Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

Huyền thoại Tây Nguyên

 

Huyền thoại Tây Nguyên 
 Ngày trai trẻ, nghe đến Tây Nguyên là thấy gian khổ, thấy đói, thấy lạc hậu. Chẳng gì tôi đã đọc “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc rất sớm, ngay 1955. Từ đó, ấn tượng của tôi về Tây Nguyên là: đồng bào đóng khố, luôn đói và thiếu muối ăn, thu hoạch lúa thì tuốt từng bông. Làm ăn kiểu đó thì đói là đúng. Tôi nghĩ trong đầu, đồng bào sống được chẳng qua nhờ rừng. Rừng là vàng mà. Nhưng hiểu nghĩa rừng là vàng cũng chật hẹp lắm, thậm chí không giải thích được. Nghĩ được mỗi nguyên do là vào rừng săn thú để sống. Rừng vàng là thế!
 Tây Nguyên với tôi còn là rừng già. Rất già! Vì nó thuộc dãy Trường Sơn. Đụng đến Trường Sơn là thấy oai. Cứ ông nào “thanh niên quê tôi cầm chiếc gậy Trường Sơn là oai” rồi. Vì sao? Vì Trường Sơn nó thiêng liêng. Tây Nguyên là cốt lõi của Trường Sơn, càng oai, càng thiêng liêng. 
Gần cả cuộc chiến, tôi chỉ luẩn quẩn, loanh quanh ở Quảng Trị, Quảng Bình. Vậy cũng là xa lắm rồi, dằng dặc lắm rồi. Số còn may hơn nhiều thằng phải “công tác tận Plây... để đến nỗi cái gì dài dằng dặc đó chẳng biết bao giờ ra”. Gì thì tôi cũng đã qua Sông Gianh, qua Bến Hải, hai cái địa danh in hình vết chém của hai thanh kiếm của hai giai đoạn lịch sử lên thân hình đất nước, cũng thấy đã là xa. Nói nhỏ nhé, cũng thấy đã là oai. 

Cái đận mùa xuân 1975, mới được dịp qua Tây Nguyên. Chỉ ngồi xe tải lướt qua thôi, nên chưa hiểu gì sâu về nó. Ấn tượng là khô không khốc, nóng cháy, thiếu nước. Chẳng là hồi đó vào độ đầu tháng ba, tháng tư, tháng của “mùa con ong đi lấy mật”. Có thấy ong ả gì đâu. Nghe cứ tưởng như mùa phát tiết làm tình của bọn ong bướm. Đâu có gì là tình với tứ, mật với mỡ. Khát là chính, khát là chủ đạo. Khát như thế này, nóng như thế này này thì tình với tự cái gì. 
Tôi ngồi ca-bin với Khắc, tài xế. Chúng tôi làm quen nhanh chóng và trở nên thân thiết. Hai anh em ôm một chiếc xe, xe hỏng, đơn vị bỏ lại, tự lo cho thân, tự chữa mà đi. Chẳng là đang có lệnh thần tốc mà. Trên xe, bộ quần áo Tô Châu chính hiệu Tàu xịn của tôi hết ướt lại khô, mồ hôi thấm ra áo trắng bềnh bệch như tờ bìa mốc và cứng như bánh đa, vỗ vào áo quần là nghe tiếng sột soạt, chỉ sợ bị gãy mất quần áo. Tôi mồ hôi muối, cậu tài xế trẻ măng ngang tuổi cũng vậy. Vậy là khát. Cứ gặp suối là tôi xuống xe, vục hai bi đông, bỏ vào hai viên thuốc và uống. Chuyến đó, tôi uống hết cả số thuốc được phát hành quân. Chẳng hóa chất độc hại gì hết. Uống xong lại thải ngay ra quần áo đang mặc, độc hại có kịp ngấm vào thân thể còn rất trong sạch cuả chúng tôi đâu. Chẳng bệnh bão, vi trùng nào giết được chúng tôi cả. Sau này tôi dính đất, dính bùn cuộc đời nên mới bẩn. Đấy, khát! Tây Nguyên với tôi ngày đó chỉ có ấn tượng nhỏ như vậy thôi. 
Nhưng dù chỉ “dạo chơi” Tây Nguyên bằng xe ô-tô Zin ba cầu, tôi vẫn nhận ra được rừng Trường Sơn là rừng, rừng Tây Nguyên là rừng. Rừng thật, không giả dối gì hết. Mùi rừng già nguyên sơ khác hẳn cái rừng bạch đàn trơ khấc đơn điệu. Đi trong đó, có cảm giác thần linh bên cạnh phù hộ. Dọc đường, tôi có dịp tìm hiểu, biết thêm qua Khắc, một chàng trai quê vùng núi nhiều đất ít, ngoài những đinh lim, sến táu... trên rừng, chim, thu, nhụ, đé dưới biển, tôi chẳng biết gì thêm. Bây giờ còn giổi, sơn ta, sưa lại còn những hoa Pơ–lăng, chim Đ”rao, sông Pa-cô, cây Săng lẻ, cây Kơ-nia, cây Xà-nu... vốn hiểu biết về địa lý và thực vật sơ đẳng của tôi tăng lên. Nghe ca sĩ hát, cũng thấy thinh thích vì mình cũng biết được những loài cây đó, đúng là không phải diện quẩn quanh xó bếp. 
Xe chúng tôi đi xuyên rừng, leo dốc, nhiều đoạn lọt thỏm trong rừng, không nhìn thấy trời thấy sao gì hết. Vậy là hàng cây cổ thụ cao to như những tráng sĩ Đam San là tán che cho con đường hàng chục cây số. Kỳ công! Ngồi trên xe, tôi cảm nhận mình đang vào cao nguyên. Sách vở tôi học là thế. Tây Nguyên là cao nguyên. Nhưng rồi tôi nhận ra kiến thức ít ỏi, nghèo nàn của tôi. Ngay câu hỏi, rừng là gì, bạn có trả lời được không? Xe tôi xuyên rừng, đôi khi tôi thấy những gốc cây khổng lồ bị công binh đặt bộc phá, mở đường, tôi thấy Tây Nguyên như đang rỉ máu để góp phần của mình vào cuộc chiến tranh. Đau lắm. Nhưng phải chịu thôi. Ngày đó, người miền Bắc, ai cũng hiểu, đó là vì “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, có khi còn phải “đốt cả dãy Trường Sơn” cũng phải làm, chứ chặt mấy gốc cây cho con đường mở xuyên rừng, ăn thua gì. 
Tây Nguyên là khu vực với địa hình cao nguyên. Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ hợp thành miền Trung Việt Nam. Cái miền Trung dài dằng dặc được ví như khúc ruột í. Cái miền Trung mà tôi mới chỉ biết tí ti qua gió Lào, cát trắng, hầu như chỉ qua giọng nói. Tôi thích cái rõ ràng của miền Trung, rõ ràng giữa “l” với “n” giữa “r” vơi “d”, giữa “tr” với “ch”... Nhiều lúc nghe “l” “n” lẫn lộn khó chịu lắm. Nhưng tôi cũng sợ cái cãi về lý luận miền Trung, vì nó cũ xưa, cả cái cãi, cái lo xứ Quảng vì nó cứ lê thê dài dòng... Thôi thì, là người mình, chỗ nào cũng có thể yêu, có thể thích được hết. Thậm chí, hồi Quảng Trị bảy hai, tôi đã nằm hầm, ở với đồng bào thuộc “thế lực thù địch” mãi mà có hây hấn cái chân lông nào đâu. 
Tây nguyên là vùng trồng cây công nghiệp. Nói đến Tây Nguyên là nói cao su, hồ tiêu, cà phê... Những sản phẩm nông nghiệp, mà tôi được học rất quý giá và nổi tiếng, cũng rất cần thiết cho ta và cho thế giới, nghe cứ như ta là thủ kho của các loại hàng đó. Bấy giờ, tôi còn nghe qua một sinh viên mỏ cùng đơn vị, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên: đất Tây Nguyên đỏ thế nhưng là khoáng sản, sản xuất ra nhôm đấy. Ngày đó, tôi nói với cậu sinh viên, tôi những mong các nhà khoa học mau mau biến đất đỏ thành nhôm. Cả Tây Nguyên là đất đỏ, nước mình sẽ giàu to. Tôi đâu có biết được quy trình phức tạp của nó. Nó khiến ô nhiễm môi trường, phá hủy Tây Nguyên là phá hủy môi sinh một vùng rộng lớn và kèm theo rất nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến đời sống cư dân xung quanh, thậm chí gây ra thảm họa, nó tiêu tốn rất nhiều điện, nó đòi hỏi sự phát triển đồng đều, đặc biệt là giao thông... Biết bao giờ mới đến được cái ngày đó.
                 

