Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

MÙA CÂY RỤNG LÁ

Mùa cây rụng lá


                                                   tản văn


Đang là mùa đông. Buốt cóng tay, so vai, rụt cổ khi ra đường. Vậy mà cái lạnh khô phương Bắc lại thật dễ chịu với mình. Hít một hơi thật sâu, thấy mát tận lục phủ ngũ tạng vì bầu không khí trong lành, không ô nhiễm. Thành phố nó sạch lắm, hàng cây đã gần như trút hết lá vàng và rải những cánh lá xuống mặt và hè đường. Nhìn những đống lá cứ dày thêm lên sau mỗi đêm, lại cảm thấy đâu đây cái mùi rừng ngày xưa mình sống. Chân đạp lên những xào xạc lá, nghe rõ cả tiếng vỡ của những chiếc lá khô. Lại hình dung cảnh chú nai vàng ngơ ngác. Là mình đây chẳng?



Thiên nhiên phú cho mảnh đất này thật nhiều cái đẹp. Nhưng trước hết, mình phải ghi nhận đó là công lao con người. Một xã hội mà ai cũng biết giá trị, biết giữ gìn từ những mầm xanh đến những cánh lá vào mùa rụng xuống.
Thật không ngoa đâu. Ngày xưa, thật ra chưa lâu lắm, mình đã từng đứng trên cửa sổ tầng bốn của phòng làm việc, ngắm những người đàn bà đi lột vỏ khô của hàng xà cừ cổ thụ. Cũng người đàn bà đó, gom về hàng đống là vàng, nhồi chúng vào những bao tải, chất lên chiếc xe đạp gầy guộc, xộc xệch, mang về làm chất đốt, giảm bớt một phần chi tiêu cho gia đình. Hình ảnh đó xảy ra trong những ngày mùa lá rụng. Đứng trên cao, cứ mỗi đợt gió, hàng ngàn cánh lá bay rợp trời. Cái đẹp đó có lẽ người phụ nữ đang mải mê gom lá kia không nhìn thấy. Một thoáng chạnh lòng cho những số phận mà cuộc đời không cưu mang, không chiều chuộng.
Còn hôm nay ở đây, con phố Laflin( nghe như tên một cô gái Pháp mỏng mảnh, nhỏ nhoi “Phăng-tin” trong “Những người khốn khổ”). Nhìn sang phía bên kia là con phố “ẩm thực”, người đi lại trên hè nhiều hơn. Nhiều hơn nhưng vẫn thưa vắng. Chỉ khi mở cửa, vào một nhà hàng nào đó, mới thấy con phố đó vẫn bền bỉ và âm thầm hoạt động. Đất nước của sự tiêu xài, nhà nước khuyến khích tiêu xài, có tiêu xài mới có nền dịch vụ và sản xuất phát triển, vậy nên nhà hàng vắng sao được bóng người.
Mình không thích sự ồn ào phố xá, kéo vợ đi dọc con phố nhỏ mang cái tên giống cô gái Pháp Phăng-tin kia để được im lặng đạp chân lên những thảm lá vàng ngập mặt phố, nghe tiếng thở than của những hàng cây đã gần trụi hết lá và để đôi khi nghe được tiếng gió hú để rồi cố tưởng tượng ra cảnh bão tuyết trắng xoá với cô bé Cô-dét đang lạc trong rừng.
Sang đây vào thời điểm giao mùa. Những ngày đầu, vẫn thấy cái đẹp của mùa thu còn sót lại trong không gian bởi rất nhiều màu vàng, màu đỏ của lá cây đang trong thời biến đổi màu sắc. Có những hàng cây vàng rực, như phát sáng rực rỡ; có những hàng cây đỏ sẫm, nhuộm chín một vùng hoà với thứ nắng vàng nhè nhẹ, mỏng mảnh rải lướt trên không, cứ tưởng như ráng chiều đã đổ. Màu sắc trên các cánh lá khiến cả khoảng không như một bức tranh làm ta liên tưởng đến một vùng đất thanh bình ngập tiếng nhạc và tiếng cười rộn ràng mang màu nắng, toả hơi ấm của các cô thiếu nữ.
