lễ. Đi lễ chùa cũng là mối giao lưu, cũng là nơi hẹn hò. Em gặp bạn gái ở đó. Hình như họ có hẹn nhau. 
Đứng trên đỉnh dốc, gần như trên đỉnh đồi, một con đường mòn dẫn đến ngôi nhà gỗ, kẹp vào trong một hốc đá, ăn sâu vào lòng núi. Một quả chuống nhỏ cỡ cái gùi đeo lưng được cố định trên cao, vắt ngang qua một cành cây đã lên nước nhẵn bóng. Có thể vì thế mà theo hướng gió, đôi khi vẳng đến tai tôi tiếng chuông chùa. Ngôi nhà gỗ xây theo hình dáng của hang đá với những tấm thưng, tấm lát chống chếnh, thô mộc, khiến mỗi bước đi đều cất tiếng kêu cót két, cọt kẹt. Đó là chùa quê em.
 Quê em với lèo tèo vài nóc nhà đã heo hút mà chùa còn heo hút, “mạn ngược” hơn. Chùa đơn giản đến sơ sài như không thể đơn giản, sơ sài hơn. Một ban thờ và những pho tượng, các bát hương đều bằng gỗ, đã nhiều chỗ tróc lớp sơn ong óng màu vàng và đen sỉn bên ngoài và cả bụi bặm thời gian. Tuyệt không thấy dấu vết của các loại vật liệu tiên tiến ngày nay. Tôi bất chợt nhận ra sự chất phác, mộc mạc như thiên nhiên của con người nơi đây, nhận ra sự gắn kết của con người với nơi họ sinh sống. Chùa cũng chính là nơi con người thờ cúng và sống cùng thiên nhiên. Thiên nhiên đã mang sự linh thiêng, kỳ bí và cả ước vọng vào cuộc sống, tâm hồn họ. Phải chăng, tấm lòng họ thơm thảo như hoa cỏ là thế?
 Chùa thờ Phật. Đương nhiên là thế. Nhưng mỗi một chùa đều có những sự tích riêng, gắn liền với địa phương đó. Tôi hỏi em về sự thô sơ, heo hút của ngôi chùa. Em cười, vẫn cười với nụ cười ấm áp bên bếp lửa mùa đông. “Quê em nghèo mà, đồng bào đều nghèo, chùa cũng nghèo… và vì thế chắc Phật cũng nghèo…” Tôi không muốn đụng đến cái nghèo đau xót đó của cuộc đời. Đụng đến nó, trong tôi đau lắm. Nhưng em cũng lạ. “Phật nghèo”, một khái niệm mới trong tôi. Chẳng hiểu sao, tôi bị lây hay bị nhiễm cái mộc mạc, tôi hiểu, Phật nơi đây cũng trong veo, tinh khiết như lòng dạ người dân. Cái nhớp nhơ của xã hội văn minh chưa mò đến quấy nhiễu, làm đảo lộn cuộc sống cả người và Phật nơi mạn ngược thơm ngát nhưng quá đỗi đơn giản này. Tôi gặng hỏi em, em cầu gì đấy, em cười, mắt lung liêng, em cầu duyên, nơi đây thiêng lắm. 
Vậy nhưng, ngoài những niềm tin và tín ngưỡng được gửi gắm vào một chốn thiêng liêng nào đó, mối liên hệ xã hội và giao lưu xã hội là nhu cầu không thể thiếu. Vắt vẻo, xa xôi cách trở trên núi như vậy thì lấy đâu ra chỗ tụ hội và thời gian cho giao lưu. Cho nên chỉ có xuống chợ. Chợ là nơi giao lưu giữa các cộng động, là nơi trao đổi tình cảm gái trai và đương nhiên, là nơi trao đổi hàng hóa. Chợ là nền văn minh nhất ở mạn ngược. 
Tôi và em xuống chợ. Chợ rất xa, phải đi từ nửa đêm. Có nơi phải mất cả ngày đường. Ở mạn ngược đây, đi chợ là đi hội, chẳng khác gì lễ tết, chẳng khác gì đám cưới. Người ta chuẩn bị đi chợ cả tuần trước. Em cũng vậy. Tôi đi để biết, để ngắm chợ vùng cao. Em đi để giao lưu, để gặp gỡ và cũng có thể gặp người tình. Mục đích của em lớn hơn của tôi. Chuyện mua bán trở thành thứ yếu vì những mục đích kia. Chợ họp từ sáng sớm, sương chưa tan, còn đặc quánh. Người và ngựa cùng đi xuống chợ, ngựa thì gùi hàng và người thì dắt ngựa. Những cái bóng thoắt ẩn, thoắt hiện, cách một sải tay còn mờ mờ, cách vài sải tay là chẳng thấy gì hết. Chợ họp bên phố núi. Đa phần là hàng nông thổ sản, có vài quầy bán tạp hóa. Đây là hàng của những người buôn bán thức sự. Hàng từ dưới xuôi lên lác đác vài thứ công nghệ rẻ tiền và thô sơ như dao cuốc, cày bừa. Hàng tinh xảo đều của Trung Quốc, nhìn rất bắt mắt nhưng đắt lòi con mắt. Chỗ bán vải thổ cẩm và vải hoa Trung Quốc chen đầy chị em. Nói chung, đó là những hàng xa xỉ, tích lũy cả đời chỉ mua được vài thứ để tặng con gái ngày con đi lấy chồng. Tôi cũng tích cóp đủ tiền mua tặng em một chiếc vòng tay bằng bạc, một vòng cổ cũng bằng bạc, giống như của bao cô gái khác và nói, để sau này em lấy chồng, nhớ đến anh. Em cười, nụ cười ấm áp như bếp lửa đêm đông. Cầu mong cho em với lời cầu hôm nào lên chùa thành sự thật.
