Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2019

Vị phố


Vị phố

Lâu lắm rồi không lên phố. Phố ở đây là phố đông, nơi mình không quen biết ai, là người dưng của tất cả, mọi hành động của mình chẳng sợ bắt gặp những cặp mắt hay nhòm ngó, tất cả mọi thứ đập vào mắt đều có thể nhìn ngắm đến chán chê như tò mò, như ngớ ngẩn, ngạc nhiên. Vậy mà, dẫu là dân kề cạnh nơi phố đông, dù không đến nỗi như dân phố thị miền xa, vẫn cảm thấy lạ, vẫn rất nhiều điều muốn ngó nhìn và với riêng mình, còn muốn tìm hiểu thêm.
Cảm giác từ bao giờ mình xa lánh phố đông, nơi ồn ào với bụi bặm phố phường cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng và vào ngưỡng tuổi mình, mình còn cố tình xa lánh vì phải nhìn thấy nhiều thứ kệch cỡm, khó lọt mắt. Tự thấy mình đã trở thành “cổ kính”, không thuận nữa với những gì người đời gọi là đương đại.
Phố đông đây nó xô bồ, khác cái nhàn tản văn minh của phố cổ mà chúng ta “học” được từ phố đi bộ Arbat ở Mát-scơ-va hay từ một nơi nào đó khác mà mình mong được đến. Đến đây thấy phố đi bộ của ta chưa đạt đến cái ngưỡng văn minh đâu. Chẳng phải chê, cứ tưởng như ta đang chập chững, đang học. Cái gọi là văn hóa Việt, bị văn hóa thương trường kèm lẫn tính cách kiểu phố thị lấn át. Người đi bộ thấy ồn ào nhiều hơn, giải trí nhiều hơn và tất nhiên, ít có điều kiện chiêm nghiệm để ngẫm về văn hóa Việt, về kiến trúc cổ hay những món ăn đã từng nổi danh, được nhâm nhi trong khung cảnh vừa đủ độ "xưa".
Thêm một chút nữa. Phố đi bộ của ta, thực ra, cũng là nơi phục vụ cho việc giải quyết thiếu điều kiện vui chơi cho thành phố. Những ngày cuối tuần nhàm chán, tầng lớp trung lưu, viên chức của dân một nước đang phát triển, đang “ngóng cổ” hướng nhìn cách sống của lân bang và học theo.
Bỗng hoài cổ, muốn được nghe tiếng leng keng tàu điện khi ngồi dựa lưng bên một gốc cây, lơ đãng nhìn nét cong cầu Thê Húc, để hồn lắng vọng tiếng leng keng. Thấy lại cái tất bật một thời vất vả, một thời bươn bả, một thời ắp đầy những nỗi lo cơm áo. Vị phố ngày đó ùa về. Nơi đây, ta từng ngồi gặm chiếc bánh mì đổi từ 225 gram tem gạo, thay bữa cơm chiều, chẳng pa-tê giò chả gì hết mà vẫn xong. Rồi nhận ra, cái đói khát trong vinh quang ngày đó mà nuôi dưỡng được con người ta, tâm hồn con người ta, nuôi dưỡng được cả cái tự hào rất trìu tượng vu vơ “hạt gạo chia ba” nữa. Thật kỳ lạ và tự ngẫm, cái đó là cái gì? Xin bạn đừng giảng giải, chỉ ai có cái ngày xưa đó mới ngẫm và lý giải được nó mà thôi.
Thoáng như thấy vắt vẻo lọn tóc đuôi sam của một cô bé chưa được gọi là thiếu nữ trong bộ váy diêm dúa. Nhận ra cái nhí nhảnh ngày xưa của bọn con gái cùng lớp, chúng nó đều vắt vẻo đuôi sam. Bọn tóc dài ngày xưa đều thế. Mộc mạc ư? Không, duyên dáng lắm! Chính em của ta ngày xưa cũng vậy. Ta yêu em cũng từ cái vắt vẻo này à? Hỏi mà không biết trả lời có đúng không? Chắc là chẳng vì cái đuôi sam đâu. Ở em có nhiều thứ đáng yêu chứ!