Bên dưới những tán cây trong một vùng trống, chỗ nào cũng có thể tìm ra những thảm cỏ xanh mượt mềm như nhung, có thể ngả lưng bất cứ nơi đâu và cái mộng mơ, cái lãng mạn, cái tình tứ cứ tràn ngập, giăng mắc khắp nơi.
Nhưng bây giờ đã vào đông, độ lạnh dưới không độ rơi xuống tê buốt. Đã có một ngày tuyết rơi lẫn với những đợt gió quẩn làm cho những bông tuyết bay lên, lượn xuống như những binh đoàn côn trùng áo trắng nhảy múa hỗn loạn, quấn quít trong không gian. Tôi đã thấy mình trẻ lại nhớ cái lần đầu tiên, cách đây nửa thế kỷ, được thấy tuyết rơi. Mải nhìn, quên cả gió, quên cả lạnh chỉ thấy lâng lâng, vui vui. Cảm giác đó chỉ có thể xuất hiện ở vào cái thời mà người ta còn trẻ. Cái độ trong trắng tinh khôi và mong manh của những bông tuyết có thể sánh với sự trong veo chưa cảm nhận nỗi đời ngoa ngoắt của những chàng trai, cô gái mới lớn.
Một bất ngờ đến ngạc nhiên, cây lá đỏ trước nhà con gái ở, ngày mình mới sang cũng đang chuyển màu. Vẫn cứ cố đợi cho cây biến thành màu đỏ sẽ chụp một kiểu ảnh kỷ niệm. Rồi bận “khám phá” những mới lạ của thành phố, quên mất cái cây trước nhà và một hôm, sau ngày tuyết rơi, thẫn thờ trước những cành khô khẳng kheo chĩa lên trời. Sắc thu cuối cùng trước nhà đã đi qua không để lại một lời tạm biệt. Một sự ra đi có chiều vội vã hay đó là sự hờn dỗi của thiên nhiên? Chỉ biết trong lòng mình cũng có điều tiêng tiếc không thể nói rõ. Thâm tâm, mình rất không muốn có một sự chia tay, mình muốn cái cây trước nhà đó vẫn được bao phủ bằng màu lá đỏ, như hôm đầu tiên mình bất chợt nhận ra. Cây đứng đó và vẫn khoác lên mình chiếc áo của thời con gái xuân sắc. Ừ lạ nhỉ, tại sao con gái thích màu đỏ và có phải vì thế, cái cây sắc đỏ đó được mình ví như cô con gái.
Và bây giờ đã là đông, đông thật sự, đông buốt giá. Trên đất này, hầu hết mọi cây đã lột xác, trơ ra cái khô héo, mốc meo và mang dáng vẻ già nua, nghèo khó. Lại liên tưởng đến vòng xoay sinh lý của một đời người. Đời người cũng như đời cây. Mùa này cây đang độ ngẫm ngợi, cây đứng đó bất động, im lìm lặng lẽ và thấy hết cả. Sự từng trải về tuổi tác và biến đổi thời gian biến hàng cây thành những ông già gày guộc, lộ ra ngoài những nét vẻ trầm ngâm, xen những nuối tiếc về một thời thanh xuân đầy âm sắc và dạt dào những đam mê, quyến rũ.
9 giờ tối, con đường mang cái tên gần giống cô gái Pháp đìu hiu hơn, quạnh quẽ hơn. Chỉ thấy cái khô lạnh buốt giá rải trên mọi ngóc ngách. Thi thoảng một bóng xe lăn vội trên đường quét lên hàng cây trơ khớc toàn cành khô, những vệt loang loáng ma quái. Phố nhỏ như đã ngừng hoạt động. Đằng xa kia một dáng nhỏ vội vã với những sải chân dài. Một cô gái đang rảo bước trên hè. Dáng đi vội vã của cô cũng mang vẻ mùa đông buốt giá, vẫn là hình ảnh liên tưởng về sự cô đơn, lặng lẽ và còn có cả sự cam chịu nữa.

