Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2021

Mưu sinh

 Mưu sinh 
 Con đường ấy xa rồi, rất xa rồi và lâu nữa, lâu lắm rồi. Lâu đến nỗi nếu bây giờ nhớ lại, tôi chỉ nhớ đấy là heo hút một con đường, con đường đi qua một bãi đất hoang toàn cỏ và rác cả bùn nữa, những vũng nước đọng hầu như quanh năm với mùi hôi thối. Thế mà trên bãi đất hoang đó thỉnh thoảng lại trông thấy một bông hoa dại. Tôi cứ gọi nó là hoa cỏ, có bông mầu vàng, lại có bông mầu trắng, rất đơn sơ, nhuần nhụy mà sao tôi lại cảm thấy chúng nhỏ nhoi, rất tinh khiết, trong trẻo và mỏng manh. Mỏng manh như số phận chính tôi vậy. 
 Con đường đó dẫn đến một cái nhà. Một cái lán thì đúng hơn. Kiểu lán công trường tạm bợ: giấy dầu, cót ép, phên nứa vá chằng đụp, tạp nham mà ta thường thấy bị bỏ lại rã rượi, dột nát sau khi công trình hoàn thành. Đến đời tôi ở, tôi và lũ bọn tôi ở thì không còn người giải thích cái nguồn gốc xuất xứ của nó nữa. Bởi có bọn trẻ chúng tôi nên nó mới tồn tại, nhờ có chúng tôi mà cái lán luôn được gia cố và điều quan trọng nhất là nó đứng vững. Nó là chỗ che mưa, che nắng, trú đêm của bảy đứa chúng tôi. Một gia đình không có cha, mẹ. Chỉ còn lại toàn anh em lít nhít, sàn sàn, kiếm sống bằng cùng một nghề: bới rác. 
Kể cả thằng cu Tú bé nhất mới khoảng mười tuổi, gày gò, đen nhẻm và tôi là lớn nhất nhưng hồi đó tôi lại không có ý thức là lớn nhất. Với thằng cu Tú, chẳng hiểu sao khi đứng với nó, tôi luôn cảm thấy tôi phải che chở nó. Kiếm được bất cứ thứ gì ăn được tôi luôn nghĩ đến nó và tìm các để dành mang phần về cho nó. Hàng ngày, chúng tôi túa ra đường theo hàng dọc. Con đường mà tôi luôn cảm tưởng hun hút, bẩn thỉu, cỏ mọc cao vẫn còn đọng sương, tuy lúc này cũng chẳng sớm sủa gì nữa. Mà tôi thì luôn có cảm tưởng con đường này chẳng bao giờ khô cả. Bọn chúng tôi đi chả có mục tiêu gì ghê gớm. Cũng chẳng có phân công công việc mà chỉ đơn giản là phải đi, ai cũng phải đi. Chỉ có đi thì hôm nay mới có cái ăn, mới no bụng, mới tồn tại được. Thằng em út Tú cũng lất phất một bao tải và một que cời bằng sắt được tôi trang bị cho. Thỉnh thoảng đang đi nó lại nhảy cẫng lên, vô tư. Có lẽ, tôi nhận thấy trong cái đầu đã sạn sỏi của tôi, nó làm cho chúng tôi gắn kết lại với nhau một cách tự nhiên hơn tình cảm và gần gũi hơn. Con đường tới thành phố dần dần tách chúng tôi ra khỏi nhau. Thực ra ban đầu vẫn còn nhìn thấy bóng đứa này, đứa khác. Hai, ba đứa một nhóm. Sau đó thì cũng chẳng ai chú ý đến ai nữa. Thậm chí cả thằng cu Tú, nó cũng tụt lại dần và biến vào đâu đó giữa chốn ồn ào, bụi bặm. Địa điểm chúng tôi hay đến nhất là chợ. Con đường dẫn đến chợ đối với chúng tôi cũng tự nhiên. Chợ - cứ như ở đó có một sức hút vô hình để cho chúng tôi quần tụ. Chợ ôm ấp và che chở chúng tôi, quan trọng hơn chợ nuôi chúng tôi trong những ngày lênh đênh này. Chúng tôi len lỏi ở mọi ngóc ngách chợ. Rất ít người có cảm tình với chúng tôi. Hình như họ coi thường và có phần sợ chúng tôi.
 Từ những ngày còn vất vưởng đó, tôi đã lờ mờ hiểu ra vì sao họ khinh, họ sợ chúng tôi rồi. Hình dáng chúng tôi nhếch nhác, bẩn thỉu. Người cóc cáy, rách rưới và hôi nữa. Tôi có cảm tưởng mình như một chiếc giẻ lau, cứ đến gần ai đó là khiến người ta phải cảnh giác, giật mình xem lại túi quần, túi áo, ví xách có bị làm sao không và sau đó là họ lảng xa. Cũng còn là may! Có người còn xua đuổi nữa kia. Với con mắt người đời, chúng tôi là một lũ lang thang, trộm cắp, không cha mẹ và không được học hành, giáo dục. Thậm chí có người còn coi chúng tôi như những kẻ mang bệnh truyền nhiễm, là những ổ bệnh mà con cái của họ phải tránh xa cứ như là nếu nói chuyện, tiếp xúc với chúng tôi là họ sẽ bị nhiễm bệnh ngay. Ôi thật nhục với những đứa trẻ vì mưu sinh mà phải sớm bước vào đời bằng con đường không lấy gì thuận lợi. Các đống rác ở chợ và đâu đó trên hè phố hay gốc cây đều rất dơ dáy. Mỗi lần bắt gặp chúng đều bị chúng tôi khai quật không thương tiếc. Bằng con mắt tinh tường chúng tôi nhận ra những thứ có trị giá từ vài đồng đến vài chục đồng thậm chí vài trăm bạc. Đôi khi cũng có những người tốt bụng gọi chúng tôi lại và sai chúng tôi dọn dẹp, cho chúng tôi hàng đống giấy lộn, vỏ đồ hộp, bìa cát tông. Đứa nào hôm đó được như vậy coi như trúng xổ số có thể tích cóp được vài ngàn đồng vào ngân quĩ phòng khi mưa gió trở trời. 
 Cuộc đời con người ta thật cũng lạ kì! Bảy đứa chúng tôi chẳng hiểu sao lại tự nhiên gắn bó được với nhau trong hoàn cảnh khốn khổ như vậy. (Sau này nghĩ lại tôi mới thấy hồi đó mình khốn khổ chứ ngay lúc đó tôi có cho hoàn cảnh tôi là khốn khổ đâu, ngày ngày cứ trôi đi và tôi đâu có để ý gì đến cái ăn, cái ngủ, cái ở là mấy). Dần dần chúng tôi biết tên tuổi, quê quán của nhau. Trong bảy đứa thì có bốn đứa ở Thanh Hóa còn hai đứa ở Hưng Yên. 
Riêng thằng cu Tú ở đâu không biết nhưng nghe chừng nó là thằng ở xa nhất, qua giọng nói tôi đoán nó phải ở rất xa tận Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó. Nó đến với chúng tôi cũng tự nhiên như bao đứa khác gặp nhau trong cảnh lang thang không nhà, không cửa, không gia đình và đều đã tự bươn chải trong sóng gió của cuộc đời. Cu cậu nhập hội bọn tôi trong một chiều mưa ướt át, nó như chim con mất mẹ cứ chiếp chiếp hoài mà không nhấc nổi đôi cánh để bay lên cành cây. Cu cậu tóp teo, héo rũ, co ro trong xó chợ, che gió và mưa hắt bằng một tấm bìa có in mấy quả táo đã tơ xướp và nhòe bẩn. Tôi phát hiện ra nó khi bên tai tôi ai đó buông một câu bâng quơ “chẳng biết con cái nhà ai mà để thế!” Tôi không chú ý đến người nói câu nói đó nhưng sau này mới ngẫm: “Tình thương con người ta mới yếu đuối làm sao, mới mơ hồ làm sao, mới lơ lửng làm sao!” Đúng là tình thương đó có thật. Sự thông cảm đó có thật. Nhưng tại sao tôi lại nghĩ nó cứ là giả dối, nó cứ là điêu điêu. Đến tận bây giờ tôi cũng không cắt nghĩa được vì sao mà tôi lại bảo đó là có thật mà vì sao tôi vẫn cho là giả dối. Ôi sao mà phức tạp thế không biết! 
 À mà tôi quên béng đi mất. Mà làm sao tôi lại có thể quên được cơ chứ? Trong nhóm bọn tôi có hai đứa con gái. Một đứa ở Thanh Hóa còn một đứa ở Hưng Yên. Thực sự những ngày trước khi thằng cu Tú về ở với bọn tôi chúng nó chẳng có gì đặc biệt khiến tôi phải chú ý. Tôi thực sự vẫn là một đứa trẻ ngô nghê và tộc ngộc. Chỉ khi tôi đưa thằng cu Tú về mới thấy vai trò của hai đứa trong nhóm. Đầu tiên là hai đứa hỏi tên tuổi, quê quán, anh em, bố mẹ và nói chung là những câu hỏi về hoàn cảnh mà hầu như bọn tôi đều na ná như nhau. Qua nghe câu được câu chăng tôi mới biết thằng Tú quê đâu tận Nghệ An xa xôi nào đó. Sau nữa là ăn, chúng nó hỏi thằng Tú đã ăn gì chưa. Thường thì chúng tôi ăn vạ, ăn vật bữa tối ở một nơi nào đó thuận tiện rồi về thẳng nhà này. Đứa nào có điều kiện thì nhớ bữa cho ngày mai hoặc cái bánh mì, cái bắp ngô hoặc một cái gì đó có thể ăn. Cũng đôi khi chúng tôi nấu cháo xì xụp với nhau trong một cái xoong méo mó rất đồng nát không ai dùng nữa đã đem đi bán cho đồng nát mà một đứa con gái mang về. Chúng tôi đặt cái xoong lên trên ba hòn gạch vỡ đôi và nổi lửa ở ngay giữa nhà. Cái bếp cơ động này chẳng mấy khi được sử dụng. Vì đơn giản như vậy nên nó được dựng lên hay bỏ đi đều dễ như nhau. Rất nhanh chóng và thuận tiện. Khi cần, một đứa nào đó cúi xuống cái được gọi là gầm giường lôi ra ba hòn gạch vỡ và chụm lửa. Những buổi tối đó thường rất vui, có lửa bếp nên gian nhà sáng hẳn, có khói bếp nên gian nhà trở lên ấm cúng và đặc biệt vui là lúc bắt đầu ăn. 
Bát, thìa, muôi, đũa cộc cạch, nham nhở ở đâu mà đứa nào cũng có. Lạ vậy. Sự sinh tồn của con người được duy trì từ những điều phải tự biết lo cho cuộc sống của mình. Tôi đố cô cậu nào ở thành phố có cha mẹ đàng hoàng mà sống được như chúng tôi.
 Cái vô tư, vui vẻ của chúng tôi chính là cái chất bụi hoang dã mà các cô chiêu, cậu ấm không hình dung nổi. Lại nói tiếp về hai đứa con gái ở chung nhà với bọn tôi. Buổi tối dẫn thằng cu Tú về, tôi đã đưa cho nó cái bánh mì không nhân và bảo nó ăn. Bánh mì là đồ ăn thường xuyên của bọn tôi. Ăn được ngay, ăn được bất kì lúc nào và chẳng cần bát đũa, xới múc gì cả. Vô cùng thuận tiện! Cái Hoa đứa con gái ở Hưng Yên lại đưa cho thằng cu Tú một nửa cái bánh mì nữa. Bọn con gái hình như ăn ít hơn thì phải. Chẳng ai để ý nó ăn thế nào và có ăn hết hay không. Còn cái Thương, đứa con gái ở Thanh Hóa thì loạt soạt rũ đập chuẩn bị chỗ cho thằng cu Tú ngủ. Nó xếp cho thằng cu Tú ngủ cạnh nó ở một phía sạp. Và thực như một bà chị lớn ở nhà thay bố mẹ chăm nom các em, nó giục thằng cu Tú đi đái rồi lên sạp ngủ. Thành viên nhỏ nhất và cuối cùng của nhóm tôi được kết nạp như vậy.
 Cái đáng nói là tối hôm đó thằng cu Tú bị sốt. Thực ra khi cúi xuống cái xó chợ ẩm ướt, rét mướt tôi đã có cảm giác là thằng cu Tú bị ốm rồi. Cái ốm, cái đau đối với những đứa trẻ bơ vơ, không gia đình như bọn tôi thường cũng chỉ xảy ra qua loa. Nó lướt qua như cơn gió nhẹ, nó thoang thoảng, lởn vởn bay như làn sương mong manh, cũng có khi nó ào ào như mưa rào rồi thì xong, nghĩa là trời lại khô ráo và vẫn là cơn gió nhẹ mát, vẫn là làn sương nhẹ mong manh, vẫn là chúng tôi, những đứa trẻ bụi bặm, hoang dã, mạnh khỏe bình thường. Cả ở cái điểm này nữa, tôi đố cô cậu nào ở thành phố có sức chịu đựng và chống đỡ dẻo dai như chúng tôi và cũng coi thường cái sự ốm đau như chúng tôi. 
 Thằng cu Tú nóng hầm hập. Nó rét mà lại toát mồ hôi như tắm, mồ hôi ướt đẫm khuôn mặt gầy gò, đen đủi, mồ hôi ướt đẫm ngực, áo, mồ hôi làm bết hết cả tóc vào đầu. Con Hương đánh thức con Hoa dậy, nó sờ đầu thằng cu Tú và rên rỉ “Khổ thân thằng bé! Nó nóng quá”. Hai đứa trở dậy đốt ngọn đèn dầu làm bằng ống bơ khiến muội khói phun ra mù mịt, 
Con Hoa sờ soạng thắp ngọn đèn có bóng ra ngoài, một lúc sau nó mang về một nắm lá đã rửa sạch rồi dùng cán con dao cho nắm lá vào cái bát giã một lúc, lại thấy nó đổ một ít nước từ cái chai nhựa vào bát khuấy lên rồi lại chắt ra một cái bát khác đem cái nước đen đen, xanh xanh, nhờ nhờ như nước rêu đó bảo thằng cu Tú uống. 
Không cha, không mẹ, thui thủi và trôi nổi ở đời từ lúc nào và từ bao giờ ngay nó cũng không biết thì hỏi nó làm gì có thời gian được nũng nịu với mẹ, với bố. Nó cũng tự biết là mình đang ốm và đang được chăm sóc. Tự đâu nó tin, tôi cũng chẳng biết chỉ thấy nó cầm cái bát nước mà con Hoa đưa cho uống một hơi cạn sạch. Không nói gì thêm, nó lại nằm xuống, nhắm mắt. Con Hoa còn lấy một cái khăn xấp nước lã đắp lên trán nó. 
Xong việc thằng cu Tú chắc cũng phải nửa đêm, bọn chúng tôi chả lục cục cả tiếng đồng hồ chứ ít đâu. Con Hoa sau khi sờ trán thằng cu Tú một lần nữa mới buông một câu chả phải với một ai: “thôi đi ngủ tiếp!”.
 Chẳng ai bảo ai, hình như lúc đó chúng tôi cũng buồn ngủ lắm rồi. Đèn tắt, gian nhà trống trải nồng nặc mùi dầu khét lẹt, cái mùi khét lẹt đó cùng chúng tôi vào giấc ngủ trên cõi thiên đường. Và cái đêm ấy cũng qua đi nhanh chóng. Có lẽ là tất cả chúng tôi đều mệt vì mất giấc cho nên khi tỉnh dậy đều cảm thấy có lẽ muộn rồi. Riêng cu Tú vẫn ngủ. Hình như nó đã hết sốt. Tôi chỉ thấy khuôn mặt gầy gò nhô ra khỏi cái chăn mà cái Hương đắp cho nó. Tóc nó cũng khô két lại bện vào nhau không bết vào trán nữa. Tự nhiên tôi thấy con Hoa cười. Tôi ngạc nhiên nhìn nó và nhìn thằng cu Tú đang ngủ. Bất giác tôi phát hiện ra nó có một cái gì hay hay mà tôi không biết, hình như nó dễ nhìn hơn…
 Ngày hôm đó tôi cảm thấy tôi là chỉ huy của cả nhóm. Lần đầu tiên tôi ý thức được tôi là đứa lớn nhất và lớn tiếng nói cho mọi người nghe thấy một cách rõ ràng, dứt khoát. Tôi bảo con Hoa hôm nay ở nhà trông chừng thằng cu Tú còn lại mọi người vẫn đi nhặt rác bình thường nhưng nhắc mọi người buổi tối nhớ kiếm thêm một cái gì đó về cho con Hoa và thằng cu Tú. 
Năm đứa còn lại lại thành một hàng dọc lên đường kiếm ăn. Lại vượt qua con đường tắt cắt qua bãi đất bỏ hoang, bẩn thỉu, ruồi muỗi, cỏ mọc cao tiến vào thành phố. Một ngày mới bắt đầu với chúng tôi đồng thời cũng là một ngày tôi cảm nhận tôi phải có vai trò nhất định với nhóm bởi từ hôm nay tôi đã thấy mình lớn nhất rồi. 