Chạy không thoát khỏi ngày xưa, cái cũ xưa cứ chen vào cái hiện tại. Chỗ kia, trước cổng chợ Đồng Xuân, nơi ngày xưa là chỗ đường tàu điện tránh nhau, vòng trong vòng ngoài là người đứng, người ngồi đang nghe hát xẩm. Thật khéo chọn chỗ. Tiếng hát cô bé “xẩm tàu điện, xẩm chợ quê”, mình quen lắm. Lại nhớ cô bé với nét mặt lạnh, không biểu lộ sắc thái tình cảm, mà mỗi khi nó cất giọng, lại như thấy rõ nỗi lòng ai oán cùng nỗi xót xa. Nhưng lúc này nghe, không còn thấy dư vị của tiếng than trong lời ca, dù vẫn là lời ca ấy, không thấy nỗi xót xa, dù đời vẫn đầy oan trái. Vậy là mất cái thấm đậm của nỗi lòng mang nặng ngày xưa trong cái hôm nay rồi. Chăm chú nhìn người hát, người nhị, người cầm nhịp hay cầm chầu gì đấy mà tôi không rõ, thấy họ biểu diễn tự tin, sáng sủa quá… không đúng cái ngày xưa của cô bé. Bất đắc dĩ quay đi, muốn tìm cái rầu rĩ, lạnh lùng của con bé gày gò, hơn chục tuổi chứ mấy, mà nó ca “thuở trời đất nổi cơn gió bụi…”mới não nề, da diết, trách móc làm sao… Đấy mới là hồn của xẩm chứ. Bây giờ không còn xẩm, người ta chỉ diễn lại tích xưa mà thôi. Nghĩa là nó nhạt. Trong mình vụt thoáng ý nghĩ, chỉ có nghèo mới sinh ra xẩm. Đấy, con bé gày gò, cầm cái nón mê, mặt lạnh vô hồn, quần áo vá víu, đi vòng quanh đám người đứng nghe. Nó lướt qua mình, mình đã cầm sẵn đồng xu trong túi, nhưng nó lướt qua, không thèm nhìn. Nhìn mặt nó, nghĩ, nó coi mình là trẻ con. Đúng thôi, nó hát để kiếm ăn còn mình thì đang sống nhờ bố mẹ.
Cái vị phố này có gì đăng đắng, khó nói. Nó là gì, là cái hồn, cái tinh túy đã nhạt mất rồi, đúng không?
Lại lững thững hít hà hương vị phố phường. Không hít cũng phải hít. Cái mùi kích thích dạ dày. Cái mùi luôn lảng bảng trên phố đi bộ, nó quyện vào trong hơi thở, phảng phất trong mọi tán cây. Mình không thích không gian ẩm thực ồn ào, nó mang dáng vẻ phàm tục với hình ảnh của những ông bụng bia, mà ngày xưa bọn trẻ con mình thường hát nhại từ bài hát rất hay “hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ” thành “bụng ông to như cái thùng nấu phở…” Vậy mà không thoát. Cả dọc phố bày la liệt bàn ghế với đám trẻ, rất trẻ, ngồi uống trà sữa và sinh tố, cả phảng phất mùi thịt nướng nữa. Đâu đó có nhiều đứa cắm mặt vào smart phon, đứa ôm đàn ghi ta bập bùng trong hỗn tạp, bùng nhùng âm thanh phố phường. Ồ, có lẽ phố phường cứ mãi tồn tại trong trẻ trung, náo động thế này đây.
Vị phố nay đã khác xa với hương xưa mà mình đeo đẳng suốt cuộc đời. Cuộc đời mình sóng gió hơn chúng nó và bây giờ, cái mình cần đến là sự yên ả. Đó là điều an ủi để che giấu sự già cỗi, không bắt kịp nhịp đời. Biết vậy để tự tặng cho ta bàu trời riêng, ta có cuộc đời của ta. Rồi gật gù, bọn trẻ kia là sự nối tiếp. Thế hệ nào cũng có sự nối tiếp của nó, triết lý chưa?
Chưa hết chốn ồn ào với những gương mặt phồn thực, tôi thấy một bà mẹ ăn mặc đúng cách tân kỳ, váy ngắn bó khuôn hình nhưng được cắt xẻ để hở gần hết chiếc đùi trắng ngà, cổ rộng, thơm mùi nước hoa, giọng miền Trung không lẫn, nhắc cậu con giai bé xíu: “Coi chừng, té đó…” Lặng ngắm cậu bé mải chạy đang chơi trốn tìm, một trò chơi ưa thích của trẻ nhỏ, nghĩ về một Hà Nội pha tạp. Sự pha tạp thể hiện nét văn hóa vùng miền mang về đất kinh kỳ. Đa dạng là lời khen còn phía sau đó là sự hỗn tạp, đầy những nét thể hiện sự thủ cựu, khó sửa đổi. Mơ hồ nhận ra sự phức hợp của đa nhân cách. Xấu ư? Không hẳn, nhưng, hình như có phần không đẹp. Nói to, nói tục, nói ngọng và vô số điều khác nữa chứ… nó làm cho vị phố thiếu vắng sự nhuần nhị, thiếu mùi thơm hoa nhài, dù chỉ thoang thoảng nhẹ thôi, man mát thôi, để người ta hiểu, đó là sự ý nhị, một nét văn hóa.
Rồi cũng phải về. Về với phố thị, xóm nhỏ nơi mình sống. Một không gian thoáng đãng, một mặt hồ mờ ảo, một cơn gió lướt nhẹ qua mặt và những cái gật đầu thay cho lời chào. Nơi đây, mình thấy gắn bó. Đậy mới thất là vị phố của mình.


