Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

Chuyện ngày em 16 và tôi 18

 

Chuyện ngày em mười sáu và tôi mười tám 
 Bốn chục năm rồi, có lẽ mọi sự cũng đã phôi phai đi nhiều. Chỉ nhớ cái bất ngờ xảy ra với nhà em. Chuyện xưa bất ngờ đến. Với nhà em như một chuyện cổ tích. 
Chuyện là: 
Khi về nhà tập thể Giảng Võ, nhà em buồn lắm. Gặp các cụ tiền bối trên cơ quan cũng buồn lắm, sơ sài, nhạt nhẽo. Mọi người ai biết phận đó, lại nhớ cuộc sống ở đơn vị với lính. Điểm mặt, cả cơ quan, thấy có hai thằng trẻ trẻ như mình. Thôi thì... Hãy đợi đấy. Sau này thêm một vài tay nữa về, cũng tre trẻ nhập vào đội quân, mà mình chẳng biết cụ thể đầu cua tai nheo thế nào. 
Như mọi nơi, ngoài các thủ trưởng, còn phải yết kiến “cụ” “Tư vụ trưởng”. Tư vụ trưởng là chức quản lý cỡ trung đội, đại đội bên Nga, thường khá già, là chuẩn uý chuyên nghiệp, mà mình đọc sách biết, người ta đôi khi cũng viết về nhân vật này, tiếp nhận vài thứ cho cuộc sống, như để xin ông ấy cái giấy ra vào Thành, nộp giấy chuyển đơn vị để nhận lương... Ra vào Thành là để ăn cơm, ở đó có người nấu cơm cho ăn.
 “Cụ” Tư vụ trưởng hẹn đến Cửa Đông. Ừ thì đến. Nghe một cụ chưa già, người chưa cũ nhưng cũng không mới, nói rồi. "Chỗ chính của những thằng không có gia đình ở Hà Nội là Cửa Đông. Cửa Đông là nơi lo cơm áo gạo tiền cho cánh ta... đó là trung tâm kinh tế văn hoá…" 
***** 
Nhà em đến phố Cửa Đông. Giật mình và trống ngực đánh ầm ầm, cái nhà đối diện với số nhà này vẫn kia. Sao mà anh lại về được nơi đây, còn em có xuất hiện nơi này nữa không? Ký ức xưa tươi trẻ rất học trò ngày xa đó trở lại. Cái thời trong trắng ngây thơ hiện về. "Tôi xa Hà Nội năm lên muười tám, khi vừa biết yêu...". Sau chia tay với em, anh sang Liên Xô, ngày đó anh mười tám. Chẳng hiểu sao cái bài hát mà một lần nghe rồi nhớ mãi ấy lại vang lên. Năm ấy em đúng mười sáu, trăng tròn đắm say. Cái cô ca sĩ Sài Gòn hát bài về Hà Nội, làm anh tần ngần ở đường phố Lái Thiêu ngày mới giải phóng, để nôn nao nhớ về ngày nào đó chưa xa mà như đã là xa lắm. 

Ồ, tất cả, tất cả những đắm say của mối tình tinh khôi học trò ngày đó, nếu có thể gọi đó là mối tình. Ngày đó anh và em quen nhau như thế nào, bắt đầu từ đâu, không còn nhớ gì nữa. Tình đầu đâu dễ phôi phai cơ mà. Nhưng mà không nhớ cái buổi đầu đó thật. Có lẽ phôi thai từ thành phố của mùa hè với những cây phượng nở đỏ rợp phố khu nhà chúng mình. Hải Phòng phố nào mà không có phượng. Nhưng phố nhà mình đặc biệt hơn, toàn phượng là phượng. Những cây phượng mang trong mình bao nhiêu gánh nặng thời gian, cao to, già nua và bóng toả che hết mặt đường, chẳng ai biết tuổi của những cây phượng già đó hết, bọn trẻ con càng vậy. Chỉ biết rằng, mỗi khi hè về là phượng nở. Có nức nở tiếng ve, có chia ly và có hội tụ, có những cảm giác nhớ thương xen lẫn sự nâng niu, cả sự cẩn trọng của mỗi bước chân, khi mỗi sớm thấy sắc đỏ rải kín mặt phố. Anh nói văn vẻ: “anh và em là sự gặp gỡ của mùa hè, của màu đỏ thắm, màu của cánh buồm đỏ hoàng tử đón công chúa”. 
Anh về nghỉ phép để đi học ở Liên Xô. Cả khu nhà binh ngày đó chỉ có một mình anh học xong cấp ba và được chọn. Em nói: “Anh là sự mong muốn của nhiều gia đình…” Em nói với anh thế. Nhưng anh không biết điều đó, anh chỉ biết người ta chọn anh. Em ở Lạng Sơn về chơi với gia đình ở khu nhà binh này và chúng ta quen nhau. Chúng ta quen nhau rất bí mật, trao ánh mắt và trao nụ cười như những nhà tình báo Liên Xô, mà anh tưởng tượng trong những truyện trinh thám anh thích đọc. Có điều, mối thiện cảm đó, không một ai trong khu nhà binh biết hết. 
Khi biết em chỉ ở chơi vài ngày ở đây rồi sẽ lên Hà Nội, anh và em đã hẹn sẽ gặp nhau ở Mạc-tư-khoa (tên một phim tình cảm thời xa xôi đó)”. Địa chỉ là thế và anh tìm đến. Chúng mình gặp nhau và có những ngày tự nhiên, không sợ ai nhòm ngó. Tình cảm trai gái ngày xưa cũng nhẹ nhàng nhỉ, không vồ vập, không ồn ào như những cú sét đánh ngày nay người đời hay nói. Sét đánh thì có mà toi. 
Vài buổi đi chơi chưa thể biết nhiều về nhau. Em nói về Lạng Sơn. Anh đọc câu thơ mà ai cũng biết “Lạng Sơn có phố Kỳ Lừa/Có nàng Tô Thị, có…” Chưa đọc xong đã thấy Em bĩu môi làm anh ngượng quá. Nhưng rồi có dịp lên Hồ Tây và anh có dịp cho em biết khối “kiến thức đồ sộ” của anh. Anh giải thích về con đường chúng ta đang đi, nó bắt đầu từ cái tên Cổ Ngự, sang Cổ Ngư và rồi mới là Thanh Niên. Anh nói về hồ Dâm Đàm, về đầm xác Cáo và về hồ Tây… Anh định nói thêm về Đoàn Thị Điểm nhưng thấy em tròn mắt, đôi mắt ngây thơ đen láy trong một đêm đầy sao với những con gió hồ mát rượi.
 Em rủ anh bơi thuyền. Anh lưỡng lự. Hỏi anh có biết bơi không. Không biết. Không sao, em biết. Hỏi anh có biết chèo thuyền không. Không biết. Không sao, em biết. Vậy thì chúng mình xuống thuyền. Thuyền nhỏ xíu và dài ngoẵng và chòng chành, nghiêng lệch kinh lắm. Em bảo anh đứng yên, em tự lựa được chỗ ngồi, mọi sự êm ả và em bơi thuyền ra xa. Thực ra là không xa. Em hỏi anh sợ không. Sợ. Anh rùng mình vì một con gió. Chẳng hiểu do là gió hay là do sợ nữa. Em cười, cho thuyền bơi loanh quanh, loanh quanh cho hết giờ thuê và nghe anh kể chuyện vu vơ. Em gợi để anh nói cho anh khỏi nghĩ đến hồ, đến nước mà thêm sợ. Em mới mười sáu, mười sáu trăng tròn đắm say. 
Hết giờ thuê thuyền, cặp bờ, anh thở phào và hình như em nghe thấy tiếng thở của anh. Một cái gì đó muốn nũng nịu đột nhiên xuất hiện. “Vậy là vẫn sống…” Em cười, ôi nụ cười con gái chiếm hết hồn anh. “Không ai để anh chết đâu. Anh không biết về em đấy thôi…” 
Em ngó tìm chỗ ngồi “Chẳng còn chiếc ghế nào trống cả. Chẳng sao, ngồi bãi cỏ cũng được. Công tử, có ngồi không? Anh mười tám mà sao em nói gì anh cũng nghe. Thế rồi đói. Đi mãi cũng phải đói. Anh rủ em vào ăn bánh tôm. Bánh tôm Hồ Tây nổi tiếng đấy. Em bảo vào đấy đắt lắm, mua bánh mì ăn cũng được, em có phiếu. Ngày đó anh có tiền. Không nhiều, phụ cấp binh nhì có năm đồng thôi. Nhưng anh nghĩ là đủ, trong túi có những hai chục cơ mà. Tích cóp mấy tháng phụ cấp đấy. Em lại cười “Công tử sang thế…” Và chúng mình vào quán bánh tôm Hồ Tây. Cái quán này thành nỗi nhớ, là kỷ niệm tuổi mười tám thơ mộng, ngọt ngào nhất đời anh. 
Ở đây như bắt đầu một mối tình. Lúc đó chưa rõ và sau này cũng vậy, chẳng có gì rõ ràng thêm. Tình yêu rồi đấy ư, đâu nhanh thế. Sau này vào Trường Sơn, có những lần nằm võng bên suối nước chảy, anh hay nghĩ, tự hỏi và trả lời như thế. 
Hôm đó ngồi vào bàn, cô mậu dịch mang ra một đĩa bánh tôm, hai bát nước chấm và một ít rau sống. Anh nói với cô mậu dịch, chị ơi cho em thêm một đĩa bánh. Sao ăn nhiều thế, hai người vậy thôi. Em cười, chưa ăn đã lo đói…. Quả thật một đĩa cũng hơi đói. Em bảo vậy là đủ, nữa là thừa. Đừng phí của… Ôi, ngày đó em mới mười sáu. 
Nhưng đi chơi bằng xe đạp thích hơn. Ở Hà Nội không đi xe đạp thì còn đi bằng gì. Anh hỏi, em biết đi xe đạp không. Biết. Sao cái gì em cũng biết thế nhỉ. Xe đạp thì ai không biết. Nhưng anh muốn em không biết đi xe đạp. Để làm gì? Để ngồi sau, anh đèo. Em cười. Thì em ngồi sau, anh đèo nhé. 
 Hôm đó, từ sáng, chứ không phải chiều tối như những lần khác, em nhớ không, anh đến đón em ở đây, tại ngôi nhà này. Vào khoảng đó mọi người đi làm hết cả, không ai thấy chúng ta đi chơi với nhau. Tình yêu đang ủ, vẫn còn trong bí mật. Hà Nội đang vào giờ vắng người trên phố cho ta cảm nhận một Hà Nội thanh thản, cái thanh thản trong buổi sáng cuối hè không thật nắng và nóng. Chúng mình đang nghỉ hè, nghỉ phép. Thời gian rất nhiều. 
Anh có thằng bạn, thằng này yêu sớm, nó bảo lúc nào cũng bận. Bận vì người yêu của nó. Còn anh và em, chưa là gì của nhau hết nên lúc nào cũng thanh thản. Vậy cứ như chúng mình thế này thích hơn, chỉ đâu đấy có một chút ngong ngóng chờ, ngong ngóng đón đưa, ngong ngóng mong cái mới của ngày hôm sau đến, mà cũng thật chẳng biết đến ngày sau thế nào đâu. Ngay cả dự định đi chơi bằng xe đạp cũng vậy, đi thế nào, đi đâu xem xét những gì… chẳng có chút ý định gì hết, mọi sự cứ để nó tự đến rồi sẽ có gì đó mới hơn, khác hơn… Đại loại là thừa thời gian, thời gian chỉ để ngong ngóng và chẳng biết làm gì nên có cái hay, nhớ về nhau nhiều hơn. Đó là cái hơn cả, là cái chưa gọi thành tên, cái mà lúc nào cũng thấy ngong ngóng được ở bên nhau. 
Vòng quay bánh xe lại đưa chúng ta lên Hồ Tây. Hồ Tây có sức hấp dẫn lớn hơn hết thảy với tuổi trẻ thủ đô. Anh nói đố em biết sắc màu Hồ Tây thế nào? Em ngỡ ngàng trước câu hỏi. Hà Nội chỗ nào cũng nhiều sắc màu, Hồ Tây là một phần Hà Nội… Em hỏi anh sắc màu là gì, nó thế nào? Anh không trả lời được gọn ghẽ, bảo, đố em đấy, rồi anh cũng nói, đó là những con phố nhỏ, đó là rì rào gió sông Hồng, đó là tiếng lá rơi, đó là tiếng guốc lóc cóc của người đi vội vang trên hè đêm đêm… Em cười. Em hình dung ra màu đó rồi. Anh hỏi, thế là màu gì, nó thế nào? Em lại cười như chờ anh nói tiếp, và anh nói tiếp cái hiểu của mình, đó là cuộc sống, đó là hơi thở, đó là sự gắn bó… là lối xưa xe ngựa hồn thu thảo… Anh nói tự nhiên như diễn đạt tâm tư của mình, em như sửng sốt khi anh đọc thơ bà Huyện Thanh Quan để kết luận, câu ấy chứa đựng cả Hà Nội xưa. Em kêu lên, anh nói hay quá… Cứ vậy để rồi chúng mình đi hết Hà Nội. Hà Nội vậy mà không to lắm nhỉ… 
Vừa đi vừa nói chuyện nên cũng chẳng biết xa gần thế nào. Những giờ phút “thăng hoa” của anh khi nói về Hồ Tây đã qua, cái đói đang đến. Anh bảo, hình như đâu đây là làng Quảng Bá, Quảng Bá có ổi ngon lắm, em biết không? Anh cũng đâu đã được ăn. Đến đấy vào làng ta mua ổi ăn cho đỡ đói nhé. Em bảo anh dừng xe lại, lên ngồi ở chỗ gò cao kia kìa. Nhìn xa xa kia, em chỉ tay, vẫn là Hồ Tây, đã bao xa đâu, vẫn chưa hết một vòng hồ. 
Em lấy cái túi treo ở ghi đông xe đạp, mà từ đầu anh cứ nghĩ là túi đựng mấy thứ lặt vặt của bọn con gái, em lôi từ trong túi ra một tờ báo, nói, anh rải ra chỗ cỏ dưới gốc cây kia, chúng ta ăn bánh mì. Ôi, có bánh mì, anh thực sự ngạc nhiên. Em lấy ra hai chiếc bánh mì đã được gói cẩn thận và một gói đường. Chúng mình ăn bánh mì chấm đường, ngon quá. Em hỏi, công tử thấy thế nào? Anh nhìn em cười, không biết nói sao, chỉ nhìn em thôi, em mười sáu trăng tròn đắm say, dường như lúc này đây đang làm lòng anh say đắm. Hôm nay là ngày tuyệt vời. Có lẽ chưa bao giờ anh ăn bánh mì chấm đường ngon thế.
 Em kể về quê em. Em không biết ổi Quảng Bá đây ngon thế nào nhưng hồng ngâm quê em ngon lắm, quả tròn đẹp, giòn, ngậy, không hạt và mùi thơm lảng vảng chất núi rừng nữa. Anh biết không, giống hồng trên xứ Lạng là đặc sản quê em đấy. Anh nói, anh không biết hồng ngâm quê em ngon thế nào đâu, nhưng qua lời kể, anh thấy trong em có một tình yêu với quê. Anh chưa nghe ai nói về quê với một tình cảm như em. Chỉ vài câu giới thiệu về một loại quả dân dã thôi, nhưng đã thấy nó gắn chặt với cuộc sống của em. Anh đang nghĩ mùi hương toả ra từ em chính là hương của núi rừng xứ Lạng đấy, mùi hương đó đậm chất quê, có sự kết dính, nó man mác thoang thoảng, không quyến rũ nhưng lại không dễ quên. 
Anh nói, anh có kỷ niệm về mùi hương quả bàng chín cũng vậy. Ngày nhỏ, bọn trẻ hay trèo bàng. Tán bàng mát thì rõ rồi nhưng quả bàng chín mới gắn với một phần tuổi thơ của anh, một tuổi thơ không nhọc nhằn, nhiều trò chơi. Chỉ những đứa trẻ không phải lo đến cuộc mưu sinh mới có thời gian hái bàng, đập quả bàng chín mà cùi của nó có mùi thơm bảng lảng giống như một loại quả gì đó của núi rừng quê em ấy, quả bàng bị chim ăn hay vì chín quá rụng xuống đất, không thể ăn được nữa, đập ra lấy cái nhân nhỏ hơn hạt lạc. Cái nhân ấy bùi, ngậy lắm… Nó là một thứ quà ăn vặt, không mất tiền mà tụi nhỏ bọn anh tự kiếm được trong những ngày hè thơ bé. 
Vậy là thêm một ngày nghỉ hè của em trôi đi, thêm một ngày nghỉ phép của anh trôi đi. Anh còn một tuần phép nữa còn ngày về xứ Lạng của em tuỳ, chưa biết lúc nào. Em nói với anh đã xin anh chị ở lại thêm, vẫn muốn ở lại đây chơi. Chị em nói, chắc lại quen chàng nào rồi chứ gì… Chàng ấy là chàng công tử mà em gán cho. Anh cũng chẳng rõ mình công tử ở chỗ nào. Hỏi em, em chỉ cười. Nói, anh biết nhiều, giảng giải được nhiều điều… nhưng thật ra, có vẻ cũng không biết nhiều đâu, nhiều khi còn tồ tồ, ngô ngố… Em nói gì lạ thế… Em quay đi, bỏ lửng câu chuyện ở đó. Anh nghĩ về câu ca dao “người khôn ăn nói nửa chừng…” Vậy người dại là anh ư? 
Chúng mình còn có cuộc đi chơi khác khi em có ý kiến, chỉ quanh quẩn Hà Nội thôi sao? Ừ hay ta sang bên xứ Đoài, hay ta về vùng ngoại ô để ngắm những cánh đồng thẳng cánh cò bay… hay ta bay lên mặt trăng… Xa đấy. Theo anh biết, xứ Đoài nhiều cái hay, cũng không thật xa, cách hai chục cây gì đó, đi xe đạp mất hơn một giờ. Xứ Đoài có chùa Trầm, có núi nhấp nhô. Giữa vùng đồng bằng mà có núi, nên có người ví như là Hạ Long cạn trên đất Phụng Châu, Chương Mỹ đấy. Ngoài vẻ đẹp sơn thủy, cảnh núi rừng và chùa chiền bao giờ cũng gắn với một vài sự tích của tổ tiên, cha ông chúng ta. Những sự tích ít nhiều mang màu huyền bí. 
Vậy là chúng ta đi sớm. Em kể, Chị em hỏi đi chơi với công tử Hà Thành à. Em gật đầu. Về sớm nhé, lần sau nó đến đây ra mắt anh chị… Mà thân con gái phải biết giữ gìn đấy… Em vô tư cười khi kể lại cho anh chuyện với chị: “Anh ấy tồ và ngố lắm… Chị chỉ khéo là lo xa…” Còn anh, anh cười ngượng khi nghe em nói lại là “anh tồ, anh ngố”. Anh phân vân, phải làm thế nào cho hết ngố, hết tồ… Chúng ta đến Phụng Châu. Hoá ra ở đất này không chỉ có chùa Trầm mà còn có chùa Hang và chùa Vô Vi nữa. Nó là một quần thể, không xa nhau lắm. Cũng có sự tích lịch sử qua truyền miệng trong dân gian gắn với mảnh đất này từ trên hai trăm năm trước. Nghe để mà biết thêm. Đi một ngày đàng học một sàng khôn mà.
 Nhưng theo anh, thú vị nhất là cảnh núi rừng. Không ngờ, một nơi cách Hà Nội hai chục cây mà hoang sơ, nghèo khó thế. Những nếp nhà gianh, phên giậu sơ sài chỉ ra sự nghèo khó. Em thì không lạ. Em bảo: “Chẳng khác gì quê em. Quê em còn hoang sơ và nghèo khó hơn. Công tử vẫn tồ và ngố lắm. Công tử có thời gian thì lên em, em là người dẫn đường cho công tử. Gì chứ, hoang sơ và nghèo khó thì chỗ nào trên đất ta không như vậy…” Anh bảo: “ Bà cụ non…” Em giận, em không nói gì hết nữa. 
Mãi, khi thấy em cứ lặng im, anh mới nhận ra là em dỗi vì cái “bà cụ non”. Anh thấy một bông hoa cỏ, nhỏ nhoi nổi bật lên trong bãi cỏ hoang. Anh bảo em chờ anh chỗ bóng cây. Anh chạy vàu sâu bên trong, cả một bãi đầy hoa. Anh hái một chùm hoa lớn. Hoa trắng muốt, có những chấm vàng ở giữa, phấp phới bay trong gió như những cánh bướm. Anh hái vội vàng, cũng vội vàng trở lại chỗ em. Thở gấp, em không nhìn anh. Không hiểu lúc đó anh có tồ có ngố nữa không, anh đưa bó hoa cho em, vừa cười vừa nói: “Tặng bà cụ non của anh đây… Đẹp không, hoa mong manh như em đấy và vì thế em cần một hoàng tử chứ không phải là công tử nhé, anh sẽ là hoàng tử…” Em cười, mặt tươi rói, đưa tay đỡ bó hoa. Ôi, sao mà em xinh thế. Thiếu nữ bên những cánh bướm trắng mong manh… Cả hai đều mong manh. Em đưa tay lau những vệt mồ hôi trên trán anh. Anh nắm lấy bàn tay bé nhỏ: “Anh không ngố và tồ nữa chứ…” Em để nguyên bàn tay em trong bàn tay anh. Em mười sáu trăng tròn đắm say. 
Nhưng vẫn chưa hết buổi đi chơi ở xứ Đoài mà mục đích là tìm hiểu về chùa Trầm. Theo chỉ dẫn của dân trong vùng, chúng mình tìm đến chùa Trầm. Sao chùa tiêu điều, vắng vẻ thế? Chợt nhớ, ngày đó, mới sau cải cách ruộng đất vài năm, chuyện lễ bái, chùa chiền bị coi là mê tín, không được khuyến khích nên vậy thôi. Chùa Trầm ngoài mang trên mình tính lịch sử truyền lại từ xa xưa và phong cảnh đẹp, còn là một di tích cách mạng, nên không bị phá, vẫn thấy đôi chỗ còn lại những chân nhang thưa thớt đã phai màu, lâu ngày ít người lai vãng. Trong ánh sáng mờ ảo của ngôi chùa dựa vào vách núi tạo vị thế thâm nghiêm, anh như thấy có sự thiêng liêng và huyền bí hoà trộn. Thấy em rất nghiêm trang chắp tay lầm rầm trước một bức tượng không nhìn rõ, anh cũng bắt chước theo. Em, nét mặt nghiêm trang không thay đổi, anh giữ riêng cho em cái khoảng không gian im lặng thần bí, để em đó với những lời cầu nguyện thiêng liêng, anh đi tìm hiểu những chỗ khác và lúc sau, ra phía ngoài, đợi em. 

