Bàn về học chữ Hán trong trường Phổ thông
Thực
ra tôi rất ngại, không dám bàn chuyện này. Nó lớn và ngoài tầm hiểu biết của
tôi.
Đại
loại, tôi là một người biết tiếng Trung (do được học ở Trung quốc) và cũng chỉ
nghe được mỗi giọng Bắc Kinh, nên bàn đến chuyện học thuật nghiêm túc, tôi
không dám bén mảng. Loại như tôi, PGS Đoàn Lê Giang bảo là loại “dở dở ương
ương”, không thể thảo luận. Càng ngại.
Hôm
nay lại đọc một bài “Tạm kết…” trên Ba Sàm. Ai hiểu thế nào thì hiểu, tôi coi
đó như tổng kết cuộc thảo luận. Lại lấy bài của PGS Đoàn Lê Giang làm “Tạm kết”.
Vậy như đã có ý kết luận, PGS Lê giang có lý hơn các bác khác.
Kiểu
“tạm” hay “tổng” kết thảo luận như vậy khiến tôi thấy khó chịu, cũng mạo muội
nói đôi ba ý về chuyện học chữ Hán trong nhà trường.
Nghe
nói đến chuyện đưa chữ Hán vào nhà trường, cá nhân tôi hiểu là để cho học sinh
học để nói, hiểu (hoặc ở một trình độ nào đó, thấp hơn) được tiếng Trung Quốc. PGS Lê Giang đặt vấn đề:
Tại sao phải học chữ Hán? Sự sụp đổ của tiếng Việt?
“Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách
báo, tiếng Việt đang bị dùng sai một cách khủng khiếp. Chỉ có mấy từ dùng sai
mà sửa mãi mấy chục năm vẫn không hết: yếu điểm được dùng như điểm yếu, cứu
cánh được dùng như cứu giúp, thậm chí có nhà văn nọ trên báo Văn nghệ còn dùng
từ khiếm nhã như là trang nhã… Ngay cả sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân
văn mà vốn từ hết sức nghèo nàn. Nhiều trong số họ không còn có khả năng hiểu
được cả những từ gắn với nhà trường như: học phong, môn phong, đồng song, đồng
môn, không phân biệt được nghĩa của những chữ đồng âm như: Minh: thông minh, đồng
minh, u minh, Đồng: đồng bào, đồng hồ, hài đồng, v.v.”
“Liệu
tiếng Việt trong tương lai có thể sẽ như ngôn ngữ “chat” trên mạng không? Tiếng
Việt có thể sẽ trở về như một thổ ngữ chỉ nói được những chuyện đơn giản thường
nhật không? “
“Có
lần một sinh viên Nhật Bản khoe với tôi: Em đến thăm chùa Vĩnh Nghiêm thấy đề
là chùa thuộc phái Lâm Tế, em thấy rất thân thuộc vì giống như ngôi chùa ở gần
nhà bà ngoại em. Thế nhưng đối với một thanh niên Việt Nam thì khi họ đến chùa
Vĩnh Nghiêm hay chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp…, nhìn lên bảng hiệu, hoành phi,
câu đối hay bài vị, họ sẽ cảm thấy xa lạ như bất kỳ một ngôi chùa nào ở Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…”
“Khi
một nhà văn Nga, Mỹ đến thăm Y.Kawabata, nhà văn Nhật Bản được giải Nobel năm
1968, thì thường được Kawabata viết tặng cho một bức thư pháp chữ Hán theo
phong cách Nhật Bản. Một giáo sư Trung Quốc, Đài Loan đến thăm một giáo sư Việt
Nam, các ông cũng thường tặng một bức thư pháp. Cái thú tao nhã ấy đối với các
nhà văn Việt Nam đã lùi xa lắm rồi – thời Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương thì còn, chứ
như bây giờ thì hoàn toàn không. Trong giao tiếp còn như vậy huống chi trong
sáng tác. Vì vậy sẽ không lấy làm lạ khi trong tác phẩm của các nhà văn Đông Á
chiều sâu của văn hóa truyền thống sâu sắc hơn hẳn các nhà văn Việt Nam hiện
nay.”