 Em cũng như bao chàng trai cô gái khác đều có khát vọng giao lưu, khát vọng tình cảm của các cặp trai gái đang độ tuổi lấy vợ, gả chồng. Tôi đã ngồi bên bếp lửa nghe người lớn trong làng kể chuyện tình yêu. Họ hát những bài hát mà tôi chỉ đoán được ý của nó qua nét mặt người hát và người nghe. Đa phần các bài hát ở một giọng trầm buồn, giọng hát rất u hoài, đôi khi nức nở như than thở cho một số kiếp, một thân phận, một mối tình trắc trở. Bài hát về cuộc sống những con người nơi đây, bài hát nói ra những ước vọng, ước vọng quá ngọt ngào và chẳng cao sang gì hết, ước vọng được sống hạnh phúc với người mình yêu bên mái nhà sàn, dựa vào bóng rừng che chở. Cái ý của bài hát là “ta sinh ra ở đây, thần rừng che chở cho ta, cho ta cuộc sống. Em nhớ anh, em thương anh, anh ở nơi đâu mà không thấy. Em chờ anh, chờ và trái tim em thổn thức. Trái tim em thổn thức vì mong nhớ anh. Về đi anh, rừng là nhà của chúng mình, rừng che chở và sẽ nuôi sống chúng mình, hạnh phức chúng mình sẽ được rừng che chở, bảo vệ. Rừng chúng mình có nhiều cây lớn. Anh là một cây lớn. Cây lớn không sợ gió lớn, cây lớn yêu gió lớn, nơi đây có nhiều gió lớn để thử thách lòng dũng cảm của anh. Anh mãi là chỗ dựa của em…” Cứ như vậy, điệp khúc nhớ và thương chàng trai trẻ ở một nơi nào đó. 
 Em cũng hát. Em hát những bài hát về tình yêu, về mong ước. Nhưng khác những bài của các chị, các mẹ, giọng em tươi tắn hơn. Nghe em hát thấy hoa nở, mưa ngừng rơi, mặt trời tỏa nắng ấm áp. Tôi hỏi em hát về cái gì, em trả lời về tình yêu và em cố giải nghĩa cho tôi. “Anh ơi, hôm nay mặt trời lên, hôm nay chim hót sớm. Nghe tiếng chim đầu nhà, em thấy lòng hớn hở. Trời xuân ấm áp, hoa đào, hoa mận nở trắng rừng. Em nhớ mùa xuân trước, anh cài lên mái tóc em bông hoa đào và nói mắt em long lanh, đẹp như ánh sao đêm. Đêm đó chúng ta yêu nhau, em vẫn đợi chờ anh. Đến nay anh còn yêu em, còn nhớ đường về bản?…” 
Bỗng thấy rất thương em. Em rồi cũng có một người để thương, để nhớ và rồi sau, lại để buồn. Chẳng hiểu sao, tôi lại nghĩ như vậy. Thì đấy, bao đời rồi, có cô gái nào hạnh phúc. Cái vòng luẩn quẩn và kiếp phận của những cô gái trên núi cao là như vậy. Em có thoát khỏi số phận vẫn ngàn đời đeo đẳng các cô gái mạn ngược được không? Tôi cầm tay em, thương em quá. Em để yên bàn tay bé nhỏ trong bàn tay con trai thô ráp của tôi.


 Miền ngược xa xôi (phần 3) 
3. Vài chục năm nữa lại trôi. Tôi rời mạn ngược vì chiến tranh. Nhưng chiến tranh thu hút mọi nguồn lực. Tôi vào lính, mặc áo lính, ăn cơm lính. Thì làm chân loong toong của cơ quan, điều đi đâu cũng dễ. Đọc lý lịch lính, người ta đánh giá tôi có khả năng sổ sách, phân biệt cả ngàn thứ trong kho là điều không dễ và tôi được điều về giữ kho. Trước đó, tôi cũng trải qua một lớp huấn luyện và họ đánh giá đúng, tôi có khả năng sổ sách. Sổ sách của kho tôi làm lại từng loại hàng hóa với cột mục xuất nhập rõ ràng. Kho thời chiến thì im lìm nằm ở trong rừng.