                                                                ***** 
Ngày còn trẻ đó, tôi dễ xúc động. Một cây rừng bị chặt đổ, một gốc cây bị đào bới, bị đánh bật gốc đi để làm đường cho xe qua, cũng làm tôi đau. Khắc và tôi là lính pháo, loại lính ăn no vác nặng, thuộc dạng “ăn pháo thủ, ngủ lái xe” và vì thế, ăn khỏe, ngủ khỏe, đúng chất lính pháo. Cũng của đáng tội, đang tuổi trai, có thằng lính nào ăn yếu đâu chứ, thậm chí có thằng vừa ăn xong đã kêu đói, đã lại nhồm nhoàm củ khoai, củ sắn ngay được. 
 Vậy là nó chết hơn chục năm rồi. Cái chết của nó tức tưởi lắm. Người ta bảo ở rừng có mấy cái chết bất đắc kỳ tử, đó là thú dữ, là lũ nguồn, đá rơi, lở đất và cây đổ. Nó chết vì lũ rừng. Nó cứu kiện hàng thuốc cho thương bệnh binh bị lũ cuốn và bị đá văng chết. Nó chết, nhưng kiện hàng thuốc cứu được, nên cứu được nhiều người, trong đó có tôi. Nó chết để chúng tôi được sống 
Sau hơn chục năm, tôi đứng đây, nơi ngày xưa cùng đứng với Khắc, cái thằng từng “vào sinh ra tử” với tôi giai đoạn cuối cuộc chiến, giờ thì nó nằm trong lòng rừng già này, linh hồn nó vẫn quanh quẩn rừng già, hình bóng thân xác nó ngấm vào thành Tây Nguyên, thành Trường Sơn. Ngôi mộ nó bị B 52 rải thảm đánh bay. Vậy là nó hai lần chết. Tôi nhớ nó, thằng bạn đoản mệnh, chỉ sống được một đoạn ngắn của cuộc đời. Sao nó chết sớm thế! Tôi cứ nghĩ nó chết để tôi sống thêm phần nó. 
Khắc mới cưới vợ. Cưới kiểu lính thời chiến. Tranh thủ về dăm hôm, cưới luôn. Cũng biết, chúng nó cũng nhấm nhoáy với nhau trước rồi. Khắc kể cho tôi chuyện yêu của chúng nó, lúc hai đứa nằm hầm kèo. Nó bảo với tôi, để tao ôm mày cho đỡ nhớ vợ. Mà vợ là gì, nó bảo chưa thật biết hương vị của vợ nó ra sao đâu. Người nhà tao bảo con vợ tao tướng “vượng phu, ích tử”. Mày biết là những gì không? Còn lâu mày mới biết. Đó là, cái mắt nó tròn đen, cái lông mày thon dài mà người đời gọi là lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền ấy... Nhanh quá, ù cái đã hết năm ngày. Sau này tao sẽ khám phá tiếp. Đúng, chưa thật bén hơi. Tối hôm đó, nó cắn tao một cái bật máu. Đây, mày xem này. Vết tích còn đây. Nó vạch vai áo, dưới ánh sáng ngọn đèn ống bơ, đốt bằng dầu xe, khói mù mịt khắp hầm, có vết sẹo ở đó. Nó bảo, mỗi lần lấy ngón tay vê vê, mân mê cái sẹo, tao lại thấy mặt vợ tao đầm đìa nước mắt, lúc đó nó ngoan lắm, chiều tao hết cỡ, nó cứ hôn mãi vết cắn. Vậy là càng ngày càng thương, càng xa càng nhớ. Sờ cái sẹo và nghĩ ra đủ thứ về nó, chẳng quên thứ nào. Tôi hỏi là những thứ gì vậy? Nó bảo mày ngu bỏ mẹ, ai lại nói ra từng thứ, lấy vợ thì biết. 
Những ngày đó trời mưa. Cuối tháng ba, bắt đầu vào mùa mưa, trời lúc nào cũng xậm màu đen xỉn, đầy nước, có thể đổ ụp xuống cả núi nước bất cứ lúc nào. Rồi thì mưa thật, mưa to và rừng âm u dày đặc nỗi trầm tư với mịt mờ những nước. Mưa cuốn trôi mọi thứ. Khắc bảo nó nhớ nhà những ngày mưa. Nhà nó đất bãi, ven sông vãi đầy cải. Mỗi khi nước về, ngập bãi phù sa. Phù sa cho cải tốt. Nó kể chuyện về người con gái nó để ý, là vợ nó sau này. Hai đứá thường ra bên sông hóng gió và yêu nhau. Yêu nhiều lắm. 
Nó bảo ngồi bên sông, ôm người yêu sướng lắm. Nó đẩy ra mà lại cứ như hút vào ấy, lạ lắm. Có lần tao rủ nó tắm đêm. Nó bảo không biết bơi, sợ lắm. Tao bảo có anh, sợ gì. Nó lại bảo sợ lạnh. Lạnh thì anh ôm. Vậy là tao kéo nó xuống. Cứ vậy, cả quần áo, tao lôi nó ào xuống sông. Vùng đất bãi, nên phải ra mãi xa, nước mới ngập đầu. Trên sông chỉ có hai đứa dập dình với nước, đùa chơi như trẻ con. Mày thấy sướng không? Chúng tao hôn nhau đến bật máu môi ấy. Mày thèm không? Nghe nó kể, tôi cứ tưng tưng nóng cả người, bỗng thấy thèm thật, ước gì mình cũng có vợ như nó. Lính tráng nằm với nhau, nhớ nhà, chỉ kể cho nhau chuyện người yêu và vợ thôi. Vợ mới cưới như nó càng lắm chuyện hay. Tôi chưa vợ, chưa người yêu, chỉ thấy tưng tưng nóng cả người và thèm. 
Vậy mà cái đêm tân hôn, nó ứ chịu cho tao đụng vào nó, mày thấy con gái lạ không? Nó giữ thời con gái của nó như thế hay nó trêu tức, muốn làm tao thèm. Tao dỗi, hẩy tay, quay mặt vào trong, giả ngủ. Mãi nó mới dám nằm xuống bên cạnh, nằm nhẹ như con mèo, êm lắm, tao ở ngay bên, vẫn thức mà không biết là nó đã nằm bên mình cơ mà. Rồi sao? Rồi tao ôm nó ngủ chứ sao. Tôi bảo mày bịa. Nó bảo thật mà. Tao ôm nó và hôn nó, rồi nó mê man với cái ôm cái hôn của tao, người nó nóng rãy... nó để tao tự do. Con gái là vậy đấy. Mày chỉ có mấy quyển sách thì không đọ được mưu đàn bà đâu... Rồi cũng lại chết vì đàn bà thôi, con ạ. Nhưng, nói thật với mày, bây giờ tao sợ chết. Tao chết thì vợ tao cũng chết theo. Khổ một đời con người, vợ cũng chưa thật là vợ, con gái thì còn ai bảo là con gái... Nó sẽ thế nào... 
Tôi nói với vợ Khắc: “Đây, Khắc của chúng ta chết ở đây, chính con suối này đây. Bây giờ thì cạn khô, hiền lành và đầy bướm bay lượn. Đến khi trời thật khô nóng, những nơi này ẩm và mát, có tới cả triệu con bướm tụ tập về đây hoan ca. Hôm đó xe bị xập hố, rồi mưa, nước đổ về mênh mông, không rõ đâu là bờ. Hàng hóa trên xe rỡ xuống để kích kéo xe lên, chất ven suối, chưa kịp chuyển lên cao. Nghe nói rất nhiều thuốc quý cho thương binh chứ không phải đường sữa, lương khô, thịt hộp. Lính tráng thì chỉ cần ba thứ đó. Thuốc cũng quý đấy nhưng chỉ biết lấy và dùng vi-ta-min thôi. Tôi bảo với Khắc, mày phải trông coi đống hàng này, tao ra ngoài ngã ba đón xe, chỗ đó nhiều xe. 
Ngớt mưa, khi đưa xe về, thấy hàng hóa chuyển lên cao nhưng rất lộn xộn, tan hoang mà không thấy Khắc. Tôi theo dòng suối vẫn chảy siết tìm nó, thấy nó mắc vào gốc cây bên bờ suối, đầu vỡ toác. 
Hết chiến tranh, tôi nhân danh là thằng bạn thân, viết thư cho vợ báo tin nó hi sinh. Trước đó, gia đình cũng đã nhận được giấy báo tử, nhưng vợ nó không tin. Thư tôi viết kể chuyện nó cứu hàng hóa, thuốc men trong khi lũ dâng nhanh, không kịp chạy. Vợ nó càng không tin, vợ nó bảo anh Khắc không thể chết được vì nước, xuống nước anh Khắc như biến thành cá. 
 Tôi tìm về quê nó, trong đầu ngổn ngang những chuyện nó kể về vợ. Khi nghe tôi nhắc lại chuyện cái sẹo trên vai, cô vợ khóc ngất, lúc đó vợ nó mới tin rằng Khắc đã mất. 
Vợ Khắc ngẩn ngơ một thời gian dài. Cứ chiều xuống, cô ấy đi ra bãi sông. Tôi đi theo đề phòng chuyện xấu có thể xảy ra và lân la ngồi nói chuyện để vợ Khắc nguôi ngoai. Tôi kể chuyện chúng tôi nằm hầm chữ A, kể mọi chuyện về gia đình cho nhau nghe. Thỉnh thoảng tôi thêm chút chuyện của Khắc để cho cô ấy vui. Rồi thì vết thương nào cũng sẽ lành và chỉ để lại vết sẹo. Thời gian trôi và sẹo cũng sẽ mờ đi. Nhưng quan trọng hơn, cô ấy tin tôi, tôi biết rất nhiều chuyện riêng tư của hai người. Cô ấy bảo: “Sao anh biết nhiều thế, chuyện gì anh Khắc cũng kể cho anh à?” 
Vợ Khắc ở vậy, không lấy chồng. Tôi cũng vậy, không lấy được vợ. Tôi xuống thăm nhà Khắc luôn. Có lần, khi đã khá thân, tôi nói về chuyện những đêm Khắc và cô bạn ra sông, có cả những đêm tắm chung nữa, nói cả chuyện những cái hôn bật máu. Tôi đùa, bao giờ tìm được cô gái như thế, tôi sẽ hỏi người đó làm vợ. Vợ Khắc bảo biết người con gái đó, nhưng bây giờ cô ấy xấu và già lắm rồi. 
Trước khi vợ Khắc thành vợ tôi, tôi ngủ mê, thấy vai mình đau nhói. Tỉnh lại, sờ lên vai thấy máu chảy. Nhớ chuyện Khắc kể, tôi cùng vợ Khắc cơm đùm, khăn gói vào với rừng Tây Nguyên. Tây Nguyên không còn âm u như xưa, nhưng âm hưởng những ngày chiến tranh vẫn ẩn hiện váng vất trong tôi. Tôi kể cho vợ Khắc những nơi chúng tôi đã đi qua và tìm được con suối, nơi Khắc hi sinh. Chúng tôi thắp hương, vợ Khắc chắp tay, khăn xô trắng đầu. Khói bay là là trên suối rồi bó hương bùng cháy. Khắc đã về chứng giám. Ở nơi xa xôi, chắc Khắc mỉm cười. 
Vậy là vợ Khắc thành vợ tôi. Cái đêm đầu tiên ôm cô ấy vào lòng, tôi nhớ câu hỏi của Khắc: “ Mày thèm không?”. Tôi cười, ghì tay ôm cô ấy chặt hơn. Tôi hôn mạnh đến mức đôi môi chúng tôi ứa máu. Chuyện chúng tôi góp cho Tây Nguyên thêm huyền thoại. 


