Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Nhân ngày 22/12. nghĩ về đồng đội


Nhân ngày 22/12, nghĩ về đồng đội


Như định mệnh, tôi nối nghiệp cha, làm lính từ khi chưa đến tuổi nhập ngũ. Cái gọi là định mệnh hay số phận đó kéo dài suốt cả cuộc đời. Dẫu rằng, trong thẳm sâu, tôi không thích làm lính hơn làm các nghề khác, mà ở tuổi mộng mơ chẳng ai không thích, như trở thành kỹ sư, bác sĩ chẳng hạn. Không thích và không dám nói ra suy nghĩ thực của mình, đó là hệ quả  một “thói quen” của những người trưởng thành và sống ở “miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, cũng là cách nói của hầu hết những học sinh đã học tập, trưởng thành ở những năm sáu, bảy mươi thế kỷ trước. Trưởng thành từ “mái trường Xã hội chủ nghĩa” thành một “thành ngữ” quen thuộc của lớp người có đôi chút học hành thời đó.
Tôi tôn trọng rồi dần yêu quý cuộc sống trong quân ngũ của mình. Cũng phải nói thật, cuộc sống quân ngũ của tôi có nhiều thuận lợi, cuộc sống binh nghiệp ít xáo trộn và nếu so với những người bạn cùng trang lứa, dù rằng sống trong thời chiến, cuộc sống quân ngũ của tôi ít nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy mà tôi vẫn sống , vẫn tồn tại. Có thể vì thế tôi không dám nói đến sự hy sinh, ngay cả với con cái trong nhà, chúng cũng chỉ biết sơ sơ bố nó chiến đấu trong B suýt chết. Gặp bạn bè cùng đơn vị, nghe bọn chúng “chém” về những năm tháng đã trải qua, tôi chưa bao giờ nói về sự “hy sinh quên mình” của anh lính là tôi, cho dẫu cái “suýt” của mình khi ngẫm lại cũng ghê ghê đấy.
Rất nhiều lúc cảm thấy ngượng khi một ai đó biết về tôi, kể chuyện “chiến tích ngày xưa”. Một “ngày xưa” mà tôi chỉ dám tự hào với chính bản thân. Nếu ai đã từng sống những ngày chiến tranh trên chiến trường B5, với những người lính “cơm Bắc, giặc Nam” như bọn B5, thì chuyện ra vào vùng đất bom đạn đó cũng bình thường thôi. Ấn tượng về cuộc chiến ngày đó là nỗi sợ chết chỉ xảy ra trong chuyến đi đầu tiên. Những lần sau, nó quen, nó trơ đến nỗi chỉ đôi lúc nghĩ: sao số mình đen thế, cứ có việc (đi B) là tên mình được nhắc đến.
Thôi thì chiến tranh, chuyện vui, chuyện buồn đều có. Hôm nay, sau mấy chục năm, nếu nhắc lại chuyện những ngày chiến tranh gian khổ thì phải chọn đúng đối tượng (bọn trẻ ngày nay không mấy đứa thích nghe chuyện cha ông chúng đâu), nghĩa là chỉ nói khi có mặt bọn cựu lính đã cùng nhau tham gia một chiến dịch nào đó, một mặt trận nào đó. Lúc đó thì thằng nào cũng to mồm “chém”, thằng nào cũng giỏi, thằng nào cũng trải qua hiểm nguy, thằng nào cũng xứng đáng là tướng. Tôi đã dự nhiều cuộc hội ngộ và thấy nó là như thế. Cũng từ cái chuyện “chém” và tự cho là mình thành anh hùng đó, ngộ ra chuyện “ra ngõ gặp anh hùng” của đất nước ta. Chúng ta cứ tâng nhau lên bằng lời nói để cho đẹp lòng nhau, “lời nói chẳng mất tiền mua” và từ đó thành quen, ai cũng “ngộ”ra cái công lớn của mình trong cuộc chiến đó.
Nhiều năm lại đây, thấy “chất lính vì nhân dân” không còn nữa. Không những vậy, tiếng thân thương gọi người lính là “anh bộ đội” cùng bộ quân phục mang màu xanh, sắc cây rừng một thời rất gắn bó với lính, cũng đã thay đổi và chẳng còn đọng được mấy ấn tượng trong lòng người dân.
 Tôi nghỉ hưu và vì thế chất lính, máu lính cũng phai nhạt, sự nhạt phai có phần do lỗi của chính tôi và có phần của xã hội. Phần của xã hội thì nhiều lắm và như một thứ bệnh của dân mình, cách nói của người Việt hôm nay là chỉ thích đổ tội cho khách quan. Tội lỗi mà chúng ta gây ra hôm nay cho đất nước không phải do ta mà do đâu đó bên ngoài tác động. Cái thằng “đâu đó” phải hiểu chính là thằng phản động, thằng thù địch.
Vì vậy, tôi chỉ nói về phần trách nhiệm của những người lính, những người lính đã từng làm nên những điều kỳ diệu, vẻ vang năm xưa. Tôi cũng là một trong những người lính đó, vẫn đang sống với tâm trạng giống họ và nhận ra, đa phần chỉ biết gặm nhấm quá khứ và hầu như rất nhiều người lính không biết đến hiện tại hôm nay, một hiện tại đắng cay chua xót.
Những con người đã góp phần tạo “cái vinh quang” hôm qua, vì rất nhiều lý do, hầu như ai cũng im lặng trước thực trạng xã hội hôm nay. Vài đôi lần, tôi nói với các bạn cũ của tôi: “ Các ông cùng tôi từng chia sẻ ngọt bùi, đói khát, ác liệt thời chiến tranh, có thằng đã chết, bọn nó đều chết trẻ, các ông có khi nào nghĩ đến chúng nó không và đặc biệt có làm gì để tưởng nhớ, cho vong linh chúng nó được siêu thoát không, chúng nó rất nhiều, đã mấy chục năm nay, rất nhiều đứa không đưởng suy tôn, bị xã hội hầu như lãng quên”
 Nhận ra, cái dũng khí trên chiến trường năm xưa không còn thấy ở họ, đa phần chỉ thấy một sự yên phận, sự yên phận có phần nhẫn nhục trước cái ác, cái bất công vẫn nhởn nhơ trong cuộc sống.
Tôi biết các bạn tôi không quên bạn bè đã chết nhưng câu hỏi của tôi đánh vào lòng tự trọng của họ. Chúng nó-bọn bạn tôi ngày xưa ấy cũng có vài ba người thấy xấu hổ, ngượng ngùng. Nhưng họ, những người bạn của tôi ngày xưa, chưa vượt qua được ngưỡng sợ hãi vô hình mà cố hữu, triền miên trong tiềm thức từ rất lâu, rồi họ để cho nó trôi đi theo dòng đời.
Nhưng tôi chua xót vì sự im lặng đó. Sự im lặng không những đáng sợ mà còn đáng lên án, đáng khinh, đáng nguyền rủa, đặc biệt với những ai, có kiến thức và đủ nhận biết được cái điều “sợ hãi” đó mà lại ngậm miệng thủ thế, chờ thời.