Mình rất ngại cảnh tuyết rơi ngập đầy lút chân. Không phải ngại mà là sợ. Cái màu trắng của tuyết phủ ngập cánh rừng và tiếng gió hú sao mà thấy rờn rợn, thẳm xa và thấm đẫm nỗi cô đơn nhường vậy. Những bước chân ngập trong tuyết kia biết bao giờ mới đến đích?
Nhưng khi bình minh lên, trong rừng cây phủ đầy tuyết lại có vẻ đẹp sững sờ khác, những hàng cây kia không còn trơ khớc cành khô nữa, tuyết đã khoác lên tất cả bộ áo mới, bộ áo màu tuyết. Ánh long lanh, long lanh huyền thoại từ những thân cây nào đó nhấp nháy, ta lại nghĩ đến một vùng đất thần tiên của các hoàng tử, công chúa. Không, có lẽ đó là những nàng bạch tuyết. Những nàng bạch tuyết trắng trong cổ tích. Những nàng bạch tuyết tồn tại khiến cho ta cảm thấy đời đáng yêu hơn. Và ta đã sống vì sự đáng yêu đó.

Nhưng đấy là tưởng tượng. Chicago hôm nay chưa có tuyết phủ, chưa có cái màu đặc trưng của mùa đông phương Bắc. Hàng cây trơ trụi lá ở phố nhỏ có cái tên giống tên người con gái nghèo của “Những người khốn khổ” này buồn lắm. Buổi tối càng buồn hơn. Phố vắng lặng quặn lòng để ta nhớ về một nơi xa. Tất cả như đã thiêm thiếp chìm vào cõi lắng hư vô. Chỉ có ngọn đèn đơn độc trên  cột đèn toả ánh sáng hắt hiu. Những tia sáng đó cũng bị cái rét sắc lẹm buốt giá làm cho ngót lại, bớt đi sự toả sáng vốn có. Ánh sáng cũng biết thu mình để tránh đi những ngọn gió vút qua như những mũi tên  chích vào cơ thể.
Muốn nói thêm một tí, không thể nói mùa này chỉ toàn những hàng cây đã trụi hết lá, chỉ còn những cành cây khô khốc, khẳng khiu chĩa lên trời như những lưỡi giáo nhọn, nếu vô tình ta vướng phải. Không phải chỉ toàn một màu xám xịt bất động như những ông già đã đến tuổi ngồi trầm ngâm như những triết gia, đúc kết sự đời.
Ta có thể gặp nơi đây sự chăm chút của con người với thiên nhiên. Mỗi một cây trồng xuống như một thân phận đã có lý lịch cuộc đời. Thật xa lạ với thói quen ở xứ ta, bởi mình đã tham dự vài lần tết trồng cây với những “trống dong, cờ mở” và cuối cùng chỉ vài cây còn sống. Thật thê thảm cho một cuộc phát động đầy tính nhân văn “Vì lợi ích mười năm…”.
Nơi đây, trên một con đường mình đi, cô xã chỉ cho cái cẩn thận, tỉ mỉ mà mình không chú ý: Một dãy hàng cây nhỏ mới được đánh từ vườn ươm ra trồng. Nếu đem các loại cây đã trồng ở xung quanh so sánh, loại cây này cũng không phải loại sau này sẽ có một thân thể cường tráng, nó chỉ nhỏ và cao như hàng xấu, hàng me bên ta. Bao quanh gốc cây là một bao lưới ni-lon, chất liệu gì không biết, chứa những loại phân bón, thổ nhưỡng gì không biết, nhưng chắc chắn không phải để chơi, có mục đích của nó. Cao cao trên gốc cây khoảng nửa mét còn có một cái đai ni-lon có dây khoá “phéc-mơ-tuya”cho chắc, không để tuột hoặc ai đó táy máy tháo gỡ. Trong cái đai có dây khoá kéo đó cũng không biết có cái gì. Nhưng chắc cũng chẳng để chơi. Những cái đó chỉ để khẳng định, người ta trồng cây xuống và người ta phải chăm chút nó, đảm bảo nó sống được. Chẳng hiểu suy diễn như vậy có đúng không? Thêm điều này cũng liều nhận xét, tất cả các hố trồng cây, không có một hố nào trống, nghĩa là cây nào chết. Điều đó cho mình tin rằng nó sẽ được chăm sóc đến tận lúc nó về hưu, hưởng tuổi già cho đến chết. Lại bật cười, chắc tụi Mẽo này lương cao lắm hoặc nó thừa nhân lực mới đi làm cái “trò” đó. Chứ cứ như ở ta, hễ có chuyện “xấu” xảy ra, thì câu đầu tiên mà lãnh đạo phản hồi là kêu thiếu nhân lực, “lực lượng mỏng, công việc nhiều”. Nghe mãi, quen tai, chán!
Ừ thì ở đất này, bọn chúng được chăm sóc chu đáo, cũng xuất phát từ cái hoàn cảnh thực của nó, biết làm sao! Cái nước mình vẫn có đặc thù, có giống ai đâu.

P/s: Viết xong đã lâu mà chưa tìm ra đoạn kết. Sáng nay, thấy một bà mẹ đưa con đến trường bằng ô-tô, thằng bé khoảng 10 tuổi, lẩn thẩn nghĩ về cái chuyện chăm sóc con cái ở Tây và ở Ta. Xu hướng Tây nhất định hay, chắc chắn chiếm thế thượng phong. Mình không nghĩ như vậy.
Đã đành không thể cân đong đo đếm được tình thương yêu con cái ở các bậc cha mẹ, cả Tây và Ta đều thế. Nhưng nếu bố mẹ người “phương Ta” phải nuôi con rồi phải để con “bay nhảy”, để con dấn thân vào cuộc đời mà nó đã chọn, cái điều xót xa của người “phương Ta” có khác người phương Tây? Vận vào mình, mình thấy khác. Khác nhau nhiều lắm. Cái sự khác đó ngày nay được một lớp người tân tiến gọi là cổ hủ, không theo kịp thời đại. Mình không đồng ý nhưng cũng không phản đối. Có lẽ mình cũng không đủ lý lẽ. Một thời đại đã khác? Chưa đâu!
Mình là người tạm gọi là người có thể chấp nhận sự thay đổi song không chấp nhận cảnh như thế này (chuyện thường thấy ở phim ảnh) đứa con còn đang độ tuổi vị thành niên, trong trò chuyện có bất đồng với bố mẹ, đóng cửa cái “rầm” trước mặt bố mẹ, vì cái quyền tự do của nó, vì cái quyền được bảo vệ thân thể của nó. Trong khi đó ông bố, bà mẹ nhún vai, lắc đầu, bỏ qua. Đó cũng là một cách dạy con.
Nhưng bây giờ đã qua mùa lá rụng. Tất cả lá trên cây sẽ rụng hết, tiếp đó là một sự sống mới, thay đổi mới. Và chắc chắn sẽ còn nhiều thay đổi khi con người ta sống trong thế giới phẳng.
Vừa mới đọc được tin sẽ có máy nhận biết ngôn ngữ, nói và dịch ra ngay ngôn ngữ mẹ đẻ. Ừ, vậy thì quá hay. Khoảng cách phân biệt do văn hoá và ngôn ngữ bất đồng sẽ được những người như mình giải thích một cách thấu đáo hơn chăng, có sự thông cảm hơn chăng? Hàng cây ngoài kia xám xịt với những cành khô khẳng khiu đang phải chịu cảnh đông lạnh giá, chờ đón sự lột xác.

