Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

CẢM NGHĨ KHÚC GIAO MÙA- tản văn






 

 Cảm nghĩ khúc giao mùa

                    Tản văn

 

Nước mình phía Bắc, có bốn mùa rõ rệt: Xuân hạ thu đông. Thời gian chuyển đổi từ mùa nọ sang mùa kia thường không rõ nét lắm. Cũng là điều dễ hiểu. Theo vòng quay trái đất, có thể đã là mùa thu đẹp đẽ và mơ mộng nhưng thời tiết thì vẫn oi ả của mùa hạ. Thời gian đó gọi là thời kỳ chuyển mùa, hay giao mùa. Chuyển mùa, đổi mùa, thay mùa, giao mùa vẫn đều mang một nghĩa. Nhưng tôi thích cái từ giao mùa.

Giao mùa, một ý nghĩa nào đó, như thấy trong đó có sự trao đổi, giao hoan, vấn vít. Thời tiết khi đó quấn quít, đan xen. Mưa nắng, nóng lạnh như diễn ra vòng vo, không dứt khoát. Lệch một tí là bên này, chệch một tí là bên kia. Cái không rõ ràng đó cho ta thấy sự bấu víu, dùng dằng. Đó chính là cái mà con người ta dễ cảm nhận với những rắc rối, lòng thòng của sự đỏng đảnh. Đó chính là thời tiết.

Có những kỳ chuyển tiếp của sự giao mùa dễ lay động lòng người. Mỗi người đều có những kỷ niệm đẹp về thời gian, về bốn mùa của năm. Có sự chuyển tiếp mà con người ta mong đến sớm, để rồi mong nó qua nhanh, nghĩa là muốn lẩn tránh. Cũng có những sự chuyển tiếp mà người ta muốn níu kéo,  dùng dằng, không nỡ chia xa. Với tôi, đa phần của cuộc đời, đó là sự chia tay mùa đông để đến với mùa xuân. Khúc giao mùa giữa đông và xuân.

Năm nay đầu mùa đông không lạnh. Cứ nghĩ như vậy là nó phù hợp với sự “nóng lên của trái đất”. Thì cũng nghe vậy, nên nghĩ vậy và viết vậy, chứ đâu có hiểu cái nguyên nhân sâu xa về môi trường toàn cầu, về hiệu ứng nhà kính là gì đâu. Gần đến tháng cuối năm mà vẫn khối anh “phong phanh áo vải, hồn muôn trượng”. Cả nghĩ thấy tiêng tiếc, năm nay không có mùa đông! Mất đi một cái đẹp của xứ Bắc. Mất cái gì thì mất chứ, mất đi cả một mùa thì tiếc lắm!

Chẳng hiểu sao, mình lại cứ nghĩ và tự hào về cái riêng của mùa đông mà phía Nam không có. Cũng như mỗi địa phương, mỗi nơi có một cái riêng để tự hào. Tỉ như: con gái phương Nam đẹp một cách “thời đại” với những bộ cánh mùa hè. Sức trẻ, sôi động, nhạy bén thể hiện ở phong cách ăn mặc phương Nam. Còn nét kiêu kỳ pha một chút kiêu sa, trong cái đẹp lộng lẫy có sự đoan trang, lịch lãm là cách ăn vận trong mùa đông của các bà, các cô phương Bắc. Mình thích cái mùa đông phương Bắc, có một phần là thế.

Nhưng đấy chưa phải là tất cả của sự giao mùa. Nói đến giao mùa là phải nói về thiên nhiên, khí hậu, thời tiết và cả cỏ cây, chim chóc nữa. Trong đó, sự vấn víu, quấn quít của mùa đông với mùa thu hoặc mùa đông với mùa xuân, theo mình, là cái đáng suy ngẫm.





Khi những chiếc lá vàng rời cành, ta ngậm ngùi thương tiếc bâng quơ vì một sự liên tưởng. Cái mùa đẹp nhất trong năm, mùa của sự dịu dàng, của tình yêu sắp qua.  Nét đẹp của mùa thu để lại khiến lòng người vương vấn, không phải là cái đẹp thanh xuân, tươi trẻ mà đó là cái đẹp của sự chín chắn nhưng nhuần nhị, khiêm nhường. Ta thương mùa thu sắp qua, thương những cánh lá ta đạp dưới chân, bay bay trên phố, thương cái se se lành lạnh và thương cả cái cây đằng kia đang  khô nẻ để trơ ra sự gầy guộc.

Ta nghĩ đến mùa đông sắp tới. Mọi sự sống như bị co rút lại, ẩn mình đi như con sâu cuộn trong cái kén. Ta mường tượng sự im lìm, sự lạnh lẽo, sự trống trải… Mùa đông, mọi con đường như dài hơn, xa vời hơn, thê lương hơn. Vậy là mình không thích cái “khúc giao mùa” của mùa thu với mùa đông. Đang từ cái mơ màng bỗng chuyển sang cái giá buốt. Điêù đó cũng giống như, lảng bảng đâu đó một ý nghĩ, sự chia tay của sự già nua, xế chiều để về với lạnh lẽo, cô quạnh. Nghe hãi hãi, não ruột như về một chuyến đi xa vô định.

Viết đến đây lại nhớ ngày xưa còn bé, được xem bộ phim của Liên Xô nói về hoạt động của một nhà nữ cách mạng. Đoạn kết của bộ phim là cảnh mênh mông tuyết trắng, những vết chân trên tuyết của nhà nữ cách mạng cho thấy còn biết bao là gian nguy và thử thách đang chờ đợi trên những chặng đường tiếp theo, tương lai cũng mờ mịt ảm đạm. Lại nhớ cả Nguyễn Đình Thi, có bài thơ chia tay người yêu trong kháng chiến “Dừng chân trong mưa bay/liếp nhà ai ánh lửa/…chiều mờ gió hút/ nào đồng chí, bắt tay/ em/ bóng nhỏ/ đường lầy*” Đấy, hình như, tất cả mọi chia xa, đều lấy mùa đông để lý giải. Vậy là mùa đông có cái gì đó tượng trưng cho cái buồn, và nhiều khi cái buồn mùa đông là cho tâm hồn con người nó heo hút, rầu rĩ, não nề lắm.

Mùa đông trong tâm trí mỗi con người, cũng luôn mơ về sự đoàn tụ. Đó là nỗi niềm mong mỏi khát khao, nhưng hy vọng lại có vẻ mong manh. Hạnh phúc gì hơn trong lạnh lẽo, có được ngọn lửa sưởi ấm. Ngọn lửa đó chính là mái ấm gia đình, là sự đoàn tụ. Cái giá rét mùa đông làm cho con người muốn được gần gũi nhau, muốn được yêu thương nhau nhiều hơn. Đó là sự chống trả của con người với khắc nghiệt của thiên nhiên.





Mùa đông cũng cho những nỗi nhớ tê tái dầm dề. Tê tái dầm dề như những ngày mưa phùn gió bấc. Nỗi nhớ lặn sâu, đau buốt và dai dẳng không dứt như những cơn mưa. Nhẹ thôi, mỏng mảnh thôi nhưng khắc khoải lắm.
 