Chừng hơn chục phút sau em mới ra. Nhìn mặt em, anh thấy phảng phất nét thiên thần trong những bức tranh công giáo mà ngày xưa bé tí, những lần vào nhà thờ, anh đã được xem. Anh cũng nghĩ về các cô nữ sinh dập dìu bên cổng trường Trưng Vương những giờ tan học. Những cô gái với những tà áo trắng tinh khiết học trò, mà ngày đó, anh chẳng dám nhìn lâu. 
“Công tử, ta ra bãi cỏ có gốc cây kia ngồi đi…” Nơi đây hoang sơ, rất sạch. Bãi cỏ mượt mềm cho cảm giác êm ái làm sao. Lác đác vẫn thấy những bông hoa cánh trắng nhuỵ vàng đung đưa theo chiều gió mà anh hái tặng em. Nhìn hoa lay lay trong gió càng thấy em mỏng manh hơn trong không gian vắng lặng. Anh còn nghe vẳng đâu đây tiếng nước chaỷ. Em bảo anh nằm mơ. Anh bảo chốn thiên thai thì ai mà chẳng mơ. Đây gần “Suối mơ” đấy… 
Chúng mình ngồi bên bãi cỏ mang xôi ra ăn. Xôi muối vừng, dân dã mà ngon thế. Vừa ăn, anh vừa hỏi em, em cầu gì mà lâu thế. Em hỏi anh, suối mơ là gì. Anh hỏi em, em có thấy sự linh thiêng. Em hỏi anh, thiên thai ở đâu. Anh hỏi em, thần phật có thật không. Em hỏi anh, suối mơ có thật không… Chẳng ai trả lời ai và cũng chẳng ai hỏi lại câu hỏi mình. Anh cảm như em đã là gì đó thân thiết, rồi mọi chuyện cũng sẽ rõ. 
Có đoạn mà anh thích nhất chuyến đi, anh dựa gốc cây, nhắm mắt và tưởng tượng lung tung cảnh núi Thiên Thai. “Này em, Thiên Thai là như thế này đấy. Em cũng dựa gốc cây nhưng ở phía bên kia, mở mắt, xoay về phía anh, chờ nghe… Nghe không? Không thèm nghe nữa… Hỏi từ nãy… lại bịa hở… Anh cười, không bịa, nghe không. Không nghe… Vậy thì thôi. Một lúc sau, em, thì nghe. Không kể nữa. Không được, phải kể. Nói rồi phải kể. Em giả vờ đấm anh, những cú đấm nhẹ như phủi bụi. Anh thích vậy. Kể đi, kể đi. Anh nắm được bàn tay nhỏ nhắn, vậy thì kể.
 Và kể cho em: “Thiên Thai là động tiên. Ngày xưa có hai chàng trai tên là Lưu, Nguyễn, người trần thế, lạc đường. Họ lạc vào động tiên, gặp hai nàng tiên nữ. Vậy là quên lối về. Các nàng Tiên đẹp lắm. Nhưng rồi cuộc sống trần gian quyến rũ nhiều nhớ nhung hơn, họ bỏ động tiên tìm về với trái đất. Em thấy chưa, người trái đất chúng ta đẹp nhất và đáng yêu nhất…” Anh nhìn em còn em quay đi… Anh không nói nữa. Một cái gì đó bâng khuâng, xáo động. Chúng mÌnh im lặng tận đến lúc lên đường về nhà, mỗi người một suy nghĩ. 
***** 
Rồi anh đi, rồi chiến tranh… Chiến tranh cũng đồng nghĩa là sự chia li. Thư từ trao đổi cho nhau nhẹ như ngọn gió chỉ đủ lay lay làm đung đưa những cánh hoa bướm mong manh. Năm năm sau anh về, tìm con phố đó, đi trên con đường đó, mong gặp được con người đó… Tất cả là một giấc mơ. Ngước lên xanh cao là những cánh chim trời. 
Anh như bao người trai khác, lao vào cuộc chiến không mong muốn. Anh đi và mang theo hình ảnh ngôi nhà, nơi em hẹn gặp, ngày đó em mười sáu trăng tròn đắm say. 
Và hôm nay, sau bốn chục năm, như một định mệnh, hình ảnh ngày xưa em mười sáu trăng tròn đắm say, trở lại. Hoá ra với em, anh vẫn chỉ là một công tử suốt đời lãng du và chẳng bao giờ là hoàng tử với cánh buồm đỏ thắm đón được em. 
 Vinh Anh 5/11/2022

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2022

Trò chuyện với ngày xưa

 

Trò chuyện với ngày xưa 

 Ngày xưa nhưng mà chưa lâu lắm, ngày đó, nàng đã có gia đình và đương nhiên không còn trẻ. Nhưng với hắn, sao vậy không biết, nàng vẫn cứ trẻ. Thậm chí, theo hắn, nàng lại trẻ một cách “vô duyên”, hắn nghĩ. Tại sao nàng cứ mãi trẻ thế. Nhiều lúc hắn thấy, nàng lại còn rất trẻ con, chứ chẳng phải chỉ mỗi là trẻ thôi đâu. Đấy, cái động tác nàng xoay người, nàng nhảy chân sáo, nàng cười, nàng giơ tay lên cao… Hắn ngắm nàng, nhìn trộm nàng, nghĩ về nàng và tự nhiên nhớ lại, thấy nhớ cái trẻ trung của con bé từ ngày xa xưa. Hắn nghĩ về sự trong veo, thuần khiết của ngày xưa. Ôi cái ngày xưa trong veo, tinh khiết. Nhìn nàng, hắn bỗng nhớ nôn nao cái ngày xưa đó. Ngày xưa, hắn hay chơi trò chơi của tụi con gái, nhảy giây, nhảy ô, trồng nụ trồng hoa, chơi chuyền… trò nào của bọn con gái hắn cũng chơi và thạo chơi là đằng khác. Nhiều lúc, bọn con gái của hồi cấp một, đến tận cuối cấp hai, nghĩa là lớn rồi, vẫn còn thích gọi hắn chơi cùng. 
Ừ, ngày đó, trong nhóm bọn chơi chuyền bằng những cái que kem đã được rửa sạch, cũng có một đứa giống nàng. Nghĩ về đứa con gái ngày đó, hắn chợt nhận thấy, nàng bây giờ của hắn giống con bé ngày xưa ở dáng thanh mảnh, gọi là thanh mảnh hay gày gò cũng được. Lạ! Hai con rồi mà vẫn như con gái, làm hắn thêm lưu luyến, tiếc nuối ngày xưa, cái ngày xưa như vẫn hiển hiện, mỗi khi hắn có dịp về thăm lại ngôi trường và đắm mình trên con đường từ nhà đến trường thuở nào, vẫn cùng đi với con bé đó. 
Ngày đó có chuyện xảy ra giữa cô bé và hắn. Một lần, bọn thiếu nhi quàng khăn đỏ, tầm lớp bốn lớp năm, cỡ mười tuổi, đang học cấp một được huy động đi cổ động, đâu như nhân dịp đại hội đảng bộ của xã hay huyện gì đó. Huyên náo ầm ĩ là cách bọn trẻ được khuyến khích tạo ra bằng mọi thứ âm thanh của nồi niêu soong chảo và cả một cái trống trường được khiêng theo. Càng tạo ra nhiều tiếng động lớn để được chú ý nhiều càng tốt, tất nhiên không thể thiếu tiếng hô khẩu hiệu, hô đến rát họng, đến nỗi cuối buổi, không còn tiếng, còn sức để hô nữa. Đến tối mịt, đến giờ đi ngủ, ngủ tập trung để sáng hôm sau đi cổ động sớm. Trong lúc chờ mang khoai đến (chẳng là ngày đó đói lắm, đứa nào cũng đói, được củ khoai cũng quý) thì có đứa đã ngủ. Bọn hắn nằm ngủ ở kho hợp tác. Khoai không đến, mà là để sáng hôm sau, những tưởng được hai bữa mà chỉ dồn có một. Vậy là ngủ. Bọn con trai nằm đối đầu với bọn con gái. Hắn đang thiu thiu thì nghe thấy tiếng con bé khóc, gọi, sang đây nằm với tao, tao sợ ma lắm, tao cứ thấy cái gì chập chờn. Con bé cứ i ỉ tấm tức khiến nó thương, nó sang, ngồi cạnh con bé. Con bé bảo, mày nằm xuống đây cho tao đỡ sợ. Và nó nằm xuống bên cạnh, cả con bé và hắn cùng lũ bạn ngủ luôn qua đêm. Chuyện qua đi, chẳng đứa nào nhắc lại. 
Có thể ý thức nam nhi của hắn được đánh thức từ tối hôm đó, hắn thấy hắn phải khác, phải mạnh mẽ, mạnh mẽ mới có thể bảo vệ và bênh vực những kẻ yếu thế. Hắn dần xa các trò chơi con gái. Hắn thích bơi và con sông quê là thử thách đầu tiên để hắn vượt qua. 
Trường xưa mái lá đơn sơ, đơn sơ lộ ra sự nghèo đói mà hắn theo học bảy năm không còn nữa. Hắn đến để nhớ ngày xưa, cái ngày xưa mà hắn vương vấn rồi nhận ra điều mất mát không thể bù đắp. Trên mảnh đất ngôi trường xưa đó là ngôi trường ba tầng khang trang, đẹp đẽ. Cái duy nhất còn lại là hàng cây phượng quanh sân. Các thế hệ thày trò nối tiếp nhau đều coi những cây phượng này là biểu tượng của trường, là bề dày của trường, là chứng nhân lịch sử của trường. 
Mà thật sự thì các cây phượng rất đẹp, đẹp đặc biệt khi hè về, phượng nở hoa đỏ chói, báo hiệu mùa chia ly, mùa nhớ nhung, mùa gửi gắm niềm yêu thương, mùa hy vọng… Đây, chính nơi này, hồi đó là một bãi cỏ rộng, có một vườn cây thực vật cho học sinh tập nhận biết các loài cây cỏ, cũng học đôi điều về cách nuôi trồng. Có khá nhiều cây to, bóng mát khác, nhiều nhất là phượng và bàng. Học trò thường ngồi dưới tán cây tán chuyện. Chẳng nhớ được chúng nói những chuyện gì.
 Có lần cả nam và nữ rủ nhau chơi trò bịt mắt bắt dê. Trò chơi này cần nhiều người tham gia, có đến hai chục đứa. Hắn và con bé cùng chơi. Đến lúc nó bịt mắt và con bé kia bị đuổi bắt, hắn túm được áo con bé, con bé vùng ra chạy được, hắn đón đúng hướng con bé chạy và chộp đúng con bé lần nữa. Tay hắn giữ chặt hơn, hắn muốn thắng nhanh, cởi phắt cái khăn bịt mắt ra, đúng lúc đó, khuy bấm áo ngực của con bé tuột khỏi bật ra, hắn nhìn thấy ngực con bé, trắng và đôi vú bé tí chum chúm, con bé ngượng và hắn cũng ngượng, bọn trẻ chơi cười thích chí, vỗ tay đôm đốp. Và hắn nhận ra, hắn đã chộp vào ngực con bé. Phải đến cả tháng sau, hắn và con bé không dám nhìn nhau, cứ thấy nhau là lảng mỗi đứa một phía. Va chạm da thịt đầu tiên của hắn với con bé là thế. Bọn bạn trai tò mò hỏi hắn, “nó” thế nào, hắn bỏ đi, có cảm giác gì đâu chứ. Hắn nghe thấy đâu như tiếng mấy anh lớn “áo dài khuy bấm em làm khổ tôi”.(Nguyễn Bính)
 Hắn và con bé đã nhiều lần ngồi dưới những gốc phượng này, gặm nhấm vị ngọt ngào mỗi khi hè về, nghe tiếng ve râm ran khi xối xả, khi nức nở và nghe được cả tiếng thở dài cố nén lại trong lồng ngực tươi trẻ đang căng dần. Nhâm nhi những kỷ niệm, nhớ nhung, những hy vọng và cả những nỗi khát khao vụng dại lẫn nuối tiếc thời học trò. Những thổn thức, bồi hồi, xao xuyến… cả những đớn đau, thất vọng nữa đan sen, lẫn lộn, lộn xộn dồn về. Nhưng hơn cả là những niềm vui thơ ngây, những nụ cười hạnh phúc không hề phải nghĩ đến ngày mai sẽ ra sao. Và nhưng hơn hơn cả những điều trên, bồi hồi hơn, xúc động hơn, trào dâng hơn, đó là những ánh mắt trao nhau. Ánh mắt không biết nói mà khiến hắn xiêu lòng, không phải, đúng hơn là để ý cô bé đó âm thầm, đơn độc nhưng bền bỉ. Bền bỉ như ngọn lửa âm ỉ của con bùi nhùi, luôn giữ độ nóng và sẵn sàng bùng cháy. Ngọn lửa đượm là ngọn lửa chỉ âm ỉ, hắn nghĩ, ngâm ngẩm chậm nhưng chỉ cần một ngọn gió, ngọn lửa sẽ bùng lên, bùng lên như lửa bếp rơm ngày đông, mà thời đó, là thứ năng lượng bình dân nhất, sưởi ấm giúp những thân phận nghèo vượt qua những ngọn gió buốt giá. 