    
                                                                                                                                                         Vinh Anh-Chicago
                                                                                                                                                                    16-11/2014

Ảnh internet



Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

CÁI THẰNG MỸ(tiếp 6)

Sòng bạc


Đến sòng bạc là để xem cho nó biết chứ không phải để đánh bạc. Mục đích là thế. Với thằng dân Việt nghèo kiết xác như mình đây, tiền đâu mà đánh, hơn nữa đây lại là đất thằng Mỹ.
Trong nước, cứ nghe đến sòng bạc là phải nghĩ đến mấy ông triệu phú ngoại quốc và đại gia. Người Việt ta may mắn được mon men đến cửa sòng bạc ở Đồ Sơn và truyền miệng nhau: “Nó đánh tiền tấn. Từ tận đẩu đầu đâu như Đài Loan, Hồng Công, Ma cao… toàn những mảnh đất đầy tội lỗi, sang chơi một đêm vào hai ngày nghỉ cuối tuần với gái, hôm sau lại phi máy bay về cố quốc làm việc.
Toàn tin đồn. Với dân nghèo như dân Việt, nhà có cái xe máy ghẻ mác Tàu phù, coi như một tài sản thì chuyện chúng nó (bọn chơi bạc) phi máy bay như thể bà vợ già hàng ngày mang làn đi chợ ấy, chuyện cái sòng bạc càng ghê gớm. Nó không chỉ là mảnh nhiều bí hiểm mà còn chứa chất tội lỗi.
Cũng bởi vì toàn tin đồn nên sòng bạc với cái nghĩa gá bạc, mang tính phi pháp, trộm cướp, ma-phi-a nhiều hơn. Con nhà lành như dân Việt đừng có bén mảng, nếu không muốn bị theo dõi, đánh giá về đạo đức, suy thoái lối sống… và những thứ khác. Nghe cái nhận ngay ra, đó đúng là “thế lực thù địch”. Mà người Việt ta thời nay nhạy cảm lắm, nói cái hiểu ngay, đã thế lực thù địch thì dứt khoát là kẻ thù, đích danh nó không là thằng Mỹ thì cũng là thằng Tây, những cái thằng, mà dân ta một thời tự hào và bây giờ cũng còn khối người âm ỉ sướng: chúng ta đã đánh thắng “ hai đế quốc to”.
Nói vậy nghĩa là mình chẳng bao giờ hứng thú ngó đến cái chốn chẳng có gì là danh giá ấy làm gì. Thôi thì cứ cố thu vén, chân chỉ hạt bột mà sống bằng cái đồng lương công chức quèn như bao người vẫn sống.

Sang đất của cái thằng Mỹ này mới thấy lạ. Cái món tuyên truyền của mấy anh tuyên giáo nhà mình đến kinh. Cũng chẳng biết mấy anh ấy đã vào sòng bạc bên Tây, bên Mỹ bao giờ chưa mà chém đến ghê người.
Hôm nay được con gái cho đi vào sào huyệt của sòng bạc bên Mỹ. Vào và chơi. Đủ loại. Vào tự do. Ngạc nhiên là chẳng có cái điều cấm đoán nào hết.
Bứơc chân vào, đầu tiên là thủ tục đăng ký. Trong một sảnh rộng, một cô gái da đen chìa bàn tay chỉ vào vào bàn đăng ký, xuỳ hộ chiếu ra, máy móc và cô gái trong ô tiếp đón làm việc, hai ba phút sau, nhận cái thẻ ghi đúng tên mình, có dây đeo toòng teng trước ngực, chứng tỏ mình là người đã qua kiểm tra an ninh. Cô ta còn trao tặng vợ chồng mình mỗi người một cái ca uống cà phê kiểu Mỹ bằng hợp kim nhôm. Cười thú vị. Nghĩ bụng chưa chơi đã có thưởng.
Đi độ chục mét nữa vào cửa lớn thì loá mắt với căn phòng mênh mông đầy ánh sáng và nhấp nháy ánh đèn từ hàng trăm các loại máy chơi bạc, giống như các máy chơi game đã nhập vào ta từ cuối những năm chín mươi, được đặt ở các khách sạn, nhà nghỉ. Nhà khách cơ quan mình cũng có mấy cái để moi tiền khách. Nghe thằng bạn cùng nhập ngũ làm giám đốc khách sạn này nói, đã có lần nó trúng thưởng rất to, to đến nỗi máy không có tiền trả đủ. Bởi nó làm giám đốc, nên nó cũng bỏ qua cái khoản tiền máy thiếu.
Mình ngợp với cảnh dân chơi bạc thì ít, vì đâu mà chẳng vậy, những máu mê, say bạc, cay cú và cuối cùng là khuynh gia bại sản, thậm chí chết người. Kết cục những tay chơi bạc là thế. Trong đầu mình hôm nay cũng vẫn nghĩ như thế. Cái đầu anh nông dân xứ quê mùa chỉ nghĩ được có vậy. Tiềm thức cố kỵ trong đầu là vậy. Cái tuyên truyền nó ngấm vào đầu một lớp người là vậy.
Dẫu đã được đến nhiều nơi sang trọng của thế gian, nhưng vẫn không hình dung ra sòng bạc là thế nào. Và bây giờ nó hiển hiện ngay trước mặt. trước đó chỉ biết tới sòng bạc là nhờ được tuyên truyền. Cũng biết trên đất Mỹ này, Las-vê-gát là sào huyệt của sòng bạc. Thành phố đó tượng trưng cho sự chơi bạc, nghe nói tên thành phố là nghĩ ngay đến vương quốc của các sòng bạc.
Trong đầu, chỉ toàn hiểu về cái ý xấu “cờ bạc là bác thằng bần…”. Không những thế, kèm theo nó phải là đĩ điếm, ma cô và găng stơ  nữa, nghĩa là có nổ súng, có cao bồi, có giết người cướp của. Ôi, toàn tha hoá, biến chất, rất xa lạ với cuộc sống quê mình, quê mình lành hiền biết bao. Vậy là ngợp với cảnh chơi bạc ở đây.