Ấy vậy mà tới lúc giao mùa, mọi sự lại khác. Sự bừng tỉnh như chồi bật trên cây, mắt lá xanh mướt lại đến, nõn nà phô bày, hồi sinh trở lại. Sự thay đổi kỳ diệu khiến ngỡ ngàng, khiến phải nhẹ nhàng, nâng niu. Vẫn còn đấy những sợi mưa li ti, nhưng ta lại gọi đó là những sơi tơ trời. Tơ trời ràng buộc ta với nhau. Những sợi tơ trời đó chỉ đủ làm long lanh những giọt sương. Nhìn những ngọn cỏ ngậm sương, ta mới thấy đất trời thật trong veo. Cảnh tượng đó cho lòng ta thư thái. Đấy là khoảng thời gian giao mùa của mùa đông với mùa xuân. Những tia nắng chiếu vào những hạt sương cho ta nhận biết sự lung linh, kỳ ảo của mùa xuân sắp tới.

Trong khoảng giao mùa giữa đông và xuân, không thể không nhắc đến tiếng chim hót đầu cành. Người thành phố ít được hưởng những phút thảnh thơi khi nghe các loại chim hót ríu ran vào những sớm mai. Nó là một dàn hợp xướng đang ca khúc giao mùa. Người già có thể hình dung đó là tiếng lũ trẻ đanh chạnh choẹ cãi nhau. Tiếng chim hót xua đi tất cả những mệt nhọc và ưu phiền. Tiếng chim hót ngày xuân còn bay bổng hơn, thú vị hơn khi ta nhìn lên bầu trời cao xanh. Lúc đó, ta nhận được từ tâm hồn ta sự thư thái, tự do và cao sang lắm

Nói đến chim lại phải nói đến hoa. Chẳng mùa nào nhiều hoa như mùa xuân. Những gì cao quý, sang trọng nhất đều dồn cho “khúc giao mùa” này. Mùa xuân là mùa hoa. Nhà nhà đều có hoa. Đi chợ hoa để ngắm hoa và để chuẩn bị đón xuân về là một chuyến đi chơi thú vị với nhiều người trong thời điểm này. Ở nơi đây, ta gặp nhiều nụ cười. Nụ cười nào cũng tươi như hoa. Chỉ thi thoảng, chỉ đôi khi, cũng gặp những nụ cười vất vả, âu lo. Những lúc đó, ta cũng trạnh lòng. Nhưng hơn hết thảy vẫn là hoa. Hoa cho ta thấy sức sống mới đang bật dậy. Ước mong sao cuộc đời mỗi chúng ta là những mùa hoa!

Cũng không phải không còn rét. Vẫn còn đó những luồng gió bấc tràn về. Nhưng ta đã cảm nhận được một sự hứng khởi, một khí sắc mới. Cho dù có “tháng ba bà già chết cóng” chăng nữa, ta vẫn thấy hơi ấm của mùa xuân. Cho dù còn rét Nàng Bân. Cái rét Nàng Bân là cái rét hạnh phúc. Chờ đợi, mong mỏi hạnh phúc và cũng muốn được chia sẻ hạnh phúc là bản tính vốn có của con người. Ta gọi những hạt mưa đầu năm kia là những hạt mưa xuân. “Mưa xuân cho cây tốt tươi, búp chen lá trên cành*”. Ta mường tượng những tiếng “ồ” vui vẻ khi mọi người hồ hởi nắm tay nhau, nhìn những vạt nắng vàng rải trên cánh đồng, chan hoà khắp ngõ xóm. Nắng mới lên, đấy là sự giao mùa của mùa đông với mùa xuân. Một mùa xuân mới bắt đầu.

 





                                                                                                              Vinh Anh-19/2/11

 
*Thơ Nguyễn Đình Thi và lời một bài hát trong trí nhớ của tác giả

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

MÁT LÀNH (thơ)





MÁT LÀNH

Mát lành nghe vẳng tiếng chim
Mát lành ai đó con tim bồi hồi

Mát lành ơi, một nụ cười
Mát lành đi giữa cuộc đời đậm hương

Mát lành nơi có tình thương
Mát lành nơi có vấn vương đợi chờ

Mát lành một giải sương mờ
Mát lành như tưởng... hững hờ nhớ ai

Mát lành ngọn gió ban mai
Mát lành ánh mắt chưa phai bụi trần

Mát lành em...dứng tần ngần
Mát lành tôi đợi ngàn lần và mong

Mát lành thu, phảng phất trong
Mát lành tôi mãi...mãi đong không đầy...



Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

NẺO ĐỜI (phần 14-tiếp-tiểu thuyết)

VINH ANH

                                             NẺO ĐỜI
                                                                                                                            Tiểu thuyết





14. Ngân học sĩ quan hậu cần, ngành học đặc lính, nghe đã thấy chất lính bốc ngùn ngụt rồi, ngành quân khí. Đến tận khi học, qua các bài giảng, Ngân mới biết tiền của đổ vào cho quân đội thật vô cùng lớn. Ngày đầu nhập ngũ, nghe nói đến bắn đạn thật cũng rất tốn kém, mà mỗi người chỉ được bắn ba viên, ấy vậy cả đại đội cũng đã tiêu tốn tiền ngàn tiền vạn. Lại thêm một điều rất khắt khe, bao nhiêu vỏ đạn bắn ra phải thu hồi hết. Để so sánh, cán bộ chính trị thường dẫn chứng, một quả đạn pháo, có giá trị bằng một gia đình trung nông làm đằng đẵng cả năm trời. Cứ nghe những con số đó mà phát sợ, muốn bỏ lính luôn. Tiền đâu mà nuôi một đội quân tốn kém đến như vậy. Lại thấy cái sự quan trọng của người chuyên lo bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí, khí tài, đạn dược. Đó chính là cái nghề mà Ngân được phân công học và phải tình nguyện phục vụ lâu dài trong quân đội.

          Những ngày đầu buồn và nhớ. Con người ta như cánh chim. Vậy là xa bọn Ngọc, Nhân và Sen cả tháng rồi. Những ngày mới nhập trường còn hăm hở với sự mới lạ. Cả bỡ ngỡ nữa. Rồi quen, rồi buồn, rồi nhớ. Nghe nói trường kỹ thuật kỷ luật cũng không đến nỗi nào. Vậy mà nghiêm còn hơn cả nghiêm. Kỷ luật còn hơn cả kỷ luật. Điều đầu tiên học viên được học là kỷ luật và nghiêm. Hình như chỉ có thế. Lơ mơ là chết. Chết tan thây. Chết mất xác. Mọi công việc cần phải thận trọng và chính xác. Không được sai, không khi nào được phép sai. Chao ôi, kinh quá. Chuyện kể có một giáo viên, học bảy năm ở Liên Xô, bằng đỏ hẳn hoi. Nghĩa là giỏi. Một ông thầy giỏi có thể đào tạo ra hàng chục, hàng trăm thợ giỏi. Vậy mà cái nghề không cho phép sai một lần trong đời ấy, thầy lại mắc, và đúng là không còn dịp để thầy sửa sai. Nghe kể mà Ngân cứ nổi gai ốc.