Hắn luôn thấy phảng phất mùi rơm rạ, mùi khói gộc tre bay lảng vảng, quấn quít và ám vào người. Người ta bảo mùi đó khét, còn hắn, ngửi được những mùi đó, cơ thể như được sưởi ấm hơn, như được tiếp thêm năng lượng để chống trả cái rét. Hắn nhớ vô cùng những ngọn khói gộc tre, rơm rạ ngoài cánh đồng, cứ ộc thẳng vào mặt đến độ cay xè, chảy nước mắt nhoè nhoẹt. Những lúc đó, hắn thấy con bé khi thì xích lại, khi thì lùi ra, chẳng hiểu ý gì, có lẽ nó muốn hắn ngồi tránh chỗ khói. Hắn nghĩ thế, chẳng hiểu có đúng. Hắn lại thấy thích thích vì cái ý nhị con gái và lại dâng trào một cảm giác bâng lâng, khó tả. Hắn nhìn trộm con bé, con bé cứ lặng thinh. 
Lại nghĩ về mùa đông ngày đó. Hình ảnh mà hắn không thể quên là những buổi hun khói bắt chuột đồng. Phải nói trước, chuột đồng rất sạch và không ai ăn nội tạng hết, ngay cái mỏ nhọn hay cả cái đầu của lũ chuột cũng được chặt, vất đi, cả cái hoi ở ngực và hai bên chân chuột nữa, bọn trẻ cũng đều biết. Sau vụ thu hoạch tháng mười ta, chuột đồng con nào cũng béo núc vì toàn ăn thóc, loại thực phẩm sạch, cao cấp của chúng. Có ổ, bọn trẻ trâu này bắt trọn cả ổ đến sáu bảy con. Gia đình nhà chuột sinh sôi rất nhanh nên chúng tàn phá ruộng đồng cũng kinh khủng. Cả ổ chuột sau bị hun khói, tất tần tật, chui vào cái lưới đã giăng sẵn ngoài cửa hang và bị bắt sang giỏ đựng đan bằng tre. Đôi khi, gặp phải những hang rộng, trên cao, phải múc nước đổ cho chuột ngập nước, nghẹt thở phải chui ra, kết thúc những ngày tháng ăn tàn phá hoại không biết bao nhiêu là lúa.
 Hơ tay sưởi trên đống lửa giữa cánh đồng còn trơ gốc rạ và những con chuột đồng sau khi thui (thui chuột để chế biến thành món ăn là cả một nghệ thuật mà bọ trẻ thành phố không bao giờ được hưởng). Đập bỏ lớp bùn và lông, thịt chuột còn bốc hơi, chấm với muối ớt, thịt ngon mềm như thịt gà, món ăn sang trọng chỉ được đảo qua môi trong những ngày giỗ, tết của bọn trẻ quê. Ôi, sao mà thương thế những ngày khốn khó. 
Nhiều lúc nhớ về những ngày đó, hắn nấc lên và nước mắt chảy ra. Những kỷ niệm đó, kết dính thêm hắn với quê hương chặt hơn, sâu sắc hơn. Đi đâu, đến đâu hình ảnh quê hương những ngày thơ ấu, luôn được hắn mang ra so sánh, đối chiếu. Hắn luôn nghĩ mình có những ngày thơ ấu hạnh phúc và đặc biệt trong sáng. Hắn luôn tìm ra những điều hay, vẻ đẹp riêng của quê hương. Ví như dòng sông, thử thách đầu tiên mà hắn vượt qua khi cố tập làm thằng đàn ông. 
Con sông quê hắn mới trong xanh, sạch sẽ, mát lành và dịu êm làm sao. Người làng vẫn ra sông quẩy nước về để dùng. Con bé của hắn quẩy nước hàng ngày bằng đôi nồi đất. Hắn nhận ra, đẹp hơn cả là những đêm trăng quê bên sông với dáng quẩy nước của con bé, dáng nó mềm mại, uyển chuyển, dưới bóng trăng, bóng nó cứ dập dìu, dập dìu, nhún nhảy, nhún nhảy… 
Hắn ngồi với con bé. Con bé của hắn nhỏ bé và cũng dịu hiền, mềm mại như ánh trăng, mát lành như những ngọn gió thu và ngọt ngào, ngọt ngào như… mật ong ấy. Mật ong ngọt như thế nào, thật sự hắn đã bao giờ được nếm. Vậy là cái dịu ngọt của con bé là nguồn cơn của mọi sự, là cái thắc thỏm mong mỏi, là cái ngong ngóng chờ đợi và trong xôn xang trong lòng khi thấy con bé. 
Nhưng mà khi đã để ý nhau “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” thì giận hờn cũng làm cho tình yêu thêm thi vị, thêm đậm đà, mà có khi còn cháy bỏng hơn. Nó làm đậm đà cho cuộc sống, nó khiến người ta ghi nhớ sâu đậm hơn, sâu đậm ở khoảng thời gian đẹp nhất của lứa đôi khi xuất hiện những tình cảm khác giới.
 Con bé của hắn tuy mảnh mai, bề ngoài có vẻ yếu đuối mà sắc sảo, mà cương quyết mà mà mà… gan lì lắm. Cô bé đã làm hắn hiểu thêm hương vị đặc biệt của nhớ nhung, của xa cách, đặc biệt những thơ ngây, tinh khôi tuổi học trò đẹp đẽ như thế nào. Có lần, hai đứa vừa chia tay nhau, hắn lại quay lại, nói với con bé, tớ lại nhớ cậu rồi. Con bé phì cười, đẹp lạ lùng, nó thích thú nói với hắn, dở hơi, về đi. Về nhà ngồi nhớ cũng được. Hắn quay đi nhưng đầu vẫn ngoái lại. Hắn cũng thấy con bé ngoái lại. 
Mà tuổi đó, có giận hờn thì cũng chỉ là giận hờn vì hiểu lầm nhau, nỗi giận có chút hờn ghen của yêu đương, thấy mình như bị người đó không được để ý bằng người khác trong một đám đông. Một chút gì đó của sự đòi hỏi sở hữu, là riêng, không thể sẻ chia, đã nhen nhóm. Có vẻ như thấy ánh mắt ai đó liếc nhìn về phía người mình để ý. Có vẻ như một buổi hẹn hò chậm trễ. Có vẻ như quên mất một sự kiện có liên quan mà lý ra phải nhớ. Có vẻ như, có vẻ như… nhiều cái có vẻ như vớ vẩn lắm, bâng quơ giời ơi lắm. 
 Cái giận hờn của con bé là như thế này. Ngày đầu học cấp ba, hắn dẫn một lũ bạn về chơi, trai gái đều có. Con bé thấp thoáng xa. Hắn mải tiếp bạn. Con bé đến gần, nó không nhìn thấy. Con bé đi đi lại lại hai lần nữa, hắn cũng chẳng chú ý. Vậy là con bé tức tối bỏ về. Hắn vẫn nhiệt tình tiếp bạn, lại còn cầm tay một đứa con gái chỉ cho nó biết cái giếng thơi đầy nước trong mát, múc nước từ giếng lên để nó cảm nhận khi rửa mặt. Lớp hắn con gái ít, vì đa số gia đình không đủ điều kiện tài chính để cho theo học tiếp cấp ba, vì quan niệm trọng nam khinh nữ, những đứa này chỉ vài năm nữa sẽ con bồng con bế. 
Con gái vào được cấp ba, gia đình đều kha khá hoặc học lực cũng khá. Bọn này ăn mặc chải chuốt hơn, điệu đàng hơn, con gái rõ nét hơn. Nhiều đứa đã biết yêu. Vậy thôi và con bé tức, con bé giận, con bé hờn không thèm gặp mặt hắn. Hắn không rõ nguyên nhân, con bé chỉ vùng vằng, “tôi làm sao bằng được người ta”. Mãi rồi nó mới hiểu ra. Hắn tìm gặp để thanh minh, con bé không nghe. 
Hắn không biết làm sao, về nhà, ngồi nghĩ mà đau cả đầu. Hắn lấy bút, viết cho con bé bài thơ. Lần đầu nó làm thơ mà thơ lại viết về con bé. Hắn mở đầu có ý trách móc “Gặp tôi người dửng dừng dưng/ Làm cho tôi cứ.. lửng lưng chẳng đầy” đọc câu đầu tiên, con bé cười thầm, thích thú, cho chết…ai bảo. Hắn bâng quơ như hỏi, như thanh minh, cũng là nhắc nhở con bé “Lời yêu gom nhặt cả đời/ Ai đem đánh đổi cho người dửng dưng” rồi lại khẳng định cho sự chung thuỷ “Tơ hồng nhiều lắm ai buông/ Thế gian nhiều lắm chỉ vương… một người” thêm một tí trách móc, xuống nước làm lành “Cũng là duyên số ở đời/ cho nên người hỡi… đừng thôi nữa mà” rồi hắn xác định con bé là nguồn yêu “Dáng duyên em đấy nụ cười/ Mang hơi thở trẻ của thời tôi yêu/ Đời vui ngẫm được bao nhiêu/ Cười đi để gửi bao điều cho nhau” Con bé đọc xong hết giận, thấy thương thương hắn, nhơ nhớ nữa và mong nó vẫn quẩn quanh đâu đây. Con bé đi ra ngoài. Đúng là hắn đang thơ thẩn gần đấy. Hắn chạy lại phía con bé, con bé quay người laị, mỉm cười. “ Hết giận nhé”. Vâỵ là thơ giải toả tất cả, thơ tuyệt vậy đấy! 
 Những tháng sau đó, tình cảm chúng nó gắn kết hơn, nhưng là sự gắn kết của cái đẹp, cái tinh khôi, cái trong veo. Bọn chúng chưa hề cầm tay nhau, ngồi nói chuyện cũng cách xa. Mỗi lần từ chỗ trọ học về nhà, mà hắn bảo bạn bè, rằng đó là những chuyến bồi đắp tình quê. Có thằng bảo, mày phải lòng con bé nào mà học toàn chỉ nghĩ tới ngày về. Hắn lấp la lấp lửng, phải, tao phải lòng người quê mất rồi. Cũng chẳng đứa nào được nó nói rõ hơn. 
Hồi nghỉ hè lớp chín, chuẩn bị vào lớp cuối của thời học sinh, hắn mười tám. Khắp nơi rục rịch chuyện đi ở, chuyện tương lai. Nhưng hơn cả là chuyện động viên thanh niên học sinh sẵn sàng lên đường nhập ngũ. Hắn phân vân lắm vì biết chắc “phận đại tá điền” nhà hắn. Về nhà, gặp con bé nói chuyện. Chuyện xa chuyện gần, hắn đọc cho con bé nghe bài thơ “Núi đôi” và nói, hắn lo cho nó lắm. Con bé cướp lời hắn “Lo cho người đi xa, người lên Đông-Bắc ấy, ở nhà sợ gì”. Hắn lại hỏi con bé có thích màu tím hoa sim không? Con bé bảo màu tím là màu yêu thương nhau suốt đời đấy, màu thuỷ chung đấy, nếu thích là chỉ được thích một người thôi. Chẳng hiểu sao, hôm đó, hắn bảo hắn ngu, ngu quá, ai lại nói vào đúng hai bài thơ mà hai người con gái hậu phương đều chết. Hắn sợ bài thơ vận vào con bé, nhưng rồi chuyển đề tài rất nhanh, thế là “có núi chồng núi vợ đứng song đôi” phải không? Con bé “hứm”, xấu hổ, quay mặt đi.
 Hắn vẫn chẳng biết thổ lộ lòng mình thêm thế nào nữa nhưng hắn tin con bé hiểu. 
Thế rồi chiến tranh và thế rồi chia xa đằng đẵng. Thế là hắn thật sự va đập với đời. Hắn đi theo tiếng gọi yêu nước nhưng tiếng gọi thăm thẳm xa tận đẩu tận đâu ấy, người ta bảo đó là tiếng gọi non sông. Hắn đi và không xác định được ngày về. Chẳng ai ngày đó đi mà xác định được ngày về cả. Tuổi trẻ hắn hoà cùng núi rừng Trường Sơn. Trường Sơn dài lắm, dài dằng dặc chục năm. Chục năm bặt tin tức nhau, chục năm hắn chỉ được nhớ và hi vọng, hỏi còn ai đợi ai chờ ai khi lời yêu chưa ngỏ. Một thế hệ (có thể hơn) con người đất nước mình chịu cảnh đó, bởi đó là chiến tranh.
 ***** 
Hắn trở về quê hương. Nhiều người xưa đã tứ tán, người còn người mất, người trẻ lớn lên mà hắn không nhận ra. Nhưng xóm làng vẫn vậy, những nếp nhà cũ kỹ hơn, đường đi lối lại vẫn thế nhưng có vẻ già nua hơn, tiêu điều hơn. Hắn tìm con bé, con bé không còn nữa. Mối tình hắn với con bé kín đáo lắm, chẳng một ai hay biết, chỉ có hai đứa biết với nhau. Hắn về mái trường xưa. Cũng vậy, xác sơ, rệu rã, mòn mỏi hơn trước. Hắn biết con bé chờ hắn, chờ hắn đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Con bé đi không một lời để lại. Câu “phút cuối không nghe được em nói” vẳng về.(Hữu Loan) Câu thơ đã vận vào hắn. Nỗi đau khiến hắn buồn thắt ruột, cảm như cuộc đời đang sập chìm trong bóng đêm, không cựa quậy, không lối thoát. Một quả núi đè nát tâm hồn hắn làm hắn tan ra rã rượi. Cả một mảng u ám cuộc đời giăng che mắt hắn. Tất cả giờ đây đều là vô vị, trống rỗng. Người nhà con bé biết đến hắn khi tìm được bài thơ hắn gửi cho con bé ngày hai đứa giận hờn. Người ta mới hiểu vì sao con bé không lấy chồng. Một câu nói bâng quơ từ một bài thơ làm con bé chờ đợi, chờ đợi mãi, chờ đợi cả một đời. Con bé chưa nghe được một lời yêu từ hắn. Mối tình thật đẹp nhưng cái kết cục cũng thật lâm ly. Buồn lắm!
 Chuyện tình đó được hắn kể lại với một cô giáo tương lai, học sư phạm văn. Cô giáo tương lai có dáng người như con bé ngày xưa. Học xong được điều về đây khi trường đã khang trang, đẹp đẽ để xứng đáng là nơi tạo ra những con người có tâm hồn đôn hậu, đem lại lợi ích cho đời. Cô giáo có vóc hình như người xưa, thấu hiểu nỗi buồn của hắn. Hắn hiểu sự thấu hiểu đó là món quà không dễ tìm kiếm trên đời và cô biết, mọi lời động viên, an ủi với đều không cần, cô chỉ im lặng để hắn được trở lại những ngày xưa yêu dấu. Cô là như vậy, hắn chẳng mong gì hơn. Đó cũng là món quà thượng đế tặng cho hắn. Đấy, giờ đã hai con mà vẫn mảnh mai, nhẹ nhàng. Mỗi lần về lại trường xưa, cô giáo đều đi theo hắn, đều ngồi lặng yên dưới những tán phượng, những chứng nhân của lịch sử nhà trường, cô trân trọng sự lặng im của hắn. 