 Lại về với rừng. Đúng là số phận. Vì thuộc loại nhiều tuổi, lại có chút học hành, mà phía dưới toàn chị em trẻ măng, mới lớn, tôi được đôn lên làm “quan”. Làm quan một cách bất đắc dĩ. Quan cỡ tôi cũng chỉ thực hiện việc truyền lại lệnh của cấp trên. Tôi tự phong tôi là “sĩ quan thông tin”. Oách phết. Như mọi người đọc phần đầu, ông bà nội tôi thuộc dạng buôn bán, có đầu óc tính toán nên có của ăn của để. Cái này thì không hẳn coi là bóc lột nhưng trong con mắt lãnh đạo, thành phần như tôi cũng chẳng đáng mấy tin tưởng, nó thuộc dạng con buôn. Con buôn thì không thể tin tưởng. Con buôn thấy lợi là làm, thấy thiệt là bỏ. Đơn giản là vậy. Gì chứ, tôi đã từng nghe: “Thằng con buôn ấy mà”, khi tôi phân tích thiệt hại những món hàng được lưu mãi trong kho, không dùng đến, đặc biệt là các loại dược phẩm. Mặt hàng này là hàng nhận viện trợ từ nước ngoài. Nhờ biết được một vài tiếng Tây, vừa đọc vừa đoán, tôi đọc được hạn dùng của nó và đề xuất phải thanh lý gấp. Cấp trên của tôi không quan tâm đến hạn dùng, họ chỉ biết có mặt hàng đó trong sổ sách. Sự việc cuối cùng cũng được giải quyết. Ông thủ trưởng kho nói với tôi, giọng mỉa mai: “Sao đồng chí lại biết cái thứ tiếng đế quốc sài lang ấy?”
 Tôi chán vì nhiều nỗi, tôi xin chuyển đơn vị. Lại bị kết tội không yên tâm công tác. Rõ khổ! Ngày trước mình thương người, thấy ai yếu thế đều thương và tìm cách giúp đỡ, vậy mà bây giờ nó rơi vào mình, chẳng được ai chia sẻ. Chán. 
Tôi rời vị trí “quan” của kho nơi rừng núi này khi hiệp nghị Pa-ri được ký kết. Vậy là chiến tranh sắp kết thúc. Thượng cấp đọc lý lịch, thấy tôi thâm niên cũng kha khá, chuyển tôi ra ngoài Bắc, cho tôi lo hậu phương. Tôi cảm động trào nước mắt. Còn hỏi nguyện vọng của tôi. Tôi nói tôi loong toong cả đời. Vậy là cho tôi đi học. Thượng cấp đọc lý lịch cũ thấy tôi có dính dáng đến ngành “địa chất học”vậy là cho tôi học cái nghề đo đạc bản đồ. Lại nói thêm, nghề này quan trọng lắm, đo đạc là để xác định đất đai, ranh giới, lãnh thổ Tổ quốc đó. Cố học để góp phần giữ chủ quyền đất nước. 
Tôi vâng dạ, chứ có hiểu sâu xa gì đâu và gần ba chục tuổi đầu, tôi bước vào ngưỡng cửa đại học. Đang học năm cuối thì lại đánh nhau mạn Tây Nam. Tôi chán đánh nhau lắm, xin ra Bắc. Lại đánh nhau. Kỳ này đánh nhau lớn. Tôi ớn số kiếp tôi, toàn rừng rú và chiến tranh. Cả một thời trai trẻ của tôi là như thế. Tôi thường xuyên đi công tác ở vùng biên ải. Vậy là mạn ngược vẫn theo tôi. Tôi lên Cao Bằng vào hang Pắc Bó và đến thác Bản Giốc. Tôi đứng bên chân thác và nghĩ về ngày xưa bé tí, cũng đã từng đứng bên một cái thác nước và nhớ lại cảm xúc của mình ngày đó. Ừ, sao ngày đó, tôi lại có những ý nghĩ của người lớn nhường vậy. 

Thác nước với tôi đẹp kỳ vĩ, tuyệt vời. Cái thác phải là một khối hòa hợp với mọi vật chung quanh nó. Và phải là một khối nên nó kỳ vĩ. Ngắm Bản Giốc, tôi thấy nó đẹp bội phần, vượt qua cả ý nghĩ kỳ vĩ của cái thác thời bé con của tôi. Những mấy tầng thác. Rồi thác lớn, thác bé, thác cao, thác thấp. Thác xòe ra, dài rộng như lụa là. Nhìn nó, thấy yêu quý ngay giang sơn gấm vóc của đất nước mình. Nước đổ xuống trắng xóa, mỏng tang, thấu suốt như tấm voan mỏng, quàng hờ hững trên những cánh tiên, gặp tia nắng, ánh lên sắc màu cầu vồng. Những người dân địa phương nói với tôi, ruộng nương chúng tôi ở bên kia rất nhiều, họ hàng người quen cũng đầy bên đó, phải đi sâu vào cả chục cây số. Tôi hỏi sao xa thế, thì đấy là đất đai ông bà khai phá từ xưa. Đây là biên cương, heo hút. Đất đai của ai, ai quản chỉ dân thổ công, bản địa đây mới rõ. 