Vinh Anh-28/10/19

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2019

Có gì trong mùa thu

NGẪU HỨNG
Có gì đó trong mùa thu

Mùa thu đẹp, mùa thu duyên dáng, mùa thu dịu dàng và với cái hồn lâng lâng như thế, người ta yêu mùa thu, người ta bảo mùa thu đẹp. Mùa thu khiến ta dịu lại, mềm đi trong cái ồn ã cuộc đời. Cái ồn ã mà tùy ở trong mỗi người, có thể kèm theo cay đắng. Nhưng dù có cay đắng thì cay đắng vẫn bị cái dịu dàng kia, mềm mỏng kia, yêu mến kia, gần gũi kia, hòa tan, khỏa lấp cho dù cái hòa tan, khỏa lấp cũng chỉ là khoảnh khắc nhất thời. Nó cho ta nhận ra cái cay đắng cuộc đời kia cũng chỉ là thoang thoảng, nổi trôi mà thôi. Vậy là vui hơn.

Mùa thu đẹp vì cái lạnh se se sáng sớm. Ta hơi co ro và suýt soa, dẫu chẳng lạnh, với tay mặc thêm chiếc áo. Em ta hững hờ quàng thêm cái khăn, để làm duyên chứ chẳng phải để giữ ấm. Rồi ta hít một hơi thật sâu, làn không khí trong veo, mát lành mang cái se se theo vào từng ngách lá phổi và tỏa đi. Cảm nhận từ đất trời rơi xuống cho ta sự khoan khoái, cũng cho ta thêm cả một không gian bình lặng.
Mùa thu đẹp vì sự yên ả. Yên ả tạo bâng khuâng, muốn tìm đến cái chân thành, cái thuần khiết. Ngọn gió mùa thu như là sự ve vuốt của bàn tay, cái nắng mùa thu như thắp lên trong ánh mắt từ ai đó. Có cái nhìn ấm áp nào được như nắng mùa thu? Tiếng nói giữa trời thu như ngân hơn và bay cao hơn tựa như cánh chim trong thăm thẳm không gian mênh mông. Thấy được sự khoáng đạt của tự do. Bàu trời thu cho ta thấy màu xanh của trời trong nền trắng của mây mà chẳng họa sĩ tài ba nào có thể diễn đạt được. Tự ta thấy cái đẹp thiên nhiên không pha bụi bặm.
Mùa thu đẹp bởi là mùa hoan ca, mùa chim về làm tổ, mùa gọi tìm hạnh phúc. Gì rộn ràng bằng những tiếng chim buổi sớm khi những tia nắng bình minh chỉ vừa thấp thoáng tận xa kia chân trời. Tiếng chim sớm cho ta cảm sự đoàn tụ, sum vầy và tất nhiên là hạnh phúc. Tiếng chí chóe của lũ chim cho ta nhận ra, ừ, mình như đã… cũng một thuở... Ta bỗng nhớ về xa xôi, cái thời ríu rít, cái ngày tựu trường, cái buổi tan lớp và thoảng vọng đâu đó là những lời thì thầm, những bàn tán, những ánh nhìn và ngọt ngào những hẹn hò…