Vào đây thật đủ loại trò chơi kiếm tiền hoặc có thể là ném tiền đi cũng được. Chắc hản cũng có nhiều người say, dấn vào vận may rủi như thiêu thân. Trên phim ảnh của Mỹ cũng đã quay một số cảnh dân chơi đến sòng bạc. Nhưng nếu chưa từng vào sòng bạc bên đất này, không thể hình dung hết qui mô tổ chức của nó. Đầu óc anh tiểu nông chỉ nhìn tới tầm cao ngọn tre làng là như đã quá sức. Quả thật, cảnh đây, người đây đều ngoài sức tưởng tượng của mình!
Mình chậm bước, ngó nghiêng khắp nơi trong cái khu vực chiếm mặt bằng cả vài nghìn mét vuông này. Chưa dám đi hết, sợ lạc, nên không biết nó còn chứa bên trong lòng những bí ẩn gì nữa. Thôi thì lần đầu, cứ mang cái hiền lành quê mùa từ đất mẹ, hãy cứ lặng im, nghe ngóng, tìm hiểu.
Những tháp đèn pha lê khổng lồ hình tháp, hình lăng trụ, hình cong đầy ánh sáng thả cao từ trần cao xuống, cũng các loại đèn đó được sắp xếp từ các vị trí khác nhau bên tường, tạo ra khung cảnh tráng lệ của những cung điện quý tộc phương Tây thế kỷ 19. Cái từ “sòng” chắc cũng bao gồm cái nghĩa "to". Nó khác với cái từ “ổ” nghe có vẻ bất hợp pháp và tối tăm.
Trong cái phòng rộng mênh mông đó,(gọi là “phòng” không lột tả được sự rộng lớn, mênh mông của nơi chơi bạc)ngoài những lối đi xuyên dọc, xuyên ngang trong lòng nhà dành cho khách chơi đi lại, tìm chỗ ưa thích, các khoảng trống còn lại là các dãy đặt các máy chơi tự động đã được cài đặt chương trình để khách chơi, chọn theo sở thích và túi tiền của mình.
Qui trình với một máy chơi đại thể là: ấn thẻ đeo đã được cấp ngoài sảnh nơi tiếp đón vào lỗ, cho tiền đô Mỹ vào lỗ khác, đợi máy nhập xong dữ liệu là bắt đầu vào cuộc đỏ đen. Cô xã nhà em chơi đầu tiên, em đứng cổ võ tinh thần. Cô ấy chọn khoản chơi đầu tiên là 5 đô Mỹ. Máy tiếp nhận xong và chỉ còn việc chọn nút ấn tuỳ thích. Có thể chọn nút ấn mỗi lần 10 cent, 20 cent, 40 cent hoặc nhiều hơn. Chẳng hiểu cô xã nhà em chọn nút nào, ấn vài lần và đâu như ấn đến lần thứ năm, máy quay mãi, kêu reng reng, đến khi máy dừng, thấy tài khoản đã lên gần 7chục đô. Ấn vài lần nữa toàn thua, tài khoản còn 65 đô. Em nói nhỏ vào tai: “ thôi đi, ăn non thôi...” Cô xã ngừng chơi. Máy nhả ra một tờ giấy in tên người chơi và số tiền có. Tính ra thắng hơn 6 chục đô. Cười như bắp rang.
Nhà em ít tiền, em chỉ chơi 2 đô, chọn kiểu chơi 25 cent một lần. Tất cả được 8 lần thử vận may. Ấn cho máy chạy lần thứ hai đã thấy hời được một ít, ấn vài lượt nữa toàn thua. Nhìn số tiền còn lại là hơn bảy chục cent, nhà em mất hơn một đô, bản chất con nhà nghèo, tiếc quá! Cô xã đang vận đỏ bảo đứng dậy, vào ngồi thay nhà em, cũng không hơn. Cái máy này đen, còn mấy chục cent thì ngừng chơi. Số nhà em như vậy, từ ngày ra đời luôn chịu vận đen. Chỉ đâu một lần, nhà em đi chiến trường, lương gửi vào sổ tiết kiệm, đến kỳ quay số, được giải ba, những cả tháng lương gần trăm bạc, bọn bạn ở nhà lấy ra tiêu hết, chỉ để lại cho nhà em cái gốc. Vụ đó, cũng chẳng biết là đỏ hay đen.