Tôi nhớ câu ca dao xưa nói về thân phận người lính “Nàng về nuôi cái cùng con/Để anh đi trảy nước non Cao Bằng”. Ôi, người lính. Biết bao thế hệ người lính đã giao việc hậu phương lại cho vợ, dặn dò vợ nuôi mẹ, nuôi con để lên đường, dấn thân tận những nơi “hùm thiêng, nước độc, ăn măng trúc măng mai” để giữ từng tấc đất Tổ quốc. Tôi cũng nghĩ đến em. Giá như có phép màu nào đó, lại được ngồi với em bên bếp lửa ngày mưa để ngắm nụ cười ấm áp và đôi mắt long lanh như ánh sao đêm mà người yêu em từng ví. Ừ đã hơn chục năm rồi. Chục năm thì biết bao thay đổi. Thôi đừng nghĩ nữa. Nhưng tôi không xua nó đi được. Em luôn trong ý nghĩ của tôi. Em là một thời trong trắng, vô tư của tôi. Em của tôi chắc vẫn như của chục năm trước với tấm lòng thơm thảo, thanh tao.
 Nhưng lòng dạ con người có thể đổi thay, long dạ bạn bè cũng có thể thay đổi. Tôi vẫn là chân loong toong của cơ quan chuyên đo đo vẽ vẽ hình dáng đất nước lên trên giấy, đánh dấu nó bằng các mốc tọa độ và chắc chắn sẽ được lưu giữ mãi mãi ở một nơi nghiêm mật. Và tôi quen một số người có ghế (được ngồi trên ghế đó là cao sang lắm). Một ông thanh minh trên báo, đại ý: kết quả của cuộc đàm phán, ta mất chỗ này thì được chỗ nọ. Bạn mất chỗ nọ thì được chỗ kia. Tổng kết lại là hòa. Tôi, vì quen, nên viết cho ông ta một bức thư, đại ý: Ông nói thế không đúng, ông mất phố Hàng Ngang, Hàng Đào để lấy một nơi heo hút ở đèo Gió, đèo Mây nào đó, liệu đó có là cuộc đổi chác ngang bằng? Sự việc đến vậy thôi và chìm đi như bao nhiêu sự việc khác.
 Hôm nay nhìn Bản Giốc, thấy ứa lệ với ngày xưa trong trắng, vô tư. Sao mà đời lại éo le và con người lại tham lam như vậy. 
Tôi đã khóc về nó: 

Bản Giốc 
 Thác rất đẹp, với tôi, nhiều năm về trước 
Mà hôm nay, tôi bơ vơ, lạ lẫm lạc xứ người 
Có điều gì nhói nhói lòng tôi 
Tôi tiếc nuối thấy mất điều mình yêu quí 
Các bạn chia sẻ không? Điều mất mát tôi cho là phi lí 
Bản Giốc của tôi
 Nó thiêng liêng bởi vì nó là mối tình tình đầu một thời
 Tôi đã yêu với tâm hồn trai trẻ 
Ngày đó trái tim tôi dại khờ rung tình đầu mới mẻ 
Dẫu heo hút nước non, dẫu lặn lội cái cò cái vạc 
Bản Giốc vẫn Cao Bằng vẫn rất thực trong tôi. 

 Tôi ngẫm ngợi hỏi cuộc đời có phải đã phai phôi 
Bản Giốc tự bao giờ không còn trong tôi nữa 
Giật thót con tim khi chỉ còn một nửa 
Một nửa nữa đâu rồi mà mây trời vẫn trôi? 
Và như thế, em ơi, sắc chàm trong sương một thoáng nhạt mất rồi 
Chiều biên giới mưa rơi tầm tã… 

 Hoa biên giới tháng ba có sắc màu trẩu trắng 
Đẹp mê man như màu nắng mặt trời 
Tôi đi tìm nấm mồ bạn tôi 
Trên đồi đầy hoa sim tím 
Ôi cái màu ngất ngây bịn rịn 
Cho tôi về lại ngày xưa 
Bản Giốc thần tiên sẽ chẳng bao giờ 
Chia được thành hai nửa. 

 Tôi nhớ lại ngày xưa thơ bé của tôi, đứng bên cái thác cao vút, tôi nhận ra sự kỳ vĩ của thiên nhiên và cũng đã nhìn ra những kỳ bí của lịch sử. Gần quê tôi là bãi cọc Bạch Đằng, nơi còn dấu tích hiển hách của ông cha, chỉ có điều những cái cọc lịch sử đó như thế nào thì vẫn là kỳ bí. Người ta xác định tuổi của những cọc gỗ đó gần niên đại với chiến thắng thì tôi tin, nhưng người ta nói nó là cọc đã cắm xuống sông Bạch Đằng để đánh đuổi quân Nguyên, thì chưa thật chắc. Lịch sử là cái gì đó rất bí ẩn và có thể biến đổi, dẫu người đời nói lịch sử chỉ xảy ra một lần. Hóa ra, chính con người làm nên những kỳ bí đó để phục vụ lại chính mình, để nâng mình lên, làm cái điều có lợi cho mình.