Vinh Anh-24/5/21

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

Nơi ấy quê tôi

 

Nơi ấy quê tôi 
 Tên nó là Mẩy. Tôi không gọi nó là Mẩy mà gọi là Mây. Nó hỏi tại sao, thì tại vì mày như mây chứ không “mẩy”. Ý tôi bảo nó là, mày còm nhom, bé tí. Vậy là từ bao giờ, không nhớ, tôi cứ Mây gọi nó. Sau, dần dà, tôi thấy đúng vậy. Con bé có tên Mẩy mà bố mẹ đặt cho đó chỉ đúng với tên Mây. Nó thanh thoát, nhẹ nhàng, bay lượn bồng bềnh như đám mây bảng lảng chiều chiều trên đỉnh núi. Nó cũng nhẹ nhàng, tinh khiết như đám sương buổi sớm lởn vởn quanh nhà, lởn trên đám bụi cây phía xa và xa hơn nữa là bìa rừng. Ngoài ra nó còn có tiếng hát vô cùng đặc biệt. Có lần tôi đã cảm thấy khi nghe nó hát. Đó là một hơi thở nhẹ như cánh chim, một bàu trời như có đám mây mát phủ lên, một mặt đất tươi tắn, cây cối mướt mát như đang nở hoa, thậm chí núi rừng ngẩn ngơ, trời đang mưa cũng tạnh, tất cả im lặng lắng nghe.

 Nó thừa hưởng giọng hát nhớ vợ của bố nó. Bố thường ngồi ôm nó rồi cất tiếng: “Em ơi, giờ này em ở đâu. Con chúng mình như chim non đang lớn nhưng không có đôi cánh của mẹ che chở, bao bọc, tình mẹ yêu thương. Em ở đâu, về nhà đi em. Con em không được uống nguồn sữa mẹ, em thương nó, em hãy hàng ngày chăm sóc nó, về đi em. Nhớ em, anh chỉ biết ôm con vào lòng, kể cho nó nghe chuyện của mẹ nó… Chỉ vì cái nghèo mà anh phải để em một mình vất vả bụng mang dạ chửa…” Nhà nó dựa lưng vào rừng, cũng gần trạm biên phòng của tôi, nhưng leo đến khá cheo leo. Giọng hát bố con nó nghe mãi cũng ngấm vào tôi. Tôi như nghe thấy vẳng vẳng tiếng ru: “Ôi chim non của mẹ, ngàn yêu thương của mẹ, hạt ngô hạt gạo của mẹ, nguồn sống và ngọn lửa ấm áp của mẹ. Mẹ yêu con và thương con vô cùng. Con ngoan hãy mau ăn, mau lớn để giúp cha, đỡ đần cho cha, giúp cho mẹ đỡ cực nhọc. Con là nguồn hy vọng, lẽ sống của mẹ những ngày cực khổ, mẹ thương con. Chúng ta cùng cố sống đến ngày bố về, con chịu khó ăn đi... Sau này lớn khôn, con hãy bay xa, tránh đi cuộc sống buồn tủi cực nhọc này...” Tôi rầu rĩ với từng lời ca. 
Thời đầu, khi “tiếng vó ngựa” còn được ngợi ca, cuộc đời lính mang chất anh hùng và lãng mạn lắm. Dẫu cố hiểu nơi nào đó heo hút chân mây, nhiều lời ngợi ca, thì vẫn phải hiểu, hiện thực nơi biên cương vẫn khổ lắm, trăm thứ thiếu thốn. Dân đói nên lính cũng đói. Phần nhường chút ít cho dân, phần thì do xa xôi, đâu có được như ở đồng bằng. Dân lạc hậu, chỉ giỏi trồng thuốc phiện và giỏi hút thuốc phiện. Thuốc phiện mang sang kia biên giới, đi cả mấy ngày đường mới có khách mua. Rồi đổi hàng hóa, mua gạo muối… 
Cái Mẩy sinh ra trong thời kỳ đó, nó quặt quẹo và tưởng đã chết. Bộ đội biên phòng cắm bản cứu được nó bằng nước cháo và đường. Nó khát sữa. Trong nhà chẳng còn gì có thể ăn. Bố đi bán thuốc phiện bên kia biên giới và đang phải trốn chui, trốn lủi trong rừng, bị nghi là thổ phỉ. Mẹ nó chết sau khi sinh nó, còn rất trẻ, đâu như mới ngoài hai mươi, những tưởng nó cũng sẽ bị ông Giời bắt theo mẹ. Vậy là số nó sống, chẳng hiểu có sống được lâu không, nếu dân bản cứ chỉ hút thuốc phiện và trồng thuốc phiện. Phải buôn thuốc phiện cũng vì lẽ sinh tồn. Vì phải sống, nên bố mẹ nó phải trồng thuốc phiện và bán thuốc phiện. Làm cái gì trên những mỏm đá nhọn hoắt này. Thuốc phiện là đặc sản của vùng này và con người nơi đây. Còn các thứ khác là của người khác. Dân ở đây không quan tâm. Có thuốc phiện là có tất cả. Vậy là, suy cho cùng mọi sự xảy ra nơi chỉ có đá và núi cao này đều là vì cuộc sống. Cuộc sống nơi đây quá lạc hậu khiến người ta u mê, đói khổ và không tìm được lối thoát. Thuốc phiện là cứu cánh cho người dân. 
Nếu bộ đội biên phòng không đến, số phận cái Mẩy cũng sẽ như mẹ nó. Lớn lên, chưa biết thế nào là một gia đình, chưa hiểu cách làm vợ, đã phải lập gia đình, đã phải làm vợ, và rồi làm mẹ. Rồi sẽ đẻ ra những đứa con lít nhít, nếu trời thương, chúng sẽ có anh có chị. Nếu không, thì lại vùi thây trên mỏm đá nào đó, như tổ tiên chúng. 
Nhưng cái Mẩy cô đơn. Nó chỉ còn ông bố sống trong rừng. Biết tin vợ sinh rồi chết. Bố nó đòi về mà không được. Vậy là bố nó làm phản, trốn về nhà để được khóc vợ, để được bế con. Bộ đội biên phòng chỉ khuyên nhủ, không bắt bố Mẩy. 

Cách đối xử nhân đạo đó làm bố Mẩy biết ơn. Người Mèo đã biết ơn ai thì luôn nhớ công người đó với mình, còn nhắc nhủ cả con cháu đời sau. Bố Mẩy đến đồn biên phòng thú nhận mọi việc đã làm trước đây và được tha thứ. Công ơn đó bố Mẩy kể lại cho Mẩy nghe trong những ngày lễ, ngày hội khi ngoài kia người ta vui chơi, còn ở nơi đây, chỉ hai bố con. Tiếng hát nhớ vợ thương con của bố Mẩy theo làn sương sớm, theo đám mây chiều, theo những ngọn khói từ bếp lửa, luẩn quẩn vương vấn bên mái tranh, rồi tan trong thinh không, lẫn vào rừng già và ngấm vào máu thịt của Mẩy. Bố ngồi ôm Mẩy nhớ bài hát vợ dặn “ Anh ơi, anh đi xa để mình em ở lại. Anh đi đến bao giờ. Sao anh để mình em ở lại cô đơn với đá, toàn đá thôi anh ơi. Con chim bay tít xa tận chân trời nhưng vẫn biết đường quay lại, còn anh? Anh bao giờ trở lại. Ngô đã bẻ rồi đấy anh ơi, những hốc đá trồng ngô lại thiếu đất. Mùa xuân đã về bản, về với núi rừng rồi đó anh. Hoa mận, hoa lê nở trắng đường chúng mình đi, anh còn nhớ con đường đó không, anh nhớ quay về ngay khi xong việc, đừng ham nơi đất lạ anh nhé…” 
Bố Mẩy thương con nhớ vợ nổi tiếng cả vùng. Mẩy thường bắt bố nói chuyện về mẹ. Những ngày đó bố ở đâu. Cơn mưa rừng nào ngăn lối không cho bố về. Khi vắng bố, mẹ làm gì để nuôi con, lấy đâu ra đất trồng ngô. Vậy làm gì có mèn mén. Làm mèn mén chứng tỏ sự khéo tay của con gái Mèo. Người Mèo đi đâu cũng nhớ mèn mén và chảo thắng cố giữa phiên chợ… Có ngồi ăn hết bát thắng cố nóng hôi hổi giữa chợ mới hiểu hết tấm lòng người Mèo. Mẩy hỏi rất nhiều và nhớ đâu hỏi đấy. Có Mẩy, hai bố vui hơn nhiều, không âm thầm ủ rũ. 
Cũng những ngày đó, tôi về cắm bản. Tôi về bản với cái lãng mạn tuổi trẻ được đáp ứng. Sau mấy tháng huấn luyện vất vả, tôi háo hức vác ba lô về làm anh lính gác biên cương. Cầm tờ quyết định, tôi nhảy cẫng lên, tôi lại như nghe thấy tiếng vó ngựa của anh lính trấn ải biên thùy, lại như nghe thấy tiếng gió rừng già và tiếng suối chảy róc rách. Tôi cất tiếng hát thầm cho riêng tôi cái bài hát mà tôi nghĩ như để riêng tôi, hướng tôi vào đời, với những: Rừng cây xào xạc lá sương chiều dần dần buông/Đỉnh núi cao xa xa còn vang tiếng cồng ngân nga Men đường biên thuỳ ta cố leo, cho dù dốc đèo ta cố leo /Chốn đây núi rừng có ta ngày đêm/ súng cầm chắc tay cho núi rừng ngủ yên/Băng rừng băng đèo ta vẫn đi, cho dù dốc đèo ta vẫn đi/Chiến sĩ biên phòng có muôn lời thơ, câu ca tiếng đàn sáng ngời tình thương...(lời bài hát)
 Nói thật lòng nhé, sướng lắm. Tôi tưởng tượng ra Chốn biên thuỳ mến yêu...như đang đi trong rừng, ngắm rừng rồi vạch rừng tìm đường đi. Tôi thích đi xuống suối, nước suối trong veo và đạp chân lên những hòn cuội. 
Nhưng ở đây, cái bản mà tôi ở cùng đồng bào này, thì có rừng đấy nhưng mà cheo leo, ôi, cheo leo lắm, leo một chút là thở rồi, thở phì phò rõ to, chẳng biết giữ ý gì hết. Thay vào đó là đá. Chao ôi đá, đá nhiều và vô cùng nhiều. Tôi chưa biết gì về mảnh đất này. Cái bài hát về lính biên phòng đó có nói gì về đá đâu. Chỉ nghĩ ra tiếng vó ngựa đạp trên sỏi đá của con đường độc đạo, đầy lau lách và nhiều hiểm nguy thôi. Sau đấy vài ngày, tôi lại vô cùng thích thú về những câu chuyện của vùng đất toàn những mỏm đá nhọn hoắt này. Chuyện kể những ngày xa xưa, người Mèo di cư xuống phía Nam, nơi nào cũng có người, chỗ ở người Kinh thì bên những con sông, người Thái cũng có những cánh đồng lúa ngon nổi tiếng. Khi cha ông họ đến đây, chỗ này vắng teo, không một bóng người, không phải tranh chấp với ai. Vậy là tổ tiên người Mèo quyết định ở lại vùng núi đá này. Nơi đây, ta sẽ sống yên ổn, không lo bất kỳ kẻ quấy rối nào. Từ xửa xưa, người Mèo đã yêu sự bình yên. 
 Chiều chiều những ngày hè, thường khi nắng sắp tắt, mặt trời sắp lặn sau ngọn núi phía Tây xa xa đậm sắc chàm bí ẩn kia, thường nghe được tiếng sáo từ một mỏm đá nào đó bay vọng về. Ôi, kỳ diệu. Giữa mây ngàn gió núi này lại được nghe thanh trầm của tiếng sáo như tiếng lòng thổn thức của người trai, tôi như lâng lâng, bâng khuâng nhơ nhớ cái gì đó xa xôi, lâu cũ rồi. Tiếng sáo mang âm hưởng xưa cũ vọng về, hồn bỗng muốn thả bay cùng gió. 