 Lại nói về cái nghề nhặt rác của bọn tôi. Không phải nói ngoa đâu, nó cũng công phu và tỉ mỉ lắm đấy. Khi đổ cái bao tải lộn nhộn đủ mọi thứ tạp nham mà bọn tôi thu nhặt được ở khắp mọi nơi về trông nó mới ngán ngẩm làm sao cơ chứ. Toàn những thứ bỏ đi. Vì bỏ đi nên người ta mới vứt ra đường.Đây là mấy cái lon sữa còn có đầy xác kiến, những lọ nước gôị đầu, những chai thủy tinh có mác là nước mắm, là rượu “Lúa mới”, là bao bì bánh ngọt, là bìa cát tông, là sách báo cũ, là một cục sắt han rỉ không biết được tháo ra từ cỗ máy nào, là mấy ống nhựa như là ống nước…thôi thì thượng vàng hạ cám chẳng dùng được vào việc gì hết cả, nhưng những thứ đó lại có khả năng nuôi sống chúng tôi trong cái thành phố mà chẳng ai coi chúng tôi là cái gì cả. Cứ chiều chiều chúng tôi lại tụ tập nhau ở một địa điểm gần chợ, phân loại, phá dỡ, đóng gói, buộc chằng cẩn thận rồi đem đi đến đại lí. Đại lí đã nhẵn mặt chúng tôi-những đứa trẻ lang thang từ khắp nơi đổ về nhập hàng vào kho. 
Thực ra, nếu chăm chỉ và cả gặp may nữa, cái gặp may là quan trọng lắm, mỗi ngày chúng tôi cũng kiếm đủ hai bữa cơm bụi với thức ăn là đậu phụ, rau muống và nước rau thoải mái. Tất nhiên cũng có thịt và cá nữa. Nhưng thịt và cá chỉ gọi cho vui thôi. Dù sao cũng còn hơn ở nhà quê chỉ có sắn và khoai luộc. Hôm gặp may là chúng tôi có thể bỏ ống được ít tiền. Hai bữa cơm bụi là sáu ngàn đồng, cái bánh mì cho bữa sáng nữa. Cứ có chục ngàn một ngày là chúng tôi có thể sống được. 
Đấy là nói nhóm chúng tôi còn không mất tiền nhà đó. Chỉ phải cái nó hơi xa, xa nhưng chẳng sao. Càng đỡ tốn tiền càng tốt. Mà đi kiếm ăn trên đường là nghề của chúng tôi nên chúng tôi cũng chẳng ngại lắm. Dọc đường đi về chúng tôi có bỏ sót cái túi rác, đống rác nào ở ven đường đâu. Bất cứ gặp túi rác nào cái que cời của chúng tôi cũng phải chọc vào, chọc vào và khui ra, tìm ra được những thứ có thể góp vào cho bữa ăn của mình. 
 Cũng từ môi trường rác này tôi được nghe nhiều chuyện về những con người quanh bãi rác. Bạn đọc có thể tin được không khi có những gia đình mà có tới ba thế hệ cùng làm. Đời ông nuôi đời bố, đời bố nuôi đời con và đời con còn đang tiếp tục lớn cùng bãi rác, sống cùng bãi rác. Có những ông chủ thành danh nhờ rác, có những mối tình nảy nở từ rác và cả những thảm kịch cuộc đời kết thúc ở bãi rác và còn đến đâu nữa không biết. Bãi rác là một xã hội, xã hội của dân hạng ba, hạng bốn, dân ngoại thành, dân tứ xứ đổ về những người luôn ý thức về mình với một thái độ rất khiêm tốn, nhẫn nhục với các bậc chính quyền. 
Bãi rác là nơi mà chẳng hiểu vô tình hay hữu ý tự dưng cả làng phải hứng chịu mọi thứ mà xã hội đã qui bằng một từ “rác”.
 Dễ đã nhiều ngày trôi đi. Thời gian với chúng tôi là cái quái gì đâu mà chúng tôi phải nhớ. Tôi chỉ mang máng là tôi đã trải qua ở cái lều này, đã trú mưa, trú đêm ở đây trong cả những ngày hè oi bức, đã trải qua cái mùa đông rét buốt. Khổ nhất là những đêm mưa. Tất cả chẳng còn chỗ nào khô mà có thể nằm được, ngoài trời thì gió. Những mảnh giấy dầu, cót ép , ni- lông cứ phần phật, phần phật. Thỉnh thoảng gió đổi hướng làm cái lều của bọn tôi cứ rung rinh, lung lay như muốn đổ xụp lên đầu chúng tôi. Những đêm đó chúng tôi loay hoay cả giờ để có thu xếp được một chỗ ngả lưng. Đó là những gì mà tôi nhớ nhất trong những ngày sống cùng lũ bạn nhặt rác trong một cái lều vô chủ nằm ở giữa một mảnh đất bẩn thỉu, bỏ hoang chẳng ai nhòm ngó. 
 Cuộc sống chẳng có gì thay đổi, cũng chẳng có gì xảy ra. Nhưng thật không ngờ lại có cái xảy ra mà lại xảy ra với chính tôi. Tôi là đứa lớn nhất. Vị trí đó tôi chỉ xác định được sau khi đón thằng cu Tú về ở. Hồi đến ở cái lán khốn khổ này tôi đã mười bốn tuổi. Cái tuổi lẽ ra mới chỉ biết ăn và ngủ, chơi và học. Nhưng tôi đã bỏ làng ra đi. Bỏ ra đi vì ở làng đói quá. Cái làng sinh ra tôi nghèo quá! Ngoại trừ mấy ngày tết, tôi không còn nhớ các ngày khác mình được ăn no như thế nào. Những thứ mà bụng tôi được nhét, được tiêu hóa gồm đủ các loại rau, ngô đậu, khoai, sắn. Cơm cũng có nhưng mà ít. Trong hoàn cảnh đó tôi khao khát chỉ mong có một sự tình cờ thần thánh nào đó làm thay đổi cuôc sống của tôi và gia đình.
 Và tôi đã bỏ làng ra thành phố theo một người làng, đã gia nhập vào đội quân bới rác kiếm ăn một cách bất ngờ. Cái bất ngờ đó sau này biến thành số phận. Số phận gắn bó tôi với rác, nuôi sống tôi bằng rác. Bới rác có phải là một nghề? Tôi chưa bao giờ nghĩ nó là một nghề nghiêm chỉnh cả, mặc dù đội quân ở làng quê ra thành phố sống bằng “nghề” bới rác ngày càng đông. Bới rác không kén chọn tay nghề, không kén chọn tuổi tác và cả sức khỏe nữa. Tuy nhiên nó cũng giống như bất cứ một công việc nào khác, bới rác, kiếm ăn bằng rác cũng có những mánh khóe riêng, bí mật riêng và nó cũng đòi hỏi con người ta phải lăn lộn, phải “ăn cùng rác, sống cùng rác” mới có thể trưởng thành. Ông bà xưa có câu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” cả với trường hợp này cũng đúng!
 Nhưng quả thật tôi chưa thấy ai chung thủy với rác, ở đây là nói người trực tiếp phải bới rác kiếm ăn, khi có điều kiện rẽ ngang lại vẫn chung thủy cùng rác mãi được. 
 Thằng cu Tú vậy là cũng đã ở với bọn tôi qua những mùa nóng lạnh, qua những ngày gió bão. Nó đã trưởng thành trong cuộc sống có phần bụi, có phầ vẫn được chiều chuộng trong một nghĩa nào đó trong môi trường mà nó đang sống. Con Thương và đặc biệt là con Hoa rất yêu nó. Hai đứa con gái yêu thằng cu Tú theo kiểu các bà chị lớn yêu và chiều thằng em trai út. Còn tôi, tôi yêu thằng cu Tú kiểu như một đàn anh đã lăn lộn kiếm sống ở đời. Tôi yêu nó kiểu bênh vực, che chở bởi vì nó còn quá bé. Có phải vì thằng cu Tú nó biết thân phận của nó thành ra đối với các anh chị trong nhóm nó có thái độ làm cho mọi người rất thiện cảm, nó ăn nói rất lễ phép và nghe lời tất cả mọi người. 
Tôi nghĩ tất cả những nhơ nhớp của cuộc sống này vẫn có một chỗ sạch sẽ, trong sáng. Sự trong sáng của nó làm cho tôi nghĩ tôi thật đã già dặn trong cuộc đời. Những lừa lọc, đểu cáng mà hàng ngày tôi va vấp, tôi tiếp xúc, tôi phải im lặng chịu đựng, không hiểu sao tôi không muốn cho thằng cu Tú biết, nếu vì một lí do nào đó có liên quan đến nó như tranh chấp một món lời nào đó chẳng hạn, tôi đều không muốn nó tham gia, tôi không muốn có mặt nó trong việc dàn xếp mà đôi khi những câu chửi thề được vung ra vô tội vạ, thậm chí , đôi khi, phải dùng cả vũ lực can thiệp. 
 Tôi không thấy thằng cu Tú khóc. Cũng ít khi thấy nó cười. Nét mặt nó cứ phảng phất một cái gì thiếu thiếu, một cái gì cam chịu. Cứ nghĩ như vậy tôi lại cảm thấy xót xa, tồi tội cho nó. Mà không chỉ riêng tôi đâu. Tôi thấy cả nhóm chúng tôi đối với nó đều như vậy. Đặc biệt là cái Thương và cái Hoa.
 Những lúc thấy chúng nó ngồi nói chuyện với nhau vui vẻ, thân mật tôi lại nghĩ thầm không hiểu vì sao bọn trẻ lang thang bất hạnh như chúng tôi lại gặp được nhau và hòa thuận dưới mái lều trống hoác này. Đúng, đúng là dưới mái lều trống hoác không che nổi mưa gió cho chúng tôi thì tôi lại cảm thấy ở nơi đây tôi đã hiểu được một phần cuộc đời, chính ở nơi đây tôi thấy mình từng trải, cái từng trải có phần bụi bặm, cái từng trải có phần giang hồ.
 Tự nhiên tôi muốn làm một “đại ca”. Thật vớ vẩn! Sau này khi đã xa chúng nó, đôi khi, tôi lại mỉm cười với cái ý nghĩ đó. Tự dưng mình lấy quyền gì để mà tự phong mình làm “đại ca”. Con người ta, từ thăm thẳm sâu hình như vẫn luôn mong khuất phục được người khác, vẫn mong có một vị trí làm cho người khác phải nể phục dù rằng ở một vị trí tận cùng của xã hội như tôi - một thằng chuyên kiếm ăn nhờ vào các đống rác - vẫn cứ mơ có một địa vị nào đó trong xã hội mà mình đang sống. 
 Nhóm chúng tôi còn ba đứa con trai nữa. Thằng Phong, thằng Tài và thằng Quyền. Tất cả đều quê Thanh Hóa. Mỗi đứa một hoàn cảnh mà tại sao tôi cứ nghĩ cũng như nhau cả thôi, chẳng có gì đặc biệt cả. Hoàn cảnh, ai mà chẳng hoàn cảnh. Tất cả đều là do thiếu ăn, không còn con đường sống nên mới phải bươn trải, lặn lội, lần mò ra nơi đất khách quê người để kiếm cái ăn.
 Nói là kiếm cái ăn chứ thực ra đứa nào trong chúng tôi cũng có em nhỏ ở quê, có cha mẹ, có ông bà và họ hàng thân thích nữa chứ. Chỉ có điều tất cả cái mối quan hệ nhằng nhợ đó không đủ sức níu giữ chúng tôi ở lại với lũy tre làng, với đồng ruộng. Bọn chúng tôi có ham muốn gì cao siêu lắm đâu!. Đặc biệt là hai đứa con gái. Chỉ từ khi ra kiếm sống ngoài thành phố, mọi nhu cầu của con người, của cuộc sống mới đập vào mắt chúng tôi. 
Mỗi đứa trong chúng tôi cũng thấm vào máu của mình một kiểu riêng. Cái Hoa và cái Thương chúng nó “giác ngộ” sớm nhất. Ngày mới gặp chúng nó, tôi thấy nó cũng chẳng khác gì với mấy đứa con gái ở quê tôi cả. Tôi chỉ chú ý đến cái Hoa khi thấy nó chăm sóc thằng cu Tú hôm mới nhập nhóm và bị sốt mà thôi. Vậy mà bây giờ chúng nó khác với mấy đứa con trai chúng tôi quá. Chúng nó ăn mặc sạch sẽ hơn, hình như dạo này chúng nó cũng tươi tắn hơn thì phải. Có phải chính vì thế mà tôi hay nhìn cái Hoa và tôi thấy nó hay hay. Hình như cả cái Thương và cái Hoa đều biết như vậy nhưng chúng nó lại làm ra bộ không biết gì cả, chỉ đôi khi chúng nó tự nhiên ré lên cười rồi ôm lấy thằng cu Tú, rồi lại cười, chẳng hiểu vì cái gì cả! Đúng là đồ con gái! 
 Lối sống ở thành phố tác động đến bọn tôi khi nào không rõ nữa. Mỗi tối quay trở về cái lán ngủ đêm, chúng tôi lại kể cho nhau nhiều chuyện gặp phải trong ngày hơn. Cái Hoa và cái Thương kể về một chị làm thuê cho một bà chủ vợ của một ông chủ nào đó có xe đưa đón đi làm. Chị làm thuê này mới đến ở được có hai tháng thôi. Công việc toàn là làm việc vặt trong nhà dễ ợt: nào là lo cơm nước (mà chuyện chợ búa cũng không phải đi, lau nhà, giặt giũ quần áo (mà giặt giũ gì đâu, tất cả các công đoạn đó đẫ có máy giặt lo cho rồi, chị ấy chỉ việc làm mỗi một công đoạn là mở nắp và mang áo quần ra phơi). Sướng thế, bằng chuột sa chĩnh gạo! Hôm khác thì thằng Quyền kể chuyện bọn trẻ con lang thang như chúng tôi, cái bọn làm nghề đánh giầy. Công việc chúng nó đơn giản hơn chúng tôi nhiều mà lại kiếm được nhiều tiền, mỗi đôi được hai ngàn. Chỉ cần hai đôi là được bữa ăn. Bọn chúng tôi thực dụng là như vậy đấy. Tất cả đều qui ra tiền, tất cả đều qui ra thóc! 
Nhưng những đau khổ của cuộc sống vất vưởng này luôn rình rập chúng tôi. Hôm gần đây, cái Hoa kể chuyện chị làm thuê nọ đã bỏ nhà chủ ra đi. Lí do vì sao thì không ai biết. Nó có hỏi chuyện các bà già hàng xóm gần nhà chị ta làm việc thì thấy bảo bị bà chủ “tống cổ” ra khỏi nhà rồi. Cái từ “tống cổ” hàm ý không hay ho gì cả. Khổ thân chưa, đang yên đang lành bỗng dưng… mà cũng tại cả chị ta nữa chứ, nếu không thì đâu đã xảy ra!... Ngoắt ngóeo cuộc đời là thế, cái khổ của kẻ khó là thế, ai mà lường hết được!
 Hai đứa con gái nói chuyện người như thông cảm và ngậm ngùi trước số phận của những đàn bà quay ra ôm nhau ngủ ở một góc lán. Bọn chúng tôi vẫn thờ ơ với câu chuyện đó. Mấy ngày hôm sau, chúng tôi thấy xuất hiện ở lán ngủ chúng tôi một người phụ nữ phờ phạc, mặt buồn tênh, vô hồn. Đấy chính là chị Xuân - người làm thuê - mà cái Hoa, cái Thương nói chuyện bữa nào. Hôm nay cái Hoa gặp được chị trên đường đi kiếm rác và đã rủ chị về cùng ở với bọn trẻ chúng tôi. Ngôi nhà của chúng tôi lại có thêm một nhân vật mới. Nhưng chị ta không ở lâu được với chúng tôi, chỉ khoảng mươi ngày sau chị đã bỏ đi. Chị đến và đi chỉ như một làn gió nhẹ. Có gây chú ý cho chúng tôi lúc đến nhưng không bất ngờ với chúng tôi khi đi. Bởi vì chúng tôi biết để nuôi sống một hậu phương nơi quê nhà chỉ cần bỏ công sức ra chưa đủ. ở chốn này cần phải có người che chở. Một người như chị nơi phù hoa thành phố rất dễ bị sa sẩy. Con đường đi với mọi người luôn không giống nhau. 