Mùa thu đẹp bởi ta thấy ta trở nên trong trẻo, ta trở lại ngây thơ, ta trở thành dại khờ. Những giận hờn vô cớ như lắc rắc mưa thu, ướt nhẹ như mưa thu, thâm thấm như mưa thu. Những giọt mưa thu đó đủ để cho ta ngồi bên nhau, đủ để cho ta có cớ thanh minh với bạn bè, đủ để cho nói ra được một đôi lời khó nói, đủ để lại trong ta nỗi nhớ lúc xa cách.
Mùa thu đẹp là bởi từ sự xanh mát lòng mát dạ. Cái màu xanh cho cảm giác sự mịn màng sờ thấy được, vuốt ve được. Nó là dòng suối róc rách. Nghe tiếng róc rách đó, ta thấy được những âm thanh thần bí vọng từ ngàn xưa và từ đại ngàn rất xa xăm. Nó cũng là mặt sông phẳng lặng. Mặt sông đó in rõ  nền trời xanh thẳm, cho ta được hai bầu trời. Tôi đã đưa em đi giữa hàng sấu xanh ngắt của mùa thu. Hà Nội có những hàng sấu như vậy. Và em bỗng hỏi, sao hàng "xấu" mà đẹp thế? Hỏi khó thế! Có lẽ là sấu chua, cắn một miếng phải nhăn mặt. Còn đẹp ư? Em thấy đấy, bởi nó đẹp như em từ xưa. Em ngượng ngùng quay đi. Tôi thấy còn đẹp hơn hàng sấu.
Mùa thu đẹp vì nó là sự chơi vơi. Cái chơi vơi đầu đời trong đám bạn bè ồn ào. Vậy là nó dễ nhớ, nó dễ thành đậm nét, nó sẽ thành kỷ niệm. Kỷ niệm đời người thì nhiều lắm nhưng sâu lắng nhất là kỷ niệm về mùa thu. Đặc biệt nó lại là mùa thu đầu đời. Mùa thu đó ta gặp em, ta yêu em từ mùa thu, ta thương em bởi mùa thu đầu tiên đó. Đất trời từ đó về sau mới có mùa thu. Và từ đó ta hứng mọi vui buồn, như hứng những giọt mưa thu. Mưa thu biết bao nhiêu giọt cũng như ta đã biết bao nhiêu là nỗi buồn và niềm vui, những nối buồn niềm vui đã gieo từ mùa thu cũng gặt về từ mùa thu.
Vậy là mùa thu làm lòng ta xao xuyến, chênh chao. Ta lại muốn được ước ao, muốn ngập đầy hi vọng, cũng lại những muốn chờ đợi, thương nhớ và có những dại khờ, đam mê.
Và nhận ra, ta là cái hôm nay già nua, cằn cỗi, bụi bặm. Ta sẽ chẳng bao giờ có được những ngày xưa, những mùa thu trong vắt ánh nhìn nữa.

Một ngày thu khiến lòng bâng khuâng. Có cái gì trong đó mùa thu?


Vinh Anh-23/10/19

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Nghĩ về phát biểu của tướng Lê Mã Lương...

Nghĩ về phát biểu của tướng Lê Mã Lương
về bãi Tư Chính ngày 6/10/19 và các ý kiến trái chiều