Tôi tìm cách leo lên những mỏm đá nhọn hoắt đó để nghe được tiếng sáo trong cái không gian thuần chất Mèo hơn và rồi biết được người có tiếng sáo thổi, mang đầy tâm trạng đó là bố Mẩy, người đàn ông trẻ, góa vợ, chẳng hơn tôi bao nhiêu tuổi, chưa gìa mà cuộc đời có quá nhiều nỗi bất hạnh. Tôi quyết chí học thổi sáo và tôi quen thân với người có tiếng sáo u uẩn đó. Tôi mê cái âm âm u u của rừng già và tiếng gió rừng hú gọi. Tôi nghĩ về tiếng sáo và nhìn nét mặt bất động, lạnh ngắt, vô cảm của anh. Cái sáo Mèo này diễn tả đúng y sì phóoc tâm trạng con người và cũng diễn tả được tâm hồn luôn ưu tư của tôi. Tiếng ngân của nó rất dài, lan tỏa khắp các ngọn núi. 
Chính bố Mẩy dạy tôi thổi sáo để sao cho cái dư âm u u của tiếng sáo đậm chất núi rừng kia, thật thao thiết, thật kéo mời, quyến rũ. Anh bảo phải thổi thế nào đó để vợ anh bên kia thế giới nghe thấy. Muốn vậy phải giữ mình, phải làm điều tốt, phải yêu chân thành. Nghe thấy nó sẽ quay về với tao. Vậy là tiếng sáo của anh đầy nỗi lòng thương vợ, thương con. Tôi nghe và nhận ra trong mình có điều ám ảnh nhưng gần gũi, thân thiết và tôi đồng cảm. Tại sao ư? Tại nỗi đau của bố Mẩy cũng chạm tới trái tim mềm yếu của tôi, nhiều lúc tôi nấc lên cùng tiếng sáo của anh. 
Tôi nói với anh, tiếng sáo của anh đằm, cái đằm đó chất đầy tiếng thở dài, anh đừng thổi như vậy nữa. Anh phải thay đổi môi trường sống đi, phải vui để cho Mẩy của anh vui. Nhiều lúc tôi thấy nó buồn lắm đó. Nó thương anh vò võ như mụ đàn bà. 
Tôi ở đây cũng được gọi là lâu, đã gần ba năm. Từ một chàng trai trẻ, chỉ mơ đến những tiếng loóc coóc ngựa phi, tiếng chim hót trên núi rừng, tiếng suối chảy róc rách, tiếng nai hoẵng ngu ngơ kêu tác tác gọi bầy đêm khuya, đến nay đã là một chiến sĩ vững vàng, tôi gắn bó với nơi đây. Các thủ trưởng của tôi khen tôi thế. Tôi thích cuộc sống biên cương này là nhờ nghe bài hát về “người chiến sĩ biên thùy” của ông Tô Hải từ ngày còn đi học, bé tí. Chẳng hiểu sao ngày đó, bài hát này được phát thường xuyên, đến nỗi tôi nghiện. Tôi dần nhận ra qua tiếng đệm đàn là tiếng vó ngựa lộc cộc, tiếng gió rừng già, tiếng suối chảy và tưởng tượng những người lính trong bộ quần áo bông, mũ bông dính đầy sương với tuyết biên giới từ những câu hát. Đó là cuộc đời chiến binh của những chàng trai giữa núi rừng. Đó là những người lính trấn ải lưu đồn thuở phên dậu nước nhà còn rất mong manh. Cuộc đời chiến binh nơi biên cương xa mù đó toàn “miệng ăn măng trúc măng mai”, nghe thăm thẳm vời vợi, nhưng với tôi, rất cao siêu, đầy âm hưởng núi rừng huyền bí, cũng rất lãng mạn học trò. 
 Còn nó, nó từ một con bé gày guộc, nhỏ thó, thành một bé gái đẹp. Cái đẹp của nó tự nhiên như cây rừng, núi rừng, hoa rừng. Cái đẹp trắng phau, nõn nà tỏa hương như hoa mận, hoa mai khiến tôi cứ suýt xoa, nhớ nhớ mỗi khi đi công tác, về phép hay xa trạm lâu ngày. Những ông viết tụng ca, ca tụng thì bảo tôi yêu đồn biên phòng, hi sinh gắn bó, giữ cho biên cương bình yên, xây dựng bản làng biên giới thành pháo đài, thành đồn lũy gì đấy… chứ thực lòng tôi là tôi nhớ nó nhiều, cũng nhớ trạm, nhưng ít hơn. 
Vậy là ngoài bài hát của ông nhạc sĩ gì đấy, còn có nó, cái Mây, chứ không phải Mẩy, khiến tôi vương vấn núi rừng. Cái Mây như giải khăn voan quấn vào tôi, mềm mại, quyến rũ và có cái gì đó rất mong manh. Một cái là mơ ước tuổi trẻ con, một cái là hiện thực “thời trai giữa núi rừng”.
 Tôi chứng kiến nó lớn lên một cách lặng thầm nhưng thuần khiết. Chứng kiến vì tuần nào tôi cũng dạy văn hóa bọn trẻ con ở bản ba buổi. Tôi không thích kiểu nói, thấy “nó lớn lên từng ngày” như người ta thường nói. Nhưng mà, có lần, nhìn bọn trẻ đang cúi đầu làm bài kiểm tra, thấy nó lớn nhanh thật, lớn nhanh và đẹp, cái đẹp trẻ con, rất đáng yêu bởi nét thơ ngây. Nó ngước mắt nhìn tôi, thấy tôi đang nhìn nó, nó ngượng cúi mặt, vậy là nó cũng lớn thật rồi. 
Người đàn ông Mèo cần có bàn tay phụ nữ quán xuyến việc nhà. Việc nhà nhiều lắm, chỉ đàn ông lo không nổi. Đàn bà là linh hồn của ngôi nhà. Đi đâu cũng nhớ về nhà là thế. Ở nhà, đang có người đàn bà chờ ta, người ấy yếu đuối lắm, ta phải về cho người ấy một bờ vai để dựa. Người bản nghĩ vậy và nói bố Mẩy phải đi kiếm vợ để trông cái Mẩy. Cũng có lúc bố Mẩy nghĩ sẽ đi lấy vợ. 
Nhưng chính những lúc đó, hình ảnh mẹ Mẩy lại về trong đầu. Bố Mẩy như nghe thấy ai nói: “ Nó là con gái anh. Nó cũng yếu đuối như những người đàn bà khác, sao anh bỏ nó?” Anh không bỏ. Anh nói với tôi: “Tao cho mày con Mẩy, con Mẩy cũng quý mày. Tao biết. Nó ngoan và sẽ là con vợ tốt. Mày hãy thương nó...” Tôi cười, nói với anh “Anh đi lấy vợ đi, anh giao nó cho bộ đội biên phòng và tôi trông nom. Tôi sẽ trông nom nó. Khi nào nhớ nó thì về... 
Mẩy được bộ đội biên phòng gửi xuống huyện học, được nuôi ăn, không phải hàng ngày lo kiếm ăn nữa. Nó đã mười bốn tuổi, đang học lớp năm trường của bộ đội biên phòng, nghĩa là trường của tôi. Thời gian này, tôi cũng được cử đi học trường sĩ quan biên phòng. 
Tôi học ba năm. Ba năm sau, tôi về lại chốn xưa, ngày đầu tiên vác ba lô về làm chiến sĩ, nhưng kỳ này là làm trạm trưởng. Cũng ba năm đó, Mẩy đã là thành một thiếu nữ, đẹp nổi tiếng cả huyện. 
Tôi về trạm biên phòng xưa kia nhận công tác với trách nhiệm trạm trưởng. Hầu như chẳng có gì thay đổi. Cái bản vẫn nghèo và cái trạm biên phòng có phần cũ kỹ, xiêu lệch hơn. Dân vẫn ngô và mèn mén. Người vẫn xanh bủng và còi cọc. Vẫn anh em họ lấy nhau. Vẫn những đá là đá. Bộ đội vẫn chắt chiu mọi thứ để chia sẻ với dân. Giao thông vẫn khó khăn nên những con ngựa gày gò, già nua thồ một gánh hàng lên núi mất cả ngày. Lớp học ba năm trước tôi từng dạy Mẩy và lũ trẻ như rách nát thêm. Tôi nghĩ lại lời anh từng nói với tôi: “Cuộc đời người Mông như chiếc cối xay cứ xoay tròn, xoay mãi. Vất vả nhất vẫn là người đàn bà. 