“Ở
miền Bắc chữ Hán bị loại hẳn ra khỏi trường phổ thông từ khá sớm. Trong chương
trình giáo dục phổ thông không thấy học Hán văn mà chỉ có môn Trung văn với
tính cách là môn ngoại ngữ hàng đầu cùng với môn Nga văn. Nguyên nhân của sự ghẻ
lạnh với chữ Hán có lẽ xuất phát từ không khí “phản đế phản phong” bao trùm xã
hội bấy giờ”
“Người
Việt cô đơn ở khu vực Đông Á”
“Việc
học các ngôn ngữ phương Đông có sử dụng chữ Hán như trên, khiến cho sinh viên
Việt Nam càng thấy trong vốn ngôn ngữ của mình thiếu hụt trầm trọng chữ Hán và
vốn văn hóa truyền thống quá nghèo nàn.”
Tôi
trích một số câu trong bài viết mà PGS Lê Giang đã đưa ra trong bài viết của
mình và cho rằng những điều đó chưa đủ độ tin cậy để phải: “vì sao phải học chữ
Hán và tiếng Việt có nguy cơ sụp đổ” khi ông Lê Giang dẫn chứng một số trường hợp
và cho rằng “tiếng
Việt đã bị dùng sai một cách khủng khiếp”
Nhưng
những dẫn chứng mà PGS Đoàn Lê Giang đưa ra, theo nhận xét của tôi, có thể nói
lên một điều: Chất lượng của sự học và sự dạy ở Việt Nam mình là càng ngày càng
kém. Để không có tình trạng dùng chữ Hán Việt như thế này, không gì hơn là phải
nâng cao chất lượng học sinh khi ra trường, đặc biệt các học sinh sẽ về đảm
đương các nhiệm vụ liên quan đến “chữ nghĩa”. Thử điểm lại những dẫn chứng mà
PGS đưa ra:
-Ai
lại “khiếm nhã” với “trang nhã” mà dùng cũng sai. Phải bắt lỗi cả biên tập tờ
Văn nghệ nữa chứ. Cả mấy dẫn chứng phía sau mà PGS đưa ra tiếp cũng vậy. Chỉ có
thể kết luận: Chất lượng sản phẩm của nhà trường kém nên sản phẩm “đã được nghiệm
thu” cũng quá kém.
Liệu
những sai lầm trên phương tiện thông tin đại chúng “bị dùng sai khủng khiếp”
như vậy có khiến đương nhiên là “tiếng Việt sụp đổ” không?
-Chuyện
anh sinh viên Nhật Bản: Anh này chắc là sang Việt Nam nghiên cứu về bộ môn văn
hoá nào đó. Anh ta có kiến thức về Hán văn, kiến trúc, lịch sử (với sinh viên
nước ngoài, tôi cho là điều bình thường) có thể đọc được các hoành phi câu đối
treo dọc, treo ngang và thấy chùa thuộc Vĩnh Nghiêm có kiến trúc giống phái Lâm
Tế thì khoe với thày, nói lên cái điều gần gũi với anh ta. Đấy là chuyện nhỏ,
chuyện cá biệt. Tôi cho là như vậy. Còn đa số người Việt Nam đi chùa là để cúng
bái, cầu tài xin lộc, chẳng chú ý gì hết, càng chẳng “nghiên cứu, nghiên cấm”
gì cả. Tôi đoan chắc hỏi 10 người thì cả 10 người không biết Lâm Tế với Vĩnh Nghiêm
là gì đâu. Hỏi 100 người thì may ra có thể có người biết. Muốn tìm ra người biết,
phải hỏi sinh viên kiến trúc hoặc lịch sử. Đấy mới là đối tượng để hỏi.
-Chuyện
các nhà văn tặng nhau thư pháp. Xin hỏi PGS Lê Giang, các nhà văn Anh, Pháp, Nga
viết thư pháp thế nào khi các nhà văn Nhật đến thăm. Có dứt khoát phải tặng
nhau thư pháp mới là “đặc sản”. Chuyện các ông nhà văn đối xử với nhau thì khối
cái dở hơi chẳng khác gì người thường.
Gần
đây, người Việt Nam cũng viết thư pháp bằng tiếng Quốc ngữ. Riêng cá nhân, tôi
không chê nhưng cũng chẳng thích loại thư pháp này. Khối người không ưng thì
nói là học đòi còn ưng thì gọi là sáng tạo. Đó là cách phản ứng của người Việt mình
về những vấn đề mới.
Coi
cái chuyện tặng nhau những bức thư pháp do chính mình viết là thú chơi tao nhã
cũng được. Thế các nước không có chữ vuông, đơn âm, các nhà văn không có thú
chơi tao nhã? Vậy thì họ uống rượu?