          Bài học đầu tiên chỉ để ghi nhớ, nhớ suốt cuộc đời. Không có điều kiện thực tập về những chuyện‘‘chết’’như vậy, nên phải nhớ. Những bài học sau lại kích thích tính tò mò của con người nhiều hơn. Đó là tìm hiểu khái quát về các loại vũ khí, lần lượt là bộ binh, công binh, pháo binh, hải quân, cao xạ... Cái gì cũng muốn sờ, muốn nhìn lâu lâu một chút cho bõ. Thầy giáo bảo, yên tâm đi, chỉ sợ không yêu nghề thôi. Suốt ngày dầu mỡ đấy em ạ. Có vợ chưa ? Chưa hả, rồi chẳng gái nào nó theo đâu. Như thầy đây này, ba chục tuổi đầu vẫn phòng không đấy. Cả lớp cười ồ. Tại thầy kén. Không phải đâu, bọn con gái nó biết hết đấy, nó bảo nghề thầy nguy hiểm, súng với đạn. Nguy hiểm lắm. Nhưng thực tâm chúng nó thích kỹ sư, bác sĩ hơn, cái nghề này dầu mỡ nhem nhuốc...

          Từ buổi chuyện vui với thầy, Ngân lại nhớ bọn Ngọc, Nhân và đặc biệt nhớ Sen. Dẫu sao thì cô bé đó cũng để lại một dấu ấn không phai của tuổi học trò ngây ngô, mới lớn đang hăm hở đòi làm người lớn và để chứng tỏ, đòi luôn cả được yêu. Càng nhớ, Ngân càng thấy Sen có vẻ đẹp hồn nhiên mang cả tính thánh thiện nữa. Cứ nghe cô nói về tình cảm với các anh bộ đội thì biết, rất vô tư và ngây thơ. Lại cả chuyện em mặc bộ đồ dân tộc ra tiễn mình tại sân ga nữa chứ, tình cảm thể hiện thật trong sáng, chẳng màu mè giả dối chút nào. Tình cảm trong Ngân bỗng ngân nga, một tiếng ca từ sâu thẳm núi rừng, từ tận đáy con tim, Ngân viết :

 

Để ta nhớ

Em tóc dài

Trinh nguyên gió núi

Áo chàm xanh

Tiếng suối vọng ảo mờ

Khúc then, tiếng đàn vồng ngực nhấp nhô

Ngậm hương rừng bồng bềnh dìu dặt


 

Lời hát như cánh chim

Buông lưng trời

Tôi cảm nhận qua từng khuôn mặt

Nét mộc mạc đơn sơ

Mà tỏa hương se sắt

Cảm ơn đời vẫn nguyên thủy tinh khôi

 

Xóm nghèo em ôm mây chơi vơi

Gờn gợn trong tôi đời thường tranh chấp

Những cô gái ôm chiếc đàn dân tộc

Ngón tay xinh giữ nhịp cuộc đời

 

Bất chợt ngỡ ngàng

trước thăm thẳm núi cao

Mà gần lắm

bởi em đằm thắm

Đời có thể sóng xô chìm đắm

Khoảnh khắc với em ta lại dạt dào

 

Cơn gió nào

mà cây lá lao xao

Để ta nhớ…

 

          Đêm không ngủ, nhớ tất cả các bạn

 

                                                            *****

Nhân viết cho Ngân: “Không ngờ thằng si tình có một bài thơ hay như thế. Thì hóa ra, khi yêu, tâm hồn và con tim người ta bay bổng thật. Mày biết không, nhận được thư, tao lập tức đi tìm Sen. Vẫn là cô bé ngày xưa mày mê mẩn đấy. Mà sao mày biết cô bé chơi đàn tính nhỉ? Vừa rồi, trường cô bé tổ chức liên hoan văn nghệ, tao đi xem, mới biết cô bé trong tốp ca của trường, vừa gảy đàn vừa hát “Cô gái Tày, cầm đàn lên đỉnh núi…” mới phát hiện, người mộng của mày lại thêm một tài năng. Cô ấy bảo sao “đã hớt lẻo cho các anh ấy rồi, ngượng chết”. Mỗi lần gặp, chúng tao đều nói chuyện về chúng mày rất nhiều. Chẳng thể nào quên được một thời lính binh bét, vác chuối nuôi lợn cùng nhau phải không? Cũng may mà do vác chuối nuôi lợn, bọn mình mới thêm thân nhau hơn. “Có một người bạn khăng khít còn hơn những người anh em ruột thịt”. Người đời ca ngợi những người bạn tốt như vậy cơ mà.

Chỗ chúng mày giờ này ra sao? Xứ Lạng vẫn như xưa, đẹp một cách yên bình. Chuyện chiến tranh ở đây ít nói tới ngoài mấy ông bộ đội. Sông Kỳ Cùng vẫn trong veo mùa nước cạn và ngầu đỏ mùa nước lớn. Tao và Sen vẫn vào chùa bên đầu cầu, ngắm đôi bờ dòng sông, ngồi ăn hồng ngâm và mắc cọoc chua loét ấy,  cả quýt nữa chứ, quýt rừng cũng chua. Sen đã dẫn tao vào rừng quýt. Ngày đó chúng mình cũng muốn đến rừng quýt nhưng toàn bận vào chuyện tình yêu, tình báo của mày nên lỡ dịp. Khi nào chúng mày lại có dịp quay lại xứ Lạng để đi chơi nhỉ? Sông Kỳ Cùng, cầu Kỳ Lừa, nhà thờ, sân ga sớm nào tiễn đưa, cả giếng Tiên nữa. Tao và Sen cũng đã trèo lên đó, lấy bút máy ra ghi tên mình vào khe đá. Thật dở hơi phải không? Đứng trên ngọn núi này nhìn thấy hết thị xã, càng thấy cái thị xã nhỏ bé con con này đẹp lắm. “thị xã Lạng Sơn với tôi/dọc ngang sải tay một với/chu vi vòng tay… chờ đợi / tháp chuông nhà thờ ngẫm ngợi/ con sông Kỳ Cùng xanh xanh”. Chúng mày thấy đúng thị xã mình chưa? “Tầu vào ga đỗ rất nhanh/ khác nào ga là ga xép/ bóng tầu lẩn vào đêm rét/ lờ mờ sắc chàm vây quanh/ rêu phong hằn trên mái cổ/ cho tôi cảm giác tự hào/ biết mình đang thời trai trẻ/ muốn thử sức với trời cao…”. Chúng mày thấy hình ảnh chúng ta ở trong đó chưa?Những cây phượng trong thị xã mùa này đang xanh mà sao cái thị xã này trồng nhiều phượng thế. Mỗi lần hè về, nhìn hoa đỏ, nhớ thuở nào da diết. Mình nói với Sen, em học năm cuối phổ thông rồi, hãy nhìn và nhớ những cảnh này, lần cuối trong đời học sinh đấy. Vậy là từ khi chúng mình biết Sen, cô bé bây giờ đã là một thiếu nữ rồi đấy. Đi chơi với cô ta, tự hào phết! Người đẹp của thị xã đấy.”