Buồn hiu hắt và buồn nhẫn nhục làm sao khi về già có quá ít người có thể sẻ chia, có thể dốc bầu tâm sự trước nỗi đau của dân tộc đang diễn ra trước mắt. Đau vì phải âm thầm bỏ qua những điều đất nước bị sỉ nhục, vì lực bất tòng tâm và điều căn bản nhất, mấu chốt nhất mà những người lính cùng thời với tôi không dám thừa nhận, đó là sự sợ hãi. Sự sợ hãi đã khiến chúng ta không dám thay đổi nếp sống, nếp nghĩ đã quá ư là cỗi cằn, cổ hủ.
Tôi muốn dùng thêm chữ “hèn nhát” để chỉ thêm ra cái đê hèn của sự xấu xa, nhu nhược. Từ ngữ như vậy có lột tả đúng trạng thái tinh thần, đúng nhân cách những người lính cùng thời với tôi không? Tôi vẫn thấy từ đó diễn tả chưa đúng cái điều tôi nghĩ. Những người lính cũ đó không nghĩ như vậy đâu. Họ biết cả đấy! Biết nhưng mà sao họ cứ âm thầm chịu đựng. Và nỗi bí bách trong lòng tôi lại nổi lên.    
VA 20/12/16

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Fidel, Cu Ba và tình cảm của tôi



Fidel, Cu Ba và tình cảm của tôi

Mấy hôm nay bận, chỉ lướt qua vài dòng tin về việc Fidel qua đời. Thấy các bạn trên face.  nói về Fidel với những điều theo mình không thật công tâm, hoặc do các bạn còn trẻ, chưa thấm cái tình ngày xưa của Fidel và CuBa với dân mình, hoặc do “cái” ngày nay có nhiều chuyện xảy ra trong nước và thế giới bởi các chế độ hiện tại nhưng có tính độc tài, phản dân chủ, cảm thấy có bạn có phần nói hơi quá về Fidel. Mình cũng tham gia vài ý. Nếu bạn nào ném đá to, mình sẽ tranh luận lại, con đá nhỏ thì cho qua.