 Tôi vào thăm bố Mẩy, căn nhà vẫn như ba năm trước, vẫn cũ kỹ, xơ xác còn anh thì già đi, đầu đã bạc một góc. Anh ôm lấy tôi: “Tưởng mày quên bản, quên tao quên cả cái Mẩy. Cái Mẩy mỗi lần về đều nói chuyện về mày, các anh bộ đội biên phòng cũng đôi khi có tin tức của mày đấy... Tao nhớ mày lắm...” 
Tôi không muốn nhìn gì, nghĩ gì thêm được nữa. Tôi chỉ nói khi nhận lại công tác trên này, ở huyện, tôi có tìm gặp Mẩy, biết em đang học. Để nguyên cho em học...” Tối đó tôi ở lại với anh, đề nghị anh thổi sáo. Anh rút từ trái nhà xuống cái sáo như đã bị bỏ quên rất lâu. Tiếng sáo vang lên, các đám mây đưa tiếng sáo của anh qua các đỉnh núi. Tiếng sáo vẫn như xưa, những âm thanh u u của gió hú, của rừng già và sao ấy... vẫn nặng nề, uẩn khúc, không có gì thay đổi. Tôi vẫn thấy cả một ngàn nỗi buồn hòa trong tiếng sáo của anh. Anh rải nỗi buồn đến mọi đỉnh núi. Tiếng sáo lan đến đỉnh núi nào, đỉnh núi đó như vỡ ra thành trăm ngàn đỉnh nhọn khác. Thảo nào mà ở đây không bao giờ hết đá. Đá như thể được sinh ra từ mọi nỗi buồn, nỗi đau của người Mèo. Biết đến khi nảo người Mèo hết nỗi đau?
 Anh thổi sao rồi anh hát. Anh nhớ Mẩy, đứa con gái xinh đẹp giống y như mẹ nó và mẹ nó còn là người làm mèn mén ngon nhất bản. Con gái Mèo làm mèn mén ngon thì được rất nhiều con trai săn đón. Bố Mẩy chiếm được mẹ Mẩy chính nhờ tiếng sáo nghe âm âm uu u vang xa khắp mọi đỉnh núi, con gái Mèo nghe tiếng sáo là thấy lòng vui khấp khởi, thấy những bước nhảy theo điệu khèn giữa phiên chợ đông. Nhưng đặc biệt, tiếng sáo bố Mẩy còn làm người nghe nhớ đến những ngọn núi uy nghiêm, thâm trầm và bí hiểm, thấy những ngọn núi đá sắc nhọn mà trong các hốc đá có những cây ngô, có thể để con gái trổ tài làm mèn mén. 
Tiếng sáo của bố mẩy trong những đêm rét đã gọi mẹ Mẩy đến bên bếp lửa. Họ đã qua nhiều đêm với nhau và cùng nhau hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cuộc đời. Trong những đêm đông rét đó, họ đã say sưa hát cho nhau nghe. Tiếng hát bố Mảy ngày đó trong sáng lắm: “Em ơi, mùa đông sắp qua và chúng ta sẽ về ở chung một nhà. Anh sẽ lên núi tìm con nai con hoẵng để chúng ta sống quanh năm đầy đủ, gác bếp nhà chúng mình sẽ đầy thịt thú rừng, anh sẽ xuống núi đổi nhiều muối và nếp và sẽ mua cho em những sợi chỉ thêu đẹp để em thêu lên bộ váy của em...”
 Nghe nói bên văn công quân khu muốn nó. Mỗi lần anh xuống huyện thăm nó, anh đều nói: “ Mẩy à, học rồi về với bản, với bố... mày có nhớ thằng Hùng bộ đội không? Mày thương nó thì đừng để nó đi mất...” Mẩy không đi hát, Mẩy đi học y tá. Mẩy vẫn nhớ bản, thương bố và không quên người đã đi xa. Người Mèo không thấy núi là thấy trống vắng, như mất người bảo vệ. 
Nhưng quê Mẩy nghèo. Tôi về trạm nghĩ nát đầu để sao cho đời sống của dân nâng lên, đừng chỉ mãi theo một con đường mòn nghèo đói. Nguyên nhân của cái đói chính là từ cái cứ khư khư ôm lấy sự cũ nát. Đến như cái trạm biên phòng đây cũng càng ngày càng cũ. Làm thế nào cho dân bớt khổ? Chỉ có thể phát triển giao thông và dựa vào rừng. Khó quá, lấy đâu ra tiền ra máy. 
Tôi trúng bí thư. Tôi về huyện họp. Tôi có tiếng nói để người khác phải nghe. Tôi nói về cái nghèo của bản, đã bao năm nay bản không khá hơn. Nếu cứ vậy, dân bản sẽ lại trồng thuốc phiện. Muốn dân mãi mãi từ bỏ thứ thuốc độc này phải phát triển kinh tế. Vậy thì giao thông cần được ưu tiên, phải đưa hàng hóa lên bản, đừng chỉ nghĩ đến mấy con ngựa già. Còn dân? Dân phải có hàng hóa đưa về xuôi. Mận, mơ thì chẳng ăn thua. Phải là dược liệu quý, như thuốc phiện ấy. Huyện nên quy hoạch vùng trồng, kiểm soát việc thu hoạch sản phẩm và trồng dược liệu. Những sâm, những hồi hay quế... bài thuốc tắm dân gian mà đồng bào Dao vẫn tắm... cũng là thế mạnh cần phát huy. 
Mẩy học y tá, biết thêm được những bài thuốc dân tộc. Mẩy kết hợp với các bạn người Dao lập hợp tác sản xuất, mua bán, đóng gói sản phẩm thuốc tắm. Mẩy hướng dẫn dân bản vào rừng tìm cây thuốc, cây thì ngâm rượu, cây thì băm nhỏ, phơi khô...
 Sau ba năm, cuộc sống dân bản có khá hơn ngày xưa. Tôi cùng Mẩy có đóng góp một phần. Chỉ một chút chút gọi là khá hơn. Đừng tự hào vỗ ngực quá sớm. Tôi rất sợ những ông vỗ ngực cho là “thế lọ thế chai” nên mới đổi đời thế này. Đời người còn dài chứ đâu chỉ có ba năm. Những người coi ba năm là ba chục năm hay một thế kỷ thì cuộc sống của họ ngắn lắm, họ mới nhìn được có một đoạn. 
Khó nhất là đường xá giao thông. Tiền không có, máy móc không có làm thế nào để có được đường cho xe đi. Bộ đội biên phòng bàn với dân bản và lãnh đạo xã, xin huyện hỗ trợ máy móc để vận chuyển đá và xin bộ đội thuốc nổ để phá đá, còn bao nhiêu thứ khác để dân tự lo. Vậy mà chúng tôi làm xong con đường ba chục cây số, chiều rộng 5 mét để xe đi đấy. Giờ đây, dân bản xuống huyện và sang xã khác dễ hơn xưa nhiều rồi. Đã có nhà mua xe máy để đi cho nhanh, không phải đi bộ nữa. 
Đúng là sau ba năm, đổi khác nhiều quá. Con đường đó được gọi là đường “chiến sĩ biên thùy”. Ai chứ, riêng tôi, tôi vô cùng sung sướng. 
Tôi với Mẩy thành vợ chồng. Đầu bố Mẩy tự nhiên xanh lại, trẻ ra, có khi trẻ hơn tôi. Tôi không biết gọi bố Mẩy thế nào cho hợp. “Anh ta” thì cứ mày tao, nên xưng hô đơn giản hơn tôi. Mẩy cười mỗi khi tôi ngập ngừng trong cách xưng hô... “Gọi bố đi cho quen”. Vậy là vùng đá nhọn hoắt nơi đây thành quê thứ hai của tôi. Mẩy nói với tôi: “Em sẽ đẻ cho anh hai đứa con. Đứa con gái là Mây, hát như chim rừng, còn đứa con trai là Gió, nó sẽ bay đi muôn phương, như bố nó, cho mọi người những làn gió mát lành. Tôi sung sướng, ôm chặt Mẩy vào lòng: “Còn em mãi là bóng mây che mát đời anh”. 
 Vinh Anh-15/10/21