 Tôi chia sẻ bài thơ với một người lính đi viếng đồng đội ở mặt trận Vị Xuyên. Người lính đó ôm chầm lấy tôi, đúng là một sự cảm thông mang chất lính. Những năm biên giới khói lửa ngút trời, mảnh đất mà bạn của người lính nằm xuống đã xanh lại, mấy chục năm rồi còn gì. Cỏ xanh rồi và cỏ xanh cũng mát mắt. Tôi có chút băn khoăn, cỏ nhiều nhưng hương khói ít. “Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ xanh” thì đúng, nhưng hương khói để nhớ ơn, ghi lòng tạc dạ ít, thì sai. Chẳng hiểu sao một dân tộc vẫn luôn sống có trước có sau, trọn tình trọn nghĩa như dân Việt Nam ta, lại dở chứng với người đã đổ máu để bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia như vậy. Màu xanh đã phủ đi, che đi mọi dấu vết chiến tranh của chiến trường xưa. 
Và đương nhiên, cái nơi mà đồng đội của người lính nằm lại được mệnh danh là đồi thịt băm, lò vôi thế kỷ cũng đã xanh lại. Những quả núi đá mà hàng vạn quả đạn pháo, đạn cối của kẻ thù bắn sang khiến đá biến thành vôi, cũng đã xanh lại màu núi của nó vốn dĩ. Dưới hỏa lực của đạn thù, đá cũng biến thành vôi. Một câu nói đầy hình ảnh đủ để hình dung ra sự ác liệt cũng như sự tàn khốc của chiến tranh. Núi chỉ còn lại những vết vỡ, vết nứt, giống như núi đá ở những nơi khác, cũng chỉ như sự bào mòn của thời gian, vết sẹo của năm tháng. 
Nghĩ đến đó, tôi lại nhận ra cái sự vô ơn của người đời sau và tôi quặn đau. Ôi, những người lính đã “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử”* của tôi. (Dòng chữ khắc trên báng súng của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh.) Cô gái cũng lên thắp hương cho đồng đội. Người lính với cô là người bạn đồng hành mới quen. Cô đi theo và lặng im. Phút lặng im của cuộc chiến là báo hiệu giông tố sắp tới. Sự lặng im của phụ nữ là nguồn nhiệt năng đang âm ỉ tích tụ, báo hiệu một sự kiện. Nhưng đáng chú ý nhất ở cô lại là bím tóc đuôi sam mà ngày nay không thấy ở các cô gái. Bím tóc được tết thành hai giải hai bên và phía đuôi tóc, buộc một bông hoa nhỏ, loại hoa dại mọc ven đường. 
Tôi rủ hai người bạn mới về chỗ nghỉ của đoàn tôi, họ từ chối. Chúng tôi đều có ý định ở lại vài ngày với mảnh đất này, mảnh đất vẫn còn nhan nhản những bom, mìn, đạn pháo... Mỗi bước đi, cái chết cũng rập rình bám theo. Mỗi người đều theo đuổi công việc của mình, nhưng cùng một mục đích. 

 ***** 
Trong đầu tôi ám ảnh lời nói của vị tướng, từng là phó tư lệnh mặt trận Vị Xuyên, Nguyễn Đức Huy: “với khoảng 20km chiều dài và 5 km chiều sâu, nghĩa là nếu mất Vị Xuyên thì biên giới của chúng ta sẽ lùi sâu vào 5km.” Và cũng vang lên câu nói của vua Trần: “Kẻ nào làm mất một tấc đất của ông cha, kẻ đó phạm tội tru di”. Vâng, tôi biết, nhiều người lính trẻ măng, tuổi hai mươi, chưa từng yêu và nắm tay một người con gái, không biết lời nói đó nhưng họ đã ngã xuống vì họ biết từng tấc đất của cha ông là thiêng liêng, cái thiêng liêng đã ngấm vào máu, chảy trong huyết quản. Vậy còn những kẻ cam tâm bán rẻ đất đai Tổ quốc, chúng phải chịu số phận gì? 
Có đứng trên mảnh đất địa đầu này mới cảm nhận rõ sự thiêng liêng của từng tấc đất. Ánh trăng chiếu vào đầu võng tôi nằm (tôi vẫn có cái thú nằm võng của những ngày còn sức trai). Trăng sáng quá và tôi không ngủ được vì những suy nghĩ ngập đầy trong đầu, nhiều lúc muốn nổ tung, trở dạy, bước ra ngoài. Chung quanh tôi là núi và rừng. Núi toàn là núi đá. Núi đá là đặc sản của Hà Giang. Tôi lan man nghĩ về những cánh cò đồng bằng, rồi tôi nghĩ về những linh hồn người đã khuất vẫn chưa siêu thoát nơi đây. Trong ánh sáng mờ mờ của trăng, trong cái dư âm còn lẫn âm khí hoang lạnh của mùi vị núi rừng nơi biên ải, tôi bước đi với ý nghĩ mơ hồ về sự linh thiêng, về những oan hồn và sự hi sinh. 
Phải nói là ánh trăng trong cái thế núi rừng này đẹp thật. Ánh trăng nhẹ và mịn màng ve vuốt say đắm lắm. Tôi đã hưởng nhiều đêm trăng như vậy ở Trường Sơn, nhưng ngày đó, đậm dư vị chiến tranh, cứ tưởng như thoang thoảng nơi bìa rừng, còn có mùi bom cháy, mùi thuốc súng khét lẹt. 