Tôi
rất ngại chuyện trưng ra những bức thư pháp và đặc biệt ngại bầy ra những chữ
mà các thày đồ cho, những chữ mình thích, những chữ bạn bè tặng nhân một dịp
nào đó, chẳng hạn như năm mới, dọn nhà mới, sinh nhật… Những chữ Đức, Phúc, Lộc,
Thọ, Nhẫn, Tâm, Minh, Trí, Quang, Nghĩa, Hoà, Hợp… cứ như là “lạm phát”.
Tôi
nghĩ, nếu người học đã tiếng Trung, không biết chữ Hán thì đáng phê phán. Mà thử
hỏi mấy người biết tiếng Trung xem, họ có biết chữ Hán không? Biết nhiều ấy chứ.
Có thể họ không giảng nghĩa được các ý tứ sâu xa như các cụ ta ngày xưa, học một
chữ có khi mất cả ngày, có khi hơn ấy chứ (chuyện ngày xưa các cụ học chữ thế
nào, tôi không biết, bác nào biết chỉ giùm) Nhưng cái kiểu học, rồi ngồi bút
đàm thì có mà mình quay lại thời xưa à? Hay là nhờ máy thông dịch? Ai chẳng biết
thời gian là cái quý nhất của cuộc đời.
Quả
thật vào chùa chiền miếu mạo, may lắm, người như tôi hồi học tiếng Trung, đã đọc
được Mao tuyển và mấy cuốn sách nói về Lôi Phong, đến hôm nay vào chùa cũng
không đọc nổi một nửa số chữ viết trên hoành phi câu đối đâu, mà đọc rồi hiểu ý
nghĩa của từng chữ, hay cả câu càng khó và hầu như chỉ hiểu láng máng. Nhưng
tôi tự nghĩ tôi chẳng làm sụp đổ tiếng Việt, những người không đọc được chữ nào
chắc cũng nghĩ như vậy.
Tất
cả người Việt đều hiểu được nhau vì “Số từ gốc Hán chiếm
đến 70% số từ vựng tiếng Việt”. Nhưng câu sau
của PGS thì không ổn: “ người Việt không
học chữ Hán, không hiểu chữ Hán, thế thì làm sao mà chẳng dùng từ sai và vốn từ
nghèo nàn. Nếu tình hình không được cải thiện thì viễn cảnh về sự sụp đổ của tiếng
Việt sẽ còn không xa.” Tôi e rằng PGS đã quan trọng hoá quá mức tiếng Hán trong đời
sống chúng ta hiện nay. “Sự sụp đổ tiếng Việt không còn xa” ư? Nghe đao to búa
lớn quá. Thời giới trẻ dùng ngôn ngữ “chat” cho nhau trên mạng, tôi cũng cho là
sụp đổ về văn hoá đến nơi rồi. Vậy mà có sao đâu? Liệu đó có phải là sự thật để
chúng ta phải đưa chương trình tiếng Hán vào học ở bậc tiểu học.
Có tới 60-80% chữ Việt có nguồn gốc Hán nhưng trong số đó rất nhiều
từ đã được Việt hoá thành tiếng Việt rồi, người Việt với nhau đều hiểu. Từ trăm
nghìn năm trước, dù trình độ văn hóa còn thấp, cũng vẫn hiểu.
Số tiếng Hán còn lại phải biết để mới hiểu được sâu sắc là bao
nhiêu, đã có nhà nghiên cứu nào chịu làm một đề tài cấp nhà nước và thống kê được
chưa? E rằng chưa có, mà các nhà nghiên cứu của ta, tôi chẳng lạ, chuyên sâu rất
ít, chỉ nhiều đề tài đút ngăn kéo thì mà thôi. Cần bằng chứng ư? Đấy, chỉ tiêu
phải đào tạo tiến sĩ với số lượng hàng trăm ở một trường đại học nọ, với những
đề tài nghe rất chối, bảo vệ luận án xong chỉ để đút ngăn kéo, chẳng là một chứng
minh hiển nhiên?