 Lan man kể những chuyện ngoài lề trong cuộc sống của bọn chúng tôi, tôi lại quên khuấy chuyện về thằng cu Tú. Thằng cu Tú quê đâu như ở mạn trong Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó. Nó đến với chúng tôi trong một chiều mưa gió. Nó được nhóm chúng tôi cưu mang và được tryền cho bí quyết cũng như kinh nghiệm sống bằng nghề nhặt rác. Nó chẳng có anh em gì cả. Nó là đứa trẻ bị bỏ rơi hay bị lạc gì đó. Trước khi nó đến với chúng tôi nó sống bằng “nghề” ăn xin. Nó lang thang khắp nơi và đặc biệt là các quán ăn. Các chủ hàng ăn nhẵn mặt nó. Đầu tiên nó xòe bàn tay bé nhỏ và đen nhẻm lí nhí nói một câu gì đây với những người đang ăn. Không cần nghe rõ người ta cũng biết là nó xin ít bạc lẻ. Người cho hai trăm, người ba trăm và bằng số tiền còm nhỏ nhoi đó nó cũng sống qua ngày. Nhưng thực ra nó sống không phải bằng số tiền còm ít ỏi mà nó xin được, nó sống bằng các loại thức ăn thừa của khách ăn. Có chủ cửa hàng dễ dãi cho nó ăn luôn trong cái bát mà khách bỏ dở hoặc sót lại, cũng có chủ hàng khó tính hơn đuổi nó đi chỗ khác. Những lúc như vậy nó vội vơ vét tất cả mọi thứ vào trong một cái bát mà lúc nào nó cũng mang theo bên mình đựng trong một cái túi đen đúa. Cái túi ấy đựng cả gạo mà nó xin được khi bị đuổi rát quá ở các cửa hàng ăn uống phải đi vào các nhà dân để xin ăn. Tiền nó cũng gói lại và đút vào trong cái túi đó. Khổ một nỗi là nó bé quá. Bất cứ đâu cũng có thể là nhà ngủ của nó được. Chỗ nó thường xuyên ngủ là nhà ga, bến tầu. 
Hôm tôi thu nhặt được nó cũng là thời mà các cửa hàng đuổi riết, cu cậu không lê la được ở đó phải dạt sang chợ kiếm ăn, lấy chợ làm nhà ngủ và lên cơn sốt vào một chiều mưa. Nó ngủ từ bao giờ không ai biết và cái túi với một số tiền ít ỏi tích cóp được cũng mất luôn. Nó về với chúng tôi với đôi bàn tay trắng. Khổ thế đấy! Vì miếng ăn mà ngay cả số tiền ít ỏi thằng bé tí tuổi liếm được bằng bao buổi ăn xin người ta đâu có tha. Ôi, lòng dạ con người! 
 Một hôm, thật bất ngờ, thằng cu Tú đột nhiên hỏi tôi: “Anh thấy chị Hoa có xinh không?” Tôi giật mình vì câu hỏi của nó. Hỏi lại: “Tại sao mày lại hỏi tao?” Nó trả lời trơn tuột: “Vì em thấy các chị ấy hay nhìn anh và hay nhắc anh mỗi khi anh về muộn” Tôi buông thõng: “Có vậy mà cũng hỏi!” Rồi chúng tôi không nói chuyện đó nữa. Sau đó tôi tự nhiên lại hay nghĩ về chuyện thằng cu Tú và hay nhìn trộm cái Hoa. Lạ thật! 
 Một lần khác, thằng cu Tú lại hỏi tôi: “Anh có biết chị Hoa và chị Thương sắp chuyển đi làm Ô-Sin chưa?”. Một lần nữa tôi lại giật mình: “Thế à?” và lại bỏ câu chuyện ở đó. Mấy ngày sau, nhân lúc buổi trưa đang ngồi nghỉ, mà lúc đó lại chỉ có tôi và cái Hoa, tôi mới đem chuyện thằng cu Tú nói với tôi hỏi lại cái Hoa. Nó xác nhận là đúng và nói thêm: “Còn đợi thêm tin của chị Xuân”. Tôi bỗng thấy hụt hẫng như bị mất cái gì thì phải. Từ lúc đó người tôi bỗng bồng bềnh, say say, ngơ ngơ… 
Thế rồi cái Hoa và sau đó chẳng bao lâu cái Thương đã rời nhóm chúng tôi đi làm Ô-Sin. Nhóm chúng tôi trở nên vắng vẻ. Dù sao thì hai đứa con gái cũng để lại trong lòng chúng tôi một cái gì âm ấm, khó nói. Để tồn tại, người ta phải dứt bỏ nhiều cái quí giá. 
Thời gian mà hai đứa con gái ở trong nhóm của chúng tôi là bao lâu, thật ra chẳng ai nhớ, nhưng chúng nó đã để lại trong chúng tôi cái nét đặc biệt của con gái, cái hơi ấm của con gái, cái tình bao dung của người con gái mà sau này trên mỗi nẻo đường đời, mỗi khi nghĩ lai, tôi lại thấy bồi hồi, lại thấy xúc động, lại thấy một sự trong trắng, ngây thơ mà cuộc sống bụi bặm không phủ mờ, không vấy bẩn. Quả cũng lạ! Tôi và chúng nó có mấy khi trò chuyện, vậy mà chỉ từ cái tối thằng cu Tú bị sốt, tôi bỗng thấy nó hay hay và bây giờ nó bỏ đi làm việc khác, tôi nhớ lại, lại như thấy bị thiếu mất cái gì đó mỗi khi trở về cái lán trống hoác của bọn tôi
. Trải qua những ngày mưa gió, nóng lạnh của thời tiết, thằng cu Tú đã trưởng thành trong nghề. Nó nhanh như thỏ, như sóc và vẫn rất đáng yêu, chí ít là đối với tôi. Trong cuộc đời, mối quan hệ với gia đình có một vị trí hết sức quan trọng vậy mà nó không có. Vậy nên nó coi bọn tôi là những người thân nhất của nó.
 Mấy hôm tết vừa rồi trong khi mọi đứa nôn nao vì nhớ nhà thì nó chẳng có ai để mà nhớ. Tôi chưa biết khơi gợi những điều mà nó suy nghĩ trong cái đầu non nớt của nó. Nó chẳng nhớ ai cả. Đâu như cũng đã từng có người săn sóc nó, bế ẵm nó. Nó lờ mờ hiểu đấy là mẹ nó. Hình như mẹ nó đã chết và một người đàn ông khác thay mẹ nó trông nom nó. Người này thường xuyên bỏ đói nó cho nên nó mới èo uột, khẳng khiu cho đến tận bây giờ. Nó thường được người đàn ông dẫn đến các nơi hội hè. đông người tụ tập và lăn lộn trên đường kêu khóc, xin ăn, xin tiền. Nó nhiều lần bị đánh chỉ vì xin được ít và không chịu khóc. Những hôm đó về chỗ ở là một cái quán cũng xiêu vẹo, vắng vẻ, nó thường bị đánh và bị bỏ đói. Nó nằm trong xó lều ngủ để quên đói, đợi người đàn ông về vất cho nó một cái gì đó có thể ăn. Kí ức của nó là như thế, mối quan hệ xã hội của nó là như thế, vậy thì làm sao và ai nỡ hỏi chuyện gia đình, người thân của nó. 
Nó nói với tôi: “Anh về ăn tết nhanh rồi ra với em”. Tôi xót cả ruột: “Tao bỏ một mình mày ở lại đây à?”. Vậy mà có ai ngờ… Tết vừa rồi đó, tôi ở lại với thằng cu Tú. Trong rét mướt của gió mùa Đông Bắc, chúng tôi cũng đi chơi xuân. Trước đó tôi gom tiền của hai anh em đi mua mỗi đứa một cái áo bu-dông hàng thùng. Nó chẳng đòi hỏi gì cả và cũng chẳng cần biết là mình có bao nhiêu tiền. Ngây thơ và non nớt là thế! Nó nắm tay tôi chen vào mọi chốn đông người. Hình như chưa bao giờ nó vui như vậy, nó làm tôi cũng vui lây, tôi cũng quên đi nỗi nhớ nhà, tôi cũng có một thằng em ở nhà như nó, nhưng thằng em tôi còn có một gia đình còn thằng cu Tú thì ngoài tôi chẳng có cả. Sau này tôi rất tự hào vì cái tết năm đó tôi đã có một trong những quyết định đúng đắn nhất cuộc đời của mình. 
Giao thừa. Hồi ấy pháo nổ nhiều lắm. Tôi và thằng cu Tú còn lang thang trên đường phố ngợp sắc xuân. Phải là đã sang xuân? Trong tôi có cái gì nghèn nghẹn. Thằng cu Tú chẳng có cảm giác gì cả, nó vẫn hớn hở đi bên tôi. Mưa lay phay, cảm giác mua xuân ấm áp. Loang loáng những ánh đèn, chập chờn những màu xanh đỏ. Tôi ôm lấy thằng cu Tú, người nó ấm quá, một cảm xúc dòa dạt dâng lên trong lòng tôi. Mùa xuân, mùa xuân đến rồi. Tôi thầm mong một mùa xuân tốt đẹp đến với chúng tôi, tôi hi vọng một điều gì mới sẽ đến.
 Hai đứa chúng tôi về nhà bóc bánh chưng ra ăn. Người ta bảo là “Dửng dưng như bánh chưng ngày tết”. Dửng dưng gì mà chúng tôi cảm thấy ngon thế! Ăn xong một cái mà vẫn như còn thòm thèm. Tôi hỏi thằng cu Tú có muốn ăn nữa không. Nó lắc đầu. Tôi nói: “Xả láng đi em…” Nó cười và chúng tôi đi ngủ trong tiếng pháo nổ đâu đó ngoài xa… Sáng hôm sau anh em chúng tôi đi chơi xuân. Chúng tôi vẫn phải đi qua con đường heo hút, bẩn thỉu và lúc nào cũng ướt. Hình như mùa xuân không đến với cái lán nhỏ dột nát của chúng tôi. Tôi một thoáng chạnh lòng. Nhưng mà không sao cả. Ta đi theo con đường của ta.
 Ta ngửng mặt đón gió xuân. Một làn gió mới ùa vào hồn tôi. Tôi hít thật sâu vào lồng ngực. Ngọn gió tươi mát thổi bay hết cả mọi điều u uất. Bước chân tự nhiên dẫn chúng tôi đến bến xe thành phố. Đường phố mấy ngày tết sạch lắm. Không có đống rác nào dành cho chúng tôi cả. Mà thực sự chúng tôi không có ý định hôm nay đi kiếm ăn. Hôm nay chúng tôi cũng phải ngẩng cao đầu như mọi người đi chơi xuân.
 Một ông già khoảng trên bảy mươi như đang chờ ai ở bến xe. Thấy chúng tôi, ông già niềm nở gọi lại đứng bên cạnh bức tường chắn gió. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống và rút từ trong cái túi xách bên mình một bọc giấy được gói cẩn thận. Ông bảo chúng tôi ngồi ăn tết với ông. Tôi hỏi nhà ông ở đâu, ông chỉ cười và giục chúng tôi ăn nữa, ăn nhiều vào. Thằng cu Tú rất khoái trá. Cu cậu xơi rất tự nhiên. Có phải vì thái độ rất gần gũi của ông già hay vì bữa đón giao thừa vừa qua của chúng tôi chưa làm cu cậu thỏa mãn. Ông già đưa cho thằng cu Tú và tôi mỗi đứa một cái đùi gà rất to. Kể cả tôi huống gì thằng cu Tú, chúng tôi chưa bao giờ được ăn một bữa thỏa thuê như thế và cũng đặc biệt nữa. Một cái tết mà tôi nhớ đời. 
Tất nhiên mọi thứ mà ông già cho chúng tôi ăn không hết. Có lẽ ông không chỉ chuẩn bị cho riêng hai chúng tôi. Số còn lại mà ông đã có ý để riêng ra một khoang giấy báo vẫn còn nhiều, phải hai ba đứa nữa ăn mới hết. Chúng tôi ăn thịt gà với xôi, có cả bánh chưng nữa, một khoanh giò nạc và một khoanh giò mỡ rất dày. Một cái tết thượng thặng đối với những đứa trẻ lang thang, bơ vơ như bọn chúng tôi.
 Sau bữa ăn, tôi cứ nghĩ mãi về ông già. Chắc hẳn trong thẳm sâu lòng ông có điều gì không yên. Ông nhìn những số phận hẩm hiu như bọn tôi ở trên đời bằng cái nhìn như có điều gì canh cánh không an bên lòng. Ông muốn san sẻ với chúng tôi những gian nan của cuộc đời bất hạnh, ông muốn chia cho chúng tôi một chút lộc mà ông được con cháu biếu hoặc tự tay ông làm ra. Nhìn ánh mắt của ông, tôi như thấy ông muốn nói: “Ông muốn tất cả những nỗi đau ở trên đời này không còn để các cháu mãi được sung sướng, không còn chịu vất vả trên thế gian này nữa”. Nhưng ông không nói được gì cả, ông im lặng, tôi chỉ thấy mắt ông long lanh, cái long lanh của những giọt nước tinh khiết qua cặp kính trong suốt, dày cộp. 
Một cơn gió nữa thổi qua, không phải là gió lạnh mà là một làn hơi ấm, làn hơi ấm tôi cảm nhận được từ mùa xuân mới. Gió bay bay, chúng tôi chào ông già không quen biết mà tự nhiên thấy vô cùng kính trọng. Có điều gì nhắc nhở tôi. Ô phải rồi, tôi phải có trách nhiệm hơn với thằng cu Tú. Nó mới ngần ấy tuổi đầu mà “bể dâu” hơn tôi nhiều lắm. 
Sau cái tết đáng nhớ ấy thằng cu Tú lại ốm. Mới đầu tôi cứ nghĩ là bình thường. Bình thường như bao nhiêu cái hắt hơi sổ mũi của bọn chúng tôi. Sáng ra thấy nó nằm bất động trên sạp, tôi lay nó dậy. Trời ơi nó nóng quá! Sao vậy Tú ơi. Ba đứa quê ở Thanh Hóa chưa thấy đứa nào lên cả. Tôi lại nghĩ đến cái Hoa và cái Thương. Chúng nó ở đâu mà không đến với tôi lúc này. Thằng cu Tú ốm chúng mày có biết không? Tôi không biết làm gì hết cả. Sau một phút hoảng hốt, tôi trấn tĩnh lại và quyết định cõng nó ra ngoài đường đón xe ôm đưa đi bệnh viện. Tôi không quên mang theo số tiền mà tôi và nó kiếm được trong thời gian qua. 
Cái con đường heo hút, bẩn thỉu và luôn luôn ướt qua bãi đất hoang sao bây giờ dài thế. Thằng cu Tú nhẹ như bấc trên lưng tôi. Tôi vừa chạy, vừa khóc, vừa gọi tên nó. Sao tôi lại khóc, đến bây giờ tôi cũng không biết vì sao. Có lẽ từ bao giờ, lâu lắm rồi, thằng cu Tú đã trở nên thân thiết với tôi mà tôi không nhận ra. Tôi khóc vì thương nó, nó chẳng có ai ngoài tôi cả. sao đời lại oan nghiệt làm vậy. Một sinh linh bé nhỏ chẳng lẽ không đnág được che chở hay sao? 
Chậm quá rồi! Người bác sĩ trực ở phòng cấp cứu nói với tôi. Em cậu bị sưng phổi, mà bố mẹ đâu? Sao chỉ có hai anh em? Tôi đờ người ra, choáng váng và không biết nói gì nữa.
 Rồi mọi sự cũng qua. Nhờ sự giúp đỡ của bệnh viện, tôi là người thân duy nhất của thằng Tú đưa nó ra nghĩa trang. Cai huyệt đào sẵn người ta chôn nó cũng nhỏ nhoi như chính số phận của nó. Cái quan tài mà nó nằm trong đó cũng nhỏ nhoi như vậy. 
Tú ơi! Thế là kết thúc một số phận toàn là cay đắng, mày đã được hưởng một chút ngọt ngào nào đâu. Chẳng hiểu cái tết vừa rồi có an ủi mày được chút nào không? Tú ơi, Tú ơi… Nghĩa trang vắng lặng. Chiếc xe của bệnh viện làm phúc cũng đã quay về.
 Tôi một mình ngồi bên mộ thằng cu Tú. Khói hương bay thoang thoảng. Mày cô đơn trên cõi đời, mày đi cũng đơn côi một mình anh đưa tiễn và bây giờ anh lại về đơn côi với cái lán trống hoác đó hay sao?
 Trống trải trong tôi ghe gớm. Lại một cơn gió ớn lạnh nơi đồng không mông quạnh. Tôi lủi thủi quay về. Bước chân vô định đưa tôi về bến xe chỗ ngày mồng một tết tôi và thằng cu tú và ông già tốt bụng ngồi ăn tết với nhau. Tôi ngồi đó, nhớ nó quá và cũng mệt quá sau một ngày đầy biến động, tôi ngủ lúc nào không biết. Trong giấc mơ, tôi lại thấy thằng cu Tú tung tẩy với cái bao tải lất phất và cái quen cời rác vung vung lên trời. Có phải hình ảnh trong suốt và tinh khiết của nó làm giấc ngủ của tôi rất say. 
Từ đó tôi không về cái lán trống hoác của chúng tôi nữa. Cùng với sự lớn lên của thành phố, tôi bây giờ đã trở thành một đại lý thu mua các loại phế liệu. Cơ sở của tôi ở ngay bên đường quốc lộ được hình thành nhờ sự quản lý lỏng lẻo của mấy ông cán bộ địa phương, Chỗ này không xa nơi thằng cu Tú nằm là mấy. Chắc là vong hồn nó phù hộ cho tôi. 