Đấy mới chỉ là chơi bằng máy. Số người chơi kiểu này không nhiều so với số máy được đặt. Đa phần có lẽ cũng ít tiền. Có lẽ họ cũng không hơn nhà em là bao. Chắc là tích cóp được một tí tiền, muốn thử vận may làm cuộc đổi đời. Cũng có những máy chơi cài đặt mỗi lần ấn những 5, 10 đô. Chẳng thấy ai ngồi, có lẽ cao quá với túi tiền. Máy thất nghiệp.
Nhà em và cô xã chọn một máy khác, rẻ hơn. Mỗi lần ấn, nếu không thắng, chỉ mất 1 cent. Cho 2 đô vào máy, ấn, lúc được lúc thua, ấn đến lần thứ bao nhiêu rồi không biết, nhìn vào số tiền còn lại, 1 đô 6. Chơi mỏi tay, mất 40 cent cho nhà cái. Lại toe miệng cười, nhưng lần này cười nhỏ hơn.
Ở loại hình chơi máy này, ít người có nhiều tiền. Bằng chứng là những chiếc máy mà mỗi lần ấn mất 1 đô trở lên rất ít người chơi. Thêm điều nữa, cảm thấy như đa phần, chỉ đi một mình, không rủ thành hội. Nhìn nét mặt phán đoán, chỉ phán đoán thôi, những người này đa phần già, người da màu nhiều, trông rất cô đơn, nét trầm u phủ trên khuôn mặt nhàu nhĩ. Họ đến đây có lẽ không phải vì mộng làm giàu, ước mong thay đổi, mà chỉ để giết thời gian. Thời gian với họ là một sức nặng.
Còn rất nhiều loại hình chơi khác. Có loại chơi bằng quân bài tây, có loại quay viên bi trên một đĩa trò nằm ngang, có loại giống như chiếc nón kỳ diệu trên TV của ta, có loại tung súc sắc, có những căn phòng riêng rộng đến 200 mét vuông, nồng nặc mùi thuốc, chơi với giá trị cao, mỗi lần đặt cược tối thiểu phải 50đô… Nhà em thuộc thành phần tốt, từ trước đến nay không dễ bị mê hoặc và đặc biệt miễn dịch với các loại diễn biến, nên chẳng máu mê, chỉ vào cho nó có cảm giác sòng bạc nó như thế nào. Và nhận thấy hai điều, choáng ngợp với quy mô chơi bài của bọn “thù địch” và nhận thức được nhiều hơn so với sự tuyên truyền của các nhà tuyên giáo.
Một điều nữa, cái sòng này rất nhiều người Tàu. Nhân viên phục vụ phải chiếm quá nửa. Có những phòng không gian trang trí mang màu sắc Tàu từ nét chạm trổ cửa giả, các tấm bình phong, đến các bức tranh vẽ bằng mực Tàu treo trên tường đều rất …Tàu. Bỗng nghĩ chắc chắn lão chủ này phải là người Tàu. Hỏi một người Mỹ gốc Tàu, không phải, ông chủ sòng này là người Mỹ. Ồ, vậy là cái thằng Mỹ này cũng thật nhạy bén (mình khen nó là thừa vì chắc chắn nó là thầy mấy bậc của mình). Thảo nào mà người gốc Tàu đến đây tìm kiếm vận may đông thế. Người Tàu vẫn đi trước chúng ta nhiều vấn đề, trong đó có cả chuyện đánh bạc và mở sòng bạc.
Ngẫm chán lại buồn cho ta, cái luỹ tre của ta bao bọc thôn làng lâu quá và cũng cao quá, ánh sáng của nền văn minh thế giới không lọt qua luỹ tre.
Lại nghĩ gần đây, mấy ông lãnh đạo các tỉnh đua nhau xin mở Casino, chắc các vị ấy cũng muốn khai sáng cho người dân mình chăng? Có thể lắm, ngoại trừ phần riêng đã được xác định bởi các dự án được ký, có lẽ ý tốt đó của các vị phải được công nhận.
Riêng mình, mình chẳng thích, vì nếu có nhiều cái Casino như thế này ở nước Việt, để cho ta quản lý thì không lỗ cũng phá sản. Còn nếu cho thằng nước ngoài đầu tư, thì nó lại rơi vào tay mấy ông Tàu thôi. Nhà em đây nhiều kinh nghiệm rồi nhé. Các bác cứ chờ xem.