“Người Việt cô đơn ở khu vực Đông Á” Liệu câu nói đó của PGS đặt
ra có đúng? Và cả:
“Việc học các ngôn ngữ
phương Đông có sử dụng chữ Hán như trên, khiến cho sinh viên Việt Nam càng thấy
trong vốn ngôn ngữ của mình thiếu hụt trầm trọng chữ Hán và vốn văn hóa truyền
thống quá nghèo nàn.” Không hiểu PGS Lê Giang nói người Việt
cô đơn ở Đông Nam Á là có ý gì? Tôi hiểu nghĩa “cô đơn” ở đây mà PGS muốn nói không
chỉ đơn thuần là sự không hiểu nhau về hàng rào ngôn ngữ, mà là trong khu vực, tự
dưng lòi ra một ông có chữ viết theo lối La-tinh. Liệu tôi hiểu có đúng?
Nhưng
tôi nghĩ khác, tôi nghĩ người Việt cô đơn ở Đông Nam Á ở khía cạnh chính trị
nhiều hơn. Đó là hệ tư tưởng của chúng ta xa lạ với môi trường các nước Đông
Nam Á và cả thế giới nữa. Cái “chất máu” cộng sản như vẫn còn bị thế giới ghẻ lạnh
và vì thế chúng ta cô đơn. Chúng ta có hệ điều hành khiến cả dân tộc phải im tiếng
vì khiếp sợ. Philippines là một quốc gia thế tục, hiến pháp tách biệt nhà thờ
và nhà nước. Do ảnh hưởng của văn hóa Tây Ban Nha, Philippines là một trong hai
quốc gia mà Công giáo Rôma chi phối tại châu Á, quốc gia còn lại là Đông Timor. Trên 90% dân số là tín hữu
Ki-tô giáo (theo Wikipedia)
Còn câu: “Việc học các ngôn ngữ phương Đông có sử dụng
chữ Hán như trên, khiến cho sinh viên Việt Nam càng thấy trong vốn ngôn ngữ của
mình thiếu hụt trầm trọng chữ Hán và vốn văn hóa truyền thống quá nghèo nàn.”
Cách nói này rất
chung chung, khó thuyết phục, giống như câu nói thường xuyên gặp trong các báo
cáo tổng kết “Cán bộ ta nói chung là tốt” hoặc “năm nay so với năm trước chúng
ta đã tiến bộ thêm một bước”. Rất an thần, chẳng mất lòng ai và chẳng nói lên
điều gì cả. Muốn thuyết phục phải có số liệu chứng minh, và số liệu đó phải
đáng tin cậy, không được chung chung, nói ở đâu cũng an toàn.
Các
bạn khi học ngôn ngữ phương Đông, chắc hẳn đã nhận được nhiều lời khuyên từ các
thầy, các bậc đàn anh. Trong hành trang của các bạn không chỉ có một loại ngôn
ngữ nên để đến nỗi bị nhận xét là “thiếu hụt trầm trọng chữ Hán và vốn văn hoá
truyền thống quá nghèo nàn” là điều đáng trách. Phần thiếu hụt đó phải tự học.
PGS
Lê Giang đưa ra số liệu học sinh Nhật, Hàn… phải biết từ 2000-3000 từ chữ Hán.
Liệu những từ chữ Hán mà người Việt cần biết có đến con số đó khi sáu đến tám
chục phần trăm từ tiếng Việt có nguồn gốc Hán. Thật ra, với những người mà nghề
nghiệp có liên quan đến chữ nghĩa, chỉ cần tự học cũng đủ đáp ứng. Nếu gặp từ
khó, người học phải tra Tự điển hoặc với thời hiện đại hôm nay, dễ nhất cứ hỏi
bác “Gúc-gờ”.
Nên
chăng các vị ở viện Hán-Nôm thay chuyện đưa vào một môn học mới cho học sinh
hãy làm một cuốn “Từ điển Hán Việt thường dùng”. Chắc với học sinh và người
bình thường mà nghề nghiệp có liên quan, chỉ cần thế.
Lại
nói như GS Huệ Chi:
Rằng Hán Nôm được giảng dạy tại Khoa Ngữ văn chỉ là một môn học của
ngành Ngữ văn chứ không phải là một chuyên ngành. Nó không là ngoại ngữ mà là
chữ viết và văn bản của cha ông trước thế kỉ 20.
Nhưng
GS Huệ Chi cũng công nhận: Có một thực tế là sinh viên ngành ngữ văn có học Hán
Nôm với dung lượng không ít, học tốt chứ không hẳn hoàn toàn khó học, nhưng khi
ra trường lại không hề sử dụng. Mà ngôn ngữ không được mang ra sử dụng thì, hoặc
là ngay tại trường đại học, việc dạy và học hoàn toàn đối phó, khi ra trường vốn
chữ từng được học bị rơi rớt dần, cuối cùng là sự lãng phí đáng tiếc trong đào
tạo.