Fidel qua đời, tôi không bất ngờ vì sức khỏe của ông đã được dự báo từ trước, ông đã rời bỏ mọi chức vụ mình tuy không thể nói ảnh hưởng lớn của ông vẫn còn với đông đảo nhân dân và đất nước Cu Ba. Thương tiếc không? Cũng chỉ “vậy là rồi ai cũng chết” với một nỗi buồn nhè nhẹ của riêng mình như gió thoảng mà thôi. Vì thật ra, tin tức về ông và về Cu Ba cũng “khoan nhặt” lắm. Bởi cũng đã từ lâu, tình cảm hoặc quan hệ nhà nước giữa VN-CB cũng có chiều phai nhạt (nhận xét của cá nhân tôi) vì như đã nghe đồn, Fidel hoặc Đảng Cộng sản Cu Ba, sau “cái” đổi mới lần đầu của Việt Nam, đã có phần nghi ngờ sự trung thành với chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản, và đặc biệt, đã dần xa rời chủ nghĩa Mác, thứ chủ nghĩa mà Fidel thờ phụng, suốt đời tuân theo.
Ở nước ta, không có những cá nhân bỏ công sức và cuộc đời để nghiên cứu tiểu sử những con người cụ thể, có thể gọi đơn giản, dễ hiểu là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng với thế giới. Tất cả những nhân vật được gọi là học giả hoặc viện này viện khác của Việt Nam, khi nghiên cứu lịch sử một cá nhân nào đó, một vấn đề thời sự nóng bỏng xảy ra trên thế giới đều theo định hướng, vì thế đương nhiên, đó đều là những kết quả không có giá trị.
Với Fidel cũng vậy. Tôi nghĩ con người nay có ảnh hưởng đến thế giới, chí ít cũng ở Châu Mỹ La tinh, rất đáng để người Việt nam, mà ít ra cũng nửa dân số một thời yêu mến, cảm phục phải để tâm nghiên cứu. Chúng ta có chuyện để nói đến con người này, cũng đa phần xuất phát từ tình cảm yêu mến cá nhân, từ sự căm ghét chế độ độc tài mà Cu Ba là một thể chế điển hình không kém Việt Nam, để lại ảnh hưởng và di hại rất lớn cho nhân dân Cu Ba một thời gian rất dài và khắc phục được nó cũng cần một thời gian dài không kém.
Dông dài nhập đề như vậy là đủ. Tôi xin nói về tình cảm của mình như đầu đề bài viết.
Thế hệ tôi ở miền Bắc là cái thời vô cùng thiếu thốn thông tin. Tôi phải nhấn mạnh là thời kỳ đói thông tin ghê gớm, tất cả những gì dân chúng biết được về thế giới đều thông qua báo đảng, Cu Ba và Fidel được biết đến trong điều kiện đó. Vì thế, Cu Ba và Fidel có một sự liên kết máu thịt gần như là thiêng liêng. Cu Ba là một nước nhỏ và lạc hậu như các nước vùng Ca-ri-bê cách đây dăm sáu chục năm, nhưng người ta chỉ biết Cu Ba là một đất nước anh hùng. Cu Ba so với mặt bằng các nước xã hội chủ nghĩa ngày đó cũng là một nước nghèo, chỉ đứng trên Việt Nam. Cu Ba chỉ có đường và mía, một đất nước nhỏ với chưa đến chục triệu dân nhưng có chương trình 10 triệu tấn đường. (Hình như sau đó kế hoạch này thất bại). Người miền Bắc đã từng ăn đường màu vàng của Cu Ba.
Còn cụ thể tình cảm với Việt Nam là câu nói của Fidel: “Vì Việt Nam, Cu Ba không tiếc máu của mình” và Fidel cũng như đồng bào của ông có phong trào góp máu cho Việt Nam. Vâng, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, huống hồ đây là máu.
Sâu lặng hơn những lời tuyên bố là hành động cụ thể. Cu Ba đã giúp Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh. (Cuộc chiến không mong muốn mà người miền Bắc ai ai cũng phải tham gia. Hầu hết người miền Nam cũng vậy. Lịch sử đã xảy ra như thế và bây giờ những ai lên án, cứ như là chúng ta đứng ngoài cuộc. Không, tất cả chúng ta, những người thuộc thế hệ tôi, đều có lỗi với lịch sử và những đau khổ tang thương đã xảy ra). Trên tuyến đường Trường Sơn mở rộng sau hiệp nghị Pa-ri để cho “những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến”, tôi đã thấy rất nhiều máy móc làm đường, mà nghe nói có phần rất nhiều của Cu Ba. Nên nhớ, trước hiệp định pa-ri, máy móc làm đường đưa vào Trường sơn được rất ít.
Năm 1973, như một sự tình cờ, khi Fidel của Cu Ba vào tận vùng giải phóng Quảng Trị và tôi vì nhiệm vụ riêng, hoàn toàn không liên quan đến chuyến thăm của ông, luôn đi sau những nơi ông đến trên đất Quảng Trị. Chuyện ông dừng xe bên đường ngày đó để cứu giúp một người dân bị thương vì bom đạn chiến tranh có thể là tiền đề cho bệnh viện Đồng Hới sau này Cu Ba tặng cho nhân dân Việt Nam. Hình ảnh ông phất cờ, đạp chân lên nòng pháo “vua chiến trường” ở căn cứ Đầu mầu trên vùng đất còn đầy bom đạn, thể hiện một điều gì đó một Fidel lăn lộn, đồng cam cộng khổ, “rất chi là” chia ngọt sẻ bùi với Việt Nam. Tôi rất ấn tượng và có cảm tình với ông.
Sau 1975, Cu Ba vẫn giúp Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh. Công trình ấn tượng nhất với tôi, có lẽ là đoạn đường Xuân Mai-Sơn Tây khoảng 30 cây số. Cũng có lẽ, đây là con đương đẹp nhất miền Bắc sau chiến tranh. Đẹp và chất lượng nhất. Dân miền Bắc gọi là đường Cu Ba, cũng mang theo tình cảm đó.
Tôi có dịp dừng chân trên con đường này ngày công nhân Cu Ba còn đang xây dựng để xem công trình rất được “bàn tán”. Cùng xem với tôi, vì hiếu kỳ, còn rất nhiều người khác. Tôi đã thấy những người công nhân Cu Ba làm việc cật lực như làm việc cho đất nước của họ, như cho chính nhà họ. Và một điều bất ngờ, một người công nhân nói: “Cu Ba làm, Việt Nam chơi”. Khi nói đến từ Cu Ba, anh ta chỉ vào ngực mình, khi nói đến từ Việt Nam, anh ta chỉ vào người đang xem đứng cạnh anh. Tôi ngượng, còn đám đông thì cười vui vẻ như trò đùa. Anh công nhân Cu Ba còn nói đi nói lại câu đó.
Có thể có những người công nhân chưa hiểu hết cái gọi là “phong tục”, tính cách tò mò của người Việt Nam chúng ta. Nhưng qua sự việc đó, thấy còn thể hiện phần khác quan trọng hơn, người ta làm việc ra làm việc, còn người Việt chúng ta vốn cũng chẳng cần cù, chăm chỉ như sách báo vẫn tuyên truyền, ca ngợi. Sau này tôi còn nghe kể:“ Họ, những người Cu Ba sang giúp Việt Nam làm con đường đó, không bao giờ nghỉ trước giờ làm việc. Nếu một việc nào đó còn dở dang khi đã gần hết giờ, họ sẽ làm đến tận cùng cho xong, dẫu có quá giờ.” Dẫu đó chỉ là nghe nói, nhưng trong suy nghĩ của tôi, cách làm việc của họ hơn người Việt mình là cái chắc. Người dân Cu Ba, qua ảnh hưởng của Fidel, với Việt Nam vẫn có một mối thiện cảm đặc biệt.
Những ngày đó đã lâu rồi. Đến gần đây, có thể vì những bất đồng trong các mối quan hệ quốc tế, tình cảm Cu Ba-Việt Nam một thời gian lâu sau mới được hâm nóng. Đó là Việt Nam đã đổi mới, còn Cu Ba vẫn trì trệ vì kiên định XHCN. Sau này, đôi khi có những chuyến thăm viếng của các vị lãnh đạo nước ta với những món quà mấy trăm cái máy tính hoặc ngàn tấn gạo giúp Cu Ba những lúc khó khăn, tôi vẫn thấy không xứng tình cảm ngày xưa người Cu Ba với dân mình trong hoạn nạn.
Fidel đã đến Việt Nam ba lần. Mỗi lần ông đến, tôi đều thấy tình cảm của người Việt Nam đón tiếp ông rất chân thành. Liệu tôi có chủ quan?