 Vinh Anh 2005

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2021

Bỗng có một sớm thu ở Saì Gòn

Bỗng có một sớm thu ở Sài Gòn 
 Giữa Sài Gòn sáng nay 
bỗng gặp mùa thu ... 

 Gió se se rung mơ hồ cành me
 áo em mặc đọng chút vàng nắng lá 
từ góc phố bừng lên tiếng cười ai nghiêng ngả
 hoa cúc vàng ... vàng cho nhớ nôn nao

 ngắm hàng cây trong vô vàn âm thanh lao xao 
 lọc đi những tiếng ồn ào 
chỉ giữ lại trong ta ngọt ngào thu thi vị ... 
em có thể đời thường hơn thi sĩ 
vẫn mê hồn ... thành phố sớm mùa thu . 

 Gió từ phương nào, gió mang lời ru 
vi vu nắng, nắng mang hơi ấm 
sớm thu hỡi, lòng sao xáo động 
thoáng một chút thôi đủ day dứt dặm trường ... 

 Thu đó mà làm ta vấn vương 
thu đó mà làm nên nỗi nhớ 
ta thương em và đó là duyên cớ 
một cánh lá rơi cũng nhớ lắm Sài Gòn .

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2021

Tinh khôi

Tinh khôi

 
Đứa con gái là Dung. Anh nó là Dũng. Bố mẹ Dung về sau, ở nhà xây, mặt phố. Nhà hai tầng nhưng chỉ được ở tầng hai. Đó là nhà kiểu chung cư xưa, ông chủ giàu có xây nhà cho những người làm thuê thuê lại. 
Cả khu nhà xây theo hình chữ U. Đó là một thửa đất rộng, sau dãy nhà là một khoảng đất trống. Tất tật có bốn năm chục hộ. Cuộc sống sàn sàn như nhau, đều là dân tứ chiếng, từ khắp nơi đổ về đất này làm thuê. Chẳng là mảnh đất gần cảng, cái cảng thời đầu tinh khôi cũng chỉ có sáu cái kho. Bây giờ thì cả trăm kho, người ngày xưa vẫn gọi là “Sáu kho”. Nghe “Sáu kho” là nghe được tiếng vọng một thời. 
Nhà nó đến sớm hơn, khi dãy nhà phía ngoài đường còn chưa được xử dụng, ở với ba gia đình nữa trong một cái lán xộc xệch, mà mỗi nhà có biên giới lãnh thổ là một cái phản gỗ tạp. Tối ngủ, mắc màn mới phân biệt được lãnh thổ. Ban ngày thì phản nào cũng có thể ngả lưng. Nhà nó đã có thời sống trông ngôi đền như thế. Bốn mẹ con nó chiếm một cái phản rộng hơn những cái khác. Nó chẳng hỏi mẹ vì sao, đang yên lành nhà cửa đàng hoàng tử tế, rộng rãi, cao ráo, đẹp đẽ, khang trang… thật chẳng còn từ gì để tả nữa, lại dọn về ở với quần chúng lao động. 
Lý do nó biết hờ hờ, phải chạy trốn khỏi cái gọi là cải cách ruộng đất. Trốn thật sự. Càng xa ảnh hưởng của gia đình, càng xa tầm nhìn của họ hàng, càng biệt vô âm tín, càng tốt. Bố nó tuy là cán bộ cốp ở trong quân đội đấy nhưng thành phần cực kỳ phản động: địa chủ kiêm tư sản. Ngày đó, với cái thành phần đó, gợi lên sự nhơ nhuốc(!) Kinh lắm. Hãi lắm. Sợ lắm. Kinh, hãi, sợ như thế nào chỉ bố nó biết, mẹ nó biết. Nó mười tuổi rồi, vẫn vô tư, rồi mười một tuổi, vẫn vô tư. Sau này nó mới nghĩ ra và nó thấy sợ. Sợ lắm! Nếu ngộ nhỡ… Bố nó sa lưới cải cách ngày đó, thì nhà nó thế nào, anh em nó thế nào? Nghĩ mà cứ rùng mình với câu hỏi, sẽ thế nào, sẽ thế nào? 
Nhưng rồi, như nó đã nói nhiều lần, tội vạ dòng dõi, máu mủ gia đình, mình bố nó chịu, lộc của bố nó, nó được hưởng nhiều nhất. Vậy mà trần đời không ai như nó, phải đến cái ngày học xong đại học, nó mới nhận ra điều đó. Nghĩa là nó cũng ngu lâu. Chính nỗi sợ về gốc gác làm nó ngu. Ở nhà có ai dám nói gì về ruộng đất với cải cách đâu. Ngay cả họ hàng cũng như bị cách li, quan hệ sơ sài lắm. Cái kiểu sợ bóng sợ gió đó là “mình thì sợ mình làm ảnh hưởng người ta, còn người ta thì sợ làm ảnh hưởng mình”. Đấy, sợ bóng sợ gió là thế, cứ lửng lơ, lơ lửng chẳng thể biết khi nào nó bập xuống. Cứ vậy mà giữ ý giữ tứ. Vậy nên họ hàng gần thành xa. Khác gì “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi…”
 Xã hội mình tươi đẹp, trong sạch, trăm nhà như một là nhờ biết sợ kiểu như nhà nó. Tất cả cứ im lìm, tất cả cứ đứng nhìn, đứng ngó, tuyệt không bình bán câu nào. Sau đó, phải sau đó cơ, mới nói, nói cái gì? Nói cái bâng quơ, ngửa mặt lên giời, hỏi ông giời, có đất nào như đất này không. Có nhiều lúc nó tự hỏi, nó trong sạch không/ trong sạch quá đi chứ và nhe răng cười, chẳng hiểu cười cái gì, cười nỗi gì. 
Chính vì cái ngu mà nó tinh khôi. Tinh khôi nhờ ngu. Người yêu bảo “ngoan”. Vậy là, ngoài mấy năm nó được biết về kinh, về bổn, về đạo đức, cái thiện, cái lành, cái ngoan của con chiên và các ông thánh… nó chẳng học thêm, biết thêm được gì về cuộc sống ngoài đời. Đến tận mười tuổi, nó chỉ biết đi lễ chủ nhật, đi xưng tội để chịu mình thánh. Nó rất ngoan đạo. Vì phải xưng tội thường xuyên, nó cấm bao giờ nói dối, ăn cắp hoặc trong đầu mơ tưởng một cái gì đó không thuộc về mình. Thấy ăn xin, trong túi có tiền, nhất định nó chia sẻ, một ít thôi, nhưng là chia sẻ. Không có, nó buồn. Lòng trắc ẩn của nó được tạo ra từ những buổi xưng tôi, đi lễ và hát thánh ca. Nói thêm, đi lễ nhà thờ, nó hát rất to, thuộc rất nhiều kinh và bài hát. Bà nội nó tự hào về thằng cháu lắm. 
Vậy là nó tinh khôi, tinh khôi như những người có đạo gọi cái sự tinh khôi là thiên thần. Thiên thần nhỏ bé, xinh xắn có đôi cánh bay lượn và mỗi lần xuất hiện là một lần mang niềm vui đến cho con người. Đấy là cái tinh khôi về đạo. Cái tinh khôi này phần nào mang màu lễ nghĩa, tôn giáo, niềm tin hay đức tin gì đấy. Mọi thứ đều có vẻ xa xa, mờ mờ, ảo ảo, không thể nắm bắt chỉ mường tượng trong đầu, như là có và cũng như là không. 
Thì đấy, cái chuyện xưng tội để được hưởng bánh thánh, nó cảm thấy đấy như trò diễn. Nó đã được tham gia làm bánh, nó biết miếng bánh nhỏ xíu, mỏng tang, đang từ rất trần tục bỗng thành thiêng liêng. Nó cũng tin, nhưng, hình như, sự thiêng liêng mơ hồ đó vận vào ai thì nó không biết. Không biết và cũng chẳng nghi ngờ. Nó tinh khôi. 
 Còn cái tinh khôi khác, tinh khôi về đời. Đời là cuộc sống, là cái trần tục, là làm và ăn. Đời là gia đình, bạn bè, thày cô, trường học… Đời có vẻ như đa dạng, phức tạp và đặc biệt, nó gần cuộc sống hơn. Vậy chăng? Nó không biết, nhưng nó sợ “đời”. Đời là cái gì đó như cạm bẫy, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa… Những giăng mắc bùng nhùng đó nhiều hơn thánh thiện. 
Nó là đứa bé chục tuổi, nó sợ là đúng. Nỗi sợ cũng khiến nó tinh khôi. Nó chưa vẩn bụi bặm cuộc sống. Nhưng cái Dung, em thằng Dũng, ngày mới quen, lại bảo nó, có ý khác. Cái Dung còn kém tuổi nó, kém nhiều ấy, nó nghĩ thế vì, thấp hơn nó cái đầu. Nó bảo, mày chỉ được cái to xác, chẳng biết gì. Bọn trẻ con cái khu mấy chục hộ này vẫn ăn nói như vậy, chẳng phân biệt tuổi tác gì hết, sàn sàn nhau là “mày tao”. Nó tức, nó bảo, mày liệu, anh mày học với tao, tao mách nó, cho mày một trận. Cái Dung bĩu môi, thua hả, phải nhờ anh tao can thiệp à? Ngữ mày tao không chấp. Cái con bé đến là đanh đá. 
 Thằng anh cái Dung tuy cùng lớp nhưng học dốt, nó như mất gốc, hỏi những cái đã học của năm trước, nó bảo, chưa học. Phải nói lại thật kỹ, cái thằng Dũng ấy mới chịu khôn ra một tí. Nhưng nó được cái khỏe. Nó, thằng Dũng ấy, đặc biệt quý nó, vì bài vở của thằng Dũng đều chép từ vở của nó. Từ khi cái Dung biết chuyện ấy, có phần nể nó hơn. Đôi khi, nó mang sách vở xuống tận lán lao động, hỏi cách giải một bài toán. Nó bảo cái Dung đọc đầu bài, chưa đọc hết nó đã chỉ ra cách phải làm. Cái Dung từ đó nhìn nó e ngại khang khác. Vậy mà nó thì vẫn cứ ngu ngơ: “Mày dốt quá!”.
 Khu nhà nó ở có một cái tăng-xê nghĩa là hầm tránh bom to, do ông chủ xây cho những người làm công, đề phòng bị quân đồng minh ném bom, đâu như vận cái sự học sử ra, nó bảo, “tăng-xê” phải có khoảng năm trước cách mạng. Sau hơn chục năm bỏ hoang, gạch vỡ, đất cát, rác rưởi được đổ đắp lên cao, trông như quả núi, cỏ phủ kín và chắc chắn nước ngập vào tận trong hầm. Nó muốn khám phá. Cái Dung sợ nhưng vì nó là đầu trò, nên cái Dung theo, theo vì thích nó. Nó hô hào bọn trẻ con khu tập thể làm đuốc, soi đường vào hầm. Bọn con trai hăng hái nhưng khi đốt đuốc lên thì chỉ có mỗi đuốc của nó, cái Dung và thằng Dũng. Bọn còn lại đều sợ. Có đứa bảo trong đó nhiều rắn lắm. Nghe đến rắn, thằng Dũng anh cái Dung cũng sợ, bàn, hay là thôi đi mày. 
Nó cũng sợ rắn nhưng đã hô quyết tâm khám phá rồi, bây giờ bỏ thì ngượng chết. Nó nhìn cái Dung, cái Dung sợ, nắm vạt áo nó rõ chặt, nó gỡ tay cái Dung ra, cái Dung bám chặt hơn, nó phải cầm tay cái Dung, cái Dung buông vạt áo, nắm chặt tay nó và nó nghe giọng run run, thì thào bên tai, không sợ… đừng sợ… vào nhé. 
Vậy là nó cầm đuốc chui vào hầm. Đôi dép cao su đi đủ quai nghiêm chỉnh giẫm bước đầu tiên xuống lớp gạch chắn cửa hầm và ngay sau đó là bì bõm trong nước, lạnh ngắt. Thoáng chút rùng mình. Đợi cho nỗi sợ tan vào khắp cơ thể, nó nắm tay cái Dung đang bám sát nó. Giờ thì nó cần người bên cạnh tiếp thêm dũng khí. Nó chẳng ngờ đó lại là cái Dung chứ không phải thằng Dũng, anh nó. Thằng Dũng đã lẩn đâu mất, chỉ còn vài đứa con trai đứng ngóng ở cửa hầm. Ánh đuốc cũng chỉ ở ngoài cửa hầm. 
Nó dọi đuốc xuống ngang mặt nước, thấy nước trong veo và toàn gạch vỡ. Hầm được xây rất chắc chắn, trong hầm được mắc dây điện và đầy mạng nhện. Nó và cái Dung lần mò trong nhập nhoạng ánh đuốc. Cái Dung thì sợ, im thin thít. Còn nó thì lại ra vẻ, cố nói to để át cái sợ. Hóa ra, sợ cũng có những biểu cảm khác nhau. Nó thì là cái sợ của nam nhi, cái Dung của nữ nhi. Đều là nỗi sợ tinh khôi.
 Đang đi thì một đàn chuột rích rích kêu. Chúng thấy ánh đuốc và rẽ nước rào rào. Nó giật mình, trống ngực đập loạn cả lên. Cái Dung khỏi nói, bám chặt lấy nó. Cái Dung sợ không nói lên lời, nó thấy bỗng như bị đè nặng một bên, đứng không vững, một tay đã quờ xuống nước. Nó cầm được nửa cục gạch, giang tay ném mạnh về phía có tiếng chuột kêu. Nó giang tay và vướng phải cái Dung. Cái Dung suýt ngã, ôm chầm lấy nó. Nó quát to để át nỗi sợ: “cho chúng mày chết…” Và hai đứa cứ dính vào nhau, do sợ nên vậy. Đúng là nỗi sợ tinh khôi. 
Từ đó, nó nhớ mãi cái ôm của cái Dung. Nó bé mà ôm chặt thế. Đấy mới là tinh khôi. 
 Vinh Anh 26/9/20