                       (còn nữa)                                                                                                      Vinh Anh-Chicago
                                                                                                                                                  11/11/2014










Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

NGƯỜI BÊN KIA

Người bên kia


Lớp người đã vào ngưỡng “xưa nay hiếm” như mình khó có thể thay đổi được nếp nhăn cố hữu đã thành sạn sỏi trong đầu, một khi đã có “ấn tượng” về một điều gì đó hoặc với ai đó. Cái nếp nhăn thành nếp đó được gọi một cách khác là thủ cựu, bảo thủ.
Nhưng lớp người xua nay hiếm đó cũng có thể bộc lộ sự chín chắn và hiểu biết siêu phàm. Chẳng vậy mà lão Văn Chinh có dẫn câu tục ngữ Việt, mà lần đầu mình được nghe: “ Vua cũng không cãi lão bảy mươi”. Chẳng hiểu sự chính xác đến đâu, nhưng với các lão già như mình, thay đổi được suy nghĩ đã hằn thành nếp, khó lắm!
Cái điều khó thay đổi đó có thể phải loại trừ mình. Mình luôn sẵn sàng nhận “tội”, nếu biết mình sai. Mình biết mình không cổ lắm. Trước đây đã có chuyện xảy ra với mình và một bạn đồng nghiệp, thân và trẻ hơn chục tuổi ở một cơ quan khác. Mình nói như mắng anh bạn kia (có lẽ vì thân nên mình đã quá đà). Còn về cậu ban, phần vì nhỏ tuổi, phần vì có thể lý lẽ cũng yếu (chuyện về vấn đề gì lâu rồi, không nhớ nữa), cậu bạn kia lặng im chịu trận, kể cả khi mình nói nặng lời: “mày ngu”. Người xung quanh cũng nghe được câu chuyện trên và một cô bé quen thân cũng có mặt, lựa lúc vắng người, cô đến nói với mình: “anh mắng anh ấy hơi quá…” Mình im lặng.
Lần sau gặp mặt lại cậu bạn, mình chủ động đến xin lỗi anh bạn trẻ kia và kết quả tình càng thêm thân. Thân cho đến hôm nay. Có chuyện gì mình gọi, cậu ta đều rất nhiệt tình.
Nói một chuyện như vậy là để chứng minh sự “biết” cầu thị của mình. Đầu mình không đến nỗi sạn sỏi.
Chuyện vậy để nói chuyện hôm nay, trên cái đất của “cái thằng Mỹ” này.

Chẳng hiểu còn ở xứ nào như xứ ta nữa không, cái sự thù hận về tư tưởng nó hằn lâu thế. Nửa thế kỷ rồi vẫn chưa nguôi ngoai. (Ở đây mình chỉ nói về lớp người “xưa nay hiếm”. Bọn con cháu mình nó đâu có biết chiến tranh. Chiến tranh chỉ từ đầu óc bố mẹ nó lây sang mà thôi) Sẵn có suy nghĩ đó (vậy là mình vẫn bảo thủ), khi tiếp xúc với người “phía bên kia”, mình luôn dè chừng, ngộ nhỡ… sơ sểnh, sẽ có thể bị chiếu bí.
Bởi là chuyện chính trị, liên quan đến tư tưởng, quan điểm lập trường, nên giữa những người khác chiến tuyến ngày xưa, dẫu có là họ hàng, cũng rất nhiều khi chỉ đơn thuần là cuộc đón tiếp xã giao. Mình đã có những cuộc tiếp xúc như vậy hồi Sài gòn mới giải phóng. Mọi cuộc gặp đều nặng nề như thiếu không khí thở, không có lối thoát. Tất cả chỉ mong sớm chấm dứt và “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi”. Khi chấm dứt câu chuyện, ai cũng thở phào: “vậy là xong!” Độ căng thẳng về tư tưởng khi nghe những lời lên án xã hội của người “phía bên kia” mà thực chất cứ như nghe họ đang mắng chửi mình, khiến con người mụ mị, ức chế thêm nhiều lắm. Nếu người cả hai phía không biết kìm nén, tất có thể sẽ đến cãi vã to tiếng, thậm chí là từ bỏ nhau luôn.
Có chuyện như vậy xảy ra với người “bên thắng cuộc” là bởi “bên thắng cuộc” có rất nhiều cái dở. Những cái dở đó mang đến nhiều nỗi ấm ức cho kẻ thuộc phe bên kia. Vì đâu nên nỗi? Những người ngồi bên nhau đây đều như nghĩ “cái tội” này sinh ra từ “bên thắng cuộc”. Không, không phải do chúng tôi, những người thuộc “bên thắng cuộc” gây nên, nhưng những người như chúng tôi cũng phải biết là không thể vô can. Điều không vô can đó, đa số người “bên thắng cuộc” không nhận ra. Từ cái điều không nhận ra hoặc cố bảo thủ không nhận ra đã làm cho mâu thuẫn thêm trầm trọng. Chỉ khi mà người cả hai phía đều nhận ra phần yếu của mình và tìm cách san lấp đi những bất đồng, tìm ở nhau những nét tương hợp, mới có thể lại gặp và nói chuyện với nhau một cách ôn hoà và bình tĩnh.
Khoảng thời gian hơn ba chục năm là quá đủ để chúng ta tự đánh giá về mình, phe mình và về người phía bên kia, phe bên kia. Những ai vẫn cứ khư khư mang nỗi hận thù sẽ chẳng mang lợi gì cho đất nước và cho chính bản thân họ. Phải hiểu rằng, điều mất mát, thiệt thòi này xảy ra ở cả hai phía. Nhưng phải công nhận một điều, từ sau ngày 30/4, phía “bên thắng cuộc” gây ra nhiều nỗi oan khiên không đáng có cho người phía bên kia nhiều hơn. Thí dụ như để xảy ra chuyện với những “thuyền nhân”, chuyện xảy ra với những người từng làm việc trong bộ máy Nhà nước ở phía bên kia, họ đã phải chịu truy bức về tư tưởng trong các nhà tù cải tạo, chuyện chiếm đoạt gia sản của các nhà tư bản… Không nhận biết và công nhận những lỗi lầm của mình, không thể hàn gắn được vết nứt trong lòng dân tộc
Chuyến đi thăm con lần này, mình toàn tiếp xúc với những người ở “phía bên kia”, lại nữa, toàn là những người họ hàng. Người họ hàng có cái khó là phải lựa lời đừng để mất lòng. Nhưng không vì mất lòng mà lại chịu bị đuối lý. Mình đi không có một đồng minh nào thuộc “bên thắng cuộc”. Vì vậy, trong hành trang chuẩn bị, luôn có sự đề phòng, vì mình vừa vào ngưỡng “cổ lai hi”, cái ngưỡng mà như mình nói ở trên, nói ra phải có lý có lẽ, và vì thế cần phải nói đúng. Cái điều hiểu là đúng ở đây phải trên cơ sở nhân văn, con người, tuyệt không thể dựa trên một luận thuyết của một chủ nghĩa nào đó được. Thế mới có chuyện “Vua cũng không cãi được” chứ!