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

Dằng dặc khúc ruột

 

Dằng dặc khúc ruột 

 1.Nỗi nhớ từ xưa 

 Lâu lắm mới lại về đây, vùng chỉ có nắng và cát. Lâu lắm mới bắt lại những Ròn, Gianh, Ba Đồn, Đèo Ngang, Lý Hòa… Đặc biệt lâu lắm mới gặp lại những Quảng Trị, Đồng Hới, Bảo Ninh, Đông Hà… Con đường xưa quen lắm, từng địa danh được nhắc tên là nỗi nhớ theo nhau, từng đoạn… rồi lại nhớ đến ở cái cuộc đua, đoạn đó… Cứ tưởng như quên, bị loại vì những con sóng vỗ, luôn làm con người phải đối mặt phó, phải dè chừng. Ừ mà lạ, làm sao phải đối phó, phải dè chừng. Có gì thì cũng tự hào để kiêu với riêng mình và ai gần nấy (chỉ gần cái mới thấy cái tự hào và cái kiêu thôi nhé, ai lạ thì đố mà thấy). 
Cái khúc dằng dặc ấy về thời gian, chỉ sử dụng một phần rất nhỏ trong cuộc sống của mình. Vậy mà nhớ, mà tự hào. Ồ, chẳng hạn như thế. Có những quy tắc để con người ta bay bổng thành khác lạ, làm cho người ta biến thành kỳ diệu, làm cho người ta không phải là ta. Vâng, ta không phải là ta. Đoạn ngắn thời gian ngắn là một thử nghiệm, là trải nghiệm tuổi trẻ của tôi 
Ba năm, cứ gọi là ba năm. Ba năm với ngày nay là già nửa nhiệm kỳ. Ngày đó, đâu có chú thích đến kỳ hạn, cũng có người biết cần phải có nhiệm kỳ, rất cần có nhiệm vụ để người ta không đi vào lối mòn của sự dễ dàng, của sự độc tài và đặc biệt, của. sự mê, ngu muội.
 Con đường thênh thang của khúc ruột dằng dặc lấy đi cái ngày xưa luôn đập vào mắt, đó là cái nghèo, cái rách, cái cùng tả tơi. Cả hai khi, bắt cái keo kiệt, ích kỷ nữa. Nhưng thực ra, tôi nhận thấy, nó như vẫn đâu đây, vẫn đâu đây luẩn khuất, không thấy những mái nhà lá, sụp xụp chị Dậu và bé tí teo, thấp thỏm. Cũng không thấy rằng những nhà kho hợp tác huyếch trống hoác, mà những người lính thì tôi thường mắc vào võng ngủ. Kho mà trống huyếch trống hoác thì ai gọi là kho. Những người lính của tôi ngày đó rất trống trải, cô đơn, chất chứa nhiều nỗi niềm, lắm ước mơ cùng biết bao khát khao…
 Tìm hiểu sao, nhìn những ngôi nhà mang dấu ấn hiện đại, tây tây hôm nay, tôi không thể quên được cái nghèo của mấy mươi năm trước đó, cái nghèo những năm đó thật ấn tượng. Ấn tượng đến nỗi nhìn cái sáng ngày hôm nay, cứ thấy cái nghèo hôm nay. Thật không sao có thể quên được ngày đó. 
Tranh thủ vài phút tạm nghỉ, đạp chân lên mảnh đất đầy cát, như tưởng tượng lại cái ngày xưa, ngày xưa hững hờ một mình trên cát trắng mà không nghĩ về tương lai, tương lai ư? Mờ lắm, ai biết đường ra. Tất cả đều muốn có đường ra, mà có đường ra, tất cả đều mờ. Cái mờ kèm theo u hoài, kèm theo nỗi buồn khó nói hoặc không nói. Phông nền mờ phải chấp nhận cho một kiếp người. 
Tất cả những cái đó đều về chuyến hành trình với khúc ruột dặc hôm nay. Hôm nay, ven đường quốc lộ 1, còn đường chạy dọc nối với Bắc Nam thành một dải, ít đi nhiều hàng cây dương ven đường mà tôi thích mắc màn, những người hành quân phải ngủ lại dọc đường. Tôi rất cảm tình với cây dương, cây chấp nhận số phận, cả cuộc đời chiến đấu chống lại sức mạnh trước cát nóng và hạn chế. Và nhờ dinh dưỡng kiểu gì đó không biết, có phải là từ cái cọc ăn sâu, lấy tinh của đất, cây dương lớn lên, da thịt cứ dần dần, thành bức tường cố định, tạo ra lũy thành vững chắc, chống lại gió cát cháy dưới ánh nắng mặt trời như thiêu đốt và ngọn gió Lào cứ hừng hực, như ném ra hàng chùm lửa.
 Tôi đạp chân trên lao xao cát và nhớ vớ vẩn về những ngày đó. Ngày đó, chúng tôi sống đơn giản với nụ cười trực tiếp. Tâm hồn chúng tôi lúc nào cũng như cánh cửa mở rộng. Chúng tôi trong sáng. Sự kiện trong sáng mà có người hôm nay cho rằng vì thế nên dễ bị lừa, bị lừa đến u mê. Không hẳn vậy! Song song trong dòng lũ lụt ngày đó, must be know important. Khôn hồn thì đừng đạp xe và quay ngược chiều, đạp xe ngược chiều dễ đi đến cái chết. Please know the select. Time base cũng is not missing. Không có cơ, nói trước phải thế này, nói sau phải thế kia, đều không phải người ngâm mình luyện trong bão, đều là người không thực tế. 
Tôi ngắm nhìn những khoảng cát trắng còn lại. Không thể tưởng tượng nổi bãi cát trắng khô cứng nhọn, nóng bỏng như ngàn vạn dao trước kia đã biến thành những ngôi nhà đồ đạc. Nơi tôi đứng đây, bãi cát trắng chỉ còn dấu vết ở xa gần đường quốc lộ. Những ngôi nhà cao, chí ít cũng hai tầng, đã thay đổi những lối đi của nhà tranh xiêu, thấp bé mà dân chúng tôi giải thích cho nhau, mọi người ở đây quanh năm có gió bão, nên chỉ ngang dọc đó, cách thu nhỏ mình lại, mới tránh được những người có chủ đến.
 This rồi đèo Ngang, cái đèo mang hơi thở và dấu ấn của Bà Huyện Thanh Quan vào trang sách. Mảnh đất Quảng Bình được che chắn bởi hai chiếc đèo rất nhiều bút mực. Ai lần đầu đến với đèo Ngang cũng thấy sững sờ vì thế núi đi ngang, chạy biển của nó. Chỉ là đèo với núi và chắc thời bà Huyện, vẫn rất hoang sơ. Con đèo ra biển ngạo nghễ đối mặt với muôn ngàn sóng. Nhưng biển chính và núi đã hòa hợp tại đây. Tại đây, trên đèo dốc trí, ta thấy biển cùng nhịp đập với núi. Biển có ào ào bao nhiêu thì với sự im lặng của con đèo hoang sơ, dẫn đến đại ngàn Trường Sơn xa kia, ta cũng dễ dàng nhận được sự trầm lắng, uy nghi. Trên đèo, ta có thể nhìn thoáng qua, phóng tầm mắt quan sát xa hơn, biết trước những điều bất trắc và tìm cách phòng ngự. Đó là mặt trời cùng những sóng sánh với hệ thống của nó. Người Việt từ xưa đã chinh phục khỏi khơi mào đó và biết cách sống chung cùng biển.
 Mảnh đất và dài chứa cát đầy. Tôi đã gặp những người nông dân trong những ngày nông nhàn làm phụ hồ, kiếm thêm đồng tiền cho bữa ăn, thế giới hệ thống nấu ăn của “lơ thơ dưới núi một vài chú thích” của bà Huyện xưa. Hỏi họ về cuộc sống. Tôi cảm thấy từng nét mặt và từng câu chuyện, tiền tố chất lượng vẫn còn trong họ. Cuộc sống là một vòng kim cô. Unless ra vô cùng gian nan. Biết đến khi nào mới có thể? Cái nào mất cả triệu năm?
 Tôi đứng bên dòng sông Nhật Lệ, con sông bây giờ trông “hiện đại” không giống dòng sông ngày xưa mà tôi từng gắn bó. Cái hiện đại làm cho tôi e ngại. Tôi lạc vào những quán ăn cửa hàng của năm mươi năm, mà có tài thánh, ngày đó, tôi cũng không thể nghĩ ra. Tôi đón gió mát từ biển thổi về. Rời cá tư vấn, nồng nặc từ một bến nhận nào đó đưa vào làm cho tôi thấy cái ngày xưa của những giai nhân dìu dắt hiện tại. Thoảng trong tôi, một câu lúc nào cũng da diết của khúc ruột dặc này, nhẹ nhàng bên tai. Tôi nghĩ về em, em của tôi, thời trai trẻ ngày xưa.
 Nhật Lệ đêm nay cũng có trăng. Từ lâu, tôi đã quên mất ánh trăng. Trăng thành phố có gì hay mà ngắm. Nhớ lại từng nói với em một câu rất thật, thật đến khó tin “Em đẹp lắm, lung linh như ánh trăng huyền ảo”. To now ngắm trăng trên dòng sông sát biển. 
 Tối, đường phố được chiếu sáng bằng những ánh điện nhảy điệu đà, ánh sáng đủ màu. Giật mình nhớ ánh trăng xưa. Những con suối được dập lửa trên sóng nước Nhật Lệ. There are the little be "version of natural selen". Thảng thốt về sức mạnh như lũ cuốn của những ngọn sóng du nhập hôm nay, bé nhỏ thế hệ kia, chịu đựng sao nổi. But then back to be happy, get the one of the small version of the small natural nhường cho nhau, cốt cách ngày xưa vẫn thế. Lại nghĩ đến những rặng dương ven biển đặc biệt trước nắng rát, mặn mòi, khô hạn. Con người ở đây vẫn vậy. 
But but also nao nao có gì khó nói, càng khó diễn tả thành câu chữ cho bạn bè đọc 
Tại cái địa chỉ một thời điểm nổi tiếng đó, tôi đứng bên ngoài yêu cầu, nhìn cây mới yêu cầu mà chỉ thấy ngày xưa nao nao, ngày xưa với tôi không thể quên. 

 2.Cánh rừng bên suối.