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

TRUYỆN DÀI NHƯ DÒNG SÔNG

TRUYỆN DÀI NHƯ DÒNG SÔNG 

 1.Thuở tinh khôi 

         Hắn nhát. Rõ rồi, chẳng cần phải nói, mọi người đều biết. Có cái nhát đeo đẳng, thành bản chất, ngấm vào người, khó sửa. Có cái vì thói quen, chưa vượt qua, thần hồn nát thần tính. 
Hồi bé, hắn sợ ma, đứa nào bé mà chẳng sợ ma, sợ nhưng thích nghe chuyện ma. Bà hắn đe, không được kể chuyện ma cho hắn nghe, đêm nó lại đái dầm. Hắn sợ, trước khi đi ngủ, bà giục đi đái đi nhưng hắn sợ, hắn bảo con không buồn. Rồi thì đêm nào cũng đái dầm. Vậy mà hắn vẫn không sửa được, cứ chiều đến rồi đêm buông, hắn chỉ dám ở đám đông gần mọi người, ở chỗ có ánh đèn, cấm bao giờ dám ở một mình. 
        Có lần thế này. Ngày ấy hắn năm tuổi. Năm tuổi là bé chứ còn gì nữa, có đái dầm cũng tha. Buổi trưa, trước khi ngủ, ông nó hay kể chuyện. Hắn thích nghe chuyện của ông. Trong ông là một kho tàng chuyện cổ tích. Hắn nghe và cũng bắt chước giọng ông: “Ngày xửa ngày xưa, nhà nọ có hai anh em... người anh rất thương em... hắn ngừng ở đó như để mọi người lắng tai nghe thêm và hắn hét tướng lên, chân dãy một cái thật mạnh: hết chuyện. Rồi “Ông kể đi, ông kể chuyện đi...” Cái giọng hắn rất dễ thương và ông nó không thể cầm lòng sắt đá được trước cái giọng nũng nịu của hắn, lại “ngày xửa ngày xưa...”. Hắn nằm im, mắt không đụng đậy, nhìn lên tường. “Thôi không ngày xửa ngày xưa nữa, hôm nay kể ngày nảy ngày nay...”. Hắn không hề thay đổi thái độ, vẫn im ắng, chờ... “Có thằng bé, con nhà nọ, đến tuổi đi học rồi. Thằng bé năm tuổi, lớn phỗng... lớn hơn thằng cu của ông nhiều. Vì sao biết không, vì nó chẳng sợ gì hết... Nó lim dim, giọng ông đều đều, hắn thấy thằng bé mà ông kể giống giống hắn và thế là giấc ngủ đến với hắn. 
         Thực ra, cái thằng bé con nhà nọ, là con bé, bạn cùng lứa với hắn, kém hắn tí xíu, vẫn bị ông nó bắt gọi hắn bằng anh. Hắn biết quá rõ con bé ấy. Trong đầu nó, con gái làm em là đương nhiên, chuyện cũng chẳng có gì đáng quan tâm. 
        Về tính cách, con bé đó khác hẳn hắn. Phận nữ nhi mà phong thái nam nhi. Ông nó cổ xưa, cũ kỹ rồi, nên đôi khi dùng từ cổ. “Nữ nhi” nghe không hợp với con bé đó, nghe “nữ nhi” có vẻ là người có tính cách mạnh mẽ, không hợp với con gái. Thêm một tuổi, hắn nghĩ trong đầu thế. “Nữ nhi” có vẻ đã biết gánh vác công việc gì đó, đảm trách công việc gì đó rồi. Còn hắn, hắn vẫn bị coi là trẻ con, vẫn đái dầm. 
Hắn lớn lên, con bé cũng lớn lên. Hắn và con bé cùng vào một lớp, ngồi cạnh nhau, hàng trên cùng. Con bé phân chia ranh giới “mày không được lấn sang bên tao”. Chẳng hiểu sao, hắn sợ, không dám lấn, trong khi con bé cứ vô tư lấn sang bên hắn, hắn chẳng dám nói gì hết. 
        Hắn ngồi bàn trên nên hay bị bọn dưới lấy thước kẻ, khi thì đập, khi thì chọc, hắn chỉ lấy tay gẩy ra. Con bé quay xuống dưới “không được trêu nó”. Vậy là hắn được yên. Hắn nhìn con bé, ra vẻ cám ơn. Con bé nguyểnh mặt đi, không thèm nhìn hắn. 
        Con bé bện tóc đuôi sam, vắt vẻo ngang vai, rất gọn gàng, vẻ nữ tính nhất của nó mà hắn nhận thấy nó còn là con gái. 
        Con bé học giỏi, nó viết nhanh thau tháu và đẹp. Hắn học dốt, tối nào ông cũng bắt ngồi tô lại các chữ đã học rồi mới cho đi ngủ. Có lần nó ngáp ngủ, bà lại mắng ông, cho cháu nghỉ đi, thằng bé buồn ngủ rồi... Được thể, hắn ngó ngoáy, ngúng nguẩy, không chịu tô chữ nữa. Ông đe, liệu đấy, tao bảo cái Mơ nó trị mày, cái Mơ chính là con bé ngồi cạnh nó. Thằng hắn thua con bé mọi chuyện. Có điều, hắn, thằng bé í, không cho đó là cái gì ghê gớm. Thâm tâm, nó sợ và nể con bé. Cái sợ và nể rất đỗi tự nhiên, con bé thành bùa hộ mệnh, bảo vệ hắn trước các trò trêu đùa bọn trẻ cùng lớp. Con bé biết đứa nào đùa ác ý với nó là nó trị liền. Bọn con trai ngỗ ngược đứa nào cũng sợ con bé. Lạ thế! Cái vía mà ông hắn gọi là nữ nhi, lấn át tất bọn con trai cả xóm. Chả vậy mà ông nó bảo, tao bảo cái Mơ trị mày... 
         Năm sau, con bé và nó đều được lên lớp, vẫn là bạn cùng nhau. Bọn khác, sau một mùa hè nghỉ chơi, như đã thỏa thuận với nhau, đều tìm được chỗ ngồi với nhau. Có xáo trộn đứa này đứa khác, có thêm đứa mới, có đứa chuyển trường. Hắn đến bên con bé, tao với mày ngồi chung nhé. Con bé quay đi, chung thì chung, thế mày không sợ tao à? Sợ gì mà sợ... Hắn lí nhí trả lời con bé. Thật ra hắn thích vì được con bé bảo vệ thì hơn. Có con bé, bọn con giai ít dám bắt nạt. Đứa nào bề ngoài cũng đều ra cái vẻ không sợ, nhưng đố có đứa nào dám cãi con bé, bọn nó đều sợ vía con bé. 
        Chúng nó đã lên lớp bốn, rồi lớp năm. Hắn không còn nhút nhát, sợ bóng tối nữa. Bọn con trai tộc ngộc cũng đủ kiểu dạn dày sương gió rồi. Con bé không còn uy kiểu “nữ nhi” như ông nó nói cái hồi còn ở lớp một, lớp hai. Nhưng giờ con bé có uy khác, cơ bản hơn, đáng tự hào hơn. Nó là đứa con gái xinh nhất lớp. Cái xinh của nó khiến bọn con trai chẳng mấy đứa dám nhìn thẳng vào mắt con bé. Vậy mà, trong lớp, cái thằng hắn, năm nào nhút nhát nhất, dễ bị bắt nạt nhất lại là đứa chuyện trò với con bé vô tư nhất. Hai đứa trao đổi với nhau mọi điều, cả chuyện học hành lẫn chuyện ở nhà. Con bé vẫn giỏi, đặc biệt nó nhớ. Trí nhớ con bé phát triển từ xửa xưa rồi, hồi cái đuôi sam còn vung vẩy lắc lư, bộ phận nữ tính nhất của con bé. Con bé có học hành gì đâu mà sao nó nhớ thế không biết. 
         Thời gian trôi, trong đám con trai có đứa thích con bé. Thích nhưng không dám. Thầm thì với hắn. Hắn nói với con bé: “Có đứa thích mày đấy...” Con bé quắc mắt: “Đứa nào?” Hắn sợ vãi luôn. Hắn nói lại với thằng đó về cái quắc mắt của con bé. Thằng đó lửng lơ: “Kinh nhỉ...”
         Một hôm, hắn ghé tai con bé, tao hết đái dầm rồi, tao cũng hết sợ rồi. Nếu ông tao nói chuyện, mày đừng tin nhé. Con bé nhìn hắn, mủm mỉm cười: “Rõ dơ mà không biết...” hắn thấy con bé cười xinh ghê. Hôm khác, hắn móc túi, đưa cho con bé mấy quả mơ. “Mơ, mày ăn mơ không, chua lắm. Mẹ tao đi chùa Hương mua đấy. Ừ mà lạ, tên mày rất chua, mày biết không?” Con bé xòe tay, nhận mấy quả mơ, xuýt xoa, ngon nhể... Nhưng tên là bố mẹ đặt cho, chứ đâu phải tao tự đặt cho mình. Dưng mà, mày có thấy chua không? Nó dun cái mũi, trông rất xinh, hơi vênh cái đầu nhỏ nhỏ như đầu con chim, con chim gì nhỉ, hắn nghĩ, như đầu con chim sâu, nhảy nhảy nhót nhót hết cành này sang cành khác, hỏi hắn. “Đôi lúc tao cũng thấy chua... Nhưng nếu mày cứ như thế này, thì không chua. Như thế này là như thế nào, mà này, mai mày lại mang mơ đến nhé... Thế không mơ thì khác nhé... Gì cũng được...Nhớ đấy...” Chuyện hai đứa như vậy. 
         Có lần làm bài kiểm tra toán. Hắn không làm được còn con bé, sau khi chép đầu bài, cứ cắm đầu viết. Nó nhìn con bé, con bé nhìn nó: “Không giải được à? Xem không? Tao làm xong rồi.” Bài kiểm tra đó, con bé nhất lớp, hắn bét lớp. Con bé thầm thì, nhưng có cái mày giỏi hơn khối đứa, tao biết. Mày khá hơn chúng nó nhiều. Hắn không tự ái với con bé. Hình như hắn chấp nhận, hắn thua con bé toàn diện là dĩ nhiên. 
        Tối hôm đó, con bé sang nhà hắn: “Tao sang đây học với mày cho vui...” Hắn ngạc nhiên, rồi thấy thích. Hắn dúi cho nó mấy quả mơ. “Không thèm, chua lắm...” Hắn tròn mắt, tròn mồm thành hình chữ o nhăn nhúm, trông rất xấu. Con bé cười ngất.: “Trông mày ngố quá...” Hắn thấy con bé càng cười càng xinh. Thôi, không cười nữa, học đi, tao giải lại cho mày bài kiểm tra nhé. Đến cuối buổi, con bé đưa cho hắn một bài toán mới, bảo, mày hiểu thì làm đi. Hắn làm xong, làm xong, nhanh thôi, chẳng mấy nghĩ ngợi. Vậy là mày hiểu rồi. Con bé động viên, cái khó chỉ tí chút thôi. Hắn lại nhìn con bé, thấy thích thế, không dám nhìn nữa. 
        Có lần đi đến trường, hắn nói với con bé: “Mày biết tao thích gì nhất không? Thích gì hay thích ai? Cả gì và cả ai? Mày hỏi như thằng ngố. Mà mày ngố thật đấy, hỏi cũng chẳng biết cách hỏi. Tao hỏi mày là tao thích mày gì ấy. Rõ chưa? Con bé trố mắt, mày thích tao à. Tao cũng thích mày đấy, ngố ạ... Nhưng tao thích gì ở mày nhất cơ. Thích con khỉ...” Con bé vùng vằng, chạy lên phía trước với mấy đứa bạn. Hắn nhìn cái đuôi sam vắt vẻo bên nọ bên kia của con bé mà chưa kịp nói cái điều hắn thích, lủi thủi đi một mình. 
         Vẫn như hồi lớp một, ấn tượng nhất ở con bé là cái đuôi sam. Bọn con gái bây giờ ít có. Cả ngày hôm đó, con bé không một lần nói chuyện với hắn. Hắn chỉ nhìn trộm con bé, không dám bắt chuyện, ngay cả khi hắn cố tình để sách qua làn ranh giới mà con bé qui định, điều ít khi nó phạm. 
        Vậy là xong cái thời thơ bé cấp một. Đã qua cái thời mà hắn, nếu mặc quần thủng đít và hay đái dầm, bị ai đó có trêu, hắn chẳng biết ngượng. Lên cấp hai bỗng dưng khác, cả hai đứa đều có nhiều bạn mới, khác xa cái ngày học cấp một. Con bé chú ý hơn, ít mày tao tuy vẫn mày tao với hắn. Chúng phổng phao hơn, ra dáng hơn. Hắn cũng chỉn chu hơn. Mẹ nó bảo, hình như con soi gương hơi sớm. Hắn ngượng, chống chế, bọn lớp con nó còn biết từ trước con nhiều. Con không nói về mấy đứa con gái đấy chứ? Chuyện bọn con gái thì ối cái mẹ không biết, chúng nó có người yêu rồi đấy... Sao con biết? Cái Mơ kể cho con. Lại cái Mơ, cái gì cũng mơ mơ. Liệu hồn. 
        Cái Mơ hỏi hắn, có lần mày nói mày thích tao, mày nhớ không, thích cái gì nhỉ? Hắn bảo hắn nhớ. Nhớ chứ. Hôm đó mày còn không thèm nhìn tao, dù tao đã cố làm lành, mà sao tao phải làm lành. Tao cứ nghĩ, vì sao mày lại dỗi... Thế rồi tao ngủ quên, và quên chuyện đó luôn. Đúng là đồ con trai, ngố thế mà không biết. Hắn tự hỏi, không hiểu mình ngố cái gì. Muốn hỏi con bé nhưng hắn hình dung ngay nét mặt cái Mơ: Sao mày hỏi ngố thế, càng hỏi càng ngố? Vậy là cứ thế trôi đi... 
         Có hôm cả nhà hắn đang ăn cơm. Cái Mơ sang. Con bé chào mọi người rất rõ ràng: Cháu chào ông, chào hai bác, cả nhà đang ăn cơm ạ. Cháu sang nhắn ông, ông cháu mời ông sang uống nước ạ. Rồi, nói với ông, tối ông sang. Tiếng con bé lại ngân như chuông: “Cháu chào ông, chào hai bác, cháu về ạ”. 
Con bé vừa ra khỏi ngõ, mẹ “Con bé lớn lên, xinh thế nhỉ?” Câu nói của mẹ bị bỏ lửng. Cả nhà bỏ qua chuyện nó sang. Chỉ còn hắn là nghĩ về con bé. Trong đầu hắn cứ vang lên giọng như chuông ngân của con bé. Ờ mà sao hắn lại nghĩ ra giọng con bé ngân như chuông nhỉ? Không biết vì sao nữa. Thế mà có hồi, hắn nghĩ là con bé chua, chua như tên của nó: Mơ! 
        Làng hắn có nhiều đồi để thả trâu ăn cỏ. Có đồi, chẳng hiểu từ bao giờ, làng gọi đó là đồi Ông. Ông là như thế nào, người già nhất làng chẳng còn ai biết tích. Nhưng trên đồi Ông còn sót lại một cái miếu thờ mà năm tháng trôi đi, đã thành phế tích. Vừa gọi, vừa hình dung mới biết đó là cái miếu thờ. Tất cả chỉ còn lại một tảng đá to, nhẵn nhụi nhưng ở mép, nhiều vết sứt sẹo, bọn trẻ thường ngồi lên, nói chuyện nhăng nhố, chẳng liên quan. Cái để chứng tỏ hòn đá là phế tích của cái miếu là bên cạnh đó, có một cây si cổ thụ, tỏa bóng mát xum xuê. Làng hắn cũng có nhánh con sông Đà. Con sông hung dữ ở đâu chứ chảy qua làng nó thì êm như một bài thơ tình Chiều chiều, bọn trẻ con như hắn đều đi chăn trâu, trâu ăn đến độ nào đó thì xuống sông. Bọn trẻ cũng kéo nhau xuống sông tắm. Các anh lớp lớn mơ màng như một bài thơ tình khi đi bên các bạn gái. Cái Mơ cũng có chị gái là Mai. Chị Mai khác Mơ ở cái khoảng cách tuổi tác, có cả chút khác tính tình, cái cách “nam nhi nữ nhi” như ông nói ngày xưa. Chị Mai hiền, ít nói hơn. 
Cái khác nữa, chị cũng đã có bài thơ tình của mình.
         Bài thơ tình của chị Mai là một chàng trai bên sông Đà. Chàng ấy bơi giỏi. Chị Mai nói thế và hắn nghĩ ngay đó là hậu duệ của Yết Kiêu, dạo này tự dưng nó học không dốt nữa, cũng nhớ chẳng kém con bé. Có lần chị đưa hai đứa đến bến sông, vào “nhà” của chàng trai. Đó là một cái thuyền có những cánh buồm nâu. Cánh buồm hôm đó không giương lên đón gió mà được xếp nằm im lìm dọc chiếc thuyền. Hắn mê sông nước từ đó. Hắn xin với bài thơ tình của chị Mai, cho em đi thuyền với anh một chuyến. Anh cười, đưa mắt vào chị Mai và cái Mơ, em phải xin hai cô gái kia. Con bé nghe nói đến đi thuyền cũng tớn lên, cho em đi với. Chị Mai không nói gì, nhưng quyết định là chị Mai, bài thơ tình của chị thực hiện. Vậy là thành chuyến đi. Chuyến đi đánh đấu một chuyện tình nức nở. Chuyến đi đó là chuyến đi cuối cùng của chàng trai với ba chị em. Sau chuyến đi, nhờ gốc gác dân chài và tài bơi lội, anh thành lính hải quân. Anh đi mang theo cả bài thơ tình đang viết. Bài thơ tình êm đềm bên dòng sông quê hương của chị Mai đã hòa với sóng biển bao la. Bài thơ tình tưởng như dòng chảy êm đềm của con sông quê hương, thành bài thơ buồn. Có những chuyện buồn khi nói ra, người đời cứ tưởng là thơ. 
        “Con dì nó lớn” là nói về Mơ. Con bé đã vào cấp ba. Từ năm lớp bảy, hồi còn cấp hai, hai đứa không ngồi chung một bàn nữa. Bọn con gái được ngồi riêng, mười lăm đứa, hai dãy bàn phía trên. Lớp nào hắn cũng chiếm chỗ ngồi ngay dưới con bé, như chỉ để nhìn cái đuôi sam của đứa ngồi bàn trên. 
         Trong một buổi học văn lớp 12, cô giáo đang nói về cái đẹp, cái lãng mạn và cái trữ tình của tình yêu trong tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, con bé thấy một mẩu giấy vo tròn bắn về phía mình. Hắn mở ra và lại vất về phía sau. Cô giáo bắt được khi hắn cúi xuống nhặt mảnh giấy vo tròn đó. Cô mở ra, cả lớp nín thở, sự ngưng đọng không khí lớp học khiến nghe được cả tiếng ruồi bay. Cô không thay đổi nét mặt, trả lại cho hắn mảnh giấy. “Nào, chúng ta tiếp tục bàn về tình yêu của Mẫn và tôi nhé.” Hắn thở một hơi nhẹ nhưng rất dài, nhìn cô giáo biết ơn, hắn muốn nuốt hết từng giọt không khí của lớp lúc này vào phổi, còn mặt con bé lạnh tanh, coi như chẳng có gì xảy ra. Cả lớp sau đó cứ ngóng cái bí mật kia được mang ra công khai. Tuyệt nhiên, từ hắn, từ con bé, từ cô giáo, chẳng ai nói về tờ giấy vo tròn mà nó nhặt được. Sau này, mượn ý bài thơ tình êm như dòng sông của chị Mai với anh lính hải quân, hắn nói với con bé: “Bài thơ tình suýt thành giông bão.” 
        Rồi thì cái guồng máy vô hình cuốn mọi cái trôi theo nhịp của nó. Hắn nói với con bé là chúng ta đang sống trong những ngày khắc khoải. Khắc khoải có nghĩa chờ đợi và lo lắng. Hắn cũng theo bước anh lính hải quân của chị Mai trong những ngày đất nước đang nổi giông bão thật. Chiến tranh cần rất nhiều người và cũng tốn kém rất nhiều. Bao nhiêu người đi không trở lại. Không ai rõ. Nó là con số đơn điệu, tượng trưng và không xác định. 
        Trước khi hắn lên đường, hắn đưa cho con bé chiếc hộp nhỏ xinh xinh như bao diêm, được cắt dán bìa rõ đẹp. Hắn còn buộc bên ngoài bằng sợi giây màu đỏ như những tua rua của chiếc cờ đuôi nheo. Con bé mở ra và thấy dòng chữ trên tờ giấy vo tròn đã ném trước mặt nó giờ giảng văn hôm nào. “Tớ yêu đằng ấy nhé, được không?” Và một chữ nguyệch ngoạc của nó: “Được...” (Ý một chuyện tình yêu trên mạng, Vinh Anh không tìm lại được tên tác giả thật của câu viết mà VA đã cóp. VA cho là câu hay nhất bài và cám ơn tác giả) 
        Chuyện của hắn còn dài, dài như một dòng sông, nước con sông đó cứ chảy mãi, chảy mãi không thôi và cái kết của nó cũng rất có hậu theo đúng truyện cổ tích. Những chuyện cổ tích nói về hoàng tử và công chúa. 

 2.Được... 

         Lại nói từ hôm hắn nhận được “chiếu chỉ” mà con bé đã phê bởi một chữ nguỵêch ngoạc “Được...”, lại được cô giáo thông cảm, được cô giáo vừa tâm lý vừa có cả ý bao che cho hắn, tha cho hắn, hắn cảm giác lúc nào cũng lâng lâng bay, lúc nào cũng chộn rộn, rồi thì cười một mình thú vị. Tóm lại là đầu óc hắn không không yên, cả đứng ngồi cũng không yên. Hắn nghĩ, bây giờ phải thay cách xưng hô thế nào, sao cho nó hợp lý, ai lại cứ mày tao, phải khác chứ. Nhất định phải sửa. 
         Hắn nghĩ đến cái tờ giấy vo viên hai đứa trao nhau. Cái từ “đằng ấy” như đập vào mắt. Hắn nghĩ, không được, khác cơ, yêu cơ mà. Như người ta phải gọi là anh với em chứ. Sao tự nhiên hắn thích được con bé gọi bằng “anh” thế. Có phải “anh” là như con bé đã thuộc về..., có phải như mình đã là một chỗ dựa..., có phải như mình đã phải bảo vệ, phải che chở... Không được, đang học cùng nhau, chúng nó, bọn bạn ý, sẽ ầm lên ngay và chắc chắn, với con bé, nó sẽ không chịu, cũng không đúng với cái bản chất nhấm nhớ, buông lửng của câu: “Tớ yêu đẳng ấy nhé..., được không?” Câu ấy trong sáng, tinh khôi. Nó thể hiện được cả cái học trò vui tươi, thánh thiện, cái nghịch ngợm “nhất quỷ nhì ma” và tất nhiên cả cái tình yêu trong vắt như nước suối ban mai với bao nhiêu mát lành nữa. Những nhiều thể hiện thế cơ mà. Vậy thì phải nghĩ xem đã. Tốt nhất cứ như xưa, “mày tao” cho nó gần gũi, thân mật, coi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Được không nhỉ, hắn phân vân lắm, phân vân cả ngày. Thôi, kệ... đau đầu. 
Còn con bé, con bé như chả quan tâm gì cả. Nhìn mặt nó kìa, cứ như không có gì xảy ra. Chuyện lớn như vậy mà sao nó dửng dưng, mặt lạnh tanh chẳng bộc lộ chút gì gọi là âu lo, là phấp phỏng, hồi hộp. Con bé đang nghĩ gì? 
        Nó phóng sang nhà con bé. Lúc đầu thì chạy, rồi không hiểu đầu nó có gì xảy ra, nó quay đầu, phóng ngược lại, như sợ nhìn thấy con bé. Nhìn thấy thì sẽ xử lý thế nào? Thà không thấy thì hơn. Hắn sợ. Sợ gì không biết, nhưng sợ thật. Rồi hắn nghĩ ra, hắn như đang trong mơ. Giấc mơ mong manh như màn sương, sương tan thì sao? Chữ “Được...” kia có tan không, nếu tan thì sao? Thì sẽ không còn sự thật. Hắn sợ là sợ cái đó. Hóa ra, cái lâng lâng, chộn rộn, không yên kia với hắn vẫn chỉ là giấc mơ. Người ta bảo sự thật và giấc mơ trái ngược nhau. 
        Sáng sau, hắn đón đường con bé. Lạ, nó dửng dưng đúng như “mơ”, chả thể hiện thái độ với lời bắt chuyện của hắn về chuyện suýt động trời ngày hôm qua. Vậy là nó như đã quên hẳn đến chữ “Được...” nguyệch ngoạc do chính nó viết. Hay là nó trêu mình nhỉ. Không, chắc không trêu, nhưng... không thể hiểu, bọn con gái khó hiểu quá... 
        Con bé đi trước, hắn lẽo đẽo theo sau. Con bé quay lại: “Mày về đi, đừng theo tao nữa...” Ồ, mình thì suốt đêm nghĩ cách ăn nói, xưng hô sao cho sát với “hoàn cảnh”, sát với “tình hình mới” mà nó lạ thế... mày tao phang ngay, coi như không có gì, lại còn đuổi. 
        Hắn rối ruột, không biết đâu mà lần, bỗng thấy lo lo. Con bé “thần kinh hay sao mà thế nhỉ Thấy nó dửng dưng, lạnh lùng đâm tức, hắn muốn gặp để nói. Con bé không cho gặp. Vậy mới rõ, vừa chạm ngõ yêu đã khổ, vừa mới chân ướt chân ráo lao vào cái ngõ chứ đã đến cổng yêu, cửa yêu nhà nó đâu, mà đã phải nghe lệnh nó. Hắn thấy một mớ bòng bong rối bung. 
        Nghĩ vậy và tức. Nhưng trước mặt con bé, hắn không dám bật cái tức ra, chỉ tức trong bụng, tức với con gái thì thiệt. Nó là bông hoa đang đẹp thế, hấp dẫn thế, thiếu gì đứa nhòm ngó, muốn ngửi, muốn ngắm. Đừng làm nó giận... Nó giận, nó bỏ mình thì mình sống thế nào... 
        Rồi không lâu thật, kể từ ngày “chiếu chỉ” con bé ban ra, hắn có tên trong danh sách vào lính. Nhà trường chuẩn bị tổ chức rầm rộ để tiễn đưa. Hắn thì lòng dạ ngổn ngang. Những hát hò và khẩu hiệu, lưu luyến với lưu bút, nhắn gửi với dặn dò... hắn bỏ ngoài hết. Trong lòng chỉ còn con bé. Hắn nghĩ hắn phải đứng đắn. Phải tỏ ra lớn hơn con bé, bắt chước những công tử nhà giàu ngày xưa, như những cặp yêu ngày xưa, hắn thầm gọi con bé là “nàng”. Phải “nàng” vừa cao quý, vừa yếu đuối, (hắn nghĩ yếu đuối thì là em và hắn sẽ sẵn sàng che chở) mà vẫn hiểu là người yêu, thậm chí là vợ. Con bé của hắn, “nàng thầm” của hắn, những ngày này biến đâu mà không thấy mặt. 
        Trước ngày lên đường, xã thông báo, tất cả lính mới nhập ngũ tập trung giao quân tại xã, có xe đưa lên huyện. Từ huyện mới biên chế về từng đơn vị. Lúc đó mới rõ thằng nào đi đâu, đi đâu. 
         Đúng lúc rối bời đó thì con bé của hắn xuất hiện. “Tao phải lên huyện vì giấy tờ nhập học có vấn đề. Mày thế nào rồi, xong chưa?” “Xong rồi, chờ mỗi đằng ấy...” “Chờ cơ a, chờ làm gì... tao có quên đâu...” “Này, không được xưng tao... Phải khác chứ...” “Khác thế nào, việc gì phải khác... Nói khác chúng nó cười cho, mà ngượng bỏ xừ... Đang yên lành lại anh anh em em, dở hơi...” Hắn nhún: “Vậy đằng ấy cứ thế, khi nào hết ngượng thì thay đổi. Tớ gọi là “nàng”. Nàng thường hiểu theo nghĩa là em nhiều hơn, nhỉ?” Con bé lờ đi. 
        Con bé của hắn, lên huyện chẳng phải vì chuyện giấy tờ. Con bé lên huyện để chụp ảnh kỷ niệm cho hắn. Con bé đưa cho hắn quyển sổ nho nhỏ, đóng bìa cứng, bọc ni-lông, vừa túi ngực. “Thế thôi à và lật lật cuốn sổ, cái ảnh hiện ra với dòng chữ con gái đều tăm tắp, rất đẹp: “Tớ thích đằng ấy, được không?”. Hắn nói thấy giông giống ở đâu ấy nhỉ? Úi giời, hắn suýt xoa, nhìn ảnh, xinh thế! Thích không? Hắn lặng đi, nhìn con bé và ngắm bức ảnh, cứ như muốn đối chiếu giữa người và ảnh, xem có giống nhau không. Mãi mới nói được: “Thích lắm... thích nhất câu hỏi...” Hắn cầm tay con bé của hắn. Con bé “hứm” nhưng hắn giữ tay con bé rất lâu và con bé cũng cứ để nguyên lâu như vậy, rất lâu. “Trông xinh như bông hoa ấy... hoa gì nhỉ... Con bé hứm. Thôi, bỏ ra... khi khác... Còn khi nào nữa mà khác. Còn chứ, mày còn trẻ mà. Tao sẽ chờ mày mà. Ừ, nhất định về nhưng nhớ mày quá thì sao, trốn về nhé. Con bé hứm. Không được trốn, nhục lắm... Tao chờ, tao chờ mày về, Lâm nhé. Ừ, chờ nhé. Giọng hai đứa như dịu đi, như mềm hơn, như sương mờ bảng lảng, như gió thoảng phất phơ và cả hai tuy không chú ý nhưng trong cái không gian êm đềm, đậm mùi hương đồng nội đầy hoa dại ấy, đã cảm thấy hương vị tình yêu trong từng câu nói. Nhất định chờ đấy nhé. Tớ sẽ về với đàng ấy, bông hoa đẹp ạ. Hứm, hoa với hoét, nàng với chàng, ví von xưa thế, chưa già đã cũ... Thế thì khác đi. Con bé hứm. Không khác, không khác đấy...” Rồi hắn đi. Đi mà vẫn thoang thoảng nghe thấy tiếng con bé khi đó, nhẹ như con gió, nhẹ và mảnh như sợi tơ, nhẹ lắm, hình như nó không “mày tao” thì phải. Nó gọi tên hắn. Tiếng con bé nhỏ, nghe mỏng tang, tan trong không gian và thấm vào đầu hắn, hắn hít hà, nhấm từng từ, chầm chậm, nhè nhẹ. Hắn lâng lâng sướng. Ôi, cái đại từ nhân xưng rắc rối mà sao lại hay thế. Hắn thấy yêu làng quê hắn quá.