Rất may là tư tưởng, tâm tư, suy nghĩ và thậm chí bằng cả hành động của mình đã qua thời tự biến đổi. Chẳng cần phải ai giác ngộ mà chính sự thật của đất nước giác ngộ mình. Mình đã tìm được cái lý của cuộc sống của mình trong điều kiện hiện nay của đất nước. Chính vì cái lý đó mà cuộc sống những năm cuối đời này không tẻ nhạt vì mình đã dấn vào, đã tham dự vào cuộc đấu tranh đòi thay đổi để đất nước đi lên. Cái điều mà rất rất nhiều người hiện nay, kể cả những người bà con sống nơi hải ngoại hiểu được.
Và điều đó tự dưng dẫn mình đến gần gũi với những người bà con của mình, cũng như cũng tự nhiên đưa mình xa các bạn chiến đấu cũ, những người một thời gần gũi nhưng lại không nhận thức được tình trạng đất nước hôm nay.
Vậy là, ở bên nước, mình cô đơn trong suy nghĩ và hành động. Sang đây, mình có người “cùng hiểu” để thông cảm. Một sự đảo ngược trong cuộc sống.
Mình mở đóng ngoặc hai từ “cùng hiểu” bởi lẽ trong cái gọi là “cùng hiểu” đó, vẫn có khoảng cách. Một bên nhận ra những sai lầm thiếu sót, một bên có phần hể hả vì những sai lầm, thiếu sót. Khoảng cách này chênh vênh và mong manh. Nếu một ai trong hai bên, có những lời nói quá đà phê phán thiếu công tâm. Vậy là trong cuộc chuyện trò, vẫn phải cân nhắc những điều muốn nói, thậm chí phải bớt lời. Có lẽ ít lời vẫn luôn là một điều hay. Biết vậy, nhưng mình vẫn là người đa ngôn.
Rồi những cuộc chuyện trò cũng kết thúc, chuyến đi cũng kết thúc. Cái mình tìm được là sự đồng cảm hơn của những người bà con phía bên kia. Cái nhận ra là con người ta nếu biết phân tích sự việc thấu đáo, sẽ tìm được tiếng nói chung, tiếng nói chung đó là sự mong muốn hoà hợp. Chiến tranh, thắng thua chỉ còn là những kỷ niệm trong mỗi con người.
Mà cuộc chiến vừa qua, bên nào là người chiến thắng? Câu trả lời đã lởn vởn trong đầu mình từ những ngày đầu vào Sài gòn với suy nghĩ: miền Bắc mình đói rách quá. Thắng mà làm gì nếu đời sống cứ mãi đói nghèo cho đến tận hôm nay, vác mặt ra ngoài là cảm thấy cái yếu kém của mình rồi.
Có phải người bên kia cũng đã góp phần thay đổi đầu óc mình để mình sớm nhận ra những điều sai trái của “bên thắng cuộc”. Một phần cũng nhờ những người đó đấy.

                                                                                                                                                           Vinh Anh-Chicago

                                                                                                                                                                  6/11/2014