... …

Thư còn dài nữa, Nhân vốn là thằng hay chữ từ hồi còn học với nhau, Ngân đã biết. Gấp bức thư lại. Đọc đi đọc lại cũng buồn. Buồn vớ vẩn, buồn xa xôi. Vậy mà đã gần hai năm xa Lạng Sơn rồi. Nhanh thế. Chưa khi nào Ngân lại nghĩ thời gian trôi nhanh như vậy. Một thoáng bóng Sen, bóng Nhân đang trên rừng quýt. Sen đang bóc quýt đưa cho Nhân như buổi đầu mời ba chàng lính. Một thoáng tức tối. Ngân nhắm mắt. Vậy có lẽ… Ngân không muốn nghĩ nữa. Tình đầu dẫu đã phôi pha nhưng chưa thể quên. Mà sao Nhân không nói rõ tình cảm của nó với Sen để mình biết nhỉ? Chỉ thấy “lúc nào chúng mình cũng nghĩ đến các cậu…” Có thật vậy không? Thôi, phải bỏ qua thôi…

Lại nhớ chuyện của thầy giáo. Thật hay bịa chưa ai rõ nhưng đúng là thầy đã ba mươi tuổi mà vẫn “phòng không”. Hay là nghỉ phép về lại Lạng Sơn chơi nhỉ? Thăm bạn, thăm cố hương… Rủ cả thằng Ngọc cùng đi nữa cho nó “vô tư”. Những hình ảnh về thị xã Nhân viết đúng thế. “Gác chuông nhà thờ ngẫm ngợi…” Hay! Cái thị xã bé con con ấy chỉ đáng “một vòng tay” ôm thôi mà đầy ý nghĩa. Đọc thư của nó lại càng nhớ.

Vậy thì với cách viết của nó, nó không nghĩ đến cô bé cùng xóm chơi trò vợ chồng nữa rồi. Có người đẹp thị xã lúc nào cũng cặp kè còn gì. Nó là thằng nhiệt tình vun vào cho mình nhất. Vậy mà… Có thật thế không?




 

Sau đó mấy ngày, cả lớp xôn xao, thầy giáo ế vợ sẽ lấy vợ. Cứ tưởng thầy bị chê làm cho học trò của thầy cũng ế theo. Mọi người xúm vào trang trí hội trường cho ngày cưới của thầy. Cô dâu là một cô giáo dạy toán ở địa phương. Học toán chắc khô không khốc… Khi đến thông báo với lớp, thày đùa nói như vậy. Tình yêu mà cứ A cộng B bằng C thì chán chết. Đúng không các bạn? Các cậu phải lấy các cô dạy văn cho nó tình cảm. Mình nhỡ rồi, không rút kinh nghiệm được nữa. Nhìn thấy Ngân, thầy nói, bẻm mép như Ngân đây chắc lấy phải một cô suốt ngày im thin thít cho mà xem. Ghét của nào trời trao của ấy đấy…

Đám cưới của thầy thật vui. Bạn bè của cả thầy và cô đều nhiều. Hội trường mượn của đơn vị thiếu chỗ ngồi, thành ra kẻ đứng người ngồi nhấp nha, nhấp nhô. Các cô học trò và các chú lính mới như Ngân được phân các vai rót nước, giúp việc loong toong trong đám cưới vẫn liếc được nhau. Mồm mép như Ngân ngay lập tức được các nữ sinh để ý.

Sau các huấn thị của đại diện cơ quan hai họ với câu thành ngữ được nhắc nhở liên tục “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” là đoạn văn nghệ cây nhà lá vườn của hai trường mà lớp trẻ và quan viên hai họ chờ đợi nhất. Đám cưới “Đời sống mới” xôm nhất là vai trò của người dẫn chương trình và chương trình văn nghệ. Tất cả những bài tình ca, những bài hát hùng tráng về cách mạng và người chiến sĩ nối tiếp nhau. Xen kẽ những bài hát mà ai cũng thuộc đôi lời và giai điệu là tiết mục đặc biệt của Ngân. Ngân đọc bài thơ viết trong những đêm đầu tiên về trường, nhớ về người bạn gái nơi xa: “Để ta nhớ”. Khi đọc, hội trường im phăng phắc. Một tiết mục lạ, tự biên tự diễn của nhà trai. Chàng lính đọc với nỗi nhớ u hoài thật lòng về người bạn gái tuổi học sinh tóc dài ngang vai, nỗi nhớ về mảnh đất đầu đời thuở lính học trò, nỗi nhớ một mối tình trẻ thơ bỏ ngỏ, nỗi nhớ các bạn thân giờ đã mỗi đứa một nơi. Hình ảnh núi rừng và khuôn mặt tươi sáng như bông hoa, chao đi chao lại trong đầu Ngân, tiếng suối róc rách và trong vắt bắt nguồn từ thăm thẳm rừng sâu. Và khi câu kết “để ta nhớ” chấm dứt bài thơ thì hội trường vang dậy tiếng vỗ tay. Các bạn nữ sinh ùa lên tặng hoa cho Ngân. Anh lính Ngân của chúng ta rất ga-lăng mang tất cả hoa tặng lại cho cô dâu. Một hình ảnh đẹp, lạ của đám cưới “Đời sống mới”.

Khi Ngân xuống đứng cùng các bạn lính của mình, mấy cô nữ sinh túm đến nói chuyện. Ngân phải kéo các cô gái ra ngoài để chương trình văn nghệ còn tiếp tục. Và trong số học sinh cấp ba, học trò của cô dâu, Ngân đã làm quen được nhiều bạn mới.

Nhưng ký ức không thể trôi qua nhanh mà không để lại dấu vết. Một người còn trẻ, Ngân còn trẻ lắm, điều gì khiến con tim Ngân rung động, thôi thúc viết ra được những điều như vậy về nỗi nhớ, một nỗi nhớ thổn thức thì không thể chỉ là người hoạt bát nhưng hời hợt, vô lo, vô nghĩ được. Có thể nói Ngân là người hoạt ngôn thì đúng hơn. Đó là nói về sự phản ứng tức thì, nhanh nhạy của con người trước sự việc xảy ra, hoàn toàn không định được trước. Phản ứng được ngay và được nhiều người chấp nhận là điều không dễ.

Có thể chính cái rạp chiếu phim di động ngày xưa tạo cho Ngân có sự phản ứng lại nhanh và làm nên một Ngân bẻm mép, như cách dùng từ của thầy giáo.

Ngày bé học lớp một, lớp hai, Ngân đã từng đứng cả tiếng đồng hồ bên  chiếc máy chiếu phim quay tay bằng xe đẩy, cái máy chiếu phim mà bọn trẻ con có năm xu tiền vé được ngó vào tám cái ống nhòm, thông vào một màn hình bên trong chia đều ra hai bên, dọc thân xe. Khán giả được ngồi trên những chiếc ghế bạt gấp lại được và dán mắt nghển cổ vào ống nhòm.
 