 3.Mơ hoa 

         Lâm bây giờ, tức là hắn ngày xưa, thành lính biên phòng, đang những ngày huấn luyện đầu tiên của khoa mục hành quân dã ngoại làm bạn với núi rừng. Đây là chương trình vất vả và vô cùng cần thiết, nhất với lính biên cương. Hắn biết sau đợt này, sẽ về làm bạn với rừng núi và những bản làng lưng chừng mây gió, có chút gì đó hoang sơ, pha cả chút gì đó thần tiên mộng ảo. Cái tên hắn như đã định ở số trời, hắn thầm tự hào với khả năng hiểu rừng của hắn. 
        Cái tỉnh biên giới heo hút này đang vào những ngày mưa. Hắn thích ngồi ngắm mưa. Có lẽ do tâm trạng nhớ buồn và xa... Những ngày mưa, thường rỗi rãi, lính mà, hắn thỏa sức ngắm mưa, những hạt mưa rừng như to hơn, nặng hơn nơi quê nhà, càng xói thêm nỗi nhớ quê hơn. Hắn đóng khung tâm hồn trong im lặng và thả suy nghĩ về với cái làng xa xăm vùng đồng bằng đó, nơi hơi thở quê luôn dào dạt. Nhịp điệu làng cũng bất ngờ, đa dạng, có khi bất chợt bùng lên ào ào như cơn mưa rào, có khi hừng hực như nắng trưa tháng năm, có khi dịu dàng, nhẹ nhàng như các đợt sóng mùa vui ấm áp. 
        Mưa to, mưa trắng trời. Hắn thích, càng to càng thích. Hắn ngồi ngắm hàng giờ những đợt mưa kèm giông gió, sấm chớp. Từ khi trời còn sáng rồi mây vần vũ, rồi trời tối đen, rồi những hạt mưa rơi bộp bộp một cách nặng nề, rồi một tấm màn khổng lồ bàng bạc nhàn nhạt, trăng trắng hạ xuống, giăng rộng ra, che mất tầm nhìn, biến khoảng cách không gian gần lại. Lâm mới hiểu ra, hiểu đúng cái cảnh, người xưa nói mưa trắng trời ra sao. Không còn nhìn thấy cánh rừng phía xa quen mắt nữa. Màn mưa đã giăng màn che khuất. Lâm thấy cả đúng và cả đẹp. Cái đẹp trong tâm trạng u hoài, ngấm cảnh chiều buông, khói lam với những tiếng mưa rả rích, đều đều ướt sũng. Tâm trạng của Lâm không như người xưa, trong cái buồn u hoài, Lâm còn nhìn ra cái đẹp của đất trời huyền ảo. Đúng là do không trong cái tâm thế của người “trông trời, trông đất, trông mây...” nên Lâm chẳng nghĩ nhiều về những điều bất trắc, nên thấy mưa rừng đẹp và chỉ duy nhất, ngẫm về sự biến ảo của đất trời . 
        Hắn im lặng ngây người ngồi nhìn mưa xối xả. Nghe tiếng mưa rơi trên mái lá, hắn nhớ tiếng vó ngựa đồn dập, thấy tiếng lộp cộp của vó ngựa gõ trên đường sỏi đá... mà dạ nao nao. Hắn nao nao vì cả trời đang mưa và vì cả sự xả thân các tráng sĩ ngồi trên lưng ngựa, lách cây rừng nơi biên ải xa xăm. Và hắn thương, hắn động lòng thương người tráng sĩ, những người bạn của mình, đang nơi tít tắp trời mây để thực thi một công vụ. Gặp ngày mưa, biên giới xa xăm đó chắc càng não nề. Cái não nề thê lương có đan xen mối hoài cảm mịt mùng xa cách. 
        Nơi xa ấy... mưa. Một ánh chớp cửa rừng. Mưa rừng sao mà như thác đổ. Tiếng nước chảy xé rừng, tiếng nước suối chảy xối, ngày thường vẫn sắn quần lội qua, nay réo ào ào tạo ra sự đe dọa cuốn theo dòng bao nhiêu rều rác và cây rừng. Có cả những tiếng hú của thú lẫn trong gió, nghe âm u, hoang dã, rùng rợn ngập tràn bí hiểm. Lâm nhận ra, tiếng hú giống như sự mời gọi về tụ họp. Còn nỗi cô đơn chỉ là một tiếng thở, rơi buột tõm vào không gian mênh mang. Có đông đảo mới tạo thành những tiếng ầm ầm gào xoáy, còn cô đơn như bị chìm khuất đi. Dòng nước từ mọi ngóc ngách, thâm bí của rừng già đang tập hợp lại, tạo thành sức mạnh của dòng thác. 
         Lâm nghiêng người nằm trên võng cho đỡ lạnh lưng, bên dưới tấm tăng vuông, mắc thấp và nghiêng thành mái để kín gió và chống hắt. Tấm tăng khi mang ra mắc, vẫn chưa kịp khô, hơi nước đọng lại đêm hôm trước, mặt tăng bết dính, chảy thành giọt. Cảm giác một khoảng không gian mênh mông trở nên đặc quánh những hơi nước là hơi nước. Lồng ngực phập phồng nhận rõ luồng không khí ẩm, thấm vào ngõ ngách hai lá phổi đang căng tràn, phô phang sức sống hừng hực của tuổi trẻ. Hắn nghĩ về bông hoa xinh đẹp của hắn. Chẳng gì thú vị hơn được rảnh rang nằm võng giữa rừng, nghĩ về người mình mong nhớ. 
Mưa xối xả đưa hắn lang mang về một nơi xa, chẳng rõ là đâu thì bỗng như thoáng thấy một bông hoa đang lay lứt, như bất chấp gió mưa phũ phàng, phô ra sự tươi tắn bên cây cổ thụ chằng chịt những dây leo, loại dây leo có thể gặp trên mỗi bước chân trong rừng. Lâm dụi mắt nhìn lại, không thấy bóng dáng bông hoa đâu. Lạ, sao đó mà “nàng” đã biến đâu... 
        Không chờ những tiếng vó ngựa rào rào trên mái tăng ngớt, hắn nhổm dậy, quờ đôi dép, chạy đến phía gốc cây bám đầy dây leo, vạch lá tìm bông hoa mà Lâm thoáng gặp trong lúc đầu óc lang bang, thả hồn rung rinh theo nhịp võng. Không thấy. Hóa ra mình mơ, hắn lẩm bẩm một mình. Cố vạch đám lá rậm rì của dây leo, thêm một lần tìm bông hoa, cứ như hoa là một người con gái hoá thân, một nàng tiên cần tìm của cuộc đời. Ồ, đây rồi. Hắn reo lên thích thú khi ngẩng đầu lên cao. Nàng Phong Lan của hắn đây rồi... Thoáng nghĩ “mình không nhầm”. Và mừng hơn, bông hoa vẫn tươi nguyên, cái sắc tươi của ngày mới, của mùa xuân, của tươi trẻ. Bông hoa đang he hé mở, nàng hoa như nụ vừa mở mắt, như đang chúm chím một nụ cười, nụ cười giữa rừng già huyền bí, nụ cười kéo dài thành chuỗi. Ôi, đẹp thế! Lan gì nhỉ? Hắn không biết. Họ hàng nhà lan có cả trăm loại, hắn có phân biệt được đâu. Loáng sáng ánh chớp, hắn thấy cái đuôi sam của con bé. Đúng rồi, Lan đuôi sam. Úi chao, thiệt hay, mình phải kể chuyện này với nó. Hắn thầm cám ơn đám dây leo, những hạt mưa chí chát kia đều bị chằng chịt các ngọn lá của đám dây leo đỡ bật ra ngoài, nụ hoa mới hé vẫn vẹn nguyên trước phũ phàng mưa gió. Một bí ẩn của cuộc sống tự nhiên hay là sự bảo vệ, đùm bọc lẫn nhau của thiên nhiên. Vậy cả thôi, đó là sự cộng sinh như các nhà nhiều chữ nói. Hắn không nỡ hái bông hoa. Cái tươi tắn kia sẽ bị chặn đứt bởi sự vô tình, cái khô héo sẽ nhanh đến hơn, cuộc đời đâu ngắn vậy... dẫu đấy là một bông hoa. Bông hoa “lan đuôi sam” của hắn đang vào thì và khi hoa đến thì, nó phải khoe sắc, khoe hương, dẫu đây đang là thâm u rừng già và mưa gió. Hắn nghĩ về cái đuôi sam lắc lư đang ở đâu đó, có “Được...” không? 