Tướng Lương đang làm nổi sóng trên mạng với clip phát biểu của ông quanh chuyện bãi Tư Chính đang nóng hôi hổi. Với lời lẽ rõ ràng của vị tướng, thái độ phê phán quyết liệt với những phản ứng chậm trễ của các cá nhân và một số cơ quan liên quan, khi tình hình Tư Chính sục sôi. Cách nói rất  rõ ràng pha với máu nhà binh. Nhà em muốn đôi lời, ăn theo xung quanh chuyện này.
Trước hết, đây là cuộc tọa đàm, cuộc tọa đàm này vì lý do nhạy cảm, bị hoãn lại sau ngày quốc khánh Trung Quốc mới được tổ chức (cũng chẳng có ai nói lý do hoãn này đâu ạ, nhà em nghe ngóng thấy nó là như vậy thôi).
Tướng Lương nói ra vấn đề vô cùng nhức nhối, đúng tâm can người Việt. Rất nhiều người Việt khác có tâm trạng như vậy và ông đã nhận trách nhiệm, đảm nhận sứ mệnh nói thay rất nhiều người dân Việt, nói lên ý chí của người dân, mong muốn của người dân về một vấn đề mà mấy tháng nay, như bị lờ đi hay như cố ý bị bỏ quên, xem nhẹ.
Trong phạm vi tọa đàm (có lẽ là nấc nhẹ, theo nhà em, nhẹ hơn hội thảo), diễn giả có thể có những câu nói, những ý nghĩ bột phát, chưa gọi là được cân nhắc kỹ. Thí dụ, tướng Lương nói, nếu để mất Tư Chính, ông sẽ dẫn đầu anh em quân đội (hay lính tráng gì đó) đến Bộ Ngoại giao (để xem ra nhẽ). Hay như những nhận xét về tướng Lương Cường, tướng Ngô Xuân Lịch cũng có thể ở khía cạnh nào đó, người nghe cảm nhận, việc tướng Lương không đánh giá cao hai vị tướng này, dễ ngộ nhận ở khía cạnh kiêu binh.
Với những điều đó, trong cái không khí mà người đời đồn thổi về “thị trường sao vạch” hiện nay (Ý nhà em muốn nói về chuyện mua quan bán tước ở mọi ngành trong nước ta, chứ chẳng riêng ở khu vực nhà binh), chuyện đó có vẻ như lại là một dẫn chứng, dẫn chứng rất hùng hồn khi một nước như nước ta với hơn chín chục triệu dân, có số tướng nhiều vào loại nhất thế giới và cũng vì thế, có số tướng phải vào lò bác Tổng cũng nhất thế giới luôn (18 vị tất cả).
Vậy là tướng Lương nói hộ dân nhà em hai điều bức xúc: 1/ Bọn giặc quấy nhiễu ngoài biên cương, biển đảo và thái độ phản ứng của dân, lòng mong mỏi của dân nhưng không có chỗ để nói, không được nói, bị cấm nói và 2/ Tình hình quan chức của nước nhà. Quan chức nước nhà hiện nay bất tài, nhu nhược, chỉ lo vun vén để gia tộc vinh hoa phú quý mà thôi.
Nhà em cũng xin có đôi nhời về phát biểu của tướng đàn anh Nguyễn Quốc Thước. Tướng Thước cho là cách nói của tướng Lương là “trái với đạo làm tướng”. Có đúng nói như tướng Lương là “trái đạo làm tướng không?” Muốn trả lời hãy dẫn lại câu nói của tướng Thước.
Trái với lời dạy của Bác về đạo làm tướng, tướng Lê Mã Lương đã có những phát ngôn hàm hồ về các sự kiện của đất nước, gây mất lòng tin với nhân dân, bởi sự phai nhạt về lý tưởng và bị kẻ xấu lợi dụng.”
Một vị tướng anh hùng, trong kháng chiến chống Mỹ được phong anh hùng ở cấp trung cấp và sơ cấp thôi, sau này được làm công tác về lịch sử, lẽ ra phải là con người trung thực với lịch sử, bảo vệ lịch sử. Thế mà lại nói một câu ngao ngán rằng: Tướng bây giờ chưa biết chiến tranh! Thế thì đồng chí muốn đất nước này tiếp tục có chiến tranh để có tướng đánh giặc à? Không có tướng đánh giặc mà quân đội vẫn vững mạnh, đất nước vẫn độc lập, giữ được chủ quyền, hòa bình, vẫn giàu mạnh tiến lên đó mới là mục tiêu của Quân đội ta.