Chủ rạp chiếu phim di động này là một ông gia ngoài năm mươi. Kho phim của ông rất nhiều chủng loại. Có thế mới thu hút được khách. Từ các loại phim hề của Sác-lơ, đến Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung. Từ các phim chiến đấu thời chiến tranh thứ nhất, thứ hai với các cảnh máy bay ném bom, xe tăng tấn công, hồng quân chiến thắng cắm cờ đến phim các phim võ hiệp vật vã, ám sát giết người ông đều có. Ông chủ rạp phim di động này vừa thuyết minh phim không cần xem trên màn hình, vừa từ từ quay để các cảnh trong phim chuyển động. Tiếng thuyết minh làm Ngân đứng bên ngoài cũng sốt ruột, tay cấu sườn thằng bạn có năm xu cho xem nhờ một tí. Những bộ phim chỉ dài chừng năm mười phút với lời thuyết minh hấp dẫn từ miệng ông chủ rạp làm bọn trẻ con đứng ngoài  ngứa ngáy và mê mẩn. Ngân nghe nhiều nên rất thuộc và đôi khi nhắc bài cho ông khiến ông chủ rạp rất thích cậu bé. Khi không đủ khách, trông thấy Ngân đứng cạnh, bao giờ cũng nhường cho cậu cái ghế thừa sát cạnh để tiện còn vỗ vai cậu đứng dậy trả chỗ cho đứa có tiền.

Trong giờ chơi, nhiều lúc cao hứng khi nhìn thấy một cảnh nào đó liên tưởng với các bộ phim “ống nhòm”, Ngân cứ vậy nói thao thao như đang thuyết minh cho khán giả xem phim. Bọn trẻ con rất thú quây lại nghe Ngân nói. Nói xong một tràng dài như vậy, Ngân cúi đầu rất nghệ sĩ, chào khán giả và làm động tác xin tiền rất có “nghề”, mặc dù chẳng bao giờ được bọn trẻ cho một xu.

Có lẽ vì vậy mà giọng đọc thơ của Ngân truyền cảm.

Ngân cứ vậy lớn lên rất “hoang dại”. Bố Ngân công tác xa, xa lắm tận biên giới Việt-Lào, mỗi năm chỉ về đúng một lần phép. Ông thường kể cho cả nhà nghe chuyện của núi rừng, chuyện mưa như tầm như tã, chuyện nước lũ về mênh mông năm nào. Cũng có khi ông kể về chuyện đói và thường xuyên đói. Ngân thích nhất là chuyện tiễu phỉ của bố. Ngân tưởng tượng chuyện của bố y như những chuyện chống gián điệp mà Ngân được đọc. Cậu cũng rất thích được phiêu lưu như bố trong khi bố chỉ mong mỏi được về gần nhà. Đã gần chục năm hòa bình rồi, bố mẹ vẫn chỉ như cặp vợ chồng Ngâu, mỗi năm chỉ một lần được qua cầu Ô Thước.

Ngân hiểu cuộc đời của bố là núi rừng. Bố nói người ta sẽ chết nếu không có rừng. Cả đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng, cả đồng bào Kinh dưới xuôi. Rừng vàng là thế! Bởi vậy, núi rừng đã ăn vào tâm khảm của Ngân, thành người quen từ rất lâu của Ngân. Gặp Sen, cậu cảm giác ngay đó như một sự giăng mắc của cuộc đời nếu chắp nối, liên hệ lại: bố và rừng, mình yêu bố và rừng một cách tự nhiên, Sen và mình… tất cả những cái đó đều liên quan đến rừng. Đấy có phải là định mệnh.
                           




 
ảnh lấy trên internet

SỰ TRƠ LÌ (suy ngẫm)


Sự trơ lì

 

Không biết gọi là gì cho nó thật sát, thật đúng cái gọi là bản chất, đúng tim đen của cái màn hài kịch vừa diễn ra. Không, phải gọi là trò hề  mới đúng. Mình bật cười đau khổ với những lời lẽ biện hộ cho sự nghiêm túc, thành khẩn trước nhân dân của cái tập thể là đỉnh cao trí tuệ của chín chục triệu đồng bào. Càng buồn cười hơn khi có những người đọc như phát khóc cái câu xin lỗi đồng bào vì sự yếu kém. Đang nằm nghe (vì mình không muốn nhìn mặt một ai cả) phải bật dạy nhìn xem ai đó có diễn trò lấy khăn mùi-soa để lau nước mắt, mà người đời vẫn gọi là nước mắt cá sấu hay không. Rồi lại cười một mình, vẫn là cái cười gằn đau khổ vì màn kịch. Không hiểu sách kỉ lục của nước Anh có ghi cái kỉ lục này vào không? Mình độ rằng, vở hài kịch này được nhiều người quan tâm nhất thế giới bởi những người có đầu óc suy nghĩ.

Không hiểu tại sao, suốt nửa tháng qua, mình lại “đắm đuối” với cái hội nghị này thế. Cứ hi vọng nó sẽ thỏa mãn được một phần nỗi bức xúc. Mình nói chỉ một phần thôi, bởi trong thời gian này, mình vẫn coi đoàn kết đánh Tàu, bảo vệ Tổ quốc là quan trọng hơn. Dẫu sao, nếu nỗi bức xúc kia được giải tỏa thì bầu không khí u u minh minh, ảm đạm, vật vờ này cũng sẽ bớt phần nào, khả năng để hi vọng một cái Diên Hồng quy tụ sự đoàn kết sẽ lớn hơn. Dẫu cho cái Diên Hồng “Sát Thát” không có khả năng xảy ra, nhưng chí ít nó cũng là một cái gì đó, như cái mà anh ở Bộ Ngoại giao vẫn tua băng.





Tại sao trong thời đại ngày nay người ta vẫn còn u mê như vậy? Người ta vẫn muốn đè đầu cưỡi cổ người khác. Mình rất thích từ “ngồi xổm”. Ở Quốc hội, khi nghe một ông tuyên bố, BCT không kỷ luật ai trong vụ vinashin, mình đã cho là ông ta ngồi xổm trên quốc hội. Ngày đó, chỉ ông ta nói, coi như chỉ một vài ông ngồi xổm, hay là thêm mười mấy ông  nữa, ngồi xổm trên năm trăm ông, trên cái gọi là quốc hội mà người dân đã quá hiểu thực chất của nó. Vậy cũng được! Thực ra trong năm trăm ông đó, chỉ có vài ông bà bị oan mà thôi, tất cả đều đáng, cho chết!

Nhưng cái sự ngồi xổm hôm nay nó khác. Đó là cái ngồi xổm trên cả nước. Những người còn quan tâm đến vận mệnh đất nước đang ngóng chờ một sự thay đổi của những ông đỉnh cao trí tuệ. Những chín chục triệu dân, cả một dân tộc mong ngóng. Vâng, nó là một dân tộc. Vậy mà các ông ấy ngồi xổm…  Thật chẳng còn từ gì để mà nói về các ông nữa.





Vậy là thất vọng, thất vọng cho cái sự yếu hèn của mình và của tất cả chúng ta, những người còn mang nỗi lo cho số phận đất nước. Tại sao chúng ta chỉ biết chửi, biết ca thán, thất vọng và cam chịu như thế nhỉ? Lương tri trong mỗi con người chúng ta biến đâu hết rồi? Chúng ta im lặng và để cho hành động “ngồi xổm” như vậy cứ tiếp diễn mãi sao?