 16/8/2022-Mùa vu lan

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

Bài hát cũ

 

Bài hát cũ

 
 Lại bất ngờ nghe bài hát của tôi
 từ một thời xa rồi, lâu lắm
 chiều hôm đó, mưa rơi rất nặng
 mưa trong nỗi hờn, mưa trong mắt ai

 Rồi em đi… mưa lặng…gió dài

 Ngần ấy năm rồi, những tưởng nguôi ngoai
 người hôm nay lại hát
 “em đã thuộc về ai và anh của người khác…”*
 Bản nhạc buồn hồi đó …vẫn chưa phai

 Làn điệu du dương cứ thổn thức ta hoài
 Người ca sĩ cùng tôi đi trong sớm mai
 nỗi nhớ thì bay xa còn hồn thì chìm lại
 và đôi mắt, đôi mắt đã làm tôi tê dại 
đôi mắt người đã chứa phần đời tôi
 
 Bài hát buồn, đẹp sao cái thủa tinh khôi!

 (*)lời một bài hát 

 VINH ANH


Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

Về Điện Biên nhớ bố

 

Về Điện Biên nhớ Bố 


 Đồi A1 cuối cùng con đã lên 
hầm Đờ Cát vậy là con đã xuống 
Điện Biên Phủ- 50 năm âm hưởng 
cho lớp chúng con hưởng hương vị ngọt ngào 
 50 năm qua rồi chẳng phải giấc chiêm bao 
Điện Biên Phủ- Trận tầm cao của bố 
con cố hình dung những ngày gian khổ 
máu ngập trong bùn…bao đồng đội hi sinh 
những tấm gương cho con soi lại chính mình 
mà thấy cổ tắc nghẹn 
trước những con người đã hiến dâng trọn vẹn 
cả cuộc đời để đất này nắng tỏa sắc lung linh… 

 Không thể đếm những bước chân 
trong cuộc trường chinh tám năm dài của bố
 không thể hiểu hết đời gian khổ 
 anh vệ quốc xông pha vì nước vì nhà 
 chiến trường nối chiến trường tiếp nhịp hành quân xa 
 để bây giờ chúng con ca khúc ca người chiến thắng 

 Điện Biên Phủ- bên tượng đài hôm nay con lặng ngắm 
 mượt mà xanh- Mường Thanh thắm lại rồi 
 chiến hào A1 ngày đó lựu đạn rơi 
 bao người ngã mà bố thì thoát chết. 
 Quả đồi nhỏ địch và ta giành nhau từng tấc đất 
 chiến hào khoét sâu, cơm trộn đất, ngủ hầm 
 đoạn hào nào bố đã đứng trầm ngâm 
 khóc đồng đội âm thầm… không nước mắt! 

 Điện Biên Phủ mở đường dẫn dắt 
tuổi trẻ thời chúng con vẫn mặc áo chiến bào 
miền Bắc đã rộng đường…chim đã bay cao 
đường phía Nam…chúng con còn đi tiếp 
những đương 9, Nam Lào, Quảng Trị ác liệt 
con vẫn nghĩ ngày xưa, bố còn khổ hơn mình 
bom ném xuống đại ngàn bằng đâu được đạn pháo ở Điện Biên 
phải vì thế tầm cao Điện Biên luôn ngời sáng… 

 Điện Biên Phủ, bố biết không, chiến trường xưa đã khác 
một thành phố phồn vinh, một thành phố hòa bình 
đồi A1 vẫn còn…hố bộc phá lặng thinh 
những di tích của ngày xưa- 50 năm- 3300 người trên đồi đã chết… 
bên mộ chí những anh hùng của trận chiến Điện Biên oanh liệt 
 con khóc thầm, thương rất nhiều, bao đồng đội của cha 

tối nay mưa, những hạt mưa trên mảnh đất hiền hòa 
đồi A1 những ngày qua khách phương xa nhiều lắm 
tất cả đến đây đều bắt đầu từ tình yêu sâu thẳm 
với mảnh đất Điện Biên, với các chiến sĩ anh hùng
 và mọi người đều hiểu: đời có thủy có chung 
những chiến tích oai hùng đã trở về đúng chỗ ! 

 Hôm nay chúng con ngồi đây giỗ bố 
nhìn ngọn khói cong như thấy bố hiện về 
nâng chén rượu này càng nhớ bố, nhớ ghê 
con bỗng chợt nhận ra tình yêu bắt đầu từ sâu xa lắm lắm 


 Hà Nội-Điện Biên-Lai Châu 17/05/04

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2022

Có một dòng sông manh tên Hà Nội

 

Có một dòng sông mang tên Hà Nội* 
                                                                 Tặng cháu Lê na 


Có một dòng sông mang tên Hà Nội 
ngày em sinh 
trận đại hồng thủy
 con sông Đáy oằn mình 
 con sông Tô tràn nước 
gánh cho “sông” Hà Nội bớt mênh mang… 

 Có một dòng sông mang tên Hà Nội 
ngày em cưới 
cô dâu ngồi xe nước thẹn thùng 
khách sắn quần nước sâu bì bõm 
áo dài trắng không thiên thần nâng cánh mỏng 
bởi tơ trời vẫn khoan nhặt dây dưa 
chú rể bế em lãng mạn trong mưa 
kỷ niệm đẹp… 
 Có một dòng sông mang tên Hà Nội 
ngày em mất 
nắp cống không đè lên ngực em mà đè lên cuộc đời… 
Em đi rồi lá còn xanh quá 
hoa muốn nói điều chi? 
 Xin ít thôi những lời phân bua 
càng đừng nên nói điều dối trá 
ngẫm cái giá cuộc đời phải trả 
nước mắt có rơi nhưng quá muộn màng 
nghe tiếng đời đau đáu trái ngang 
sông Hà Nội vẫn thở than trăn trở… 

 Có một dòng sông nức nở 
trong thời khắc chuyển mình 
lẽ đời sau cuộc hồi sinh là âm thanh rộn rã! 
 Tôi vẫn thấy cuộc đời hối hả tìm những bước đi 
có những lời không nói nhiều khi 
hay hơn nhiều điều đã nói 

 Sông vẫn chảy nhắc nỗi niềm sương khói 
và vẫn hoài than thở mãi những điều muôn thuở của thế gian 

 ý thơ của Lê na 


12/08

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2022

Quá khứ chưa úa màu

Quá khứ chưa úa màu

 “Quá khứ tuy úa màu…”. Bài hát xưa về tình yêu khi đất nước này ngày đó vẫn chia làm hai, nghe não nuột, buồn da diết. Một sự chia xa không gặp laị, một cái gì đó ngậm ngùi vì mất mát, vì cảm nhận thân phận thiệt thòi. Lại xót xa, lại xao xuyến thêm vì đó là giọng học trò. Sự việc đó xảy ra, vào cái tuổi con người dễ xúc động nhất, tâm hồn mong manh dễ xao xuyến nhất. Ngày đó, ừ sao nhỉ? Ngày đó như mới đây thôi, còn có em bên tôi, tôi khi đó là của một thời trai trẻ. Cả em và tôi, đều như tờ giấy trắng, thơm phảng phất mùi giấy mới và lấp lánh những dòng chữ màu mực tím học trò trên các trang vở. Nhưng giờ thì, quá khứ úa màu và tôi thì nuối tiếc. Tuổi mộng mơ đẹp kỳ diệu, huyền ảo làm sao, thần thánh và thiêng liêng làm sao. Từng lớp, từng lớp ký ức ùa về khiến tâm hồn xôn xao, xáo động, ta như thấy lại ngày xưa yêu dấu. 
Hằng ngày, nhìn những đứa trẻ tuổi tôi ngày đó, thấy những ngày thơ dại trong veo đó đang trở lại, đang chờ ngóng đâu đây, rộn lên một cái gì vui vui ấm áp. Ngày đó không thấy chút gì đáng nhớ, đáng yêu cả, nhưng bây giờ nghĩ lại, đó là những phút giây thăng hoa, lãng mạn và kỳ diệu nhất trần đời, nó vỗ về mang lại sự dịu êm trong lòng, nó làm hồn ta lâng lâng. Đâu đã úa màu? Đây, em vẫn bên tôi thân thiết. Lại thấy khoảng trời mộng mơ, lại thấy con tim với nhịp đập bồi hồi, lại thấy những xao xuyến đến si mê, khi ta bên em những buổi đi học. Nhà trường ngày đó có thêm sự cuốn hút.
 Nói qúa khứ chưa úa màu là nói gượng. Quá khứ vẫn úa màu. Chẳng có gì có khả năng tồn tại với thời gian, huống hồ quá khứ của con người. Con người, một loại động vật, dễ quên quá khứ, rất nhiều khi còn muốn vất bỏ nó, nếu quá khứ đó xấu xa, nếu quá khứ đó không mang lại niềm kiêu hãnh của người đó. Đó là sự bạc bẽo mà rất rất nhiều con người không nhận ra, vì thế, cũng không biết xấu hổ. 
Nhưng với tuổi non tơ thì khác. Ngày đó chúng ta không gian trá, chúng ta ngây thơ. Ngày đó khác ngày hôm nay ở sự trắng trong đến ngốc nghếch, khờ dại. Chẳng thể nào quên khi lần đầu, buổi thơ ngây đó, ta vấp vào sự nhớ nhung, cái nhớ nhung không màu, không vị nhưng lại vẫn cứ cảm thấy hồn cốt nó thoang thoảng, lờ mờ, bảng lảng. Đó là nỗi nhớ tuổi thơ, nỗi nhớ học trò. Nỗi nhớ học trò như màu hoa, màu hoa trong veo, không màu, mang đầy kỷ niệm nhung nhớ. 
Rồi thì nỗi nhớ cũng hình thành rõ nét, nó khi màu tim tím, nó khi màu xanh xanh, cũng có khi nó biến thành màu phượng đỏ rực, hối hả, vội vã, tươi rói, bùng cháy trong cái nắng tháng năm. 
Nói về hoa và màu gắn với thời học trò, tôi có ba ấn tượng. Màu đỏ của phượng như đã nói, màu tím của mực tím nhớ thương, mềm mại, hiền lành và màu trắng tinh khiết không phôi pha bạc màu của áo dài nữ sinh.
 Màu trắng áo dài thời tôi ít lắm. Tôi chỉ có kỷ niệm nho nhỏ về màu trắng áo dài này khi tôi đã mười tuổi. Ngày đó, trường Trưng Vương chỉ toàn nữ sinh. Hôm đó đi ngang phố Hàng Bài thì tan trường, các cô gái cỡ mười hai mười ba ùa ra qua cổng và tản về các phố mà tôi cứ tưởng như đó là đàn bướm trắng, đàn bướm mà tôi từng bắt gặp cũng trong sự ngỡ ngàng, ngày tôi bé tí mới năm sáu tuổi, khi đó gia đình tôi tản cư ở chiến khu Đông Triều, chạy giặc Pháp, phải trốn vào rừng. Ấn tượng đẹp và lạ nên cứ lưu giữ trong tôi mãi. Tôi đứng lại và nhìn các nữ sinh trong giờ phút tan trường và ký ức ngày còn bé tí bỗng sống lại. Tôi nhớ mình đã ngắm nhìn các nữ sinh tan trường như ngắm đàn bướm cả trăm cả ngàn con ngày trước. Chúng phấp phới, chúng múa lượn như các nữ sinh trong tà áo trắng tinh khiết trước cổng trường hôm đó. Tôi từng ước, giá mình là con gái để được mặc đồng phục áo dài trắng nữ sinh, đẹp mê mẩn. Cái đẹp thanh tao, trong trắng khiến thằng bé mười tuổi cũng nhận ra. 

Cũng còn một cái đẹp ấn tượng của màu trắng là màu trắng hoa sưa. Ở bách thảo-Hồ Tây, trước cổng trường Chu Văn An không xa, thủ phủ của hoa sưa Hà Nội. Tháng ba, hoa sưa nở trên cây từng chùm và rơi xuống mặt đất thành một thảm trắng chạy dài con phố, phủ kín mềm mại thêm nét tinh khôi và mỏng mảnh như một dải lụa trắng. Các nữ sinh hôm đó nơi đây cũng mặc đồng phục áo dài trắng. Đông lắm, nhiều lắm, những bóng áo dài bó những đường cong chưa thật thiếu nữ cho ta nhận ra sự trong sáng, hồn nhiên và rất trẻ con. Những búp tay bé nhỏ, trắng ngần nhặt những cánh hoa sưa trắng phau, thấy lại cả một thời còn nhí nhảnh, ngây thơ, vô tư ngày xưa xa lắc. Chẳng vậy, hoa mang nữ tính! 
Màu tím gắn bó với học trò là màu mực viết. Xưa, ta thường được học viết bằng ngòi bút lá tre, ngòi bút được cắm vào cán gỗ tròn gọi là quản bút. Ngòi bút được chấm vào lọ mực tím, rồi viết lên giấy trắng. Chữ viết bằng mực tím nổi lên trang giấy trắng học trò rõ ràng, sáng sủa, tinh khôi. Nó là một dấu ấn. Nhưng nó cũng vô cùng đơn giản như một trò chơi con trẻ, như một nét chấm phá đầu tiên của cuộc đời con người. Con người bắt đầu được trang bị kiến thức để tự đứng trên đôi chân của mình bằng màu tím đơn sơ, dịu nhẹ, phơn phớt man mác đó. 
Có nhiều loài hoa sắc tím. Nhưng gần đây, loài hoa gắn với tháng năm, gắn với học trò hơn cả là màu tím bằng lăng. Bằng lăng có loại tím nhạt, có loài đậm hơn, có loại khi nở tạo thành chùm dài như đuôi con chồn, con sóc. Màu tím bằng lăng là một màu tím nhẹ nhàng, bình dị, rất dễ nhận ra chất dân dã của hoa. Tháng năm, nhìn bằng lăng nở, ta thấy bịn rịn buồn buồn. Hoa gây ấn tượng về chiều sâu, về nỗi nhớ thầm, về tình yêu còn chưa dám ngỏ, về một cuộc chia ly khiến cho tất cả cùng lưu luyến xen lẫn luyến tiếc. 
Nhưng hơn cả là phượng. Phượng có màu đỏ nóng hổi, tràn đầy sức thanh xuân, sức trẻ. Phượng cháy đỏ cho cảm giác rạo rực, hừng hực, sôi nổi. Phượng cũng thể hiện sự nhiệt huyết và tâm hồn thiết tha. 
 Từ lâu rồi, mỗi kỳ phượng nở, dãy phố có nhiều phượng được gọi là những hàng cây đắm say. Ai cũng có một thời hoa phượng, nên hàng phố nhiều cây phượng luôn là cảm hứng xôn xang cho nhiều lớp người. Có lớp người chìm đắm như bắt gặp dĩ vãng xưa, có lớp người say sưa trong phút lãng mạn. Còn có một lớp người đông đảo bắt đầu làm quen với hoa, sẽ gắn bó với nó cả chục năm, tích tụ thêm những kỷ niệm và tình yêu với hoa. Nhưng hơn cả, mùa phượng nở luôn gợi nỗi nhớ, dắt ta về những kỷ niệm đẹp, êm ả. Cứ thấy phượng nở là tâm hồn ta nôn nao, đắm say, là tràn trề ký ức đẹp, là thèm muốn khát khao. 
 Những ước vọng viển vông đều bắt đầu từ những dòng mực tím, từ những khao khát cháy bỏng lửa phượng và từ trong veo tinh khôi của những cánh hoa sưa. 
 Tôi phiêu bạt mấy chục năm giờ lại đi bên hàng cây xưa với những kỷ niệm mờ ảo. Đâu đâu cũng thấy kỷ niệm. Có phải đây, chỗ tôi và em khắc trên cây hình trái tim và tên hai đứa. Cây phượng xưa đã trở thành cổ thụ, bóng trải rộng và gốc cây xù xì. Những khe nứt của lớp vỏ trên thân cây đã xoá mất hình khắc xưa. Bóng em xưa vẫn đâu như chỗ này. Không, chỉ là thinh không im ắng, lặng nghe tiếng ve nhả những giọng ru buồn mà bỗng con tim thổn thức… Bạn cũ đã mỗi người một phương trời, một số phận, chẳng còn mấy đứa giữ liên lạc. Có một đứa sống đời học trò, giờ cũng đã xa. Tất cả đều đã an bài, đều như thoả mãn hoặc chấp nhận số phận. Chỉ riêng tôi vẫn cứ lơ mơ. Tôi vốn bị bạn bè xưa cười với những hão huyền vớ vẩn. Ngày đó tôi chỉ nói về tương lai, còn lúc này đây, tôi nghĩ về dĩ vãng. Dĩ vãng chất chứa trong tôi là những mảng màu học trò, mảng màu đỏ, trắng và tím. Tôi đứng đây, rưng rưng trong màu kỷ niệm, nghe gió lạnh thổi vào hồn mà tê tái buồn. Nỗi buồn chỉ muốn im lặng, thủ thỉ, thầm thì riêng với chính mình. Tôi nhẩm gọi tên những bạn cũ, tôi thầm gọi tên em. 
Trả lời tôi là tiếng rì rào của gió. Tôi đang đi trên con đường học trò xưa mà bây giờ mới hiểu hết nỗi đắm say, si mê trong hiu hắt buồn của nó, tôi bỗng thương nó vô bờ. Thương nó cũng chính là thương tôi. Cuộc đời khổ đau luôn nhiều hơn vui sướng, đắm say. Cái vui cũng ngắn ngủi hơn những u hoài buồn nhớ dằng dặc. Tôi mong cùng trên con đường này có một ai đó chờ đợi. Không, chẳng có ai! Vậy là chúng ta cũng đã trở về với cô đơn. Nỗi đau đó khiến ta thương nhớ ngày xưa, ngày xưa học trò đó và quá khứ vẫn chưa úa tàn. Tôi mong nó mãi vậy. 
Tôi đang sống cùng quá khứ xưa với những kỷ niệm đỏ, trắng, tím của tôi. Những sắc màu đó, năm nào cũng lặp lại trong tháng năm với vô vàn ký ức thân thiết. 