Còn ở đây, đậm vị khác, vị hương khói đi tìm hương hồn. Tôi nao nao khi nghĩ đến cả nghìn linh hồn vẫn bảng lảng quanh đây. Từ ngày đó, các anh vẫn chưa yên. Những bia mộ trong nghĩa trang kia, một nửa không có. Đau xót và uất nghẹn làm sao! Những ngọn núi nhọn dưới ánh trăng lạnh như nhọn hơn, sắc lẻm, chĩa lên trời như mũi mác. Vậy mà có những chỗ, chỉ toen hoẻn bằng cái chiếu, cũng từng là một trận địa, một điểm chốt. Những người lính đã tạo ra những hốc sâu, ăn vào trong núi, làm trận địa phòng ngự. Kỳ tích những bước chân trên giải Trường Sơn ngày xưa, được viết tiếp bởi kỳ tích những bước chân người lính leo lên núi đá, làm trận địa giữ biên cương.
 Nhưng tôi, một người lính đã từng hành quân bộ trên giải Trường Sơn, nghĩ, chiếm vị trí chốt trên núi đá khó khăn hơn gấp bội, ngoài cái khó về đường đi, cái khó khác là liên tục chịu đựng những đợt pháo cối từ phía kẻ thù (theo thống kê, mảnh đất này mỗi ngày có từ 5000-7000 quả đạn pháo, cối của địch bắn sang. Cao điểm của nó là trong ba ngày, phía Trung Quốc bắn vào Vị Xuyên đến Hà Giang hơn 100.000 quả). Cho nên, những chiến sĩ của ta giữ chốt thường từ phải một tháng đến ba tháng cắm trên chốt. Khi xuống chốt, tất cả đều như hóa người rừng. 
Và ánh trăng ma mị kia đưa tôi đến bên bờ suối róc rách nước chảy. Ngồi bên suối chính là cô gái đi suốt quãng đường không nói một câu. Tôi giật mình nhưng rồi nhận ra cô bởi làn tóc với dáng vọng phu ngồi. Đôi bím tóc dài thả gần mặt suối. Cô ngồi lặng yên, bất động cho ánh trăng thẫm đẫm toàn thân. Cô hơi co vai, có lẽ vì cái lạnh miền núi đá. Tôi thoáng chút động lòng thương cảm “thân gái dặm trường”, đêm hôm khuya khoắt, cô đơn ngồi bên suối chắc hẳn trong lòng ẩn chứa nhiều điều muốn nói, tôi hi vọng được chia sẻ những tâm tư của cô, làm cô vơi đi những đau buồn. Tôi hắng giọng báo hiệu. Cô không hề ngạc nhiên. Cô nói đã biết tôi ra từ trước nhưng không ngờ lại đến đúng con suối này. “Vậy thì chắc là con suối phải là một kỷ niệm đẹp của em?” “Vâng...” “Anh ấy hi sinh ở đây?” “Vâng... Em và anh ấy đã từng ngồi nơi đây, đã yêu nhau ở đây, thề gắn bó suốt đời và đã chia tay ở đây... Anh ấy lên chốt, em về bệnh xá sư đoàn, phía sau hai chục cây số... 
 Cô gái im lặng. Tôi nghe tiếng nước chảy thầm thì dưới chân. Nhìn lại chỗ ngồi. Chỗ ngồi bên suối rất đẹp. Hai hòn đá to, phẳng phiu như đã được xếp đặt để cho hai người ngồi. Phía dưới là nhũng hòn cuội vẫn hiện hữu ở mọi dòng suối, nhưng đều tăm tắp, đặt chân lên rất êm. Một tán cây rừng sà xuống gần mặt nước bên bờ suối. Thiên nhiên trớ trêu đã tạo ra một vị trí cho một cặp đôi rất trữ tình, người đời đều nhận thấy và vì thế, đến nay vẫn còn nguyên, bom đạn chiến tranh không dám đụng đến. Tôi giả vờ xoay người, đứng lên. Vị trí này với cô gái đêm nay không phải của tôi, nó là chỗ của người chiến sĩ đã yêu cô, anh ấy đã ngồi đây cùng cô và có lẽ thế, khiến nó tồn tại đến hôm nay. Đấy cũng là tạo hóa xếp đặt. Tôi tin chắc điều đó. Nó tồn tại để minh chứng cho một tình yêu tồn tại. “Anh cứ ngồi đi...Anh ấy không giận đâu...” cô gái linh cảm thấy sự ý nhí nhị của tôi “Không sao, em cứ ngồi đây, anh lên trên và đợi em...” 