 Hôm nay từ đâu ra, ra một bài thơ dở dang, có câu “bằng nghề để riêng, tôi thành người lạ lùng / vơ vẩn cũng vơ vẩn vì yêu / xao xác lá vàng ngọn gió liêu xiêu / hương phơn đưa tôi vào lãng đãng / em hoa sữa và em duyên dáng / cứ tỏa hương cho tôi lơ lửng ”. Thấy xang một mùa hè gần đến. Mùa hạ đến và mùa bọn trẻ xa nhau. Cái xa tàm tạm để nhớ. Cái thành phố này tràn đầy hoa sữa.
 Ừ, mà cái mùa hè nào đó chính lại là mùa hè ở rừng. Cánh rừng đó có hương thơm của rừng. Cái mùi rừng rất rừng đó mỗi khi nhớ về nó, lại thấy xao xuyến, lâng lâng. Cái cánh rừng đó ở gần biển. The mảnh đất Trung ngày xưa, qua bài học, biết là nó có nghĩa là. Bây giờ ngồi nghĩ, thấy nó thật, đau đến rừng và biển như sát vào nhau. Lại nghĩ, rừng và biển là anh em trong truyền thuyết bà mẹ đẻ trứng. Cái ngày đó, nói là sống ở rừng hay ở biển, cũng có lúc không. 
Đây là mỏ, mỏm đá, nhìn xuống kia là biển, mà quay lại, đó lại là rừng. Nhìn cánh rừng đó, không thể nhìn thấy chiều sâu, nó cho cảm giác bí bách vì cây đề tài, tưởng tượng chỉ là tâm u vì sau đó là trập trùng nâng cao, có vẻ rất đẹp và gai góc khó nhọc. and must all out of eye. Ngước cổ lên là mây trời. Mây bay ngay kia và nhìn theo mây… Lóa mắt, khép mi lại, thấy biển bao la. Nhìn ra biển đạt hơn, tầm vóc hơn nhưng đơn điệu, có thể có thế. Sóng và nước tin tức. But it mông mênh, nó vô tận và nó cho ta cái tưởng tượng, cái ước vọng. Biển như ngược lại với rừng.
 Đêm, em cùng tôi đi trên bờ cát. Cát ướt trong dấu chân tôi và em. Anh nói chúng ta để lại cho biển dấu chân. Em cười nhẹ như ánh trăng, trong lành và dịu dàng. 
Gió lên. Tóc em bay như sợi tơ che giấu tiểu thơ mặt. Đón cái nhẹ nhàng tỏa ra khi đưa tay kéo lại từng sợi tóc bay lất phất mà thấy ngây thơ. Anh nghĩ, mái tóc của con gái thật kỳ lạ, nó được sinh ra để tạo ra cái duyên cho con gái. 
Nơi hẹn hò của mình thường là ở ngoài biển. But then ta doesn’t sit with the sea because em bảo vệ biển ào. Vậy là băng qua rặng dương. Thực hiện cái rặng dương chắc chắn cát chỉ rộng như một cánh đồng với một vài trường hợp thiếu con ở miền thừa cát này, rồi băng qua lộ, con lộ có thể ô-tô được, nhưng cả ngày mới có thể xuất hiện. vài chiếc xe đạp của ông ta bộ đôi cột vắt chéo vai, công sức làm việc sôi nổi, đạp xe họp. Hai bên lộ là cánh đồng lúa nhưng bị hoang hóa các tấm lót và cỏ dại. Add a interlaced is to a con suối, mà nguồn của nó chắc chắn ở đâu trong rừng sâu. Những buổi hẹn hò nhiều thời gian, chúng ta thường đi trên con đường đó vào ngồi chơi bên con suối ven rừng.
 Ít khi chúng ta vào rừng, anh nhớ chỉ có một lần. Em nói âm thanh rừng, lại trầm mặc như ông già, cứ ngồi đếm thời gian. Chúng ta chỉ ngồi ven suối. Em nói để nghe róc rách tiếng nước và ngắm những con cá tung tăng. Cool and clean. Suối trong veo, tinh khiết. Em thường xuyên quần áo, để lộ xương chân trắng muốt, nâng các tảng đá biến dạng hoặc ngồi bên mép, thả chân xuống nước, phá hoại sự yên tĩnh của dòng chảy. Đôi khi đứng dưới rãnh, tách tay áo, ghép đôi bàn tay xuống dòng nước mát, nước chảy vào anh và cười. Tiếng cười bay vào rừng lũ, bìa rừng ngơ ngác. We are an other bay qua một sự việc lạ. Em bảo anh đặt tên cho con suối. Anh gọi là con suối tình yêu. Em lắc đầu. Thế thì "suối mơ" vậy. Em lắc đầu, cụ thể quá, ảo mộng cũng vậy. Call is “Sếp mình”. Tuy không hay nhưng riêng hơn, riêng của mình. Ngoài anh và em, chẳng biết ai. Chỉ anh và em biết về nó, sau này, theo những dòng ký ức, kể về lũ con cháu mai sau. Anh ngẩn ngơ với suy nghĩ vì cách đặt tên của em. Hình như em đã nhìn ra, cái hôm nay mỏng manh, có cái gì đó ảo. Ảo is not real. Nó sẽ biến mất, rồi tan chảy vào đời. Nó chỉ là những kỷ niệm cho ngày mai, cho mai sau, mà cái mai sau đó, chỉ anh và em biết, có nói ra chỉ anh và em hiểu và rồi một lúc nào đó, về già hạn, ta nhớ lại . “Chúng tôi” là thế giới! có nói ra chỉ anh và em hiểu và rồi một lúc nào đó, về tuổi già, ta nhớ lại. “Chúng tôi” là thế giới! có nói ra chỉ anh và em hiểu và rồi một lúc nào đó, về tuổi già, ta nhớ lại. “Chúng tôi” là thế giới! 
Tình yêu chúng ta bắt nguồn từ đâu? Có phải từ con suối bên cánh rừng với ngôn ngữ hoạt động róc rách? Không phải. Em bảo vệ đầu từ biển, từ một khoảng không phóng to. Ở đó, em và anh gặp nhau. Cái nhìn đầu tiên là cái nhìn hướng ra phía Đông, mặt biển bao la ở đó. Sóng núp ở đó. Hôm đó có những con tàu và những cánh buồm. Tại sao em reup lại như vậy? Vì em nhận ra, em và anh cùng nhìn về một hướng. 
Hình như tình yêu của chúng ta chẳng có gì là trở ngại. Điều đó cho em bất an. Tình yêu nếu thuận buồm xuôi gió thì đâu có chắc là tình yêu đẹp. Em nghĩ vậy. Em muốn tình yêu phải có chút gì đó lao xao, lổn nhổn, ghềnh ghềnh, sóng gió… Họ đối thoại với nhau: “Thật chẳng may ai… Nhiều chứ… Đó là thử thách. Nhưng em biết không, thời chiến, có những người nói như thế này: gặp nhau lần nào cũng thành công / không đủ thời gian để chọc giận * (thơ Đỗ Trung Lai)… Em thấy sao? Ừ, thương nhỉ nhưng cái đó lại rất hay… Hay thế nào? Bớt những vô bổ, sáo rỗng chứ sao… Em ghét sáo rỗng. Ai chẳng ghét… Thì ngồi im nhé, im tuyệt đối xem nào… Im thì im… ” 
Anh lơ đãng nhìn con ngoài xa. Nó xa lắm và anh tưởng tượng ra hình hài của nó. This site is the leader, this place is the boot. Con khoang hàng… Con tàu là thế chứ gì? Một con tàu biển khơi sao lại đơn giản thế? 
 Em nghĩ về những con hải âu, những cánh chim trên biển. Em nghĩ về sự mềm mại của đôi cánh cũng như sức dẻo dai để chống lại sóng gió. Khi nào nó dừng lại. Đâu là tổ chức của họ. Ngoài kia mông mênh mông nước với sóng, làm gì có chỗ để chúng ta ăn ngủ. Em thắc mắc. 
Anh nghĩ về cô đơn. Con tàu trên đại dương đơn thực sự? Không, đó là ngày xưa, xa rồi. Now now. Vậy là anh nghĩ về sự thay đổi. Cuộc sống, từ khi anh đi học đến khi anh bước vào đời, nhiều thay đổi, thay đổi quá nhanh. Vậy mà, sao nhỉ… Mình có gì thay đổi không? Anh chỉ thấy mình lớn lên, khát vọng… Anh nhìn con tàu, anh sợ cô đơn… Anh sợ biển…
 Em chịu đựng, nhẫn nhịn những con tàu. Em liên tưởng đến số phận của đàn bà bụng mang dạ chửa. Có gì khác đâu những con tàu đang chứa đầy hàng trong khoang kia. Đến bến tàu là hàng hóa được hạ xuống, những con quái vật thuộc loại con tàu chui ra… những vật thể mới thành hình. Muốn vậy, bà mẹ phải rất can trường, bất chấp mọi sóng tới, gió lớn… Em ngưỡng mộ và tự nhiên với những trình điều hành, cô đơn. Em nghĩ, nếu số người rơi vào mình…?
 Họ nói lại cho nhau nghe những điều đã nghĩ khi tôi im lặng. Anh cảm thấy thú vị bởi như một trò chơi… Em nhìn ra biển với cái nhìn thăm dò của những hoài bão, những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Em thấy rối rắm, rối rắm của cuộc sống. Cuộc sống thật dễ dàng. 