"Tôi đồng tình với quan điểm Báo QĐND nêu về bệnh công thần và kiêu ngạo cộng sản. Tôi cũng rất đau lòng khi biết vừa có thông tin trên mạng xã hội (MXH) về những cán bộ phát biểu tùy tiện, có dấu hiệu kiêu ngạo, công thần, trong đó có cả một sĩ quan cấp tướng đã nghỉ hưu. Những tướng lĩnh như chúng tôi đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nhưng chúng tôi nhận thức rằng: Những gì chúng tôi đã làm được là rất nhỏ bé đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng, của dân tộc. Đóng góp cho Tổ quốc là nghĩa vụ, khi đã đi làm nghĩa vụ, làm cách mạng thì không được kể công.
Phải dẫn dài và nguyên vẹn như vậy để khỏi hiểu sai ý muốn nói của nhau (ở đây là của tướng Thước)..
Phát ngôn của tướng Lương sao lại gọi là hàm hồ, gây mất lòng tin với dân khi ngược lại, nó nói được đúng lòng dân. Xin tướng Thước hiểu thêm thực chất một điều, hiện nay, “ý đảng lòng dân” không còn trùng nhau nữa. Điều này muốn chứng minh không khó bởi bao sự kiện xảy ra trong thời gian 2, 3 chục năm vừa qua. Nhiều quá nên bất kể điều gì cũng có thể dẫn chứng mà dễ nói nhất là nói về kinh tế. Những công trình kỳ vĩ trong những năm vừa qua, có sự can ngăn của giới trí thức, đều không mang lại lợi ích cho đất nước, ngược lại nó làm tổn hại quá nhiều. Con số tổn hại là bao nhiêu, chỉ 12 công trình của Bộ Công thương đã làm tiêu tán cả trăm ngàn tỉ đấy ạ.
Phát ngôn của tướng Lương sao lại gọi là mắc bệnh công thần và kiêu ngạo cộng sản khi ông chỉ ra những sai sót trong việc tạo ra hệ thống tướng lĩnh nước nhà. Đành rằng những ông tướng thế hệ hôm nay chưa trải qua chiến tranh nhưng cái ý tướng Lương nói có phải vậy không? Nhà em hiểu ý ông ấy nói là về trình độ của bậc làm tướng đấy ạ. Tướng nào cũng vẫn phải có oai phong và vị thế của nó chứ đừng biến mình thành “hầu tướng” hay chưa đánh đã là “bại tướng”. Làm tướng phải phân biệt bạn ra bạn, thù là thù. Kẻ thù không được nương tay, không được lẫn lộn. Cũng như Tổ quốc chỉ có một, quê hương chỉ có một mà thôi. Phải dứt khoát ạ! Cũng một ông tướng khác, tướng Cương có nói: trong từng lỗ chân long của Đặng Tiểu Bình có máu của người Việt Nam đấy ạ.
Trong toàn bộ lời nói của tướng Thước nó toát lên cái cũ kỹ. Trung thành với cái cũ trong điều kiện hôm nay là lỗi thời, là lạc hậu. Một khi uy tín của Đảng trong dân không còn, không thể bắt người ta trung với Đảng được nữa. Cái “Trung” đó là cái “Trung” của thời phong kiến, là đạo lý thần dân phải “Trung” với vua. Lẽ nào tướng Thước cứ bắt dân tộc này phải “Trung”, khi sự thối tha, be bét đầy rãy trong Đảng, nhớp nhúa đến cả cấp tối cao.
Cũng phải hỏi tướng Thước thêm, thế nào là giữ được độc lập, chủ quyền và đất nước vẫn giàu mạnh, tiến bộ. Có thật chúng ta đang giữ vững độc lập chủ quyền không? Có thật là đất nước đang giàu mạnh không? Nhà em e rằng, đó chỉ là những khẩu hiệu và lời văn ghi trong nghị quyết. Phải dám thừa nhận chúng ta có đi lên nhưng mà so với lân bang thì còn rất kém, khoảng cách bị lân bang bỏ ngày càng xa, vậy không thể nói là tiến lên được. So với lân bang, Việt Nam ta ngày càng tụt hậu. Có nhìn ra thực chất mới có thể thay đổi, cứ mơ mộng hão huyền, tự sướng với cái hôm nay hơn ngày hôm qua, chỉ làm tình hình càng ngày càng bí bết.
Nhà em ít lý luận, cứ suy bụng mình ra viết, xin trình làng ạ.