 26/5/22

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2022

 

Lời yêu chưa ngỏ 

 Hai đứa nó cùng sống trong một khu tập thể quân đội, gặp nhau hàng ngày, biết nhau từ nhỏ, nhưng, đến tận lớp bảy, cuối cấp hai, chưa bao giờ chào nhau. Gặp nhau, mỗi đứa đều tìm cách đánh cái mặt của chúng về một phía, cả hai đều lộ ra cái vẻ, mày không nói với tao thì tao cũng không thèm nói với mày. Có điều lạ, chúng vẫn có những đứa bạn trai, bạn gái khác, vẫn mày tao thân mật. 
Khu tập thể nhiều toà nhà, mỗi toà lại những bốn năm tầng. Bọn trẻ con đua nhau ra đời, thi nhau lớn lên, hết lứa này đến lứa khác. Năm tháng trôi đi, dần dần có sự phân cách, giống như các loại tiêu chuẩn của thời chiến tranh mà bố mẹ chúng được hưởng, do biến động của công việc, cũng khác nhau. Chiến tranh bộc lộ trong cuộc sống nhiều vấn đề, mà nói thật, chẳng vấn đề nào giải quyết được trọn vẹn đúng nghĩa. Chẳng có thể chê ai, vì đang chiến tranh. Tổ quốc là tiếng gọi thiêng liêng nhất. 
Thời đó, thiếu thốn đủ thứ. Bọn trẻ cũng phải sắn tay làm các công việc nhà, giúp đỡ bố mẹ và chăm nom các em như lấy nước, xếp hàng mua gạo, chất đốt… toàn những việc rất mất thời gian, nhưng đương nhiên chúng vẫn bố trí thời gian chơi bời, quậy phá. Có trò thật khó thể tưởng tượng là ăn cắp gà. Chúng nó cũng đâu có thiếu thốn, đói khát. Chúng nhằm vào những nhà mà chúng ghét, chúng phá. Một con gà ngày đó là to chuyện rồi. Chẳng vậy mà ở quê, có bà mất gà, bà chửi mả cha cái thằng ăn cắp gà của bà từ sáng đến chiều tối. Ngày hôm sau, nếu còn tiếc của, bà chửi tiếp. 
Thằng con trai vào lớp bảy, lớn ngồng ngỗng nhưng vẫn ngu ngơ, bọn con gái thì làm duyên làm dáng ra phết rồi, đứa nào cũng gọn gàng, thơm thơm cái mùi lạ lạ. Đôi khi lướt qua chỗ bọn con gái chơi, có nó đang chơi cùng bọn bạn, nó vểnh mặt, đi nhanh như tránh hủi. Đứa con gái nhận ra điều đó, thích thích nhưng càng làm bộ cao quý, “gái đoan trang dễ đâu làm quen”, không bao giờ hạ mắt xuống nhìn thằng con trai. 
Rồi vào hè. Nghe râm ran tiếng ve nức nở như lời một bài hát. Hè với bọn con trai là tụ họp từng nhóm, từng tốp, chơi và khiêu khích bọn nơi khác. Ở ngoài phố, nhiều chuyện chúng gây phiền nhiễu, chứ chẳng hiền lành, ngoan ngoãn như ở nhà, trước mặt bố mẹ gì đâu. Có chuyện, chúng biết có thằng con trai ở phố, chuyện trò yêu đương với con bé trong khu tập thể, chúng bày trò, đánh cho cậu trai trên phố kia một trận chí tử. Đánh xong còn đe, cấm đến quấy nhiễu con gái khu này.
 Mùa hè thường thiếu nước. Nhà con bé tầng cao, nước không vươn tới, nhà thằng con trai tầng thấp hơn, lúc có lúc không, nhiều khi vẫn phải xuống bể nước công cộng để lấy. Một tối, hai đứa gặp nhau ở bể nước công cộng, cùng xách nước. Đứa con gái hai tay hai xô nước, đi một quãng, trẹo chân, một xô nước đổ tung toé, lại còn bị đau. Thằng con trai đến, đổ đầy xô nước vào xô bị đổ, hai tay hai xô, phăm phăm lên cầu thang, đứa con gái tập tễnh theo. Đến nhà con bé, nó hỏi, lấy nữa không? Con bé, không trả lời, chỉ gật đầu ra vẻ cám ơn, rồi đóng cửa. Thằng con trai đi xuống, không nói thêm một lời. Vẫn còn ngại ngùng. 
Vậy là có điều kiện để nói. Hôm sau gặp nhau ở cầu thang, trống không: Chân khỏi chưa? Chẳng nhìn: Rồi… Thằng con trai đi xuống, đứa con gái lên vài bậc cầu thang, mới đứng lại nhìn theo. Lần đầu chúng nó nói được với nhau khi tiếng ve đã cạn. Gần hết hè rồi. 
 Mấy hôm sau, gặp con bé đọc sách ở ghế đá trong khuôn viên nhà trẻ: Đọc sách à? Chân thế nào? Con bé vẫn đọc: Không thấy à, mà chỉ biết nói mỗi chuyện chân. Chân, chân, chân… chỉ thấy chân… Thằng con trai: Thế đọc gì đã trả lời chưa? Đọc truyện. Truyện gì? Con bé lật cái bìa: Đây… Đọc rồi. Thật Không? Đọc rồi, cuối cùng anh phi công lấy cô kỹ sư thuỷ sản… Thật không? Đọc tiếp tập hai đi… Rồi thằng con trai đi, để lại sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng cho đứa con gái. Đứa con gái bất ngờ thật sự. Lẩm nhẩm: cứ tưởng chỉ biết đánh nhau. 
Lên cấp ba, lớp tám, vẫn cùng trường nhưng không cùng lớp. Ít gặp ở trường nhưng gặp nhiều ở nhà, không phải ở cầu thang mà ở bể nước công cộng. Ở bể nước cũng nhát gừng nhát tỏi lửng lơ, quanh đi quẩn lại cũng vẫn mấy quyển sách và thầy này, cô kia.
 Có một cái ngưỡng rất lớn, ngưỡng của sự tinh khôi học trò mà hai đứa vẫn chưa vượt được: “Này, đọc quyển này chưa? Thằng con trai chìa cuốn “Hội chợ phù hoa” ra trước mặt đứa con gái. Đọc không? Ừ, mấy ngày? Muốn mấy ngày? Một tuần nhé? Ừ, đúng một tuần đấy nhé… cũng mượn đấy… Thế đọc chưa? Rồi… Tưởng chưa, nhường đây đọc trước… Lần sau nhé… phải rút bớt thời gian. Sao thế? Tủ sách gia đình đấy, phải giữ uy tín mới lâu dài được. Ừ, sẽ giữ uy tín…” 
“Này, hôm rồi, nghe nói bị cô hoá chấn chỉnh. Ừ, cũng bị sơ sơ… không học bài ý mà. Tối đó đi xem phim bãi, hơi xa, về muộn, ngủ luôn một giấc. Đáng đời… 
“ Lần trả sách, đứa con gái chủ động: “Này, chỉ mất năm ngày thôi nhé… Hay không? Đừng dại đi khen những kiệt tác… thừa. Người đời khen nhiểu rồi, mình là cái thá gì mà khen. Nếu khen thì khen cái gì mà người đời chưa nói ấy. Thế khen gì, cái gì mới ở đây…”
 Một lần, đứa con gái trả sách, nó chìa ra tờ giấy, có mấy câu thơ: “Thơ ai đây? Thơ gì? Đây, sao đánh giá con gái thấp thế “người ta bảo trái tim thiếu nữ/ như thể một miếng thạch đông/xẻ ra trăm ngàn mảnh/rải nam bắc tây đông…”. Đúng vậy không? Tuỳ người chứ… Nhưng của ai? Nhặt được ấy mà… Nhặt của ai? Cẩn thận đấy… Cẩn thận gì? Không biết…” 
 Hồi học lớp 9, có thời gian phải sơ tán về nông thôn, đi theo trường nhưng việc ăn uống nhờ từng gia đình nơi bọn học trò ở nhờ. Tuỳ hoàn cảnh từng đứa, chủ nhật hoặc cuối tháng về nhà lấy gạo, lấy tiền của mẹ giao cho chủ nhà. Cuộc sống bọn chúng sàn sàn như nhau nên cứ noi theo nhau mà sống. Chuyện tự lo này, bọn con gái tỏ ra vượt trội. 

Có hôm thằng con trai hỏi: “Đói không? Không… Đói à? Ừ… . Ăn khoai không? Có. Đợi đấy…” Đứa con gái chạy vào nhà: “Này, ăn đi… Không đói. Con gái thích ăn ốc nhỉ? Nói mò. Đã ăn đâu mà nói mò… Vẫn thế thôi…” Người ngoài đố hiểu chúng nó dùng tín hiệu hay mật mã gì. Vậy mà chúng hiểu hết.
 Hôm sau, thằng con trai bê một rổ ốc sang nhà tụi con gái. ‘’Này, tha hồ nhể… Mò sông đấy… Ăn ốc nói mò đây…” Bọn con gái ồ lên sung sướng, đấm đứa con gái thùm thụp. “Nhất mày… nhì tao nhé… Chẳng hiểu nhất nhì cái gì, chỉ thấy chúng ôm nhau cười. Tiếng cười trong vắt như tiếng chim sớm mai.
 Vào lớp 10, lại về “mái trường xưa” mà vì bom đạn, chúng phải sơ tán về miền quê xa xôi một thời gian. Cái miền quê xa xôi đó là một dấu ấn trong đời học sinh, cái thời “tuổi học sinh, vui như hoa, tươi như hội/nóng hổi như thắng năm/ tươi như phượng nở còn nằm trên cây/ hiền dịu như gió xuân bay/ sáng trong như nước suối đầy trên non. Thơ của bạn bè xửa xưa, chẳng nhớ của ai”. Đứa con gái đưa cho thằng con trai bài thơ dở dang trên. Thằng con trai thấy hồi hộp nhịp tim khi đọc những dòng thơ rất học trò đó, trái tim học trò của nó cứ thấp thỏm, nao nao, sao sao ấy. 
Ừ, lạ! Đến tên nhau cũng không dám gọi huống hồ lại gửi cho nó hẳn một bài thơ, lòng chàng xôn xao là hiển nhiên. Rồi cái điều mà bọn học trò chẳng bao giờ nghĩ tới đã bay vào lớp. Qua học kỳ hai, cả khối 10 ồn ào, chỉ bàn chuyện đi ở. Cùng với chọn chỗ đứng trong tương lai khi ngấp nghé cửa trường đại học, chuyện nhập ngũ ồn ào và tác động mạnh hơn cả. Bọn chúng chưa tròn 18, nhưng chẳng bao lâu cũng sẽ tới thôi. Thời gian là cái gì đó khắc nghiệt không chỉ với tuổi già, mà giờ đây, với tuổi trẻ cũng là sự khắc nghiệt. 
Cả lớp có hơn hai chục đứa con trai, hầu như đều có bố mẹ công tác trong quân đội, cuộc sống đời lính không xa lạ với chúng, nhưng những ngày này, khi cuộc sống đó đang xích lại gần, như chạm được vào tay, lại thấy thương cái ngây thơ học trò. Giữa mơ màng đời trai chinh chiến và ngồi ghế nhà trường, khác nhau nhiều lắm. Những ánh mắt trao nhau trong không khí đi ở này rõ ràng hơn, mạnh dạn hơn.
 Thằng con trai như chắc chắn sẽ nhập ngũ. Nó lớn hơn bạn bè nửa tuổi, vẫn cùng trang lứa nhưng người đọc lý lịch sẽ nhằm vào nó đầu tiên. Chuyện nhập ngũ với nó không thành vấn đề, chuyện nó với đứa con gái mới làm nó chộn rộn nhiều hơn. Nó chưa biết làm cách nào để tiến được gần hơn con bé. Nó đến trường học trong vẩn vơ nghĩ với quyết tâm, tối nay sẽ chờ nó ở cầu thang, nói cái điều ngập ngừng, cái điều gì chưa rõ, vẫn mơ hồ, chưa có tên gọi, vẫn lơ lửng trước mặt, nhưng không thể bắt được. Đứa con gái đến gần nó lúc nào mà nó không biết: “Này, nghĩ gì mà hồn để trên cành cây thế. Cho cái này và phải đọc rồi làm đúng theo hướng dẫn, không được sai, nghe không?” 
Tất cả câu nói của nó cứ như mệnh lệnh phải thực hiện. Bọn con gái nó có cái uy ngầm kinh thật. Thằng con trai thấy nó chìa ra phía mình cuốn sách: “Cầm lấy!” Và nó đi về lớp nó, không ngoái lại, để lại cái sửng sốt cho thằng con trai. 
Tối đó, vào giờ mà người lớn cơm nước xong xuôi, nằm nghỉ thư giãn, nghe đài, nó xin phép bố mẹ rất đàng hoàng, sang nhà thằng bạn, nhà gần đó, trao đổi chuyện nhập ngũ. Chuyện nhập ngũ của nó, mẹ nó quá rõ, nên cũng lo, sao mà không lo khi ở nhà còn có mẹ, bỗng dưng ra ngoài xông vào hòn tên mũi đạn, nhưng người ta an ủi: “Cứ lên đường tập trung huấn luyện đã…” Ai mà chẳng có thể nói câu đó, bâng quơ, rơi vào đâu cũng đúng, nhưng nơi đến mới là hệ trọng. Thân phận bình dân trong xã hội thì phải chịu thiệt thòi, cố vươn lên và vươn được cũng chỉ là số ít. 
Nó đến vườn trẻ, nơi gần như lần đầu tiên chúng nó nói chuyện với nhau qua nhịp cầu là một cuốn sách. Đứa con gái ngồi đúng cái chỗ nó đọc sách lần đó, tự động dịch ra: “Ngồi xuống đây… Có giấy gọi chưa?...” “Rồi, đến nơi tập trung, đi khám bệnh đã rồi mới quyết… Chắc chẳng vấn đề gì về sức khoẻ đâu, chỉ là thủ tục. Vẫn thường xuyên hai tay hai xô nước…” Đứa con gái “ Hứ, giỏi, khoẻ thế. Đây không khiến thì sao?” Chẳng ra hỏi, chẳng ra nói.
 Chúng nó ngồi im, nghe tiếng đêm thì thầm bằng những âm thanh riêng của đêm. Thời chiến, chiếc bóng điện trên cột lắc lư đỏ quạch như ma trơi, phố vắng, chỉ xào xạc tiếng lá lăn trên đường mỗi khi gió thổi… Đâu đó lắng nghe còn có cả tiếng côn trùng i ỉ, não nuột. Đứa con gái thở dài: “Chán nhỉ, chiến tranh, đánh nhau, sao ghét thế… khối mười lại vãn đi nhiều… Mà cái này mới sợ, đã bao giờ nghĩ tới chưa, đứa con gái nhìn thằng con trai với đôi mắt đen láy, khi hết bom lửa, bao nhiêu thằng con trai lành lặn trở về, bao nhiêu đứa què cụt tàn phế, bao nhiêu đứa không trở về, đấy, đã bao giờ nghĩ về nó chưa?”
 Thằng con trai quả thật chưa hề nghĩ về những điều đó, nó chỉ biết đi, đời làm trai, chí làm trai là thế. Đứa con gái nhìn lần nữa, “Sao ngốc thế? Người ở nhà khổ lắm, biết không, biết mòn mỏi là thế nào, biết không? Nó lặp lại hai từ “Biết không?” mà thằng con trai cũng vẫn chưa hề một lần nghĩ thấu đáo. Ngày đó có một lớp người ra trận với tâm hồn tươi trẻ, trong ngần làm sao và cũng có lớp người cứ lo toan, mỏi mòn chờ đợi, tiễn đưa hết người thân yêu này đến người thân yêu khác lên đường ra trận và đêm đêm ôm gối khóc thầm lặng lẽ. 
Thế rồi đi.
 Hôm tiễn đưa, mẹ đứa con trai nắm tay đứa con gái cùng nhà đứng cạnh. Xe lăn bánh. Đứa con gái chạy dưới lòng đường, thằng con trai ngồi cuối xe: “Linh ơi, đi khoẻ nhé…” “Tâm ơi, học thêm cả phần Linh nữa nhé, học giỏi nhé… chờ nhé… ” Hai bàn tay gần chạm được vào nhau thì xe lăn nhanh hơn, cả hai cánh tay cùng chới với. Cái Tâm, tên đứa con gái, đứng ở dưới đường, nước mắt chảy dài trên má, nhìn làn bụi quẩn lên che chiếc xe chở bạn bè nó đi xa. 
Vậy là đến hôm nay, trước khi xa chẳng biết bao giờ gặp lại, hai đứa chưa chạm tay nhau, mới chỉ gọi tên nhau. Lần đầu, tên mỗi đứa được đứa kia gọi nghe thấy thân thiết chen lẫn cả nhung nhớ da diết. Cùng trong một ngôi nhà, mà tình yêu, chẳng hiểu đấy có phải là tình yêu không nữa, cứ lượn lờ bảng lảng, cứ xa xa mong manh, cứ nhẹ vờn dìu dịu trong cái khoảng trời tình cảm rất đỗi học trò bao bọc bởi tiếng chim trong trẻo và một vườn hoa khoe sắc. Cả hai cứ như tự nhiên, như vô tình bảo vệ cho sự thanh cao, tinh khiết.
 Đâu đó vẫn như thấy có một bí hiểm bảo vệ cho cái dáng cao gầy lộc ngộc ở đứa con trai, bảo vệ cho dáng liễu dịu dàng ở đứa con gái. 
Lá thư đầu tiên, viết nhiều ngày, từ giây phút đầu chia xa, rồi rèn luyện, rồi lên đường vào B của Linh gửi cho Tâm: 