 3. Bên dòng Nhật Lệ 

 Cái thị trấn này ngày xưa với tôi bé tẹo như tôi đã viết “dọc ngang chỉ một sải tay” Hiện giờ đúng là đẹp, nói quá một chút với chỉ riêng tôi, mà tôi không xấu hổ, đẹp “tráng lệ”. Cách đây hai năm, đôi khi vẫn có sự quay lại, mỗi lần như vậy, lại cố gắng tìm lại những hình bóng, những ngôi nhà lụp xụp, hạ thấp, những ngõ ngách tối giản, bé to nhỏ toen toen khi xưa, bằng chậm trễ cách xa bên dòng Nhật Lệ. 
 Từ ngày còn chưa có Nhật Lệ 1, tôi cũng như người Đồng Hới, mơ ước có một cây cầu để đôi bờ cùng nhau thuận lợi. Có gì mà ta vẫn gọi những cây cầu là sợi dây kết nối tình cảm, cây cầu là hẹn hò, cây cầu là bến đợi ... Ước mơ đó thành hiện thực. Cây cầu đẹp, rộng rãi, phẳng phiu mang dấu ấn của chủ nghĩa xã hội sau chiến tranh, mới vượt qua khó khăn, vào thời đại mới. Cây cầu hao như mọi cây cầu từ vĩ tuyến 17 trở ra, được khánh thành vào năm 2005. (Cầu nằm ở trung tâm thành phố Đồng Hới, kết nối với xã Bảo Ninh. Cầu Nhật Lệ có chiều dài 635 m, bao gồm 15 nhịp, mặt cầu rộng 12 m. Tĩnh không thông tin của cầu rộng 50 m, cao 7 m. Công ty được khởi động xây dựng vào năm 2002 và thông tin kỹ thuật vào ngày 17 tháng 8 năm 2004.) 
Tôi nói Nhật Lệ 1 mang tên những quyển sách của chủ nghĩa xã hội vì nó bình dị và rất quen mắt. Nó là sự khó khăn của những người làm bố, bà mẹ còn nghèo, khó khăn vẫn phải quyết định vì tương lai mai sau. Nhật Lệ 1 bờ biển kết nối trong hoàn cảnh như thế. 
Hoành tráng hơn, tân tiến hơn, Nhật Lệ 2 ra đời. This đứa trẻ là thành quả của thời gian mở cửa. Nó đẹp và mang phong cách mới, cũng có thể là một lưu trữ cho những cây hài mới mà con mắt sẽ dần dần dập tắt. Tôi đứng trên cái bình thường và ngắm cái tráng lệ, cách tôi ba cây số. (Cầu Nhật Lệ 2 được xây dựng với các dây nhịp (gồm hai nhịp đối xứng, mỗi nhịp dài 150 m) và các nhịp bằng bê tông dự ứng lực. Cầu có chiều dài 512,9 m, Bề rộng mặt cầu là 23,6 m, đáp ứng làn xe lưu thông. Trụ cột dây cáp được thiết kế dạng chữ A bằng bê tông cốt thép, cao 97,5 m tính từ đỉnh trụ, dây cáp bố trí theo hình rẻ quạt.Công ty có mức đầu tư là 930 tỷ đồng, được khởi động xây dựng vào ngày 31 tháng 8 năm 2012 và thông tin kỹ thuật vào ngày 25 tháng 8 năm 2017.)Và chiêm ngưỡng sự thay đổi. Tại sao không chịu thay đổi? Change thay đổi cái gì? Những người suy nghĩ nhẹ nhàng “vật thể, đấm đá” trong đầu tôi. Tôi liên tưởng và tôi cười, nụ cười có vị mặn. The know there is must do have a used to have a life win. 
Tôi nảy sinh sự so sánh mà tôi cũng nhận được sự việc. Tôi ví cây mới với những cô nàng tân thời, lũ lượt tung tăng “khoe” sự nhí nhảnh, những cô gái chân dài, nuột nà, thẳng đầy khêu gợi và đây là em ngày xưa của tôi, cũ kỹ, chất bình thường, dị và quen mắt. Em không chạy theo điệu nhạc với tiếng trống vang lên những tiếng ồn ào đầu tiên, mà lại nhẹ nhàng trong điều kiện kéo dài cứ mác trên mặt sông. Từ em lan tỏa sự mềm mại mênh mông. Em đang ở đâu để tôi hiện nay thổ dân thức?
 Conversation variable. Tư duy con người cũng thay đổi. Tôi đã cố gắng đưa tôi về cây cầu khác danh sách của ngày xưa, cầu Hiền Lương. Cũng is the so sánh, Hiền Lương có cầu hai, cũ và mới. Chỉ có khác, cũ cây cầu đang tồn tại như chứng chỉ của một thời gian, nó là bảo tàng. Còn lại cây cầu mới, cây này làm lâu lắm rồi, tôi đã đi qua nó hôm nay cây cầu khánh thành, vậy là những năm tháng trôi qua. Có thể có những thay đổi theo thời gian. Nhưng vậy mà, tôi vẫn nhận ra ngay nó, không chút ngạc nhiên, nó là sản phẩm của chế độ xã hội chủ nghĩa. You must be built it the time of the nghèo đói, nghĩa là cũng phải chiu từng đồng. 
Cuộc sống vấn đề và tư vấn duy trì những người thay đổi thế nào? Nó phải là hai dạng của những cây cầu cùng bắc qua một dòng sông? Tôi thấy suy nghĩ con người thay đổi kỳ lạ lắm. Cùng một vấn đề, hai con người có chiều ngang nhau nhưng nếu để chọn một con đường, hai con người đó khó lựa chọn cùng đứng về một hướng. That do trì hoãn và tính toán của con người mà chúng ta tạo ra. Trong những vấn đề quyết định, con người sáng ít lắm. New luôn được phản hồi và đưa vào ứng dụng chậm. 
Cái hay mà tôi học được là sự thay đổi để tạo ra sự tốt đẹp. Những điều tốt đẹp đó nằm ở phía chúng ta, phụ thuộc vào chúng ta. Cầu Nhật Lệ 2 có phong cách nhìn hiện đại hơn. 
Thành phố Đồng Hới hôm nay không nặng mùi thơm hoa sữa như thị xã Đồng Hới ngày xưa. Cái ngày ấy, khó đến mùa hoa sữa, cả thành phố bốc mùi… thơm chịu. Thơm quá nên ai cũng sợ. Nghe nói thị xã có lời kêu gọi tìm người hiến kế cho đến mùa hoa sữa nở, hoa sẽ ít mùi, nhạt mùi đi. Hiểu bằng cách nào, cây hoa sữa từ Hà Nội, qua bài hát của Hồng Đăng, được dân ở đây yêu mến, để rồi mắc vào… nợ. Thế mới ngộ ra, dân Việt ta cái gì cũng quá đà. Người có vị trí, phân tích sự việc, hiếm hoi lắm. 
Tôi tình cờ biết những điều hay và cái dở của thành phố mà tôi “chất chứa” trong mình nhiều kỷ niệm còn trẻ. Tôi ngẫm nghĩ về một cái gì đó, văn bản hóa trình độ của một dân tộc yêu cầu cần có thời gian, không thể tắt đầu. Thời gian được tích lũy kính trọng mới tạo ra nét văn hóa đáng trân trọng. Không thể có một thành phố đẹp, tráng lệ, huy hoàng mà bên trong nó là những người quản lý kém văn hóa. Đồng Hới có đẹp không, khi không gian bên đài mẹ suốt anh hùng mùi hôi thối của bãi cá gần đó. Những ngọn gió lành, mát rượi về đêm nào cũng sẵn sàng đưa vào những chuyến đi của khách để nghĩ và suy ngẫm về hành động của mẹ. 
Tôi sử dụng hai buổi tối vào cái thú ngồi ngắm hoạt động của hai bờ Nhật Lệ. Tôi thấy có vẻ như hai bờ Nhật Lệ có thể chứa toàn bộ những người Đồng Hới về đêm. Unknown lợi ích thu được từ hai bờ Nhật Lệ có thuộc về người dân không? Bờ thành phố được tôn tạo thành một khu tổng hợp của ăn uống, vui chơi và thư giãn. Cảm tưởng như đôi bờ sông như đã được khai thác gần hết. 
 Tôi đứng ngắm trăng, trăng hạ tuần không thật sáng, nhưng quan sát trăng sau những bóng lá dừa, thấy cảnh trặng hạ tuần lặn xuống biển xa thật đẹp. Trăng vừa ló sau nhưng tàu lá dừa và biến mất là một màn hình hạ màn mục tiêu của thiên nhiên. Gió mát thổi kia vào cái mùi tươi roi rói của biển cả để thay cái mùi mà ban ngày người dân ra khỏi mùa cô ấy. 
Tôi đi bên em. Em của tôi không ở kỳ năm ngoái về trước. The mát mẻ đã được làm mát thời gian cho mệt mỏi. Em không biết nhiều về “khúc ruột dằng dặc” ngày xưa của tôi. Tôi yêu cầu mảnh đất này và kính trọng những con người ở đây, vì vượt qua kết quả từ thiên nhiên yêu quái. Nhưng mà chuyện về này đất thì nhiều vô cùng. “Ngày xưa của anh thế nào, chắc đẹp lắm nhỉ? Không đẹp lắm nhưng mà duyên. Cái duyên làm nên cốt cách con người… Nhưng mà người ở đây đẹp… Đặc biệt trong đói khổ, họ biết đùm bọc nhau… Ưm, đâu có thế… Đúng vậy… Em biết không… ngày xưa ở đây… Biết rồi, nói nhiểu rồi… nghe nhiều rồi… Lại tiếp tục những tháng bom nổ chứ gì… Có cái khác… Cái gì khác? Em có biết "bug" là thế nào không? This story is… Lính ở nhờ nhà sửa lỗi. Bọ có con gái đến tuổi cập kê, nghe nói xinh, xinh nhất xóm. Time battle, lính gặp gái là mô tả lại ngay. Cả hai gánh chứ không riêng gì những người lính. Một hôm, mấy người lính thì thầm, mất ít lương thiện. Lương khô ngày đó ngon lắm. Bọ biết chỗ, lấy một phòng, uống với nước chè. Bọ gật gù ngon thật. Tiểu đội trưởng được bắt, lỗi phê duyệt. Bọ nói nguyên do, vì bộ đội nghi ngờ con gái ăn, vậy là bắt con gái lỗi vào màn hình, kiểm tra lại lỗi, lại rờ lung tung con gái. You are not be. Hôm nay, bọ ăn lương khô răng… ”Bọ hồn là thế. Lính smart is a thế giới. Muốn hôn con gái ta đâu dễ… Em cười như nắc nẻ, lâu lắm rồi mới thấy em cười như vậy. Tiếng cười của tuổi thanh xuân. “Em không biết, nhiều chuyện nhất và hay nhất của những người lính thời chiến tranh đấy.” Bọ ngày nay đã khác ngày xưa. This mảnh đất, anh thấy rõ sự thay đổi của nó và thấy nó đẹp hơn. Same as hai tree like, new kia is the new life of the life. Đúng không? Umm, have a goodness is too but true is the new beauty more. Cứ như cái này, chỉ làm cho ta nhớ lại cái ngày xưa… Ừm, em cười, em lại chính trị mất rồi… chính trị gì… thì cũng tuân theo quy luật của sự tiến bộ chứ. 
Em nhìn xa xăm, đôi mắt hướng ra ngoài đêm mênh mông. Ở đó, khởi động xa, nơi bắt đầu của những ngọn gió, nơi định hình thành những con sóng. Sự mát mẻ, tinh khôi, mới mẻ cũng từ đó. Em hỏi anh, con gió là gì, con sóng là gì? Anh bảo vệ, sóng là sự thay đổi, con gió là sự mới mẻ. Đó đều là những thứ cần thiết cho cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần có cách nhìn mới. 


Vinh Anh 4/5/21