 4.Thì thầm nơi trời mây 

         “Mình sẽ kể cho “nhà” mình”. Bất chợt, hắn nhớ ra cái từ rất chi là cổ, bây giờ chả mấy ai dùng. Đời lính, nhiều lúc cô đơn. Những lúc cô đơn thì nhớ nhà, tự dưng cái “nhà” hiện ra. “Nhà” có nghĩa là cả chồng, cả vợ. Nó cũng giống như “mình”. Nhưng “mình” nghe có vẻ hơi sang. Hắn muốn bình dân. Thằng nào có vợ con, người yêu cũng đỡ cái nỗi cô đơn nhưng lại thăm thẳm nỗi buồn nhớ. Nhớ nhà! Nhưng hạnh phúc vì còn có chỗ mà gửi nỗi nhớ. Hắn đã có người để nghĩ, hắn nghĩ về cái nơi xa đó nhiều lắm, nhất là những ngày đầu, hầu như chẳng lúc nào quên nhớ. Cái nhớ làm mọi thứ qua nhanh, ngày giờ qua nhanh, đường xa dặm dài qua nhanh, thậm chí mưa gió cũng qua nhanh, chỉ còn lại nỗi nhớ. Nhớ gì mà tim đập bồi hồi, mà da diết sâu lắng, mà hồn lại bay bổng phiêu diêu nhường vậy. Tôi nhớ “nhà tôi” hắn thì thầm trong đầu như thế. 
        Vậy là tiếng vó ngựa biên ải chỉ là suy nghĩ lãng mạn của thời học trò trẻ con, cố gắng hình dung “ba năm trấn thủ lưu đồn” của những người lính biên cương ngày xa xưa. Xe hôm nay đưa bọn tớ về đến tận huyện lỵ trên cái con đường chẳng ra đường, xe xóc đến lộn mửa. Tự nhiên tớ nghĩ về ngựa và lính biên phòng. Ngựa thích hợp với đường núi, nước mình chưa thể một chốc một nhát đi lên tàu bay, về xuống tàu bò được. Và cái bài ca ca ngợi người chiến sĩ biên thùy lại văng vẳng bên tai tớ. Tớ nhắc đằng ấy , tớ là chiến sĩ biên cương. Nghe “biên cương” đằng ấy thấy xa không? 
         Sáng sớm hôm đó, còn chưa rõ mặt người, chim rừng như vẫn còn ngủ, mặt trời chưa chịu lên, đã bị đánh thức dậy: “Ngày hôm nay, sớm muộn chúng ta sẽ đến đích”. Anh lính trẻ măng, nhưng chất dạn dày mây gió đã có trên nét mặt, chờ sẵn ở xã, để đón tân binh nói. Mọi người nhận xuất ăn, chúng ta sẽ ăn cơm nắm buổi trưa. Nhớ chuẩn bị nước đầy đủ và uống tiết kiệm. Anh nói thêm: “Sau vệ sinh cá nhân, mọi người ăn sáng và nhận phần cơm trưa, để lên đường sớm.” Anh lại đe thêm một câu “Mệt mỏi đấy, các bạn hãy xác định trước... Mỗi bước chân trên đường sẽ là một thử thách phải vượt qua... ba chục cây số, hành quân trong một ngày.” 
        Những ngày huấn luyện, tớ đã biết thế nào là hành quân bộ. Và hôm nay, tớ thầm nghĩ, chắc mới thực sự là lính biên phòng. Sau cái phút xủng xoảng xốc ba lô lên vai, thử mọi thứ xem chắc chắn chưa, thì chỉ còn âm u màn sương và cái vùng núi này vẫn trầm mặc tĩnh lặng đến tận cùng nấc trầm của khuông nhạc.  
Đâu đó có le lói ánh đèn dầu buổi sớm. Còn sớm mà. Hít một ngực đầy căng không khí trong lành, rồi thở một hơi dài thành tiếng kêu phù phù, anh lính trẻ nói to: “Nào các bạn, lính biên phòng, hướng trên cao phía trời mây, tiến lên...” Câu nói bộc phát tự nhiên mà nghe như lời bài ca, hắn cũng thấy xúc động. Trong chốc lát, những bước chân đưa những người lính xa dần những mái nhà vốn đã thưa thớt ở một miền hẻo lánh, đến gần thêm với thâm u rừng, với dốc khe, với sỏi đá. Đoàn lính vác ba lô lầm lũi trên đường mòn, về nơi đóng quân. 
        Chẳng biết hắn và đồng đội đã vượt bao nhiêu cái dốc, bao nhiêu đoạn vòng vèo, những cái dốc rất lạ, dốc bám đuôi (thằng lính phía trên đạp đầu thằng lính phía dưới), dốc hết hơi, dốc méo mặt, dốc ngồi thở, dốc và dốc... những cái vòng vèo chữ o méo mó, những cái vòng cua như khuỷu tay, những cái đoạn bên cao là núi, bên dốc là vực, nhìn chóng mặt. Tất cả mọi tên gọi đều toát lên cái gian khổ của lính trên đường đi mà thôi. “Đấy là đường đến với những người lính, hãy đến với lính nhé, muốn đến chỗ chúng tôi hãy “Chân đạp mây bay, tóc vờn gió núi là đấy* (Thơ Lưu Trùng Dương)”. “Đằng ấy biết không, ngày đầu tiên mà tớ cảm được cuộc sống của lính biên phòng là như vậy đấy.” Vừa đi hắn vừa nói chuyện thầm với con bé của hắn. Chừng đã đi được hai giờ đồng hồ. Lệnh nghỉ giải lao. Lính bỏ ba lô, phệt xuống đất, ngồi thở, nhâm nhi hụm nước gạo rang. Sau mười phút nghỉ, đi thêm hai tiếng nữa, nơi rất nhiều cây to, bóng mát và có cả suối nước chảy, chừng đã được nửa đường, vậy mà chỉ được hơn chục cây số. Đường dốc, anh lính trẻ đón tân binh nói “ngày đẹp trời, không bị mây che tầm mắt, đứng đây, có thể nhìn thấy chỗ sáng chúng ta xuất phát. Con đường ta vừa đi trông giống một con trăn khổng lồ vắt mình từ đồi này sang đồi khác, từ núi nọ đến núi kia, viết tiếp con đường hạnh phúc mà cha ông ta đã viết”. Lệnh nghỉ, dừng ăn cơm nắm và nghỉ thêm nửa tiếng. Ôi chao, lính vậy đấy. Những lát cơm nắm đã nguội, vỏ ngoài se cứng được chấm với muối vừng. Muối vừng nhưng trắng toát màu muối, muối nhiều hơn vừng đằng ấy ạ. Mặn. Chúng mình đã đọc trong sách và biết vùng cao thiếu muối, nhưng bữa nay ở đây không thiếu. “Lính đấy, lính mà em!” phải chịu đựng thôi. Ăn cơm nắm muối vừng của lính nhớ cơm nắm muối vừng của mẹ. Sao của mẹ ngọt bùi thế. Hắn ăn xong, uống xong, chọn một bóng râm và gối đầu lên ba lô, miệng ợ lên vị mặn của muối, lơ mơ về con bé của hắn, nghĩ về nếp nhà xa xôi... Hắn biết rõ, khi nghĩ về “nhà tôi”, hắn quên tất cả mọi mệt nhọc. Tình yêu là thế, hắn nhận ra thêm cái hay của cái sự yêu. Rồi lại một khẩu lệnh từ anh lính trẻ, nhưng đã vương chút gian nan làm bạn với cả mây cả gió: xốc lại ba lô, lên đường, anh em. Cái khẩu lệnh chẳng có vẻ quân sự gì hết nhưng mà vậy thích hơn những giọng giật cục, dứt khoát kiểu lính. 
        Vâng, cuộc sống trên đồi mây, nơi đóng quân, đúng là một bài ca, bài ca gian khổ. Cái gian khổ của người lính xứ mình thì thời nào chẳng như thời nào. Tớ và đằng ấy đã biết, cha ông ta nơi biên cương ngày xưa, qua ca dao “miệng ăn măng trúc măng mai, những giang cùng nứa...” của những người lính “trấn ải lưu đồn”. Ngày nay, người lính cũng đâu đã khá, những “anh đưa em đi hái măng rừng cũng là để chống cái đói cái thiếu mà thôi. Là lời ca tiếng hát thì đẹp lắm, lãng mạn, mộng mơ lắm. Anh đưa em đi hái măng. Hái măng thì vào rừng. Anh và em vào rừng thì người ta nghĩ đến là để yêu, chứ còn gì nữa? Vào rừng tâm sự, chỉ có anh và em. Lãng mạn, bay bổng, bay hết cỡ vì rừng chỉ có riêng ta... Nhưng nếu đói vàng mắt mà không kiếm măng, kiếm rau thì sẽ chết đấy ạ. Lính biên phòng biết rõ điều này hơn hết.
 Trong hoàn cảnh ấy, chẳng một người lính nào có thể nuốt trôi miếng cơm, nếu không chia bớt một phần của mình cho đồng bào, những người dân, do còn lạc hậu, bữa ăn chỉ quanh năm măng với mài... Mà số phận như đã chỉ tên, đặt lên vai người lính. Ở đây, người lính biên phòng luôn đối diện, không bao giờ ngoảnh mặt với những hoàn cảnh như vậy. 
     “Bọn tớ phải nắm địa bàn. Nắm địa bàn cũng nhiều chuyện thú vị. Nhiệm vụ chính trị này của anh bộ đội không ở đâu thể hiện rõ bằng ở với bộ đội biên phòng. Nắm địa bàn tức là cùng ăn ở, sống chung với dân. Phải hiểu mọi tập tục của họ, phải tâm tình được với họ. Phải biết tiếng của họ thì mới tâm tình được chứ. Đó là chia ngọt sẻ bùi với đồng bào nơi đèo heo hút gió này. Có hiểu cuộc sống của đồng bào, đồng bào có tin yêu thì mới giữ được an ninh biên giới. Đấy là cuộc sống cũng là số phận của lính biên phòng mà. 
        Ở đây, nơi thâm sơn cùng cốc này, phong tục nhiều cái lạc hậu lắm. Đặc biệt chuyện nam nữ. Quan hệ rất tự do, tự do hơn Tây! Chính vì những quan hệ cận huyết không được chú ý, sức khỏe người dân rất kém. Thêm nữa là nạn tảo hôn. Con gái mười lăm mười sáu đã con bồng con bế rồi. Lính biên phòng bọn tớ phải làm sao để bớt những hủ tục đi. Nói vậy thôi mà khó lắm đấy, đừng tưởng... Nhà có hiểu không?
 Hắn nhắm mắt tưởng tượng ra câu chuyện với Mơ, nhơ nhớ cái đuôi sam của nó. Hắn cười nhấm nhấm vị chua của quả mơ hay cái Mơ không biết nữa. Nhưng rõ ràng hắn đang cười, nụ cười từ cái tình yêu sâu xa với “nhà tôi” khiến hắn quên đi những khó khăn vất vả nơi đây. 
    Hắn kể chuyện tình cảm cho cái Mơ: “Con gái trên này cũng nhiều đứa xinh lắm, da nõn nà như trứng gà bóc, đặc biệt về mùa xuân. Các cô từ mọi bản làng nằm sâu trong các ngõ ngách của cao nguyên đá, bung ra như những bông hoa với nụ cười như nắng tỏa. Má các cô gái đến thì, cứ đỏ như quả đào. “Má đào” là ví má các cô gái có sắc hồng đo đỏ đó. Trong cái nắng vàng ấm áp của mùa xuân, mặt các cô gái bừng lên sắc hồng phơn phớt tươi trẻ. Cái sự nõn nà và cái tươi trẻ là nói về cái sắc, cái hương của con gái. Nó tồn tại ngắn lắm. Thoáng như một cánh chim, nhẹ như một đám mây, sau đấy ta gặp lại, người con gái đẹp đó có thể đã thành bà mẹ. Mùa xuân không ở lại lâu lâu với người con gái miền núi đâu. Đó có phải là số phận? Nghĩ như vậy, tớ thấy thổn thức và nao nao cái gì ấy. 
    Khi yêu nhau, họ trao nhau tiếng hát, tiếng khèn, hẹn nhau lên núi. Rừng núi là nơi tỏ tình tuyệt vời của trai gái. Tiếng hát của họ cũng vô cùng chân thật, chất phác, xuất phát từ ngay chuyện tình yêu cuả họ: “Anh bảo anh nhớ em, anh thương em, vậy mà sao anh để em chờ lâu vậy. Nhà anh cách nhà em chỉ có một quả đồi và vài con suối mà sao hôm nay là ba hôm, anh chưa đến với em. Lòng em lúc nào cũng tưởng bên anh. Anh nói nhớ em thì đến với em đi, ở lại với em đi...” Tiếng khèn, tiếng đàn môi người trai khi réo rắt, khi mềm mại, lúc chiều chuộng và gợi cảm lắm, cũng đôi lúc trách móc, cũng đôi lúc hờn dỗi, nhưng tất cả chỉ là vì yêu. Người trai nghe xong thì trả lời thế này: “Anh nói nhớ em là nhớ thật lòng. Trong anh chẳng còn ai hết ngoài em. Nhà anh xa, những một quả đồi và mấy con suối, để đến với nhau, anh phải lo và sắp xếp mọi công việc. Chúng ta yêu nhau thì hãy biết tin nhau, chờ nhau. Sau này, khi về với anh, anh lúc nào cũng bên em, chúng mình bên nhau cả đời...” Và họ rồi trao thân cho nhau. Tự nhiên, không gượng ép. Thần rừng, thần núi chứng kiến tình yêu, hạnh phúc của họ. Cái đó tạo sinh những kỷ niệm đẹp, đẹp để rồi nhớ nhau suốt đời. Nó đơn giản như ở dưới xuôi, “trai gái cầm tay nhau là nhớ nhau suốt đời” ấy mà. À mà, tớ đã cầm tay nhà rồi đấy. Nhớ nhau cả đời nhé. Hắn nhớ đôi bàn tay nhỏ mềm của con bé. 
    “Nhà nó” ạ, nơi đây xa lắc và heo hút, cũng có những lúc bay rất bổng. Thú vị lắm, chẳng gì thú vị hơn vào đêm trăng sáng, ngồi trên mỏm đá cao nhất giữa các mỏm đá, giữa mây và gió với ngươi yêu, với cây sáo Mèo, giọng trầm hạ xuống ở mức thầm thì, hát bài hát tình xưa, ông bà mình cũng từng hát, cái ngày xưa, có hồi, thằng trai nào cũng mong muốn: “nếu em nói yêu anh, ta về ta ở với nhau một đêm, đêm đó là đêm của chúng ta, đêm đó là đêm của những người yêu nhau, của đôi ta, chúng ta là của nhau” (Ý bài hát của Nguyễn Văn Thương). Khi thầy phân tích mối tình của Mỵ với A phủ và so với dưới xuôi, bọn con gái ngượng, chẳng đứa nào nói gì cả. Giá như “nhà nó” ở đây, tớ sẽ để “nhà” được nghe lại bài hát đó, rồi lại được thấy động tác che mặt ngượng rất duyên ngày nào. Hắn bảo hắn rất thích khi thấy con bé che mặt xấu hổ. Ông nhạc sĩ viết về vùng cao thật đúng cái lý người Mèo, cách nói người Mèo, chứ không nói theo lối người Kinh, mà ông bà ta xưa cũng tợn đấy chứ, “nhà” nhớ không: “Yêu nhau cởi áo cho nhau/ về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”. Các cụ cũng kinh phết đấy chứ, phải không? Chắc khi yêu, ai cũng giống nhau, phải không? 
    Có điều, không phải chỉ trai gái cùng dân tộc, họ yêu nhau và đưa nhau vào rừng để yêu như vậy đâu. Con gái dân tộc cũng rất yêu trai dưới xuôi, người kinh mình ấy. Bộ đội biên phòng là đối tượng để các cô gái yêu và là nỗi ghen tức của các trai bản, nếu người trai đó không làm được việc tốt cho bản, không được dân bản yêu. 
    Lâm chẳng có tài cán gì nhưng vì hắn đã học xong cấp ba, hắn vào loại nhiều chữ nhất đơn vị, được phân công làm giáo viên cho bản nơi đóng quân, thậm chí còn cáng thêm cả mấy bản khác, mà để đi được đến nơi, cũng phải mất cả buổi, cũng phải vượt nhiều dốc, lội nhiều suối lắm. Vậy ra, hắn cũng là người có công và làm được việc tốt cho dân với bản, không chỉ một mà là nhiều. Hắn được con gái bản mê, trai bản nhiều đứa ghét. 
    Vì mất nhiều thời gian đi lại, hắn đề xuất với đơn vị và các bản, làm một lớp học ở trung tâm, sao cho học trò đi lại thuận lợi và thầy giáo cũng có nhiều thời gian dạy bảo nhất. Vậy là ngôi trường chỉ duy nhất chỉ một mái nhà, cho bốn lớp học khác nhau, được mọi người góp công dựng lên. Những ngày đầu, vận động mãi, trường chỉ vẻn vẹn có một chục học sinh. Vậy mà “nhà” biết không, giờ đã gần hai chục đứa. Đến lớp vui lắm. Có đứa mười lăm tuổi, xinh lắm, rất thích anh lính làm thầy giáo đấy. Hắn bỏ lửng chuyện bản làng ở đó, đúng cái kiểu các cụ “người khôn ăn nói nửa chừng/ để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo”. Khôn phết. 