 Tâm ơi, Linh thấy sự trống rỗng, người nhẹ bỗng chơi vơi khi chiếc xe tăng tốc, mắt mờ đi và nhoè nhoẹt hết. Một bức màn mỏng xám rất khó chịu phủ che. Vậy là xa Hà Nội và những thân thương, trong đó có cả những người thương, người vô cùng thương mến. Bên tai Linh, văng vẳng tiếng của Tâm, cái tiếng “khoẻ nhé…” như vẫn rơi đâu đây và rồi còn cả nhiều tiếng khác nữa, được nghe Tâm nói, trong những lần ít ỏi, quá ít ỏi nói chuyện với nhau nhưng lại trong chuỗi quá nhiều ngày chúng ta biết nhau. Thôi thì, biết sớm đành nói ít đi vậy. 
 Người ta bảo yêu thì hay ghen, hay giận, hay hờn… Với Linh, Tâm chẳng có gì đáng giận, hay hờn hay phải ghen cả, nhưng lại có chút tiếc nuối. Tiếc vì chúng mình chẳng nói được gì với nhau. Hình như, tình cảm vẫn còn đang phôi thai, đang lớn lên từng ngày, nhưng nó lại vẫn cứ vẫn mãi dạng “phôi thai và vẫn chỉ lớn lên từng ngày” thôi. Những lời ngọt ngào dành cho nhau chẳng có, cũng chẳng có những ánh mắt dành cho nhau. Chỉ toàn những ngập ngừng không thể nói ra, một vật cản chắn ngang, một sự ngại ngùng, e ấp. Ừ, bây giờ Linh cứ hỏi mình, cứ tự trách mình, sao thế? Cái ngại ngùng đó chính là nguyên cớ của tiếc nuối, đến hôm nay chỉ còn biết tự trách mình. Biết chẳng thể nào níu giữ lại được rồi, nên bây giờ chỉ là những lưu ảnh của những lần đó, những phút giây bên Tâm. Cũng có thể vì ít lời cùng nhau nên cũng không có hờn, giận hay ghen tuông. Nhưng hơn cả lại là nhiều suy nghĩ về nhau. 
Viết đến ánh mắt, Linh lại nhớ bài quan họ “yêu nhau đứng ở đàng xa/ con mắt lúng liếng bằng ba đứng gần…” Ờ, con mắt, cái hôm hẹn ở vườn trẻ, Tâm nhìn vào mắt Linh, hỏi, khi nói về những mất mát của người ra đi ấy, có nhớ không? Đó là ánh mắt thể hiện nỗi lòng người ở lại, người ở lại có trăm ngàn nỗi lo toan mà nhiều người ra đi không hiểu hết, ánh mắt đó không lúng liếng mà cứ vời vợi sâu. Chiều sâu đó “ai đo cho lường”. Nhưng ở một chiều khác, Linh thấy ánh mắt đó ấm áp, sự ấm áp thể hiện ở chiều sâu của sự cảm thông với những mất mát của người ra đi. Phải có sự thấu hiểu nỗi đau người khác mới nói được như vậy, sự thấu hiểu đã tạo nên sự nồng ấm của con tim và mới nói ra được những gì thẳm sâu trong tâm hồn. 
 Cái tối ngồi vườn trẻ ấy, Tâm biết không, có lẽ sao trời vẫn ít hơn những điều Linh muốn nói. Thật đấy, mà Tâm có đếm được bao nhiêu sao trời đêm đó không? Nhiều vô biên phải không? Vậy đấy, những điều Linh muốn nói là vô biên, là con số 8 nằm ngang. Bây giờ xa quá rồi, Linh muốn nói thế này, người đời đố nhau đếm được lá rừng, còn Linh, đố ai đó đếm được sao trời đấy. Đố người ấy đấy. Khi nào nhớ nhau, Tâm cứ ngẩng mặt lên đếm sao trời để thấy từng nỗi nhớ của người trai nơi xa. Ở một nơi nào đó, Linh cũng sẽ ngẩng mặt đếm sao trời để tìm ra đôi mắt của cái người phương xa đó. Nhớ nhiều ánh mắt đó lắm. Người phương xa ơi, nhớ một chút về nhau, ôn một vài kỷ niệm cái ngày nào sơ tán “ăn ốc nói mò…” cho lòng ta yên tĩnh trở lại. 
Những ngày huấn luyện ở một nơi heo hút của tỉnh Phú Thọ, rồi kết hợp giữa rèn luyện và hành quân, bọn Linh cứ tiến sâu vào miền trong, nghe đâu đích đến là một vùng núi Quảng Bình. Bọn Linh sẽ hội quân ở đó, chờ đợi một điều gì đó. Giờ thì mọi điều phải làm theo lệnh. Thông tin đến rất chậm và chỉ là tin thắng trận cho lòng người háo hức. Đêm đi ngày nghỉ. Mọi thứ trên vai, gần ba chục cân, nặng quá, lính vất dần những thứ không cần thiết cho cuộc sống thằng lính, chỉ cần bộ quần áo và cái võng, cái tăng che mưa, đương nhiên là cả súng đạn. Súng đạn không còn là thứ đồ chơi trận giả ngày bé mà là hàng thật, hàng giết người, Linh bỗng thấy ghê ghê. Đêm ngủ, vô tình lúc nào đó, quờ tay chạm phải, thấy lạnh ngắt vị thép. 
Một vài phác thảo “chân dung” người đi xa thế nhé. Đã hơn hai tháng hành quân rồi vẫn chưa đến đích Tâm ạ, tuy vẫn trên “đường chúng ta đi”, nhưng đã cho Linh nhận biết sự thật rõ ràng hơn, lính tráng hơn, cuộc đời hơn. Linh chưa đến đích mà dọc đường đã nghe bao chuyện kể của người lính về người lính. Rất hay, rất thú vị, gây cười và vô cùng sâu sắc, cái sâu sắc cho ta hiểu thêm sự thâm thuý của người lính từng trải, người lính trận mạc. 
Linh kể một chuyện nhé: "Có một anh nông dân vùng quê khu bốn luôn bị bom ném. Anh này đã từng suýt chết bom một lần, nên sợ, không dám đi đâu xa, suốt ngày ru rú trong hầm kèo. Một hôm trời xì xầm như sắp đổ mưa, anh ra khỏi hầm để ngắm trời ngắm đất. Bỗng một quả bầu già đứt cuống rơi cái bịch ở gần chỗ anh ta đứng. Anh lao vào hầm, vướng quả bàu, ngã, tưởng quả bom, nghĩ chết rồi. Lúc đó mới thấy thương vợ, thương con, anh quay đầu vào nhà, nói to: “Thôi, mạ mi ở lại, tao đi đây…” Nhưng bỗng nghĩ, người lính trước khi chết phải hô khẩu hiệu, để tỏ chí khí, nên anh hô to: “Đả đảo đế quốc Mỹ và Việt Nam muôn năm” rồi nằm úp mặt, cứng người, chờ bom nổ. 
Chị vợ thấy anh chồng nói với mình là “đi”, vội ra, lại nghe thấy chồng hô khẩu hiệu cũng giật mình, đá phải anh chồng, ngã. Nhìn ra, thấy anh chồng đang úp mặt bên quả bầu, chờ tiếng bom. Cười sằng sặc: -Thôi, đừng hô nữa, bom nổ bây giờ. Đây, bom đây. Nói rồi lật anh chồng lại: “ bom đây, bom đây…” (Chuyện sưu tầm trên mạng-Hải Thanh biên tập) 
Chuyện xong, một ông Mao Tôn Cương bàn rằng: Khí phách anh hùng của một dân tộc không nên tô vẽ, đề cao quá đáng. Thật ra, nhân dân của bất cứ dân tộc nào cũng sẵn có dòng máu anh hùng chảy trong huyết quản. Chỉ có điều phát huy và động viên đúng nơi, đúng lúc sẽ có tác động lớn, nếu không, nhiều khi làm trò cười cho thiên hạ. Con đường những người lính mà bọn Linh đang bước là con đường kế tiếp của các bậc tiền nhân. Chẳng con đường khai phá nào là không có máu và mồ hôi chảy hết. Chỉ có điều, nỗi đau bao giờ cũng chỉ là người dân gánh chịu, bão dông bao giờ cũng đổ lên đầu người dân. Còn vinh quang ư, vinh quang chỉ có một số được nhận, vì thế mới có câu “nhất tướng phong hầu, vạn cốt khô”.
 Đêm rừng sâu lắm rồi, ở rừng mới hiểu rõ tiếng “rừng sâu thăm thẳm”, cũng như Linh vài tháng qua đã hiểu thêm, đường ra trận không vui như trảy hội đâu, thư sau Linh sẽ kể nhiều chuyện tiếp. Hơi vội vì bất ngờ có giao liên đi ra, phải kết thúc bức thư đầu tiên này gửi cho Tâm, mong sẽ không thất lạc. Chào Tâm. 
Bức thư được Linh viết từng đoạn từng đoạn, tranh thủ những giờ phút nghỉ ngơi như ghi nhật ký và kịp gửi cho giao liên trong một đêm nghỉ ở bãi khách. Một trường hợp may mắn. Vì mọi liên lạc ngày đó qua thư từ rất chậm, thư đến tay người nhận, người viết có thể đã hi sinh hoặc chuyển đơn vị đến một nơi xa lắc nào đó trong dãy Trường Sơn. Địa chỉ người viết là rừng sâu thâm u, ai biết được nơi đó ở đâu? 
Nửa năm sau, thư đến tay Tâm. Bức thư cũng vượt đèo, vượt dốc qua cả dãy Trường Sơn mất hơn ba tháng trời, đã đành, vì đó là chiến tranh. Chiến tranh, chiến tranh! Tội vạ đó thằng chiến tranh phải gánh. Bà mẹ Linh mang thư của con trai viết cho cô bạn cùng nhà ra xem, mới té ngửa con mình yêu con bé. Cái gọi là yêu của nó cũng vẫn như chưa bộc lộ rõ, vẫn chỉ như là mới biết nhau. Tình bạn thì đúng hơn. Nhưng bà nhận ra, đó là một thứ tình cảm ngây thơ thần tiên học trò. Bà sửng sốt, qua mấy tháng trong quân đội, thằng con này khác hẳn thằng con trai mới ngày nào vẫn lổng ngổng ở nhà. Chiến tranh làm cho nó lớn lên nhưng cũng già đi, bà chép miệng, thở dài, trống ngực bỗng dồn lên, đau nhói nỗi thương con. Nó đi, đi rất xa, đang ở một nơi nào đó mà bà không biết. 
 Tâm mở cửa cho mẹ Linh. Bà nhìn con bé chăm chú. Ôm lấy nó và nói: “Con có thư của Linh”. Nó vẫn là đứa con gái mỗi khi gặp bà ở cầu thang hay bể nước công cộng. Mỗi khi gặp, nó cất tiếng trong veo:“Cháu chào bác”. Vậy mà bỗng chốc, vì mối tình con trai bà, bà bỗng thấy nó thật gần gũi. Bà bảo đọc thư của Linh đi và xuống nói chuyện với bà. 
Tâm đọc thư Linh mà lúc cười lúc khóc. Mấy tháng qua, Tâm tập trung vào thi tốt nghiệp. Ngưỡng cửa vào đời đang mở. Chỉ đêm về, những khi tỉnh mơ mơ tỉnh, nhớ về thằng bạn cùng nhà, thấy hình ảnh của Linh và ký ức những năm xa xưa về cùng với những giấc mơ. Lúc này đọc thư, một tình cảm khác lạ trào lên. Bức thư như một chất xúc tác vào kỷ niệm những năm vừa qua. Bao nhiêu hình ảnh về chàng trai vừa lên đường, cái nơi xa xôi nào đó, như cùng thức dậy trong lòng cô bé một cách đáng yêu. Lúc đáng yêu thì cô bé cười, còn khi chàng trai ôn lại kỷ niệm cái đêm mà chàng ta ngồi đếm sao, thì cô lại khóc. Viết thư cũng tình cảm ra phết, vậy mà cũng đã có lúc mình nghĩ, hắn chỉ biết đánh nhau. 
Ngay tối đó, Tâm viết: 