Và vậy là những lời ra rả vừa qua về lợi ích nhóm, ma-phi-a ngân hàng, bọn cõng rắn cắn gà nhà, bọn sâu bọ, bọn tham nhũng… đều là tưởng tượng. Chúng không tồn tại ở nước ta.

Vậy là bọn vi-na-shin với vi-na-lai cũng không tồn tại;

Vậy là bọn cướp đất Văn Giang, Tiên Lãng, Vụ Bản cũng không tồn tại;

Vậy là bọn thao túng làm rối loạn ngân hàng cũng không tồn tại;

Cả cái bọn “ngộ, nỉ” trên Tây Nguyên đang đào bô-xít, đang thuê rừng đầu nguồn, đang thuê biển đánh cá, đang chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đang đấu thầu những công trình luôn chậm tiến độ với chất lượng tồi tệ, cũng không tồn tại;

Trên đất nước ta chỉ còn tồn tại cái bọn diễn biến hòa bình, thế lực thù địch trên các văn bản đe nẹt. Có chăng, đó chỉ là cái bọn đang đung đưa trên internet, trên các trang mạng xã hội, cái bọn bọn cờ lốc, cờ leo mà thôi.





Cũng qua đây, mình nhận ra cái sự trơ lì quá tởm lợm. Mặt dạn mày dày, không biết sỉ nhục, cố bám lấy cái lỗi thời, cái mục ruỗng để mang về cho bản thân và những người trong phe cánh sự vinh hoa. Thử hỏi, liệu cái sự đó còn tồn tại được bao lâu? Và nhận thêm ra, những người đó, mãi coi nhân dân chỉ là dân đen, với cái nghĩa đen đầy đủ nhất của nó. Hóa ra, thắng, thua, hòa cũng chỉ mỗi nhân dân là thiệt. Mình ở phe nhân dân.

           Vinh Anh-15/10/2012

 




Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

TIẾNG HÁT MÙA XUÂN (tản văn)

Quốc hội đang họp.
Dẫu thời tiết đã như vào đông, mình vẫn mong một mùa xuân.VA
 


                            

Tiếng hát mùa xuân

                            

 

Tôi sinh ra ở thành phố. Từ đời ông tôi, cả gia đình đã chuyển ra thành phố sinh sống. Cách mạng thành công, rồi kháng chiến, rồi chiến tranh. Ngày đó tôi còn bé, chắc chỉ độ chín mười tuổi. Bởi chiến tranh, tôi được gửi về quê, nhờ họ hàng chăm sóc. Vậy là tôi may hơn số anh em trong nhà, được biết quê. Tôi được hưởng hương vị quê mùa dân dã, biết cánh đồng óng ả ngày mùa,  biết chăn trâu, biết thế nào là hai sương một nắng và biết nhiều thứ mà sau này, mãi là kỉ niệm của tôi.

Tôi nhớ nhiều những ngày đông tháng giá. Khi những tia nắng vàng yếu ớt rải trên mái tranh, rải trên đường làng bụi bặm và khô khốc, hơi ấm của mùa xuân như bắt đầu nhen nhúm, bọn trẻ chăn trâu chúng tôi tụ tập lại trên bãi trống, mỗi đứa một chân một tay, nhặt nhạnh tất cả những gì có thể đốt được. Chúng tôi đốt lửa và xoa xít kêu rét. Khói lửa cuộn lên và chúng tôi cùng hơ tay lên đống lửa, những bàn tay bé xíu, gầy guộc.

Chợ làng tôi họp hàng ngày. Chợ họp trên bãi trống đầu làng, là nơi giáp ranh của đến những năm thôn khác nhau. Nếu không phải phiên chính, chợ đông nhất vào lúc mặt trời mới nhú khỏi ngọn tre và trong chốc lát, nắng găn gắt một chút, chợ lại vắng teo, để lại trên bãi trống vô số là rơm rác, rau dưa và vỏ bánh trái. Người vắng, chợ trơ ra những mái lều xiêu vẹo, quặt quẹo, gió thổi bay lất phất, rõ vẻ tiêu điều, nét đặc trưng làng quê ta hồi đó. Những ngày nghỉ học, tôi thích được đi chợ với bác tôi. Bác tôi không có con trai, nên tôi được bác chiều lắm. Nghe nói, ngay từ ngày tôi mới đẻ, bác đã nhận là cha đỡ đầu của tôi.

Ngay cửa chợ có một cây gạo. Không biết có tự bao giờ, những người già trong làng lớp lớp kế tiếp đều nói “Khi đẻ ra đã có nó rồi”. Thân cây thẳng tắp và cao. Dưới gốc gạo là tuềnh toàng một quán bán nước, một quán cắt tóc và đôi khi, những phiên chợ chính, là chỗ hành nghề của gia đình vợ chồng xẩm già. Ông bà xẩm có một đứa con gái trạc tuổi tôi. Gia đình xẩm này lang thang đi kiếm ăn khắp chốn làng quê, cứ nơi nào có hội hè, đông người là họ có mặt.

Lâu lâu không nghe vợ ông xẩm và đứa con gái hát là tôi lại nhớ. Nhớ nhất là giọng hát của con bé. Tôi thường nghe đám người nghe hát nói với nhau: “Cóc cụ đẻ ra cóc vàng”.

Quả thật, ngoài cái bề ngoài rách rưới, nghèo khổ, con bé có giọng hát rất ngọt ngào và trong trẻo. Tiếng nhị cò cưa của ông xẩm già nghe cứ ngang phè khe khé càng làm cho giọng của nó nổi lên mướt mát. Nét mặt gầy gò vì đói ăn nhưng thanh tú và hiền lành như thiên thần. Người ta đồn là vợ chồng ông già nhặt được nó cũng ở cửa chợ một vùng công giáo. Thảo nào, gương mặt nó dịu dàng, thánh thiện thế.

Bao giờ cũng vậy, sau tiếng dạo đầu chua loét vang lên từ cây nhị cũ kĩ, èo uột và sứt sẹo, là giọng ca sầu não ai oán của bà xẩm già. Mọi người bắt đầu xúm lại thành vòng tròn. Cứ độ có gần hai chục người xem là con bé hát. Con bé đóng vai kép chính của gánh xẩm. Tự nó cũng biết như vậy. Tôi ngồi phệt xuống đất vòng trong cùng, sát ngay mẹ nó. Tôi thấy nó nhìn tôi khang khác, hình như nó nhận được mặt tôi. Tôi không dám nhìn vào mắt nó, đôi mắt to và buồn vô tận.

Nó hát từ “Chinh phụ ngâm”, đến “con cò lặn lội”, chuyển sang “anh lính trấn ải nơi biên cương Cao Bằng”. Không hiểu sao, bài nào cũng buồn não nề, bài nào cũng thấy gió bụi xa ngái và heo hút cô đơn. Người nghe cứ lặng đi, tôi cũng cứ lặng đi theo từng câu hát. Nhưng tôi thấy có một ánh gì ấm áp khi nó nhìn tôi, tôi cảm thấy nó hay nhìn tôi và mặt tôi nóng bừng. Tôi thương cho người cô phụ, thương anh lính trấn ải lưu đồn, thương con cò lặn lội và tôi thương nó. Nó cũng mong manh, phất phơ như cây lau cây sậy bên bờ sông gió bấc.