Với Fidel, tôi cũng như rất nhiều người Việt Nam chỉ biết ông qua tuyên truyền. Vài ba chục năm lại đây, ít nói đến ông vì những lý do tế nhị gì đó mà dân đâu có biết. Tôi vẫn ngưỡng mộ ông, sự ngưỡng mộ có từ thời trai trẻ với suy nghĩ ông là một con người đặc biệt, hiếm có, ngoài tình cảm với Việt Nam ông còn có tác động đến thế giới với những bài phát biểu hùng hồn, không giấy tờ, dài ba bốn tiếng, lôi cuốn lòng người và đọng để cho đời.
Ông là một trí thức, một người có học, một luật sư thực thụ và vì thế, trước tòa án của chế độ độc tài Ba-ti-sta, trước ngày cách mạng dành được chính quyền, ông đã tự bào chữa cho mình với câu nói nổi tiếngCứ kết án tôi đi. Điều đó không quan trọng. Lịch sử sẽ phán xét tôi vô tội”Ông nói năm 1953, khi tự bào chữa cho mình tại phiên xét xử những chiến sỹ cách mạng tham gia cuộc tấn công trại lính Moncada ở tỉnh miền Đông Santiago de Cuba, trong đó Fidel chính là người khởi xướng và chỉ huy.
Ông và Đi-mi-tơ-rốp của Bun-ga-ri đã có dịp lên án chế độ độc tài Ba-ti-sta hay phát xít Hítle ngay tại tòa án của chúng. Câu nói đó cũng như câu nói của thày giáo Lê Quang Vịnh “Tiếc rằng nó (quả lựu đạn) không nổ” là những câu nói để đời của những con người dám hy sinh cho lý tưởng.

Còn vì sao, các bạn của tôi không có thiện cảm với ông, thậm chí có người còn có những lời lẽ kết án ông, coi ông như một tội đồ, một “thây ma” sống dai dẳng với những tội lỗi nặng nề?
Với tôi, quả thật, làm một người dẫn đường như Fidel (và với bất kỳ ai, dân tộc nào cũng vậy) để nhân dân Cu Ba sống trong cảnh thiếu thốn, bất hạnh là một tội lỗi. Phải nghiêm khắc nói là một kẻ có tội. Tôi cho rằng như thế là chính xác. Rồi sẽ đến lúc lịch sử sẽ phán xét ông, xem lại thời kỳ đất nước dưới sự dẫn dắt của ông, đâu là công và đâu là tội như ngày nào ông đinh ninh “lịch sử sẽ phán xét ông vô tội”. Tiếc rằng câu nói đó xảy ra khi ông còn rất trẻ, con đường đi tìm khát vọng dân chủ, hạnh phúc của ông cho người Cu Ba đã quá lâu rồi, ông đã trị vì trên hòn đảo nhỏ bé xinh đẹp quá lâu. Ông cũng đã nhiễm căn bệnh sùng bái cá nhân như một số bậc tiền bối.
Từ sau khi Liên Xô sụp đổ, những người như ông vẫn cứ u mê với những lý luận của Mác về tiến hóa xã hội là một sự trì trệ, bảo thủ. Ông cứ kiên định Cu Ba theo CNXH, vẫn cố tình như không thấy thế giới đã thay đổi là sai lầm mà sai lầm ngày càng thấy rõ. Với con mắt chậm chạp hoặc cổ hủ của ông, ông đã làm tổn hại dân tộc Cu Ba. Điều này, vài năm trước khi mất, chắc ông đã nhận ra. Nhưng con người luôn có một sự bảo thủ ghê gớm, đặc biệt có những kẻ tự huyễn hoặc về sự vĩ đại của mình.
Có thể ông là như thế.
Mới hay, không có gì để có thể thay đổi khi cứ giữ mãi, tôn sùng mãi một con người, một chính đảng. Sự sai lầm luôn đi đôi với thời gian tồn tại của con người và chính đảng của nó.
Hơn lúc nào hết, qua sự việc con người Fidel, đất nước Việt Nam cần một sự lột xác để đi lên.
Vinh Anh 28/11/16



Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

CẢI TẠO XÃ HỘI

Cải tạo xã hội

Tôi suy nghĩ và chọn cách nói sao cho thích hợp hơn với đông đảo. Tôi muốn mọi người nên có sự thay đổi trong suy nghĩ, một sự đổi mới trong hành động, khác với những chuyển động  chậm chạp, trì trệ, giáo điều hiện nay. Nghĩa là muốn có sự thay đổi thật sự xã hội hiện nay. Đã thay đổi thì không thể ù lì. Vậy thì phải cải tạo xã hội này đi, xây dựng xã hội mới đi. Cải tạo ở đây cũng chính là tự làm mới mình, tự thay đổi mình cho thích hợp với hoàn cảnh.
Ở nước ta, người dân và đặc biệt là giới công chức, trí thức, chẳng hiểu vốn dĩ từ bao giờ, có thể là từ rất “cổ xưa” nhưng chưa xa lắm, mới chỉ dăm, sáu chục năm thôi, bản tính là lười nhác, lười động não, lừng khừng trong nhiều vấn đề nhạy cảm. Đó là những thể hiện đã thành quá quen thuộc, như đã bám sâu thành nếp. Cần tạo ra động lực mới để có thể thúc đẩy xã hội tiến bộ. Bởi vậy cần “cải tạo, cần “thay đổi”. Cải tạo trong một nghĩa hẹp hơn cũng chính là sự thay đổi, từ ngữ dễ chấp nhận.
Nó dễ chấp nhận bởi nó không nặng nề như “đấu tranh”. Cải tạo có gì đó gần gũi, dính dáng với bản thân con người. “Đấu tranh” là cái gì đó máu lửa có tính cách mạng, thay đổi “sock”, khiến con người dễ chùn bước, ngại rồi sợ và cuối cùng là thu mình,rụt cổ trong vỏ ốc. Họ, những trí thức và số công chức lười nhác sẵn sàng ngồi đó chờ đợi cả đời để “gió cuốn đi”, để “nước trôi qua cầu”, để “thời gian” trả lời, giải quyết. Rốt cuộc là cả cuộc đời sẽ chẳng chứng kiến được điều gì mới mẻ xảy ra hết.
Câu hỏi đặt ra: Liệu với những suy nghĩ mang tính “ôn hòa”, chờ thời như vậy, đến khi nào có thể hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn xã hội hiện nay? Theo tôi có hai cách trả lời chia cho hai loại người (đều mang tính lười nhác) mà tôi hướng đến
1/ Sẽ chẳng bao giờ thay đổi được cuộc sống hiện nay.
2/Sẽ thay đổi nhưng rất lâu và không biết đến bao giờ.
Thực chất của câu trả lời vẫn là chẳng muốn thay đổi, sợ thay đổi, đã thỏa mãn với cái hiện tại.
Nhưng cần nhận biết, những người có hai cách trả lời như vậy là ai? Xin thưa, đó là hầu như là tất cả chúng ta. Chúng ta đấy các bạn ạ. Bởi chúng ta vẫn sợ sự thay đổi đến và vẫn cứ hài lòng với số phận hiện nay như một thể hiện đã được cuộc đời xếp đặt.
Vậy làm sao có thể cải tạo được xã hội hiện nay nếu cảnh “ôn hòa” hiện thời vẫn tiếp diễn? Tôi bi quan, khó và chắc không có con đường nào dẫn đến thay đổi hết. Lịch sử dẫu ngắn cũng đã chứng minh được, hết lớp này đến lớp khác, đã gần nửa thế kỷ trôi, mà lãnh đạo đất nước càng ngày càng tồi, càng kém, càng mất uy tín trong con mắt người dân. Còn người dân và trí thức vẫn cứ chìm sâu trong u mê, mơ hồ và giả tạo thỏa mãn với hiện tại. Thỏa mãn với kiểu cổ xưa của cha ông: “Trông lên thì chẳng bằng ai?trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình”.

Thì phải làm thế nào, phải có cách chứ?
Tôi lại nghĩ đến thành phần quan trọng mà tôi không mấy thiện cảm, có thể thúc đẩy xã hội thay đổi nhanh hơn, đó là sự giác ngộ, sự thay đổi cách nhìn, sự dám dấn thân của trí thức. Nếu lớp người này thay đổi cách nhìn về “cái tôi ích kỷ” sẵn có và rất nặng nề trong con người họ, sẽ thay đổi được xã hội. Họ phải biết và có trách nhiệm với xã hội. Người dân đòi hỏi họ phải sống khác hiện nay, phải dám dấn thân hơn.
Nhưng rồi tôi lại không tin lớp người được coi là đã “ổn định” trong cuộc đời này có thể hành động và tôi nghĩ đến lớp trẻ và tôi nghĩ đến Phan Anh.
Thử xem lại hiện tượng Phan Anh. Phan Anh là một dẫn chứng cho thấy kết quả tác động vào những tâm hồn đã chai lỳ, vô cảm với những tiêu cực bất cập đã và đang tồn tại.