Vâng,
thưa GS Huệ Chi, đó cũng là điều tôi băn khoăn. Chúng ta đưa một môn học vào
nhà trường mà vẫn băn khoăn không biết nó sẽ được dùng vào việc gì thì thật là
quá ư tốn kém tiền của, thời gian của học sinh, của xã hội. Tôi đã chứng kiến lứa
tuổi tôi được học Trung văn trong nhà trường. Hầu như tất cả, nếu không có điều
kiện sử dụng, đều chữ thầy giả thầy hết.
Nhìn
vào thực trạng hiện nay đủ biết, trong khi tiếng Anh là cơ hội để con người
phát triển thì chẳng có gia đình nào vì “người Trung Quốc những 1,3 tỉ nếu không học tiếng
Hán sẽ không trở thành công dân toàn cầu” (tiến sĩ Vũ Thu Hương) lại muốn cho con em mình học Hán ngữ cả.
Còn
nữa: “nếu từ bỏ
chữ Hán, mọi người sẽ ít hiểu biết về quá khứ dân tộc. Ngoài ra, học chữ Hán
giúp người dùng có cách lựa chọn ngôn ngữ, vốn từ vựng sẽ tăng dần, rất có ích
cho hoạt động giao tiếp.(ts Ng Tùng Lâm). Nói thật với TS Tùng Lâm, tôi chắc chắn, học sinh
và nhân dân ta hiện nay hiểu biết ít về quá khứ dân tộc không phải vì bỏ chữ
Hán mà chính vì những người lãnh đạo đất nước đã chối bỏ lịch sử, uốn oéo lịch
sử theo hệ tư tưởng của mình. Chắc TS Tùng Lâm còn nhớ hình ảnh phao rơi khắp
sân trường khi bỏ thi môn lịch sử hoặc cả hội đồng chỉ có một thí sinh thi môn
sử chứ? Đấy mới là lỗi để người Việt hôm nay không biết lịch sử nước nhà, ít biết
về quá khứ dân tộc.
Quả
thật tôi rất nghi ngờ về trình độ của 2 tiến sĩ Vũ Thu Hương và Tùng Lâm. Nếu
không phải vì trình độ hiểu biết thì xin hai vị nhớ cho một điều: hại là trí thức
nước Việt đấy, đừng làm hổ danh đất Việt.
Loại
bỏ những vấn đề nhạy cảm của thời thế vì tâm lý ghét Tàu trong mọi tầng lớp
nhân dân mà trong tôi lúc nào cũng ứa trào, tôi thấy việc đưa chữ Hán vào giảng
dạy ở cấp I là rất không nên. Từ ý của GS Huệ Chi: “Chẳng hạn, có thể không nhất
thiết học chữ Hán như một môn học riêng (dễ bị hiểu nhầm là ngoại ngữ bắt buộc)
mà tích hợp vào trong phần học văn bản ngữ văn Trung đại do giáo viên ngữ văn đảm
nhiệm. Thay bằng học bản dịch với những nội dung tán sáo tình yêu thiên nhiên,
tình yêu đất nước… đến nhàm chán như hiện nay là yêu cầu tiếp cận nguyên tác. Có nghĩa là, tôi hiểu cần bổ xung thêm phần chữ Hán
cho những học sinh học Trung văn và trong giảng dạy môn tiếng Việt, cần có những
giáo viên có trình độ Hán ngữ và đề nghị các nhà chức trách hãy trả lời câu hỏi
đó một cách nghiêm túc.
Tôi
cho rằng giáo trình dạy của chúng ta còn thiếu hoặc chưa đủ phần giảng dạy chữ
Hán cho học sinh học Trung văn. Có khả năng, ngay giảng viên dạy tiếng Việt
cũng chưa có đủ kiến thức giảng thêm phần chữ Hán. Chỉ việc này thôi cũng đòi hỏi
phải có thời gian chuẩn bị dài dài.
Nếu như nếu giáo trình có chút chỉnh sửa tăng
thêm phần chữ Hán, có đủ lực lượng giảng viên, thì may ra, có khả năng giảm
nguy cơ “sụp đổ tiếng Việt”, hiểu biết “quá khứ dân tộc” tốt hơn và cũng làm
“công dân toàn cầu” tốt hơn.
Vinh Anh
7/9/2016