Con bé hát xong, cầm cái nón mê đã mất vành ngoài của mẹ, đi vòng một lượt. Chờ người nghe vất vào đó những đồng xu lẻ, những tờ giấy bạc nhàu nhĩ. Nó không đến chỗ tôi ngồi. Tôi cũng đã chuẩn bị một hào, tiền của bác tôi cho. Tôi có cảm tưởng, tờ giấy bạc cứ ngó ngoáy trong túi quần của tôi.

Khi chợ đã vãn, mọi người đã ra về, tôi đến bên nó, đưa cho nó đồng một hào và cái bánh rán mà bác tôi vừa cho. Nó nhìn tôi cười. Tôi nghĩ đó là nắng ấm và mùa xuân. Tôi quên cả rét. Mùa xuân đã về thật rồi!

 
ảnh trên internet
                                                                                                     

1/09-Vinh Anh

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

TỪ VIỆN KHỔNG TỬ NGHĨ VỀ CON NGƯỜI NGÀY NAY (suy ngẫm)




Từ viện Khổng Tử nghĩ về con người ngày nay

 

Nói về con người, một vấn đề quá lớn, mình không dám bàn luận.

Nói về Khổng Tử và những học thuyết thiết chế chính trị về nhà nước phong kiến, đạo đức, đạo giáo của cả dân tộc Trung Hoa thống trị ý thức chính trị đất nước Trung Quốc một thời gian rất dài cũng là một sự việc quá lớn, mình cũng chịu.

Mình là dân kỹ thuật. Lại được sống cả đời dưới cái gọi là mái trường xã hội chủ nghĩa, đúng cái thời những người có trách nhiệm dạy bảo, luôn lên tiếng phê phán chế độ phong kiến thối nát nên, mù tịt về những lễ nghi, lễ nghĩa thậm chí cả phép tắc giao tiếp xã hội, mà người đời có học gọi đó là Khổng giáo, Nho giáo nên không thể nói là xa lạ với cái học thuyết cổ kị đã ăn sâu, bén rễ hàng ngàn năm trên đất ta.

Nhưng mà, rất nhiều lúc, mình nhận thấy người Việt mình thích Tầu. Có rất nhiều điều bị ảnh hưởng xuất phát từ cái nước lớn Phương Bắc này. Ngay cả mình, không hề được học về Nho giáo, họ hàng mấy đời chỉ thích “hướng Tây”, chẳng có một ai biết cầm bút lông, vẫn tự cảm thấy có những điểm nào đó nó như vốn có sẵn trong người, trong máu rồi. Cái sự lầm tưởng hay thích thú nó đến tự nhiên lắm. Thí dụ nhé, chuyện ngày hôm nay, bạn có thấy trên sóng truyền hình đầy dãy những phim Tầu các loại không, một sự xâm lăng văn hóa đấy. Nhưng nhiều người mà tôi tiếp xúc, kể cả các bậc chức cao vọng trọng, không hề biết chuyện đó, không hề mảy may coi chuyện đó là quan trọng, chỉ biết phim nó hay hơn phim ta và cứ vậy vô tư bật máy.

Ảnh hưởng đó là ảnh hưởng gì, cốt lõi từ đâu, khởi thủy từ khi nào và như thế nào? Nghìn năm Bắc thuộc đọng lại rất nhiều những tập tục trong nhân dân có xuất xứ từ những người Phương Bắc.

Tôi không phủ nhận sự ảnh hưởng của nền văn hóa Phương Bắc với dân tộc ta. Cái mà ngày nay người ta gọi là sự giao thoa văn hóa. Ngay trong Văn Miếu ở Hà Nội, chúng ta cũng thờ Khổng Tử đấy thôi. Trong một thế giới phẳng, việc đó cũng không đáng ngại.

Ngay như ở Hà Nội ta đây, có cũng mấy cái nhà văn hóa của các nước phương Tây được mở ra rồi đấy. Mình coi như đó là dấu ấn, điểm nhấn của sự phát triển tình hữu nghị, cái nhà đó để mọi người yêu mến nền văn hóa của nước đó đến giao lưu, trao đổi. Đẹp đẽ, cao cả và rất nhân văn. Mình nghĩ vậy. (Đương nhiên đừng cho mình là thiếu cảnh giác với các thế lực thù địch nhé, mình đủ trình độ xem xét)



Vậy nếu có bàn, mình chỉ dám nói cái ý về giáo dục, đào tạo con người.

                                            *****

Hôm nay thấy thầy Tầu sang ta, được phía ta cho phép mở viện Khổng Tử tại một trường Đại học  lớn ở Hà Nội, lại ngẫm đến cách giáo dục, đào tạo con người của nước nhà cho thế hệ trẻ hiện nay, tự nhiên buồn ngơ ngẩn, nỗi buồn xon xót, thất vọng xen trống chuếnh thấy nhục nhục và mất mát sao ấy. Có phải là trong cái bối cảnh hiện nay, anh Tàu lấn ta nhiều quá và ta mềm mỏng, nhún nhường nhiều quá; cũng có phải anh Tàu có nhiều bài “chơi xỏ và chơi khăm” quá còn ta thì chân thật quá, nên mình nghĩ vậy chăng? Vậy là trong lòng mình, nghe cái viện Khổng Tử của anh Tàu, thấy khó chơi lắm. Thằng cha này nó “thập diện mai phục” thì rồi khổ con cháu sau này.

Những bài học từ ngày còn trẻ con, mô tả bọn phong kiến phương Bắc áp bức, bóc lột nhân dân ta, bắt dân lên rừng tìm kiếm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, luôn muốn đồng hóa nhân dân ta, bây giờ lại được mình mang dạy cho con cháu. Không chỉ là lịch sử xa xôi như vậy đâu, ngay mới đây thôi, năm 1979, với dân ta, bọn chúng cũng vô cùng ác độc. Ký ức còn rõ trong hàng triệu người đang sống.

Mình thề rằng khi viết những dòng nay, mình là người rất yêu hòa bình và chán nghe tiếng bom nổ lắm. Nhưng một khi “kẻ thù buộc ta phải ôm cây súng” thì mình kiên quyết động viên cháu con sẵn sàng cầm súng.

Vâng, ngay từ đầu mình đã nói, vấn đề này lớn, lớn lắm, đừng có dại mà xía vào, người đời bảo ngu. Vừa viết vừa ngẫm, vừa viết vừa lo sợ đụng với chạm, vừa viết vừa nghĩ mình thì biết cái quái gì cơ chứ, mình là thằng quái gì cơ chứ… Nhưng rồi lại viết. Viết để xả cái nỗi bức xúc, nhục nhục, viết để răn dạy con cháu. Nếu sai, mong bạn đọc chỉ giáo.

                                                *****



Đầu tiên muốn nói đến đến là chuyện dạy dỗ trẻ con. Đến tuổi làm ông rồi, nên mình cũng có tí chút kinh nghiệm.