 Linh rất thân của Tâm, Vậy là đã gần nửa năm, nửa năm và còn bao lần nửa năm nữa, tớ sẽ được gặp lại chàng trai cùng nhà, xông pha sương gió, gìn giữ quê hương. Bỏ đi những gì mà chúng ta vẫn cho là sáo rỗng, tớ biết trong cậu cũng nhiều suy nghĩ, nhưng để hiểu suy nghĩ như tâm trạng phụ nữ, chắc không thể. Suy nghĩ của cậu có thể lớn hơn, và có thể sâu sắc hơn, vì đó là suy nghĩ của người ra trận. 
Tớ nhớ lắm cái tối mà cậu ngồi đếm sao để xem lá rừng nhiều hay sao trên trời nhiều đó. Cậu nhìn mắt tớ và tớ cũng nhìn mắt cậu. Mắt cậu lúc đó muốn nói điều gì mà lại không nói ra được. Một lúc sau, cậu quay đi, để lại trong tớ hụt hẫng. Chắc cậu không biết, lúc đó, tớ muốn thụi cho cậu một quả đâu nhỉ. Thụi thật đau ấy. 
Lại nhớ thêm nữa, cái hôm tớ bị trẹo chân. Giúp thì giúp, cứ như làm ơn, người đâu mà khô mà cứng đến vậy. Gặp rồi cũng chỉ hỏi cái chân, cái chân hôm đó nó trả lời thế nào? Lý ra, con trai phải khác, phải hỏi kiểu biết quan tâm, chăm sóc con gái. Tớ dạy cho mà biết, nếu lần sau, ngộ có gặp ai đó cũng giống hoàn cảnh tớ, cậu phải tỏ ra nam nhi hơn, rõ chửa? 
Nhưng mà sao ấy, tớ thích nhất thời gian chúng mình sơ tán. Nếu lâu hơn nữa, cậu sẽ con trai hơn. Cậu nhớ rổ ốc mang sang nhà bọn con gái không? Bọn chúng bảo thằng ý để ý mày. “Mày” là đứa nào, biết không, và có thật vậy không? Nhưng thích nhỉ? Nghe chúng nó nói lại, tớ mới biết là chính cậu mò ốc ở sông. Cậu cũng biết làm những công việc nhà quê đấy chứ. Ngày bé, tớ rất hay được về quê, quê nhà tớ, những sản vật của ao hồ nhiều lắm. Cậu làm tớ nhớ lại cái ngày tớ cũng từng mò cua, bắt ốc đấy. Nhưng tớ là tớ mò để kiếm ăn, cậu thì chơi bời vớ vẩn và thêm chút nịnh đầm, đúng không? Nếu cậu thích, hết chiến tranh, về quê tớ, một vùng “chiêm khô mùa thối”, cậu sẽ biết không chỉ như vậy, đặc sản quê tớ nhiều lắm, trong đó phải đặc biệt kể đến các hang động trầm tích cả triệu năm. Cả triệu năm để tạo nên những kỳ quan. Nhưng kỳ quan lớn nhất mà thiên nhiên tạo ra, theo tớ, là những đêm đầy sao, để ở đó, có những chàng trai lãng mạn, nhìn lên trời đêm mông mênh trong đêm tối mà trí não đầy ánh sáng, người đếm từng ngôi sao và so nó với lá rừng là người kiên nhẫn và đương nhiên phải có bộ óc tuyệt vời. Nhưng sao mà chàng trai đó ngờ nghệch thế! 
Ừ, ngay khi viết xong thư này cho cậu, tớ sẽ ra ngoài trời đếm sao. Cậu bắt đầu nhìn ngôi sao nào? Tớ sẽ nhìn sao thần nông. Đấy, cái gầu sòng… cậu biết không, ông ngoại tớ chỉ cho tớ mãi, tớ mới nhận biết được, Cậu hãy hướng ra bắc, nhìn sao Bắc đẩu, hướng đó có nhiều người thương nhớ cậu. Tớ cũng sẽ đảo mắt qua đó, xem có thấy cậu nơi đó không và có dịp, tớ sẽ vào thăm cậu. Không hiểu sao, thật tình, tớ mong một cái gì khác cơ, muốn viết cho cậu một cái gì khác cơ. Chuyện anh phi công và cô kỹ sư thuỷ sản, cậu nhớ không, một cặp chim trời cá nước, Có phải họ vẫn sống, họ lấy nhau và sẽ sống hạnh phúc không? Chẳng hiểu sao tớ cứ nghi nghi, họ không gặp nhau được đâu. Người xưa ví chim trời cá nước là nói chuyện khó gặp được nhau. Hôm đó cậu nói, một cái gì đó không thật trong câu chuyện. Đó là cái kết, cái kết không thật. Chiến tranh là chiến tranh, đừng tô hồng, lãng mạn hoá cuộc chiến. Tớ đồng ý, vì chiến tranh không phải trò đùa, đâu đó nói như vậy đấy. Hơn lúc nào hết tớ muốn biết sự thật ở chỗ cậu. Nếu sự thật đau lòng quá, người ta cũng đừng nên để cho thêm một người khác chết trong mòn mỏi chờ đợi. Một người ngã xuống thì nỗi đau một, nếu để thêm một người nữa thấp thỏm, ngắc ngoải thì đó là cộng thêm độc ác. 
Này, tớ bỗng nhận ra, tên cậu ghép với tên tớ thành một từ. Nếu để tên cậu trước, Linh Tâm, nó hao hao cái nghĩa của người ở chùa, đi tu, bóng dáng khói nhang nhà Phật. Còn nếu để tên cậu sau, Tâm Linh, lại có nghĩa của một sự duy tâm, màu sắc mê tín, nó thể hiện cái điều chưa ai và chưa có thể giải thích được. Cả hai từ ghép đó, tạo trong tớ cái gì bất yên, nóng ruột lắm, bụng dạ cứ nao nao từ khi tớ đọc thư cậu, nghe chuyện cậu kể về quả bom “bầu khô” với tính nhút nhát của ông chồng đã từng chết hụt và những bom đạn mà người dân vùng tuyến lửa hứng chịu. Tất cả đều không vô cớ đâu, cậu biết không, hở ngốc? Sự chịu đựng của con người là có giới hạn chứ không phải vô biên. Nhưng mà dù sao, ở một góc độ nào đó, tớ vẫn tin Linh ạ. 
Con người cần một sự “bảo lãnh”. Sự bảo lãnh đó có thể ở đấng tối cao. Cả trong tâm linh và cuộc sống đều có đấng tối cao. Anh chồng chết hụt là cũng có số của nó. Tớ hi vọng cậu sẽ tránh được mọi hòn tên mũi đạn và tớ chờ, như tớ đã nghe thoảng trong gió tiếng “chờ nhé” của cậu. Và bây giờ, tớ vẫn nghe thấy. Về nhé, tớ chờ. Tâm đây. 
Nhờ mối quan hệ trong khu gia đình quân đội, những tướng tá từ mọi mặt trận trong giải đất này, đều có mặt ở khu nhà quân đội này. Bức thư cô hàng xóm lặn lội không biết bao lâu, qua bao nhiêu bàn tay, thật không rõ. Những người được tin cẩn, được nhờ cậy, cầm thư, biết câu chuyện với lời yêu dang dở của thế hệ con cháu, đang cầm súng đứng trong hàng ngũ cha ông, chuyển bức thư vào tận Tây Nguyên xa xôi, mảnh đất của “đất nước đứng lên”. 
 Thư đến tay Linh. Người đưa thư cuối cùng là một người lính dạn dày khói lửa. Ông cảm động trước mối tình của hai người trẻ, chưa một lần cầm tay nhau, chưa bao giờ nói tiếng yêu, chỉ một lần duy nhất, tận khi chia tay, họ mới gọi tên nhau và ông muốn bọn trẻ nói được những lời của tình yêu. Ông lặn lội và làm được chuyện không tưởng trong thời chiến, bức thư đến tay Linh khi người lính trẻ nằm trên bàn mổ với vết thương lồng ngực. Cô y tá đọc cho Linh nghe bức thư của Tâm, hi vọng tiếp thêm một nguồn sống cho người lính trẻ. Linh áp lá thư vào ngực, máu từ ngực Linh thấm vào lá thư, anh từ từ nhắm mắt nhưng khuôn mặt thì bừng lên, miệng hé nở một nụ cười. Người lính già đưa thư chứng kiến giây phút đó, mắt ngầng ngậng nước và trên khuôn mặt rạm nắng cũng một nụ cười. 

 19/5/22

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

Nõi buồn nhỏ lửa

 

Nỗi buồn nhỏ lửa 

 Tình già là tình cũ, tình xưa, lâu rồi. Nhiều chuyện chẳng còn nhớ, giờ thì biết bao chuyện chỉ láng máng như thoáng cánh lá vàng bay, bay là là và rồi lặng lẽ nằm im cùng vô số cánh vàng khác, để rồi, sẽ lặng lẽ tan vào đất. Tất cả vậy đấy, nhoáng một cái, tất cả đã là xa xưa, tất cả đã là kỷ niệm. Cái thời khắc đó, người ta đã biết, chỉ có điều người ta vẫn thế, một lúc nào đó, nhìn về đâu đó xa xăm hay ngoảnh lại, thấy là đã rất lâu, đã rất xa. Cái lâu đó, cái xa đó, đổ vào lòng ta những tiếc nuối, rót vào gan ruột ta những xót xa, nghẹn ngào. Ta âm thầm buồn, ta thương nhớ, ta bồi hồi gom góp tìm lại những mảnh ký ức. Vẫn có những nỗi buồn như thế trong đời người. 
Ông nắm tay bà, nắm chặt, kiểu đan ngón này ngón kia vào nhau. Đã là cuối thu, không, đã là đông. Mùa đông của những khô héo, rét buốt, co ro. Những cái đó cho ta nhận ra sự héo hắt, úa tàn. Một cảm giác tàn phai. Mọi sự đều có thể tàn phai. Kỷ niệm cũng có thể tàn phai, tàn phai đó thể hiện ở sự mờ nhạt kỷ niệm. Tình yêu cũng có thể tàn phai, tàn phai đó thể hiện ở sự mãnh liệt đã không còn. Không còn sự mãnh liệt nhưng còn lại âm vang và sâu lắng. Cái sâu lắng là thể hiện sự âm ỉ. Có âm ỉ mới đượm. Cái đượm là cái lâu bền, dai dẳng, theo suốt kiếp người. 
 Và họ nhớ. 
Con đường này là con đường tình yêu ngày đó. Dân Hà thành đặt cho nó cái tên mãi trẻ. Cũng có một cái tên khác, ngoằn ngoèo lịch sử hơn mà Thụ thích, Thụ thích những gì đó xa xôi của hoài niệm một thuở, như gió nhẹ man mác thổi qua. Cái tên nó liên quan đến đê đập sóng nước xôn xao vỗ vào bờ. Yêu nhau là phải dắt nhau lên đây, sát cánh bên nhau, tay đan xen tay, đón ánh trăng và nghe cây lá thì thào. Đến lúc cạn đường đi thì ta quay lại, đến lúc mỏi chân thì ta ngồi xuống, vai kề vai. Những ngọn gió thích đùa thổi tung mái tóc của em cho rối tung lên. Hương bồ kết thuần khiết có lẫn hương vị quê kiểng thoang thoảng. Con đường vẫn tấp nập xe qua lại nhưng mà ta chẳng nhìn thấy ai. Chỉ thấy phía trước là con đường đang chìm trong hạnh phúc. Con đường xưa chúng ta đi là thế. Con đường cũng chở đầy những nỗi nhớ và kỷ niệm. Cội nguồn hơn, con đường đó chứng kiến những nụ hôn ngập ngừng, dút dát, sợ hãi đầu tiên. 
Người thanh niên ấy dáng hạc, gầy gò, mặc bộ đồ lính nhưng bỏ áo ngoài quần, dép cao su, không đội mũ. Kiểu cách ăn mặc đó, có thể gọi là xuềnh xoàng, một chút bụi bụi, phớt đời giống như lính về phép hay lính giải ngũ, có cái gì muốn chứng tỏ ta đã kinh qua. Bề ngoài đó như muốn thể hiện, ta đang hưởng những giây phút thư giãn. Chàng ta dắt xe đạp đi bên cạnh một cô gái, xinh đẹp, có phần chải chuốt trong khung cảnh thời chiến nhưng nhàn nhàn. Thời đó cảnh nhàn nhàn như vậy không nhiều nhưng không hiếm, đặc biệt với kiểu người thanh niên, cậu ta lãng đãng, có vẻ chẳng coi đời là gì hết. Có những con mắt nhìn theo với ánh nhìn bâng quơ, hờ hững. Cũng có thể có người nghĩ, hình như họ giận nhau. Và rồi bóng họ trôi đi, có gì khác lạ ở đời đâu, đời đâu để ý chuyện đó. 
Nhưng để đến được với chàng trai, sánh đôi cùng chàng trên phố như các cặp tình nhân, cô gái đã phải vượt qua nhiều cửa ải. Cửa ải với đúng nghĩa của nó, cô đang chiến đấu vì tình yêu. Tình yêu đầu đời chất đầy đam mê, cũng chất đầy ảo vọng. 
Thụ, chàng thanh niên, con gia đình trí thức xưa. Bố mẹ đều là dược sĩ, học Tây. Sau tiếp quản, ông chẳng có việc gì làm, cửa hàng thuốc vào công tư hợp doanh, nhà nước độc quyền về Tây y. Của nả cả nhà chỉ còn lại cái vỏ, của chìm không biết ông để đâu, chỉ biết cả gia đình bỗng chốc tụt hạng, vỉa hè là của “nhân dân anh hùng”. Thụ cũng không được học tiếp, vất vưởng vỉa hè và chơi những bản nhạc không hợp thời, cấm chẳng ra cấm. 
Duyên là con gái một cán bộ tổ chức nhàng nhàng. Nàng là con đầu. Bố mẹ nàng là dân nghèo tham gia cách mạng, bỏ thành phố ra vùng tự do, theo kháng chiến. Hoà bình về lại phố xưa nhưng ngôi nhà đã bị phá. Do là cán bộ tổ chức nên được phân chung với một cán bộ khác cũng từ kháng chiến trở về. Sau này thêm một hộ, rồi lại thêm một hộ nữa. Tổng cộng là bốn gia đình trong một căn hộ ngày xưa, người chủ đã bỏ đi miền Nam. Nhà không rộng nhưng đất lưu không rộng và với sự vá víu, cóp nhặt, thêm nếm… gia đình nào cũng hài lòng với hiện tại. Tư duy của những người lao động xưa nhờ cách mạng, vươn lên làm chủ lúc đầu đều có những tầm nhìn hạn chế. Cuộc sống và được học hành sẽ tạo cho họ những biến đổi. 
Thụ và Duyên cùng học chung một trường. Thụ giỏi tất cả các môn học. Ngoài học, còn chơi được nhiều loại nhạc cụ như băng giô, măng đô lin, ghi ta. Cậu thích nhất ghi ta. Một gia đình có xu thế Tây rõ nét của đô thành. Duyên có giọng hát thiên bẩm. Hai người đến với nhau một cách tự nhiên. Thụ dạy nhạc cho Duyên và để Duyên hát những bài hát xưa, lãng mạn, tình tứ của Văn Cao, Doãn Mẫn… Thụ bảo Duyên, giọng em chỉ hợp với nhạc xanh. Em đừng hát những bài hò hét, hỏng giọng đi. Duyên bảo, bố em không cho hát những bài mơ mộng… Thụ, những bài đó nói lên tiếng nói con tim và cuộc đời… Duyên, anh cứ lơ mơ giọng như phản động… Thụ, Em nói giọng bố em, bố em cấm cửa anh? Duyên, chẳng cấm… nhưng không mở… Thụ, còn em? Duyên, chẳng mở nhưng không cấm… Thụ, em ỡm ờ và đỏng đảnh… Duyên, anh mơ mộng và hão huyền. Thụ, em cần phải hiểu thêm một chút hoàn cảnh sáng tác của nghệ sĩ, tấm lòng họ, tâm hồn họ…. Duyên, em lo, với những gì như thế này, anh có thể sẽ mất những cái của anh. Cũng có thể anh có trái tim nhân hậu nhưng yếu đuối. Thụ, họ không thể lấy những cái trong đầu anh… Duyên, anh không thật hiểu rồi, người ta sẽ trói buộc những suy nghĩ của anh… đời không như mơ, đời có vị buồn, thậm chí cay đắng. 
Từ từ, từ từ, cứ vậy, đường đi khác hướng của hai người như đã lộ ra, ngã rẽ đã có. Nhưng tình cảm ban đầu luôn để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Người giữ được cái ban đầu tinh khôi là người có thể giữ được cái cốt lõi. Ông bố cô gái, người chuyên phụ trách nhân sự, tổ chức, những vấn đề của tầm quan trọng với quan điểm, tư tưởng con người, mà người đời luôn có quan niệm cho rằng, họ là cứng nhắc, cứng nhắc đến lạnh lẽo. Ông biết khó thay đổi được tình cảm con gái. Ông nghĩ cách tách họ ra. Như nhiều người thường làm, để những cặp đôi đang yêu cách xa nhau ra. Lửa gần rơm thì cháy, còn lửa xa rơm thì cháy thế nào được. Kế hoạch đưa con gái cách xa chàng trai được ông bí mật thực hiện. Ông cho con du học. 
 Điều bất ngờ là ông không nhận được sự ủng hộ của con gái, dù rằng cô biết, điều kiện như cô không có nhiều. Cô là trường hợp may mắn của số phận mà nhiều người mong muốn. 
Duyên nói với bố, giọng nói có phần phẫn uất: Con cảm thấy bất công đổ xuống đầu anh ấy, còn con thì ngược lại, được hưởng mọi điều may mắn. Có phải số phận chúng con bù trừ cho nhau? Một người tài giỏi như anh ấy thì bị quăng ra ngoài cuộc sống một cách phũ phàng. Bố không thấy sự bất công đó? Đoạn tiếp, Duyên hạ thấp, nhẹ hơn: “Người đáng được đi học là anh ấy chứ không phải con, bố ạ…”
 Ông cán bộ tổ chức dịu lại. Không phải ông không nhận ra trường hợp này, liên quan đến cuộc sống và hạnh phúc của cô con gái, ông không thể không chú ý. Nhưng những cán bộ như ông, thấm rất nhuyễn vai trò của cơ cấu thành phần. Ý thức về sức mạnh giai cấp và những mối quan hệ sống còn đó, được rót vào ông và những cộng sự của ông, để ông đủ nhận ra, thành phần giai cấp là quyết định, nó quyết định sự trung thành của con người và sự thành bại của sự nghiệp. Với kiến thức trường đời của ông, ông vẫn thuyết phục được cô con gái ra nước ngoài học. 
Một bước đi khó hơn nhưng cũng ác độc hơn, cậu thanh niên cũng phải đi. Tốt nhất là vào lính. Thời buổi này, chẳng ai có thể từ chối. Con đường vào lính là con đường có lẽ êm ả nhất cho một sự tống khứ. Với tất cả những hiểu biết trẻ trung, thơ ngây, chẳng ai có thể tin “đường ra trận mùa này đẹp lắm” cả. Một sự thật chẳng nhiều người dám nói, bởi chúng ta đã quen nói những lời không phải của mình từ lâu rồi. 
 Nhờ những mối quen biết, đề nghị của ông để chàng thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời vào lính được chấp nhận. Chiến tranh cần nhiều nhân lực và một người như Thụ, không thiếu chỗ làm việc. Thụ nhập ngũ theo diện mà địa phương chưa giao đủ quân số, nghĩa là thuộc diện A2. A2 là tình trạng quân nhân có vấn đề về sức khoẻ hoặc có những vướng mắc về gia đình, bởi những mối quan hệ xã hội như tôn giáo hoặc thành phần, hoặc cũng có thể có những mối liên quan với người thân bên kia chiến tuyến. Những con người này thường nói, tên mình đã bị ghi vào “sổ đen”.