Phan Anh trẻ, nhiệt huyết và nổi tiếng. Đúng! Nhưng trước hết Phan Anh là người  hiểu biết và nhạy bén. Sẵn tấm lòng đồng cảm, trái tim nhân hậu với những nỗi đau cuộc đời và cuối cùng là một Phan Anh dám dấn thân, gạt đi tất cả những lời ghen ghét và đe dọa để thực hiện ý tưởng của mình. Có thể nói, Phan Anh đã hy sinh, cũng có thể nói Phan Anh đã và sẵn sàng chấp nhận những rủi ro sẽ đến trong cuộc sống. Cuộc đời cần những con người như Phan Anh.
Tại sao tôi nói đến Phan Anh khi đồng thời nói đến lực lượng “hùng hậu” trí thức nước nhà? Đơn giản là tôi kỳ vọng và cao hơn, tôi đòi hỏi. Và Phan Anh sẽ là một cú hích vào sự trì trệ, ù lì.
Thử hỏi, dân chúng bây giờ muốn nghe Ngô Bảo Châu hay muốn nghe Nguyễn Phú Trọng? (Tôi nói đến Ngô Bảo Châu vì ông ta là người nổi tiếng trong khoa học và cũng nổi tiếng trong một số vấn đề xã hội mà ông tham gia viết bài phản biện như vụ án Cù Huy Hà Vũ hay một số quan điểm về chủ quyền…). Theo tôi, người dân vẫn muốn nghe Nguyễn Phú Trọng hơn. Ông Trọng “nổi tiếng” hơn Ngô Bảo Châu vì ông ta là “vua”, vua quyết định vận mệnh của dân!
Người đời phải nghe bởi ông ta là vua chứ không phải vì những lời lẽ sắc sảo, thuyết phục nhân tâm của một chính khách.
Ở ông Châu, người ta nghe và chỉ như muốn biết thêm một phát kiến mới, cái mới đó cũng như cái “bổ đề” của ông, thích nghe, có chút tự hào dân tộc và chẳng thể làm theo. Ông có nói hay bao nhiêu thì vẫn chỉ là một số phận trong cái rọ trí thức nước nhà. Những người nghe ông Châu không nhiều. Người ta khâm phục, người đời ca ngợi cũng vẫn đơn thuần với cái nghĩa hiểu như trên. Ông chưa có sức lôi cuốn. Vậy là ông Châu vẫn chỉ đơn giản là nhà khoa học, chưa phải là người công chúng đặt niềm tin, chưa được liệt vào những người hoạt động chính trị, có thể mang lại niềm hy vọng thay đổi đất nước. Ở ông Châu vẫn chưa có những ý tưởng lớn hàm chứa sự thay đổi xã hội, mang tính chính trị. Thời cơ chưa đến và chưa thấy động thái nào ông Châu thể hiện điều đó.
Tôi không đủ khả năng nghiên cứu về một nhân vật khác, bà Aung Soo key. Nhưng qua truyền thông, tôi biết, từ một phụ nữ gia đình đến khi trở thành lãnh đạo của một đảng đối lập tại Miến Điện, bà phải hy sinh, phải dấn thân và kết quả là hai chục năm bị giam cầm mới thức tỉnh được cộng đồng và có một vị trí như hôm nay. Tất nhiên không thể bỏ qua xuất thân và ảnh hưởng từ người cha của bà.
Ở nước ta chưa có những người đạt đến “độ” như bà vì điều kiện đất nước chưa cho phép hình thành một đảng đối lập. Nhưng tôi nghĩ, chả có chế độ nào dung túng cho những nhân vật sau này sẽ nhăm nhăm lật đổ họ hết. Phải tự mình tạo ra “phe” đối lập.
Chúng ta cũng đã có những lớp người có khát vọng xây dựng một chế độ mới, sẵn sàng xả thân. Trong ngục tù, hiện nay có Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Mẹ Nấm, Cấn Thị Thêu… Ngoài “tự do” hiện nay có Nguyễn Quang A, Nguyễn Đan Quế… Hải ngoại có Cù Huy Hà Vũ, Điếu cày, Tạ Phong Tần… có thể đảm nhận được vai trò đó, một khi phong trào dân chủ, đòi hỏi xã hội thay đổi lớn mạnh.
Đòi hỏi để có sự lớn mạnh mà không hoạt động thì lại chỉ là ngồi “há miệng chờ sung”. Chúng ta phải gắn kết lại thành một khối, một mục đích.
Rất tiếc, chúng ta chưa tụ hội được lực lượng trong một khối, mặc dầu đã có manh nha sự nhen nhóm: không ít cá nhân đã tự liên kết với nhau trong các hội đoàn được tự thành lập.
Theo tôi, điều hạn chế để chúng ta không thống nhất được thành một khối mạnh là vì chúng ta đang tự xé lẻ lực lượng và điều đó cũng có nghĩa là tự làm suy yếu mình. Hơn ai hết, những tên tuổi mà quần chúng đã từng biết hãy nhận rõ điểm yếu này, nắm lấy thời cơ này, không phải vì mình mà là vì phong trào dân chủ, đổi mới phải tự đứng ra thành lập một tổ chức thống nhất, có tổ chức rồi chúng ta sẽ có ngọn cờ chung, mục đích chung, không chia lẻ thành những mục tiêu manh mún làm suy yếu lực lượng nữa.
Trước hết, hãy kêu gọi hãy đấu tranh đòi hỏi sự đối thoại của nhà cầm quyền như giáo sự Chu Hảo đã lên tiếng. Nhưng chỉ đối thoại thôi, vẫn chưa được ủng hộ nhiệt tình của các “hội đoàn”.