Xã hội mình chỉ được cái muốn thành tích, muốn nổi danh. Đến nay vẫn vậy. Bệnh thành tích đã được nhắc nhở nhiều, mà thói xấu đó chẳng có giảm chút nào hết. Người ta chỉ thích khen và nghe nói những điều hay, điều tốt. Điều xấu chỉ cho là cá biệt. Mấy năm trước, câu nói “cán bộ ta đa phần là tốt giờ không nói nữa vì đã có ông lãnh đạo nói đến(cán bộ là) bày sâu chứ không phải một con sâu(con sâu là chỉ bọn tham những và chỉ cán bộ có quyền mới có thể tham nhũng), nói đến một bộ phận không nhỏ chứ không nói số ít…” Nhưng cái cách nói đó cũng chưa thấm tháp gì hoặc nhìn vào cung cách xử lí các sai phạm, người ta thấy các ông ấy nói một đằng, làm một nẻo. Kiểu nói xa xa, ám chỉ, không dám chỉ tận tay, day tận trán, nói thật ra là không dám làm, dân không tin nữa.

Cuộc sống chật vật và tư duy chạy theo đồng tiền, đồng tiền có thể giải quyết được hết thảy khiến chúng ta mất quá nhiều thời gian nên rất nhiều gia đình đã sao lãng chuyện dạy dỗ con cái, phó mặc cho nhà trường và để xã hội tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến con cái của mình.

Từ mới đẻ, trẻ con đã tiếp xúc với tiền. Và sau đó là nhiều công việc phải dùng đồng tiền để cho nó ở tuổi mẫu giáo, học phổ thông và học tiếp. Đưa tiền cho trẻ con, thời của mình, không nhiều lắm. Thời đó một phần vì nghèo, cả xã hội sống trong một mặt bằng nghèo, một phần vì người ta chê hành động cho tiền đó là phong kiến, muốn đánh đổ ý thức hệ của nó, một phần nữa đó là phương cách giáo dục, người ta bảo người có mục đích vì đồng tiền là người xấu, người cách mạng vì dân vì nước không bao giờ vì quyền lợi ích kỷ, vì đồng tiền… Lý giải về sự tốt xấu của nó nhiều lắm nhưng nói chung, thời của mình, người ta sống vì “lý tưởng” nào đó nhiều hơn. Tổng hợp những điều đó, mình cho rằng, những người tốt, tử tế, có tư cách, có phẩm giá có nhiều hơn trong xã hội ngày nay.

Trẻ con hiện nay, thực ra, chỉ biết đến bố mẹ, sau đó là xã hội tác động vào. Xã hội chính là những bạn cùng trang lứa, người ngoài cuộc chơi của chúng mà tác động được, không nhiều. Nhà trường trong quan niệm của chúng là nơi bố mẹ chúng nó phải trả tiền để mua kiến thức cho chúng. Những người thày còn có tâm vì trẻ thơ bây giờ hiếm lắm. Khi mà những người thày còn cầm những đồng tiền mà chúng trả công thì không bao giờ trong đầu óc chúng còn toàn vẹn cái nghĩa của chữ “thày” hết.

Vậy là trong đầu óc chúng, sự giả dối, man trá chúng nhận biết được bắt đầu ngay từ những ngày đầu tiên đến lớp. Tôi cực đoan khi nghĩ rằng, vì cuộc sống, đa số các thày cô khi có điều kiện đều “lấy” tiền từ học sinh thân yêu của mình.

Một môi trường như vậy không thể đào tạo được những con người tử tế trong xã hội. Cảnh thanh niên xổ ra đường hâm mộ sao Hàn, khóc nức nở, hôn ghế sao Hàn ngồi, mời trai đẹp đến giao lưu… là sản phẩm của nền giáo dục vì đồng tiền của những nhà giáo dục hiện nay.



Cũng như vậy, lời thề Hy-pô-cơ-rát không hoặc chưa bao giờ được coi trọng vì thế mới có những bác sĩ “giết” bệnh nhân một cách dã man vì đồng tiền. Ngành y tế đã bao giờ dám công nhận điều này khi mà bà Bộ trưởng luôn nói đến và bênh vực cái sự tăng viện phí để nâng cao khả năng điều trị. Thông tin về những người bệnh bị chết tại bệnh viện khoảng nửa năm lại đây đều liên quan đến cái sự “vô tâm/ hay nhẫn tâm” của người “nhà y”.

Cũng vì thế mà hình ảnh hàng đoàn những người nông dân thất nghiệp đi xuất khẩu, những cô gái chưa chồng phải đi làm vợ xứ người đều là sản phẩm của những đầu óc chỉ vì đồng tiền. Sao chúng ta không biết tuyên truyền một cách khác cho nó “con người” hơn. Tôi xin mở ngoặc hỏi các vị làm truyền thông, các vị có chức có quyền, các vị có muốn con cái chị em các vị lâm vào hoàn cảnh đó. Ở đây, mang tiền về cho Tổ quốc không phải vì yêu nước đâu, vì hoàn cảnh bắt buộc đấy ạ.

Cũng vì thế mới có hàng đoàn người dân mất đất kêu oan cả mấy năm trời không được giải quyết, phải gối đất năm sương, sống tạm bợ nơi vườn hoa, hè phố,  chờ mong, chầu chực lời khẩn cầu thấu đến “thiên cung ”.

Cũng vì thế học sinh sinh viên có mấy cháu biết đến Hoàng Sa, Trường Sa. Nghe địa danh Gạc-ma của quần đảo Trường Sa lại tưởng thành phố nào đó bên Châu Mỹ(!)

Vậy là từ nhỏ, nhà trường đã không dạy đến nơi đến chốn lòng tự hào dân tộc, không biết yêu quí từng tấc đất của tổ tiên, ông cha để lại, nên xem phim Tàu, thuộc sử Tàu còn hơn sử Ta, xem phim ta là thế. Đến hôm nay, lại thêm cái viện Khổng Tử (chắc cái này được biếu không thôi) rồi thi sẽ trễ nải cái chuyện dạy cho dân ta, biết sử ta đến thế nào nữa

Đồng tiền đã choán ngợp mỗi vị trí của con người trong xã hội ngay từ thuở ấu thơ. Trẻ con biết đồng tiền mua được tất cả, cả lương tâm cao quý con người. Có thể nhận định nền tảng đạo đức của xã hội này đang đổ vỡ, đang tan chảy, đang biến mất. Lòng tự hào dân tộc không còn. Nếu có thì nó chỉ còn trong suy nghĩ, nơi nào có tiền thì nơi đó là Tổ quốc.

Vậy nên tôi nghĩ, chẳng cần gì cái viện Khổng Tử để nghiên cứu những triết lí sâu xa và cao vời vợi làm gì. (Đương nhiên nếu nghiên cứu thì đó là chuyện bình thường, nhưng với bạn Tàu, hãy đề phòng hậu họa sau này).

 Hãy xây, hãy dạy và giữ lấy tâm hồn trẻ thơ trong mỗi con người. Hãy dạy chúng biết yêu đất nước và yêu đồng bào của mình.
                                                                     23/10/2013 Vinh Anh
 

 
ảnh lấy trên internet