Tôi ngược dòng suối đi lên. Dấu vết chiến tranh còn lại là vài mảnh gỗ, có cái khóa của hòm đạn đã rỉ sét, méo mó. Không còn gì hết. Cái duy nhất còn lại bên suối lúc này là cô gái và ký ức của cô. Tôi yên lặng và nâng niu giữ cái khoảng thời gian và không gian này cho riêng cô, cô đang đi về phía hạnh phúc, sống những phút giây hạnh phúc ngày xưa. Ở nơi địa đầu Tổ quốc này, vào cái đêm này, tại nơi đã từng xảy ra cuộc chiến ác liệt, với sự mất mát của cô gái từng có mặt những ngày chiến tranh lửa khói đó, mới thấy hết sự thiêng liêng của cái gọi là “phên dậu” nước nhà. Chính vì cái “phên dậu” này mà bao chàng trai đã lên đường và nằm lại nơi đây. Cái thiêng liêng trở nên bi hùng hơn, khi chứng kiến một tình yêu bị chính bom lửa cắt ngang, để lại đó là một mối tình không trọn và nỗi lòng thương nhớ đeo bám. Còn biết bao mối tình trắc trở, bị chắn ngang vì sự toàn vẹn của “phên dậu” nước nhà mà ta chưa biết nữa. Chắc là nhiều lắm. Điều ngậm ngùi là cuối cùng, nếu đấy là một sự đồng cảm thật, sự chia sẻ cũng chỉ là những lời nói gió bay, cái còn lại là nỗi đau của người còn sống. Nỗi đau đó sẽ lại được mang theo suốt quãng đời còn lại. Mà nào có ai muốn mang nó theo đâu. 
 Đến độ “tam thập nhi lập”, tôi mới nhận ra mạn ngược với tôi còn là “phên dậu”, là tấm lá chắn, che chở cho biết bao nhiêu là mênh mông phía sau. Cái mạn ngược xa xôi với tôi ngày xưa, hôm nay bỗng trở nên gần gũi và quan trọng. Quan trọng chẳng cho riêng tôi, quan trọng cho cả dân tộc này. Tôi bỗng nhớ đến cô gái, không thể để cô gái ngồi một mình bên suối với kỷ niệm xưa níu buộc cô, dẫu có đẹp đến mấy, cô cũng phải đứng lên, phải bắt đầu lại, phải nghiến răng kìm nén nỗi đau. Ấy vậy mà, tôi bỗng hổ thẹn với chính mình, để chia sẻ nỗi đau với cô gái, tôi định khuyên cô cứng rắn, mạnh mẽ, nghiến răng, làm lại cuộc đời. ÔI những lời rỗng tuếch. Tôi không quen nói những lời như vậy. Những lời như vậy tôi thấy hao hao của kẻ khoác tấm áo đạo đức giả, cụ thể hơn, đó là sự dối trá. Làm sao có thể mang chàng trai 20 tuổi đầy nhựa sống trả lại cho cô. Tôi bỗng nhận ra mùi thơm lá nếp rừng và mùi hương thắp trên bàn thờ. 

Tôi quay lại chỗ cô gái. Mùi hương bay từ đây. Tôi đoán ra, anh hi sinh và hiện nay vẫn chưa tìm được mộ chí. Cô đến đây và muốn anh cùng đến, anh vẫn như đang ở đây. Những hai nghìn con người, mà hồn vía của họ vẫn đang bay lơ lửng trên núi cao, vách đá cơ mà. Đợi hương tàn, tôi cùng cô gái thắp thêm một lần nhang nữa. Chúng tôi đứng một lúc và nhìn hai hòn đá, từng là chỗ ngồi của hai người. Tôi như thấy sự cựa quậy của hòn đá là chỗ ngồi của anh. Một cái gì lành lạnh chạy dọc sống lưng, tôi thấy cô gái cười, cô đã nhận ra anh, anh đã về với cô. 
Mạn ngược với tôi bây giờ không xa xôi. Mạn ngược là phên dậu nước nhà mà mọi người phải gìn giữ và chăm lo để nó phát triển. 
Có phải đổi lại tên bài không nhỉ?
 Vinh Anh 5/1/2021. 
Chợt nghĩ ra đã là tháng kỷ niệm cho 3 ngày lễ về biên giới, hải đảo.

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

Viết cho mẹ


• Xin chào tất cả mọi người, xin cám ơn tất cả về sự có mặt hôm nay. Tôi đã biết từng có tiếng vỗ tay trong một đám tang. Tôi cũng từng dự một đám tang có tiếng hát cho người đi xa. Hôm nay, tôi cũng muốn mọi người bớt đi vẻ nghiêm trang, vì sự ra đi này là một sự giải thoát
 • Viết cho mẹ. •
Vậy là mẹ đã ra đi, người con cuối cùng của dòng họ Phạm Bá Mỹ, quê ở làng Bằng Sở, Thường Tín, ngoại thành Hà Nội, người con dâu út của con ông Nguyễn Đức Ban, làng Đồng Vạn, Ứng Hòe, Ninh Giang, Hải Dương, đã ra đi. Mẹ đã được chúa cứu rỗi, mẹ đã được giải thoát, mẹ đã về với chúa của mẹ. Chúng con cầu mong mẹ sớm an lành bên chúa. Mẹ từ bỏ cõi trần những ngày rét buốt này, nhưng ngày hôm nay với chúng con, lại như thêm một ngọn gió buốt quất vào. 