Thấy khó quá!
                                                                                                           Vinh Anh 6/11/16

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

CHUYỆN HÔM NAY

Chuyện hôm nay: Những người từ trên trời và các ông con giời dưới mặt đất.

Dạo này đọc trên mạng, nhiều lúc bực mình, tức anh ách. Nhưng ngẫm ra cũng có khối kẻ rỗi hơn như mình. Háo danh là bệnh của các vị đó (cũng như mình). Đã chết rồi mà vẫn tưởng mình chưa chết, vẫn tưởng ý kiến mình còn đóng vai trò quan trọng, bây giờ xông ra hăng hái cổ súy cho cái gọi là phải thay đổi, phải làm lại hoặc mạnh dạn hơn là phải làm mới (gọi là mới, chứ thật ra nó cũ, người dân bình thường đã biết từ lâu, các bậc trí giả càng biết, trong đó nhiều vị đã có văn bản kiến nghị gửi tất tần tật các vị có máu mặt đương chức hẳn hoi).

Trong số các vị hay có “đề xuất” nhưng… lại cũ phải kể ra những tên tuổi vang bóng một thời: Trần Quốc Hương, Vũ Tuyên Hoàng, Vũ Khoan, Vũ Quốc Hùng, Vũ Mão, Vũ Trọng Kim (rồi tự nhiên lan man nghĩ đến cả Quốc sư Vũ Khiêu nữa…) Ờ mà sao họ Vũ nhiều thế, chẳng hiểu họ có phải là cha chú hay con cháu của ông Vũ Như Cẫn không nhỉ? Ông Vũ Như Cẫn này thì mình biết, vì mình sống chung với ông ấy mấy chục năm rồi.
Mấy ông tầm cựu lãnh đạo to to này hay nói về vấn đề con người. Con người luôn là trung tâm mà. Hơn nữa, con người ở đây là “cán bộ”, có quyền cao chức trọng. Hiểu nghĩa của cụ Hồ là mấy ông “đầy tớ”. Các ông này đương nhiên phải là đảng viên. Đó là điều tiên quyết. Thứ nữa, phải có chức cũng to to. Đời vốn cần có địa vị thì nói mới có người nghe, địa vị càng lớn, tầm ảnh hưởng càng cao. Cỡ mấy ông họ Vũ trên thì to quá rồi. Có thể gọi mấy ông đó là chính khách, là những nhà hoạt động chính trị.
Thỉnh thoảng các cựu chính khách này hay viết bài, lên báo. Ngôn ngữ dân mạng là “chém gió”. Nhưng vì vẫn mơ màng vị trí ngày xưa, thành ra cách nói của các vị vẫn có nặng về phần chỉ đạo hơn. Tức là các vị đó vẫn là người đứng trên bục, rao giảng các vấn đề đạo lý con người hoặc đạo đức xã hội. Rao giảng ở đây có nghĩa là dạy bảo đấy. Trong các bài thuyết trình đó dứt khoát phải có những từ dạng mệnh lệnh thức bắt buộc: hãy, phải, nên, cần, kiên quyết, nhất thiết…
Các vị đều trưởng thành từ trong những thập kỷ của thế kỷ 20, khi cả nước chung lòng “đánh Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Nói vậy là muốn nhắc đến mốc thời gian. Đó là cái thời dân ta còn u mê vì thiếu thông tin, luôn “đồng phục” về tư tưởng và còn có niềm tin vào Đảng.
Nói đến mốc thời gian cũng là nói về một sự hạn chế về kiến thức của con người. Ở thời điểm đó, hiểu biết và ý thức được những giá trị và quyền lợi mà khi sinh ra làm người đã đương nhiên được hưởng, đều rất sơ sài. Chẳng nhiều người trong chúng ta biết được quyền con người, cũng chẳng hiểu đúng nghĩa và đầy đủ về độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc. (Thậm chí sang thế kỷ 21, bà Phó Chủ tịch nước còn nói chế độ chúng ta vạn lần dân chủ hơn chế độ tư bản đó. Bà đã lặp lại y nguyên câu của Lê-nin từ đầu thế kỷ 20 mà chắc khi nói, bà vẫn đinh ninh dẫn lời của vị lãnh tụ giai cấp vô sản rất đúng chỗ và đúng lúc)
Vì vậy, ngày đó chúng ta hay lặp đi lặp lại những điều có tính kinh điển cách mạng rất sách vở, giáo điều, cũ kỹ. Hiện nay, tần suất những từ như “diễn biến, thoái hóa, biến chất, tiêu cực, suy thoái… đạo đức cách mạng, tác phong gương mẫu, kỷ luật nghiêm minh…” vẫn thường xuyên xuất hiện ở mức độ cao là chứng tỏ sự cổ hủ, trì trệ và lạc hậu rất giáo điều, nhàm chán đó.
Bàn về đạo đức con người là một chuyện nói không khó, làm mới khó. Muốn làm người tử tế thì phải làm ngay từ khi các vị tại chức chứ đừng đợi đến khi khi về hưu mới làm. Cán bộ là quyết định, là quan trọng người ta nói lâu rồi và biết cả rồi, sao cứ phải nhắc lại? Vấn đề là làm thế nào?
Tôi góp một ý thôi. Phải trong sạch, minh bạch và gương mẫu từ trên. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn” như hôm nay là thế. Phải chỉnh đốn cũng như thanh lọc những phần tử suy thoái, biến chất từ Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương ngay.
Các vị đứng trên bục nói ít thôi, dạy bảo ít thôi. Hãy dũng cảm nhìn và so sánh với lân bang về tình trạng bi đát đất nước ta hôm nay. Đừng nhâm nha những điều đã lỗi thời, gặm nhắm quá khứ vinh quang nữa. Ối người ngồi chiếu dưới nói hay hơn các vị nhiều, đạo đức hơn các vị nhiều. Các vị phải thấy điều đó. Các vị hãy nói đúng suy nghĩ từ tâm can mình, chắc chắn có người nghe. Còn nếu nói sai, cả dân tộc này đều biết.
Các vị đừng nói như những người đang ở trên trời nữa.
                                                            *****

Gần đây có những cán bộ, nhỏ chức hơn một chút và chưa nổi danh. Nhưng có một số, đôi khi có những phát biểu rất độc, khiến danh lại nổi như cồn. Nhưng cũng như cuộc đời vốn mênh mông, con người là cát bụi, những phát ngôn “độc” đó vẫn bị thời gian cuốn trôi, sóng đời nhấn chìm nhanh chóng. Những ngôn từ các vị đó “phát” ra, ồn ào vài hôm rồi cũng tan như bong bóng. Nhưng “ngôn đã xuất, bốn ngựa đuổi không kịp” rồi.
Trong hàng ngũ nho nhỏ, nổi nhất gần đây chỉ thấy có anh Trịnh Xuân Thanh. Loại “tàng tàng”như Thanh, phát ngôn vớ vẩn thì nhiều lắm. Từ vụ cá chết, có lẽ nhiều tai tiếng nhất là mấy vị ở Bộ Tài-Môi. Như anh Võ Tuấn Nhân hay anh Trần Hồng Hà chẳng hạn. Mấy anh này đang đương chức, phải nói theo định hướng của anh Huynh, anh Trọng, nếu không có mà toi.
Nhớ hồi cá Vũng Áng chết, anh Tuấn Nhân người của Bộ tài-môi được dân chờ đón nhất, vì đây là phát ngôn chính thức mang nhãn hiệu Việt Nam, nên dân tình ngóng. Hóa ra anh này rất vô học, phát biểu rất ấm ơ, họp báo cũng rất ỡm ờ vì đầu voi đuôi chuột, khiến trăm họ vỡ òa thất vọng. Nghĩ “thằng” này sẽ mất chức. Nhưng không, hắn ta phát biểu đúng đường lối, đúng định hướng nên chỗ ngồi vẫn chắc. Những lần phát biểu sau này, có rút kinh nghiệm, tự tin hơn rất nhiều.
Lùi xa xa về “quá khứ” chưa xa, thấy có mấy cái phát biểu cũng hay hay, ghi lại:
Đây là ông Huỳnh Ngọc Sơn, phó chủ tịch Quốc Hội kèm thêm cái thượng tướng trước khi về nghỉ (2015). Dân Đà Nẵng có hỏi về Trường Sa, Hoàng Sa. Ông nói: “Nhiều lần ta cũng nghĩ tới việc lấy lại nhưng trong lúc này ta chưa thể lấy lại được. Để đời con cháu chúng ta lấy lại/ Trung Quốc bây giờ nó củng cố gần như bất khả xâm phạm rồi/ Ta như thế này thì bà con thấy ta ăn thua với họ được không? Ai tài giỏi thì thử ra đó chỉ huy coi có thắng không?” (Phát biểu trong buổi gặp mặt cử tri Đà Nẵng)
“Ai tài giỏi thì thử chỉ huy ra đó xem có thắng không ?” Đây là câu nói gì, đây chính là giọng thách thức của ông thượng tướng với dân Đà Nẵng và dân Việt Nam. Ông không xứng đáng là thượng tướng, nguyên tư lệnh quân khu 5, một địa bàn quan trọng, ông nên tự lột bỏ cái quân hàm thượng tướng. Nếu không, sớm muộn, người dân cũng gạt bỏ ông , cho ông vào sọt rác. Khổ dân! Nuôi béo một ông tướng hèn mạt, chưa đánh đã hàng.