5.Con đường phía trước 

     Nhưng cái Mơ, con bé ngày xưa, “nhà” của hắn (hắn tự vơ vào thôi) bây giờ, là đứa thông minh, nó không nhắc gì đến sự dễ dãi, tự do yêu nhau của “đồng bào” mà thằng bạn học đã thành lính biên phòng kể cho nó nghe. Viết thư nó bảo, mày rỗi chuyện, toàn kể chuyện yêu đương lung tung. Sau đó cuối thư, nó lại viết, như để an ủi thằng bạn, kể ra, để giết thời gian, đọc thư đằng ấy cũng thích, biết thêm về “lính mà... anh, đằng ấy nhỉ”, lại thấy nhớ xưa, nhớ mày... Hắn nghĩ, con bé đuôi sam của mình quá siêu, bây giờ cái thằng “nửa mừng nửa lo” lại là mình. Chẳng hiểu ý con bé thế nào, cứ tưởng gần rồi lại xa, xa rồi, nó cho một câu “lính mà... anh” “nhớ xưa, nhớ mày” lại tưởng đã gần lắm, đến đích rồi. 
    Cái Mơ học giỏi từ bé. Hồi cấp một, con bé chẳng mất nhiều thời gian cho học hành vậy mà chỉ nghe thoáng thôi, cái gì nó cũng biết. Ngay từ nhỏ, nó đã có trí nhớ cực siêu. Vào cấp ba, con bé vẫn giỏi toàn diện, nhưng nó thích toán. Thời đó, chẳng mấy đứa con trai sánh được nó. Hắn còn nhớ mãi cái bài kiểm tra, nó nhất lớp và hắn bét lớp. Sau đó, con bé tự động sang phụ đạo cho hắn. Hắn nhớ hắn trả công bằng những quả mơ, nhưng bị chê. 
    Mơ vào đại học, tổng hợp toán. Con gái học tổng hợp không nhiều, cũng không xinh như bên sư phạm. Vậy mà, chiều chiều, cổng trường vẫn vô số các chàng trai đón đưa, lượn lờ như ong tìm mật. Nhiều nhất vẫn là các cô bên tổng hợp văn. Con gái văn chương mơ màng, lãng mạn và giỏi giao tiếp. Mơ thuộc diện hiếm đặc biệt. Vừa là gái vừa xinh vừa là của hiếm của khoa toán, mà chẳng chàng nào đưa đón được. Khoa toán ít nữ, các chàng bâu quanh đầy, chẳng kém các cô gái với những đôi má đào ửng đỏ trong nắng mùa xuân vây quanh chàng lính biên phòng xa tít tắp. Mơ học giỏi, điểm vào diện nhất nhì khoa. Bọn trai gọi con bé là em Mơ “toán”. Em Mơ “toán” đã có người yêu là lính. Bọn trai vẫn đung đưa, lượn lờ bên khoa toán kháo nhau. Chúng biết được qua những bì thư mà em Mơ “toán” nhận được hàng tuần. 
    Mỗi lần nhận được thư của anh lính nơi biên ải xa xăm, nhắc con bé nhớ đến “bài thơ tình” của chị. Một cái gì đó đăng đắng, nghèn nghẹn dâng lên trong lòng. Mơ nghĩ về những người lính mà chị em nó quen biết thân thiết, có cái gì đó khác nhau mà lại vô cùng giống nhau, như một sự đối xứng. Một chàng ở biển còn chàng kia ở rừng. Con bé cười, một chàng theo mẹ, một chàng theo cha. Biển phóng khoáng còn rừng trầm tư. Hai tính cách? Một là dòng sông êm ả, chảy qua vùng châu thổ, tạo nên những cánh đồng thơm mùi đồng đất, rơm rạ và bên kia là những suối, những khe luồn sâu đâu đó trong rừng già, chảy quanh những quả đồi, mỏm núi lồng lộng mây bay, gió thổi. Một khác là sục sôi, gào thét khi giận dữ, nhưng khi êm đềm thì cái mênh mang của nó lại giống mặt hồ, một tấm gương phản chiếu cả bầu trời, ôm cả bầu trời, muốn yêu cả thế gian.
     Có thể vì mối quen biết, con bé yêu thích cả hai. Thì đấy, những mùi thơm, những cánh hoa, những hương sắc chẳng luôn quyến rũ mọi sinh vật đó sao. Ngày xa xưa đó, rừng hấp dẫn và huyền bí bởi trong rừng còn có những nàng công chúa và hoàng tử, có cả bà Tiên, ông Bụt, có cả phù thủy và thú dữ. Tình yêu có màu sắc thiêng liêng mà những mà bà tiên, ông bụt là những người nhân hậu, luôn người bảo vệ những kẻ yếu thế . Và biển đấy, biển ầm ào sóng vỗ, biển xanh mênh mông và sâu thăm thẳm, biển chất chứa vô vàn những câu hỏi dưới đáy sâu. Cả rừng và biển vẫn đấy với những chất chứa, bí hiểm sâu thẳm của riêng mình, mà con người đều muốn khám phá. Từ suy nghĩ tự nhiên, vớí tư duy phát triển, con bé thích và yêu cái hồn nhiên, đa dạng, độc đáo kể cả huyền bí nữa. Muốn vậy phải đi xa và bay cao. Biển và rừng là những nơi còn đầy những điều kỳ diệu mà con người chưa biết. 
    Con bé sớm nhận ra rằng, những “bài thơ tình” của chị em nó, những bài thơ được viết lên bằng tình cảm trong veo của thời học trò trong trắng, tinh khôi có sức nặng riêng. Cái đó chẳng có gì sánh nổi. Những cái đó gắn với một thời thơ trẻ, gắn với quê hương. Những ong bướm dập dìu, lượn lờ chỉ là những cảnh sắc tô điểm, làm nền thêm cho một bông hoa, bông hoa đang kỳ tỏa mùi hương tự nhiên quyến rũ.
     Có cái gì đó dìu dịu ngọt ngào xen với tự hào con gái, nhưng những niềm vui không thật lắng, khi bọn trai cùng khoa vây quanh, tán tỉnh hoặc ít ra cũng có chút gì đó tỏ lòng ái mộ con bé đuôi sam. Con bé nhận ra điều đó khi nhận được thư của hắn. Đúng là bài thơ tình êm đềm của con sông quê mang dấu ấn rất nặng. Nhận được thư hắn, con bé lại quay về với tuổi thơ trong vắt ngày nào. Con bé bỗng nhớ đến câu chuyện rất vô tư của chàng lính biên cương: “Tao không đái đầm nữa rồi mày ạ...” Chắc nó định nói rằng bây giờ nó lớn, nó không sợ ma nữa, nhưng nó nói cụ thể quá nên ra như vậy. Con bé mỉm cười, vấn lại cái đuôi sam, dài quá lưng, ở lớp chẳng đứa con gái nào có, ý nghĩ bênh vực hắn: “Chẳng qua cu cậu ngố...” Bọn trai như những con ong vây quanh bông hoa, muốn hút hương thơm, mật ngọt, có thể sánh nổi chuyện rất ngố của hắn không? Các chàng trai khoa toán có ưu thế về cự li nhưng thật xa lạ với ký ức áo nâu, mùi thơm bùn đất, mùi hương rơm rạ, mùi hoa đồng nội, nơi quê nhà con bé. 
    Và thế, con bé viết: “Chào người chiến sĩ biên cương, người gìn giữ biên ải, nơi đầu sóng ngọn gió, người canh giữ phên dậu nước nhà. Ở nơi xa xôi thâm căn cùng cốc đó còn sợ ma không, nói thật đi. Lớn rồi, chắc chững chạc hơn. Vậy thì khá, không còn như ngày lớp một, lớp hai, nhỉ? Này, không hiểu sao, tớ hay nhớ về bài thơ tình của chị Mai. Hôm rồi, tớ bỗng nghĩ ra, chị Mai tớ thì đi với biển, còn tớ, tớ đang dính vào núi rừng. Hai chị em tớ khác nhau tí chút về tính cách nhưng sao lại cùng dính vào hai anh lính có cuộc sống gió sương, bão bùng thế nhỉ. Tớ chưa thật hiểu cái gian khổ của người lính. Tớ chỉ thấy ngợi ca. Trong hoàn cảnh vô cùng khốc liệt cũng thấy ngợi ca. Ngợi ca để động viên nhau hay để ta quên đi cái đích mà con người phải phấn đấu đi đến, đi đến điều tốt đẹp. Bài thơ tình thường là bài thơ đẹp, phảng phất trong đó một chút nhớ, một chút hờn và đương nhiên, cái kết là hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Với tớ, hiện nay hạnh phúc là kỷ niệm xưa đẹp đẽ. Có cái ngày xưa đẹp đẽ để nhớ là hạnh phúc. Lại hỏi, thế nào là đẹp ư? Đừng hỏi! Nó là cảm nhận mà cảm nhận là thứ khó giải thích. Nó không rạch ròi và đừng đòi hỏi rạch ròi. Chỉ có sự nhạy cảm mới nhận biết được nó. Bài thơ tình của chị Mai là đẹp, đẹp ngay cả khi mất mát. Cái đẹp đó có phảng phất chút linh thiêng. Kỷ niệm của mày và tao là đẹp. Đẹp vì có cái ngố của mày, đôi khi, cái ngốc nghếch lại trở thành đáng yêu. Mày thấy vậy không? Nhớ này, các cô gái dân tộc có bùa mê đấy. Tao đã nghe kể rất nhiều chuyện về những người đi bè lên mạn ngược và không trở về vì vướng duyên tình với các cô gái xinh đẹp như hoa mai, hoa đào, như ánh nắng ấm áp mùa xuân ấy đấy... Chào người chiến sĩ biên cương nhé. Con bé nhà hắn buông lời dặn dò cuối thư, như lời nhắc nhủ. 
     Đang ngon lành đến cuối câu chuyện, con bé lại phang “mày tao”. Cứ tưởng cổ tích là kết có hậu. Hắn chưng hửng, cứ tưởng con bé sẽ thay đổi cách xưng hô, vậy mà lại bị gây khó... Đọc thư của con bé, hắn vừa cười vừa cau có. Nhưng chắc hắn không dám kể với con bé là hắn cau có. Dám chắc vậy. 
    Thư khác, đằng ấy còn nhớ chuyến đi chơi vô cùng thích thú bằng thuyền với bài thơ tình của chị Mai không? Nhớ chứ nhỉ? Đêm đầu tiên ngắm sao, nói chuyện với bài thơ tình của chị Mai, anh kể: Ở một nước nọ. Bài thơ tình của chị vẫn coi mình như trẻ con, hóng nghe truyện cổ tích. Mày thấy anh ấy mở đầu đúng là cổ tích chưa? Ở một nước nọ, xa lắm, có một phong tục rất linh thiêng với người dân xứ đó. Chuyện là: Có một gia đình làm nghề đánh cá, họ rất yêu thương nhau. Như thường lệ, hàng ngày, chồng đi biển đánh cá, vợ ở nhà lo việc nội trợ. Người chồng trước khi ra biển bao giờ cũng ôm chặt vợ và nói, đợi anh mang quà của thần biển về cho em. Em ở nhà không được tự ý thay đổi hay xắp xếp lại bất cứ thứ gì trong nhà. Anh chỉ dặn vợ mỗi khi ra biển mà thôi. Người vợ ở nhà luôn nhớ lời chồng dặn và làm tròn công việc của người vợ. 
    Có một chuyến biển của người chồng kéo dài hơn thường lệ. Đến vùng nước mà anh thường buông lưới, anh thấy mặt nước có vẻ khác thường, sóng êm lăn tăn và dưới làn sóng êm ả lăn tăn đó, thấp thoáng bóng một cô gái. Anh nghĩ, “nàng tiên cá”. Cô gái bơi nhẹ nhàng như một chú cá heo. Ra biển gặp cá heo là điềm tốt. Biển rì rào, sóng quyện gió du dương như một bài ca. Cá heo dẫn đường, đưa thuyền của anh sang một vùng khác, một vùng nước trong vắt, với những lâu đài, cung điện nguy nga. Anh nghĩ ngay đến cô vợ đang ở nhà và câu nói thường trực “Đây chính là quà của Thần biển cho anh. Anh nhảy xuống và thấy chân chạm đất, không phải nước nơi con thuyền đánh cá vẫn đậu. Anh nhặt một viên sỏi dưới chân, cầm lên, đó lại là viên ngọc. Anh mang mang nhớ về lời hứa với vợ. Có điều lạ khi dứt khỏi cơn mê, anh chồng lại thấy mình vẫn neo ở chốn cũ, những lâu đài, cung điện biến mất. Anh tát vào má mình liên tục mấy cái để xác định. Đúng, vẫn là anh và vẫn là chốn xưa quen thuộc. Thế còn viên ngọc? Anh sờ nắn mọi chỗ, chỉ thấy một viên sỏi, chính viên sỏi mà anh đã nhặt lên chốn thủy cung xa lạ.. 
     Về nhà, anh kể chuyện cho vợ. Người vợ khuyên, cuộc sống của chúng ta như vậy là được, em không muốn gì hơn, nếu luôn có anh ở bên, anh là tất cả. Nhưng ấn tượng về cái nơi kỳ bí với làn nước trong và những lâu đài, cung điện khiến anh luôn nghĩ về nó. Anh muốn khám phá hay lòng tham mê hoặc? Anh có bị cái lộng lẫy cuộc sống vương giả ám ảnh không? Anh nói chuyện với vợ và quyết chí đi tìm vùng đất lạ. Vợ anh buồn rầu tiễn đưa anh đi tìm chân trời mới. Nàng đứng mãi trên bờ cát, nhìn về phía biển xa, đến khi con thuyền vượt khỏi tầm mắt, nàng vẫn đứng đó, ngóng xa xăm. 
    Tớ nghe chuyện anh kể rồi sau này sự việc xảy ra như ta đã biết, tớ thấy có điều gì đó như đã được sắp đặt, đúng là điều linh thiêng. Người chồng bị sự đam mê cuốn hút, đi vào vùng đất mới, mong tìm được hạnh phúc, sung sướng. Cuộc sống vẫn có nhiều điều lạ lẫm, không xác thực nhưng quyến rũ. Nó là hy vọng và ước vọng, nó cũng là tầm cao quá sức. Vì sao người chồng lại bỏ nhà đi? Đó là khát khao muốn vươn xa, muốn có một sự thay đổi, muốn đem lại hạnh phúc cho người thân và rồi như con thiêu thân, anh dấn mình vào sự vô cùng vô tận của biển khơi sâu thẳm. Hạnh phúc không thấy nhưng chính mình lại đánh rơi hạnh phúc. Anh kể cho mình mà giờ ngẫm lại, truyện như vận vào anh. Vận vào cái gì ư? Không biết, có thể là cái số, cái số là lời giải thích hợp lý nhất. Đó là linh thiêng!
     Cũng một sự khác, chẳng hiểu sao, đằng ấy biết không, khi nghĩ về biển, là tớ tưởng tượng ngay ra những con thuyền có cánh buồm đỏ thắm mà tớ đọc hồi bé tí, ngày đằng ấy còn ngồi cạnh tớ, kể chuyện không đái dầm nữa ấy. Trên cánh buồm đỏ thắm đó, chàng hoàng tử đón người con gái, vững tin lời tiên đoán của ông gìa coi rừng. Truyện cổ tích đã thành sự thật. Chuyện có kể, từ một nơi rất xa, rất xa, hoàng tử đã nhìn thấy cô gái. Anh ở một xứ sở khác, ở đó con người luôn hòa thuận vui vẻ, cuộc sống không có nước mắt và chỉ có tình yêu. Chàng đến và đón cô gái về với thung lũng đầy hoa của xứ sở diệu kỳ mà chàng là hoàng tử, chàng hứa làm tất cả những gì mà cô gái mơ ước. Ngày đó, tớ nghĩ, hoàng tử là “bài thơ tình” của chị tớ, còn cô gái, đương nhiên là chị Mai. Tớ với đằng ấy chỉ là những đứa trẻ đang hóng hớt, nuốt từng lời. Từ những ngày đó, tớ cứ ra sông, gặp thuyền là tớ mơ về cánh buồm đỏ thắm. Màu đỏ là mặt trời, là ánh sáng trên thế gian. 
     Còn nhớ, hồi cấp ba, bọn mình làm bài toán về vật liệu nổi và chìm. Có phần tích phân tìm ra phần nổi của vật thể (con tàu hay khúc gỗ chẳng hạn). Tao nghĩ ngay về bài thơ tình của chị Mai. Làm thế nào để con tàu không chìm? Con tầu không chìm sẽ giữ được hạnh phúc. Tự dưng tao nghĩ về sự vĩnh cửu.                 Không phải cỗ máy vĩnh cửu người xưa mơ mộng đâu. Mà là mối tình vĩnh cửu. Cái này thì có. Có nhiều mối tình từ xa xưa đến nay người đời vẫn nhắc. Rô-mê-ô và Juy-li-et là vĩnh cửu, đúng không? Bài thơ tình đó kết không hậu hay chưa xong? Nhưng tao vẫn muốn có đáp án, mày hiểu không? Bây giờ, làm bài toán về cây. Nhiều cây là rừng. Rừng là Lâm. Lâm là vĩnh cửu! Tao nghĩ đến mày. Mày là lâm, là rừng, cây rừng. Mày đứng mãi, mày đứng vững, mày vĩnh cửu. Bài toán giải xong và tao sướng quá. 
     Hắn ngạc nhiên về tầm nhìn của con bé. Con bé đi trước hắn rất xa. Tầm của nó vượt qua lũy tre làng từ lâu rồi. Đến bây giờ hắn lại hiểu thêm người mà hắn yêu. Đấy, ngay chuyện con bé đi chụp ảnh, cho mình một tấm kỷ niệm, cũng thấy tầm xa của nó. Chắc cái đuôi sam mình thích còn đi xa nữa. Hắn thoáng buồn. Con bé còn bay xa tận đâu? Mình có tìm được nó không? 
    Hắn nghĩ, thời bọn hắn khác thời của bố mẹ, ông bà, tổ tiên, là đã dám mạnh dạn vượt khỏi lũy tre làng, ngửa mặt nhìn trời, nhìn ra xa phía trước, vượt qua các cánh đồng đến tận chân trời xa, bằng những cách riêng của mình. Cuộc đời giang tay đón chúng ta không giống nhau, cuộc đời cũng chẳng chiều chuộng chúng ta. Vậy là từ đây, mỗi người một số phận. Cái gắn kết là quê hương và tuổi thơ với những kỷ niệm trẻ con thơm mùi sữa mẹ. Ừ hắn nghĩ cũng hay. Quê hương là mùi sữa mẹ. Quê hương là nơi ta gắn bó. Cả một thời ấu thơ vô lo, vô nghĩ của ta đã gắn với quê và vì thế, nghĩ về quê khiến tâm hồn con người trở nên sâu đậm, hiền hòa hơn. 
    Khi đã vượt qua lũy tre làng, cảm giác đầu tiên với những người có nhận thức, có lẽ là tầm nhìn mở rộng. “Đằng ấy biết không, có vô số điều nhỏ nhoi hằng ngày, được lý giải đơn giản bằng một kiến thức nho nhỏ, giống như điều này: hàng ngày ta cầm cái ca uống nước. Ta chẳng bao giờ chú ý, chiều cao cái ca bằng đường kính của nó. Với số đo đó, ta có dung tích cái ca lớn nhất, lại tốn ít vật liệu nhất. Vì sao, cậu biết đấy, đó là kiến thức chúng ta thu nhận được khi học về đạo hàm, về cực đại cực tiểu. Càng học nhiều, càng đi xa, chúng ta càng thấy chân trời rộng mở và phía trước còn nhiều điều phải khám phá.
 Đây là khám phá của tớ, nó chẳng liên quan gì đến đạo hàm hay tích phân vi phân gì ráo, nó là cuộc sống. Một “ông” lính rất nghiêm với bộ đồng phục và huân huy chương. Ông ra ngồi ở vườn hoa mà dân gian gọi là vườn hoa “kêu oan”, với một bảng giấy ghi nỗi oan, chưa được giải quyết. Một nét hao hao giống như ngày xưa, dân có điều gì thấy bất công, đến cổng nhà quan, đánh trống. Vườn hoa này khi đông hàng trăm người, tụ về, đòi sự công bằng cho gia đình và bản thân họ. Khi vắng cũng độ chục người. Tớ còn biết có một người đàn bà, không ngồi một chỗ mà đi khắp phố xá gần vườn hoa đó, đến cổng nhà những người có chức sắc, nói những gì đó mà mình chưa bao giờ nghe hết. Chỉ chắc một điều, trong lòng bà có rất nhiều điều muốn nói mà không ai nghe. Đã thế, không ai thèm nghe bà thì bà nói cho cả thiên hạ nghe. Vậy là hàng ngày, vì ngày nào mình cũng gặp, nhiều người gặp, ngày nào cũng nghe bà nói. Nghe mãi thành quen. Hôm nào đó không thấy bà, lại thấy thổn thức cho một thân phận, bà bị mệt hay bị bắt rồi chăng? Hôm sau thấy bà, tự nhiên mừng, bà vẫn tồn tại trước những điều mà bà đang đòi hỏi với một sự kiên trì hiếm có. Cái đó nói lên điều gì? 
    Người lính là người từng trải, trong chiến đấu, được tặng thưởng huân huy chương, đương nhiên phải là một người có công, những tấm huân huy chương kia là niềm tự hào, là ghi nhận những gì ông đã cống hiến. Vậy vì sao ông mang trưng ra mà không nói lời nào? Người đàn bà kia là người dân, chắc vốn là một người bình thường, mất gì mà bà hàng ngày cứ ra rả nói về hoàn cảnh của mình cho thiên hạ biết? Đâu là cái đích phải đến của họ? Đương nhiên là họ muốn được đến sống ở một xứ đầy hoa, không có nước mắt và chỉ có tình yêu như xứ sở của hoàng tử nọ, hoặc như anh đánh cá quyết chí, để vợ con ở quê nhà, dấn thân đến một bến bờ xa lạ, tìm quà tặng của Thần biển hay Thượng đế về cho người thân yêu.
     Là người quan sát, thấy rõ rằng, tất cả những mơ ước kia đều hão huyền, chẳng ai dám chắc sẽ đến được những nơi có cuộc sống thiên đàng đó. Chắc chắn con đường rất xa, rất gian nan và nhiều khi, không biết đích đến hay không thể đến đích. 

 Đoạn kết 

    Chiến tranh qua. Lại chiến tranh. Rồi chiến tranh lại qua. Vừa xả hơi trận này lại kế tiếp trận khác. Có những trận đánh được ghi vào lịch sử như những trang vàng chói lọi ánh hào quang, tuy chiến trận chỉ kéo dài vài ba ngày, một tuần, hoặc một tháng. Có cuộc chiến tuy không dài, nhưng nó là một dấu ấn, người đời cũng chẳng thể quên. Ở chiều ngược lại, có trận đánh người ta muốn quên và cũng có cuộc chiến, người ta đục đẽo nó đi. Vì sao có cái nhớ và quên đó? Trả lời điều đó, không phải là ông đầu hói đeo kính ngồi ngâm nga, nghiên cứu lịch sử, cũng chẳng phải các ông mũ cao áo dài ngồi tít trên cao. Cái nhớ cái quên là ở người dân, trong lòng người dân. Dân nhớ ai, quên ai là thuộc quyền của họ, dù cho hôm nay, người ta có thể hiểu méo mó, nhưng chắc chắn người đời sau, sẽ uốn lại. Những người bị lôi kéo vào cuộc chiến, dù rằng họ không muốn, chính là dân. Họ phải đánh vì kẻ thù đến nhà phá cuộc sống bình yên của họ. Họ buộc phải ôm cây súng. Họ là những người vô danh nhưng làm nên lịch sử và yêu cầu được lịch sử tôn trọng. 
    Cuộc chiến mà hắn tham chiến, chỉ vỏn vẹn gói trong một tháng, nhưng đau thương không ít, nó âm ỉ vì kéo dài và đau xót hơn, đau xót vì sau này, nhiều người như không biết có cuộc chiến đó. Coi như chiến tranh không xảy ra. Đặc biệt địa phương nơi hắn, sự tàn khốc hàng ngày xảy ra ròng rã cả chục năm, trong khi cái phần còn lại của đất nước vẫn cứ tưởng đất nước hòa bình, chiến tranh đâu đó chỉ ở trên mấy mỏm đá xa xôi. Đó là cuộc chiến bị bỏ quên. Thời gian đang phủ bụi lịch sử. 
Ở nơi đó, nơi xảy ra chiến sự ác liệt, dai dẳng của hắn, cũng nhiều người xa lạ. Núi rừng đã câm lặng và ngủ yên che đi mọi lõa lồ, ngu dốt mà bom đạn tạo ra. Sự lạc hậu, hèn nhát đã bịt mọi kẽ hở để tin tức không đến được với người dân. Đâu đó, người ta đã tạo ra cho dân chúng xứ mình như chỉ quen thấy, đặt và ăn những món ăn thắng lợi và thành công trên bàn tiệc. 
Những địa danh như lò vôi thế kỷ, đồi thịt băm, con suối ngập máu, khúc ngoặt tử thần, cánh đồng chết..., chưa xa từ những cuộc chiến trước, lại thấy văng vẳng, được nhắc lại trong cuộc chiến này.
     Chẳng cuộc chiến nào mà không có đau thương để lại. Đau thương thường kèm hận thù. Hận thù dẫn đến chém giết. Phải thế mà có người nói, con người là loại thú ác độc nhất? Những gì gọi là lòng từ bi, nhân hậu, vị tha thì trong chiến tranh là thứ hàng xa xỉ. Bom đạn đã dẹp những tính từ mĩ miều đó sang một bên. Xin nhường chỗ cho sự cao cả hôm nay, mà người ta đặt tên cho nó là anh hùng và khoác cho nó cái áo lòng yêu nước. Tất cả đều rất sang trọng đậm đặc hùng khí non sông. Chỉ có điều, nỗi đau thì nhân dân phải chịu. (Ý thơ Nguyễn Duy) 
     Rất tình cờ, con bé đuôi sam được đi phục vụ chiến trường theo một tổ chức của phụ nữ. Đương nhiên mục tiêu phục vụ phải dành cho các chiến sĩ nơi ác liệt nhất. Con bé xung phong đi và ngầm trong lòng, cũng có ý muốn... Theo chỉ dẫn của hắn, nơi có những ngọn núi đá âm thầm đứng canh giữ biên cương cả ngàn năm, là đơn vị hắn đóng quân. Trên này chỗ nào cũng vậy, đá va đá, “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử” (Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh) Cán bộ lãnh đạo nghe con bé nói thấy đặc biệt yêu quý kèm cả sự kính trọng những tâm hồn trong trắng, đã chỉ thị cho các đơn vị nhiệt tình, cố gắng bằng mọi biện pháp giúp con bé thực hiện mong ước, được gặp hắn giữa biên cương xa xôi. 
     Trong một ngày, từ đại bản doanh chỉ huy cấp cao, những tín hiệu vô tuyến phủ sóng đến mọi ngõ ngách của mọi vùng chỉ nhấp nhô những ngọn núi, nhà của lính. Tiếng gọi tình yêu được phát đi và chờ mong tiếng gọi tình yêu đáp lại. Cả mặt trận trên mây ngàn gió núi đó nín lặng chở kết quả cuộc tìm kiếm. Ngày hôm đó súng đạn đôi bên đều câm lặng. Tình yêu của cô gái khiến Thần núi động lòng, quân giặc cũng rã rời ý chí. 
     Một cơn mưa giông giữa mùa hạ nắng cháy, mang khí mát về nơi đất thiêng và ngăn bụi từ các lò vôi bước ngập bàn chân trên mỗi bước đi. Hắn đón con bé giữa những đỉnh núi mấy trắng cuồn cuộn, trong tay một nhánh lan rừng đang tỏa hương sắc, đẹp mê hồn. Chính là phong lan đuôi sam mà hắn phát hiện và đặt tên. 
     Cơn mưa kèm theo sấm chớp dữ dội. Sau này lính tráng đồn với nhau, cả hai đứa chúng nó quấn vào nhau, cùng bay về trời.