Mẹ là một người đàn bà bình thường ở mọi nhẽ. Lấy chồng, đẻ con và dạy dỗ chúng nên người. Cả cuộc đời không bao giờ nghĩ đến danh vọng cho mình, chỉ nghĩ cho chồng con và âm thầm cầu nguyện cho chồng con. Sự thành công của những đứa con không ghi công lao của mẹ. Nhưng mọi sự thành công đều có dấu ấn của mẹ. Vì thế, dù những đứa con của mẹ mỗi đứa một tính, nhưng đều cố gắng bằng mọi cách theo ý của mình, làm hài lòng mẹ. Có lẽ mẹ biết điều này. Trong mọi sự mong muốn của chúng con, chắc chỉ có một điểm duy nhất giống nhau, muốn làm mẹ hài lòng những năm cuối đời. Chắc mẹ hiểu được chúng con. Mẹ đừng trách mắng chúng con về chuyện chúng con ít nói đến công lao sinh thành, nuôi dưỡng. Và chúng con hiểu, mẹ không trách cứ gì hết. Chúng con ở đây, chỉ biết thay mặt mẹ, cám ơn bạn bè người thân đã đến chia buồn. Chúng con chỉ muốn tâm sự cùng mẹ lần cuối. Những lời thật nhất, chân thành của mỗi chúng con. 
Vậy là mẹ cũng được về bên bố, người có lẽ, thông cảm và yêu chiều mẹ nhất. Dù vậy chúng con, những đứa con được mẹ sinh ra, nuôi dưỡng, trưởng thành, không thể có đứa nào thông cảm với mẹ bằng bố. Người thấu hiểu mẹ chính là bố. Chắc giờ này, bố cũng đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, để hai người về lại với nhau. Chắc mẹ sẽ có được sự chăm sóc chu đáo hơn, mẹ sẽ có những ngày vui vĩnh viễn. 
Vậy là mẹ đã đi trọn một kiếp, trọn một đời, một cuộc đời dai dẳng, mệt nhọc nhiều nỗi buồn hơn niềm vui. Vậy là mẹ đã được giải thoát. Về ở nơi thiên đàng, chắc sẽ nhiều niềm vui. Chúng con mong mẹ được như vậy. Trong thâm tâm, từ hai năm nay, chúng con muốn như vậy, mẹ không phải vì bệnh tật làm cho đau đớn, khổ sở hơn nữa. 
Cuộc sống là hữu hạn. Mọi cuộc ra đi, mọi cuộc chia ly đều để lại cho đời những nỗi nhớ thương. Với mẹ cũng vậy, mẹ rời xa cõi tạm này, đến nơi vĩnh hằng kia và để lại những nhớ thương cho những đứa con của mẹ, những đứa con, mà đứa nào mẹ cũng để lại cho những kỷ niệm, nỗi nhớ. Chúng con mong và cầu xin mẹ ra đi thanh thản, chúng con cũng mong mẹ tha thứ cho những gì chúng con không làm tròn phận sự của vai trò những đứa con với mẹ. Mẹ hãy mở rộng lòng nhân từ mà tha thứ như lời chúa hằng dạy. Chúng con hiểu mẹ. Mẹ là người ít lộ tình thương ra ngoài. Mọi tình thương` cho các con đều lặn vào trong lòng và chúng con biết, mẹ chia sẻ với các con bằng ánh mắt, vẻ mặt và những tiếng thở dài cố nuốt vào trong. Được một sự thông cảm như vậy, biết được điều đó, trong những lúc buồn bã mà chúng con gặp phải, chúng con cũng thỏa mãn. 
Bên ta luôn có mẹ. Chúng con nghĩ vậy. Một niềm tin chắc chắn, nơi chúng con về là có mẹ, mẹ lúc nào cũng chờ đón các con. Mái nhà có mẹ luôn là chỗ dựa và niềm an ủi. Còn nhớ những ngày khó khăn, con cái tứ tác vì trách nhiệm, công việc từng đứa khác nhau, nhưng mỗi lần ai về với mẹ là về bên mái ấm, về với sự chăm sóc và là những giờ phút thư thái nhất của cuộc đời. Giờ đây, thiếu vắng mẹ, chắc những giờ phút đó ít đi. Để rồi mỗi lần nhớ mẹ, có lẽ, đó là những bữa cơm đạm bạc ngày khó khăn, bố mẹ đã dành dụm để chờ chúng con, những bữa cơm nhiều tiếng cười, những bữa cơm chất chứa tình yêu và tấm lòng cha mẹ. Những bữa cơm như vậy không nhiều nhưng chúng con biết đó là những hi sinh, những chắt chiu của bố mẹ, để có được những bữa cơm đó. Những hi sinh đó rất thầm lặng, rất nhiều thầm lặng và chất chứa tình yêu, nhưng hầu như ngày đó, chẳng đứa con nào nhận ra. 
Vậy là từ nay, sẽ thiếu bóng mẹ khi trở về. Những nơi mẹ đã từng ở chỉ còn lưu lại nỗi nhớ. Nhưng những chuyện về mẹ chắc sẽ còn được nhắc đến, khi một ngày nào đó, anh em chúng con có dịp gặp nhau. 
Vậy thôi, chúng con chào mẹ, chúc mẹ lên đường nhiều niềm vui. Mẹ về bên chúa và bên bố, nhớ phù hộ cho chúng con còn trên cõi đời. 
Cầu chúa ban phúc lành cho chúng ta.