Vinh Anh-15/10/19

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Đọc bài "Xử lý vấn đề Biển Đông..."

Đọc bài: “Xử lý vấn đề Biển Đông, phải giữ được ba vấn đề” của ông Võ Tiến Trung, Thượng tướng, Giám đốc học viện Quốc Phòng

Cả mấy tháng nay, tình hình bãi Tư Chính phức tạp, phức tạp vì nguyên nhân lâu đời muôn thuở cũ rích của nó: ông bạn Trung Quốc muốn bành trướng xuống phía Nam. Con đường mà họ cho là dễ dàng nhất là lấn biển, lấn đất của Việt Nam. Bắt nạt dân Việt từ xưa, quen rồi và vì thời thế, gặp phải sự cam chịu nhún của thằng láng giềng, nên nó càng lấn. Chứ thử ngoi lên phía Bắc hay  rẽ về phía Đông xem, mấy thằng đó quại cho chết mất ngáp.
Trong suốt thời gian đó, có lẽ tới khoảng 3 tháng, truyền thông nhà nước chỉ rỏ giọt tin tức về cái bãi đá lắm chuyện này. Khi người ta (ý nói là quốc tế) nói đến nó ầm ầm, cảnh báo sự nguy hiểm sẽ xảy ra nhưng những người có chức quyền ở nước ta cứ ngậm miệng, im như thóc và theo cách nói của em Hằng, Bộ Ngoại giao, dân xứ ta nên hiểu: Chúng ta cần bình tĩnh, kiên nhẫn, mềm dẻo… (Đúng ngày tàu Địa chính 8 xâm phạm vùng EEZ của ta, bà Ngân còn nắm tay Tập Cận Bình cười tươi hớn hở nữa kia).
Có điều lạ với tôi, ngạc nhiên cũng có, ngày 6/10/19, Viện nghiên cứu chính sách và phát triển tổ chức được: “TỌA ĐÀM KHOA HỌC“VÙNG BIỂN BÃI TƯ CHÍNH VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ”. Vì theo dõi nhiều cuộc bàn về những vấn đề nhạy cảm như thế này, thường thì bị hoãn hoặc bị phá. Cuộc tọa đàm do Viện nghiên cứu chính sách và phát triển của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức, mà nội dung có vẻ rộng hơn, bao quát hơn chứ không gói gọn về vấn đề Tư Chính, giống như một semina của tổ chức XÃ HỘI DÂN SỰ lại thành công, nhiều đại biểu phát biểu rất “chiến”. Cứ như mọi khi á, mất điện, các đại biểu nói vo, không loa ngay. Có phải là đâu đó, thế lực nào đó, đã nới lỏng cho xã hội dân sự dễ thở hơn. (Cũng nhớ trước 1/10 có một hội thảo về Tư Chính bị hoãn thì phải. Đầu óc giờ lú mất rồi, chẳng gì cũng ngang tuổi bác Tổng).
Hôm trước đọc bài ông Vũ Ngọc Hoàng, có viết đáp lại một bài (bài này đã đăng ở vanviet.info, mục vấn đề hôm nay, nhưng hôm nay tìm lại đường dẫn, không thấy nữa). Ý đáp là: 5 ý kiến mà ông Hoàng nêu ra, chẳng có gì mới cả, nhân sĩ trí thức cả nước và dân nói rồi, nói mãi rồi.( Nói ra điều này vì mình thấy có nhiều ông “có tầm cỡ”, ca ngợi bài viết, như thể là một sáng kiến hay đề xuất mới). Mình chỉ ghi nhận ông một điểm, ông viết: “Tổ Quốc trên hết! Có thể đình hoãn nhiều việc khác, kể cả việc quan trọng, để tập trung suy tính kỹ cả chiến lược, sách lược và giải pháp cụ thể (đừng chủ quan nói đã tính kỹ hết rồi). Đây mới chính là “đại cục” chứ còn cái đại cục gì nữa? Đây là nội dung quan trọng nhất và là cốt lõi, chính yếu của Đại hội lần nầy, chứ không thể nội dung nào hơn được.”
Còn với bài trả lời của ông Võ Tiến Trung, nhân sau phát biểu của bác Tổng ở hội nghị TW (sau, chứ không phải trước phát biểu của bác Tổng nhé), ông Trung nêu ba vấn đề về xử lý Biển Đông:
Thứ nhất, giữ vững được chủ quyền; thứ hai, giữ được môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước; thứ ba giữ được mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói đây là vấn đề rất quan trọng cần Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến.”