Mấy ngày rồi, dân Hà Tĩnh bị mưa lớn, lũ về khiến cả một vùng Hương Khê ngập chìm trong nước. Đã vậy ông thủy điện Hố Hô lạ xả lũ, không báo trước cho dân. Vậy là thiên tai kết hợp nhân tai, dân chết và mất tích tới bốn chục mạng. Một con số đau lòng cho những ai còn có chút tình máu mủ đồng bào. Ấy vậy mà lại được nghe những lời của ông tổng cục phó Năng lượng:“Việc nhà máy thủy điện Hố Hô mở hoàn toàn cửa van xả lũ trong tình huống trận mưa vừa qua là chấp nhận được. Bởi nếu không làm vậy, sẽ gây nguy hiểm, mất an toàn hồ đập” “Tổng cục phó Năng Lượng Đỗ Đức Quân”
Trong khi đó thì thằng tư bản giãy chết nó làm như thế này: “Chúng tôi đã cam kết từ 4, 5 ngày trước rằng sẽ không xả nước từ những đập trên sông Tar hoặc sông Neuse”, Thống đốc McCory nói trong buổi họp báo thứ Sáu. “Một điều rất quan trọng là chúng ta phải ổn định dòng chảy và đảm bảo không ai bị ảnh hưởng đột ngột. Đây là điều cực kỳ quan trọng”.
Chế độ vô trách nhiệm đã đẻ ra những con người vô trách nhiệm là như thế. Chế độ mà mọi quyết định phải vì quyền lợi người dân cũng là như thế.

Cũng trong thời gian này có hai kẻ ỷ thế nam nhi đánh một cô nhân viên hàng không. Một nam nhi khác được người đời gọi là Lục Vân Tiên ra tay can thiệp vì “giữa đường thấy chuyện bất bình nên can ngăn”, đập vỡ mồm kẻ “anh hùng” đánh nữ nhi kia. Hành động đó được ông Trần Hoài Phương-giám đốc Cảng vụ hàng không miền Bắc – cho là làm náo động sân bay và cho biết cảng vụ đang xác minh danh tính người can thiệp cứu giúp nữ nhân viên bị đánh, và ông Phương nói: “Nếu xác minh được, chúng tôi cũng xem xét làm rõ về hành vi gây rối trật tự công cộng. Vụ việc để các cấp có thẩm quyền giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật. Nếu ai cũng can thiệp theo cách như vậy thì dễ thành đánh lộn đông người, náo loạn sân bay”.
Các bạn trẻ thấy thế nào? Hành động nghĩa hiệp như vậy đáng được hoan nghênh hay đáng chê. Thời nay, không phải ai cũng có lòng dũng cảm, dám ra tay cứu giúp người yếu thế đâu. Vì sao làm việc tốt lại dễ mang họa vào thân thế. Đừng trách tại sao ngày càng nhiều người vô cảm...”.
Đúng là các con giời trên mặt đất.
Đau lòng lắm khi hôm nào trên mạng cũng có thể thấy hình ảnh bọn trẻ con, cổ đeo khăn quàng đỏ, mặc đồng phục học sinh, xúm nhau lại đánh hội đồng một đứa trẻ khác. Các nhà giáo dục chúng ta có lẽ chưa phân biệt được đâu là kẻ phá rối, lưu manh, đâu là người có tấm lòng đôn hậu, nhân ái.
Nhân chuyện nói về lòng nhân ái lại nói về chuyện chàng Phan Anh.
Xuất phát từ tình thương yêu chân thành và muốn được chia sẻ, Phan Anh kêu gọi đóng góp cứu trợ đồng bào bị lũ dập vùi (tôi nghĩ vậy và nhiều nhiều người khác cũng nghĩ vậy, nên tiền cứu trợ mới đổ về tài khoản của anh nhiều như thế chứ). Ở đây có nhiều chuyện đáng nói lắm, tôi chỉ muốn nói một chút về niềm tin.

Tại sao hành động của Phan Anh được mọi người hưởng ứng nhiệt tình như vậy? Đó là người đời thấy qua Phan Anh, niềm tin được gửi gắm đúng chỗ. Thử hỏi có năm nào đồng bào miền Trung thoát cảnh thiên tai, lũ lụt? Lại còn cả cái nhân tai cá chết đang vẫn phải oằn mình chịu đựng kia. Đã bao lần chúng ta chung sức cứu trợ đồng bào? Vậy mà sao thiên tai vẫn giáng xuống, cảnh cứu trợ mì tôm hàng năm cứ đều đều diễn ra. Tôi đã thấy nhiều ý kiến cho rằng, cần phải làm điều gì khác hơn ngoài mì tôm và mừng thầm vì Phan Anh đã có suy nghĩ ngoài chuyện khẩn cấp “mì tôm”, có những thứ khác cần hơn. Cái khác là cái bền vững, để bà con sống chung được với lũ.
Vậy mà có kẻ, tuy không đả phá nhưng hàm ý xa xôi, ẩn bóng đe dọa, nói, những mắc mớ pháp lý mà Phan Anh sẽ gặp phải. Họ mang ra những nghị định này, quy định nọ để cảnh báo Phan Anh. Chẳng hiểu đấy có ý nhắc nhở hay không nhưng tôi tin Phan Anh sẽ vững vàng và niềm tin của tôi cũng gửi vào Phan Anh, giống như những đồng tiền cứ đổ về tài khoản của anh.
Niềm tin con người không mua được và để làm một người tử tế trong xã hội chúng ta rất khó.