Ba vấn đề mà ông Trung đưa ra là ba vấn đề nhắc lại như chính ông trả lời phía sau, mà cả ba vấn đề như ông nói, đều được nêu ra từ năm 2014, nghĩa là nó cũng cũ, cái ngày mà thằng 981 đang ngao du vùng biển của ta. Ông nói lúc đó TW đang họp và có dành một buổi để thảo luận chuyện này. Tôi thì cũng theo dõi xem mấy ông lớn có “phát” gì về vấn đề này không, thấy im re. Chắc là có thảo luận bí mật, tôi tin chắc là thế, nhưng tuyên bố điều gì đó thì lúc đó không dám. Đây là kết luận của cuộc họp do bác Tổng đọc: http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Nghi-quyet-Hoi-nghi-Trung-uong-9-khoa-XI/201435.vgp .   Xin nhớ ngày đó, đất nước sục sôi lắm. Vậy mà các bác TW họp với nhau, chẳng ra được một lời  tuyên bố, lại “rỗi hơi” đi bàn vấn đề văn hóa.
Thực ra, ba vấn đề mà ông Trung đưa ra (hay TW đưa ra), đã có kiến giải chưa? Tôi chắc chắn là có không chỉ TW đâu mà ở các cấp tối cao hay Bộ Quốc phòng đều đã có những kịch bản cụ thể khác nhau, để đối phó với ông bạn vàng này rồi. Có điều, dân vẫn thấy sao ấy, nghĩa là vẫn rụt rè, gượng gạo và “mềm dẻo” lắm. Phương án đáp lại không thể hiện khí phách hay hào khí đúng như truyền thống của dân tộc, đúng chất nhà binh mà ông đang đeo ở cấp thượng tướng.
Ngày 8/10 vừa rồi, Viện nghiên cứu chính sách và phát triển tổ chức được cuộc tọa đàm về vấn đề Tư Chính và luật quốc tế, có nhiều nhà trí thức dự và phát biểu, nêu những ý kiến của mình, chắc ông biết những kiến nghị của họ. Tôi không nhắc lại ý kiến của các ông ấy, nhưng lưu ý 2 điểm: 1/phải kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế; 2/phải bỏ chính sách “3 không” mà tướng Vịnh cứ ôm khư khư đi, nghĩa là phải có liên minh. Có liên minh thì mới mạnh được chứ một mình đương đầu với Trung Quốc thì ông biết đấy, các ông rụt rè lắm. (Tôi bỗng nhớ chuyện ông Lê Mã Lương nói, chẳng lẽ đó lại là sự thật, đến đại tướng mà không biết bắn súng hay đọc bản đồ. Vậy thì kiến thức quân sự của các ngài tướng đó ở “trình” nào).
Nếu các ông cứ quan điểm giữ hòa khí, giữ mối quan hệ với Trung Quốc như hiện nay là không hợp lòng dân đâu. Đừng có như tướng họ Phùng, nói ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc…” nói câu làm ô danh hàng tướng nước ta lắm, ông Trung ạ. http://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-ngoai/xu-the-ghet-trung-quoc-nguy-hiem-cho-dan-toc_t114c1065n84289
Tôi nghĩ thế này, TW các ông có bàn gì thì bàn, hãy nghe bạn các ông là Vũ Ngọc Hoàng nói (mà tôi đã trích ở trên). Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa, ta cứ im. (Ta đây là các ông chứ không phải là dân đâu), chiếm Gạc Ma, rồi xây dựng nơi đó thành căn cứ quân sự, thành một hòn đảo nổi vững chắc trên biển, có phản đối qua loa, nghe kỹ thì không rõ nói gì(!). Vậy là nó đang nắn gân ta, tiếp tục im thì chúng nó lấn tới, kỳ này thì vào trong vùng EEZ rồi đó, mà còn trêu tức ta, ra ra vào vào như ao nhà của nó. Nếu lại để ông Hoàng hay ông nói thì ý nghĩa có phần hạn chế. Phải mạnh mẽ hơn, hào sảng hơn nữa. Nhà binh chúng ta phải khí thế hơn nữa ông Trung ạ. Đừng dựa vào phát biểu của bác Tổng rồi nói lại. Ai lại đến bây giờ mới cho ý kiến về Biển Đông. Nhà binh mình phải khác, nghĩa là tiếng nói phải dứt khoát. Phải nêu được quyết tâm bảo vệ chủ quyền cho rõ ràng. Thế, ông Trung nhé.
Vinh Anh-10/10/19