 ***** Thụ về một đơn vị pháo binh. Trung đội Thụ đóng quân trên vùng đất miền Trung, nơi có những con sóng và những người dân chài quen ăn sóng nói gió, mỗi một âm tiết phát ra trong cổ họng cũng mang đậm đặc vị mặn mòi của muối, nghe thấy cả những âm thanh của biển, khi rì rầm thổn thức và cả khi giận giữ, ầm ào của sóng và giông bão. Họ là những người coi biển là báu vật của cuộc đời. “Những người coi quê hương mình là báu vật là những người có tâm hồn thanh cao”. Thụ đọc được ở đâu đó và nhớ mang máng trong đầu. Cậu thanh niên tự vấn lại mình, vậy mà sao mình hờ hững? Báu vật của mình nơi đâu? Có vẻ như mình bị xua đuổi. Có phải đấy là sự phân rẽ mà người ta gọi nó là giai cấp? Cứ như Duyên nói với mình hôm nào “anh không hiểu rồi, người ta sẽ trói buộc những suy nghĩ của anh…”. 
Đơn vị của Thụ phục kích đánh biển. Bàu trời khu bốn và hầu như toàn bộ mặt biển, đều bị máy bay tàu chiến Mỹ phong toả. Tàu Hồng Kỳ của Trung Quốc sang tiếp gạo cho ta không thể cập cảng. Không một chiếc xuồng, chiếc thuyền nào có thể cặp mạn tàu Hồng Kỳ để nhận gạo từ trên tàu thả xuống. Người Trung Quốc đành phải bọc kín bao gạo bằng hai ba lớp túi ni-lon và thả xuống biển. Trong những con sóng biển ồn ào ầm ĩ kia, may ra có vài con lạc lõng, đưa được vài bao gạo vào bờ. Lấy được gạo từ bờ biển cũng là xương máu. Máy bay trực thăng từ hạm đội cứ đôi một, cái truước cái sau, quây thành vòng tròn, quan sát hết biển của ta. Một chiếc thuyền nhỏ như chiếc lá tre cũng bị phát hiện. 
Vậy nhưng vẫn đánh. Pháo nòng dài đánh du kích. Đánh để cho chúng không yên, không dám vào sát bờ, nếu rơi vào tầm bắn của pháo, sẽ bị đánh. Thụ và đồng đội tốn nhiều công sức vào việc che giấu pháo và làm những trận địa giả trên bờ. 
Ngày này sang ngày khác như vậy, lặp lại đơn điệu như vậy và có người con gái đã để ý đến chàng trai Hà Nội, lúc nào cũng có cây đàn bên cạnh. Cô nhận ra khi rỗi rãi, chàng chỉ ôm cây đàn và chỉ hát những bài hát nói lên nỗi lòng con người. Cô gái nhiều khi nghe trộm, cô ngạc nhiên, những tưởng chàng hát ra những điều chàng vừa nghĩ, âm điệu của nó làm xao xuyến lòng cô và cô cũng buồn theo “Tôi sống đời trai giữa núi đồi, đêm đêm nằm nghe tiếng vọng của em từ một miền xa…” là đúng nói về chàng rồi còn gì; “đêm nằm, anh gối đầu trên cát, nghe rì rào gió hát, anh hỏi gió, em ở phương nào… em?” đúng là chàng đang thì thầm với ai đó; “rặng dương xanh đứng kia, em đang tựa vào cây, anh muốn làm cánh tay, nâng em lên và nói, anh vô cùng yêu em… Hình như cô cảm thấy, người mà chàng yêu đang chờ chàng ở rặng phi lao trên bãi cát… Cô gái yêu đơn phương thầm lặng và cũng như thầm ghen với người con gái phương xa nào đó được chàng yêu. Cô yêu chàng trai, đã vụng trộm ngắm chàng đến si mê, mà chàng không hay biết. Cô cũng tan nát cõi lòng như sóng xô vào bờ cát để bờ cát nuốt chửng. Cô những muốn hoá thành các con sóng biển, xô mãi vào bờ, ngấm đẫm bờ cát, nơi chàng trai từng gối đầu đêm đêm. Ngấm hết, ngấm hết những con nước mặn mòi vào trong lòng như bãi cát kia ngấm từng con sóng biển.
 ***** Duyên đến phương Bắc xa xôi, lạnh lẽo nhưng lại là xứ sở của rất nhiều mơ ước. Người cha của nàng cũng mơ ước được đến. Những người được đảo qua đất nước này đều lấy điều đó làm hãnh diện. Đúng vậy. Trong sinh viên còn truyền nhau câu vè “muốn nhiều tiền thì đi Đức, muốn kiến thức thì sang Nga”. Sang Nga là học tập và mang kiến thức về phụng sự đất nước. Những người trẻ ngày đó đều hiểu như vậy. Nước Nga của họ là một nơi hấp dẫn và có thể thực hiện các giấc mơ. 
Duyên có nhiều người đeo đuổi khi sang đây. Có cả người mà bố cô gửi gắm. Người đó năm đầu săn sóc chăm nom cô rất chu đáo. Nhưng rồi nhận ra, mình không có trong mắt cô, sự quan tâm nhạt dần. Duyên thoát khỏi sự đeo bám, cô cảm thấy được tự do hơn. Tự do luôn là điều quý giá. Từ sự việc đó, cô liên tưởng tới người mình yêu. Một sự thương cảm trào dâng, anh đang bị ràng buộc và thiệt thòi quá nhiều bởi những điều kiện khắt khe đến mức hết đường đi lối lại của cuộc sống. Cô được biết anh đã nhập ngũ.
 Cô theo học văn học Nga. Những tác phẩm của nền văn học Nga ngày trước đã đọc ở Việt Nam qua các bản dịch thì nay được đọc nguyên bản. Cô yêu người Nga qua văn học, đặc biệt là những người phụ nữ đôn hậu, hiền lành, xởi lởi. Nhưng cô vẫn để một góc lòng mình cho những điệu dân ca và cô cũng nổi tiếng với bạn bè bởi giọng hát dân ca của người quan họ. Người ta nói, tiếng hát của cô cũng rất hợp với giọng dân ca Nga dịu dàng, buồn buồn, dìu dặt, mềm mại như lá non, tựa như tâm hồn trinh nguyên cô gái Nga đang yêu hoặc muốn được yêu. Cô đã hát “Tuổi mười tám” và đã khóc trong một cánh rừng bên suối trong veo mọc đầy những bông hoa tím đung đưa theo gió, tinh khiết, thơm ngát như tấm lòng cô. Cô ghen với người con gái ngồi bên bậc thềm, có chàng trai tóc xoăn rủ vào rừng. Cô lắng nghe tiếng nước chảy, cô hái và nâng niu trên tay những bông hoa tím nhạt, mỏng mảnh, mọc rải rác bên suối, trong những cánh rừng vàng lá. Cô nhớ người đã nhiều lần đệm đàn cho cô bên “Suối mơ”. Suối mơ là địa điểm tình yêu mà người ấy và cô đã nhìn thấy nhau trong mắt. Cô đã lim dim hát theo tiếng ghi ta của người ấy:
 Suối mơ 
Bên rừng thu vắng 
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng 
Ngày chưa đi sao gió vương
 Bờ xanh bóng mát đôi cây thuỳ dương
 Cô nhớ cô đã chêm vào câu hỏi khi anh hát nhè nhẹ “chỉ đôi cây thôi anh nhỉ, cây anh và cây em, đúng không?” Em thật đáng yêu. Tự dưng anh nghĩ Thuỳ dương là em. Anh cũng nghĩ là chúng chỉ có đôi. Có đôi là không cô đơn. Vậy đấy và chúng ta không xa nhau. Anh cứ như ở xứ nào lạ lắm, ghé thăm trái đất. Bồng bềnh bồng bềnh, chơi vơi chơi vơi… 

 Giờ thì ông bố giục cô lấy chồng. Lấy chồng để ông yên tâm nhắm mắt. Mẹ cô đã đi xa gần chục năm nay. Bà biết điều mong mỏi của cô, bà van xin ông, tìm lại cậu thanh niên ngày xưa cho cô: “Ông ơi, chúng ta đã làm điều ác nghiệt, chúng ta đã hại con của mình… Tôi không làm được nhưng ông phải làm … Ông hãy làm thêm một điều tốt cho con chúng ta…Làm để sửa lỗi lầm ông ạ…” Bà đã nói với ông những lời cuối cùng như thế. 
Chao ôi, mò kim dưới biển. Ông đã lặn lội theo từng dấu vết của chàng trai. Người công an khu vực ông nhờ cậy ngày xưa đã giúp ông tìm ra đơn vị đầu tiên mà chàng trai phục vụ. Từ đây, ông tìm ra dấu vết những ngày nhập ngũ đầu tiên của Thụ. 

 Hai người đàn bà, một quê mùa, một trí thức, ngồi bên thềm hồi tưởng về một người đàn ông. Ngoài xa kia là biển cả mênh mông, nơi mà con người chỉ là hạt cát. Biển cả, nơi chôn giấu tất cả bí mật của thế gian. Nhưng con sóng xô bồ kia chỉ thi thoảng chia sẻ cho con người một vài điều bí mật của nó mà thôi.
 “Em chẳng biết gì về anh ấy cả. Cái em biết thì ai cũng biết. Đấy là anh hay chơi đàn, hay hát những bài hát chẳng ai hay ai biết. Anh bảo đó là tâm hồn con người, nói lên những điều con người mong mỏi. Cây đàn của anh thiếu dây. Anh nói khó tìm lắm. Có lúc anh ấy phải lấy dây phanh xe đạp làm dây đàn. Có lần thấy anh đứng trên đồi, anh ngắm những bông sim tím, mắt thẫn thờ. Em đến và hỏi chuyện anh. Anh bảo có một chuyện tình về hoa sim, buồn lắm. Buồn nên anh không kể cho em… em phải vui, con gái phải vui… 
“Anh ấy là người chịu nhiều thiệt thòi. Ai đâu có quyền chọn bố mẹ ông bà tổ tiên mà người đời cứ moi móc mối liên quan, mối liên quan đó cứ nhằng nhợ không dứt? Đó là thời ấu trĩ của loài người. Ngày đó, chị cũng từng nói với anh, anh sẽ bị người ta trói buộc mọi suy nghĩ. Anh không tin. Anh nhìn cuộc đời lãng mạn lắm. Anh chỉ thấy tiếng hát trong mỗi con người, những suối mơ róc rách nước, thấy những cây thuỳ dương toả bóng mát che cho hai người… mà anh ấy không biết cây thuỳ dương là cây gì đâu. Ôi, tình yêu của tôi…”
 “Vậy a, em cũng thấy anh nói về cây đó. Hôm đó em vào rừng lấy củi. Khi về thấy anh nằm trên võng ngay bìa rừng. Ngoài xa kia là biển. Anh hát cái gì đó về trái tim người lính, về nỗi nhớ thương, về sự mất mát, chia ly. Đôi khi cũng nghe được những câu nói của tình yêu. Em nghĩ, anh toàn tự mình sáng tác… chẳng bài nào em biết. Chỗ anh mắc võng có hai cây dương, mọc thẳng, em hỏi anh biết cây gì đây không. Anh trả lời, cây thuỳ dương đấy. Em cười, nỏ phải, cây dương đó, nhưng anh không nghe… Anh đang nghĩ về cây thuỳ dương nào đó. Hỏi anh, anh chỉ cười, nụ cười lành hiền lắm. “Nó là loài cây có đôi, chỉ mọc từng đôi thôi…” 
Nhưng cây thùy dương là cây gì? Nó là cây mềm mại, dìu dặt, chỉ đón những ngọn gió xuân, khi hoa nở thì bừng lên rạng rỡ… Duyên đã “mang” cây thuỳ dương sang Nga, hỏi người Nga, họ cười. Cây thuỳ dương của họ được coi như một thiếu nữ, người thiếu nữ ở tuổi đẹp nhất… Duyên kể lại cho người đàn bà đất biển nghe. Có thể không phải. Thuỳ dương chỉ là một loài cây mềm yếu, như một loại dương xỉ, mọc thành bụi, không có thân vững chãi để có thể mắc võng. Anh ấy đã quá yêu bài hát với chuyện của chị, anh ấy phải lòng cái cây chỉ vì anh nhớ chị, Thùy dương như tên một người con gái, người con gái dịu dàng, thuỳ mị. 

 Và họ đang ngồi bên nhau, những nửa thế kỷ đã qua mới lại được bên nhau. Thời gian phũ phàng quá, không còn con mắt đắm say nhưng vẫn còn đó bàn tay dịu dàng đan xen nhau. Bàn tay con gái mềm mại, bàn tay người chơi đàn ghi ta cũng mềm mại, tay họ mềm mại quyện vào nhau, truyền cho nhau tiếng thở, nhịp đập và cả sự nồng nàn. “Hôm nay mà ngỡ hôm qua… Bóng câu qua cửa mà… Em vẫn là thuỳ dương… Anh thèm nghe quan họ… Nhớ rất nhiều suối mơ… Cả hoa đồi sim tím… Chuyện tình chưa tĩnh lặng…” 
Anh biết không, có một cô gái thương thầm anh, yêu anh, chỉ trộm nghe anh đàn hát. Cô gái đó, bố em sau những ân hận bởi những cạnh tranh cuộc đời, tìm được và em đã gặp cô ta. Chúng em như hai chị em. Hai chị em ở với nhau chỉ để nhớ một người. Số phận không cho anh nhiều may mắn như những gì người đời nghĩ về sự may mắn, nhưng số phận cho anh hai người phụ nữ, lúc nào cũng nghĩ về anh. Chẳng hiểu những người sống vương giả, quyền quý có hạnh phúc bằng anh? Nhưng chắc chắn, cuối đời, anh sẽ sống thoải mái, không bị những dằn vặt bởi những cuộc đua chen danh vọng, quyền lực của cuộc đời. Em đã từng nghĩ, nếu mình có mười chàng hoàng tử cầu hôn, em cũng chỉ chọn anh. 

Ông già nhìn vào mắt người đối diện, người con gái của ông ngày xưa. Thụ bây giờ đã già, một cây cổ thụ, một chứng nhân của bao đổi thay, cả ở con đường yêu đương ngày xưa và những giáo lý ngày xưa. Ông ôm Duyên, Thuỳ dương của ông ngày xưa đã đốt lại ngọn lửa tình yêu trong ông. Ngọn lửa không bùng cháy mà âm ỉ, chỉ liu riu đủ ấm thôi. Sống ở cuộc đời mọi sự cần thiết chỉ cần vừa đủ. Ngọn lửa đang ngấm vào tình cảm của ông. Con mắt ông cười, ánh mắt cười hiu hắt vẫn như có một nỗi buồn nho nhỏ, nhưng nó đã qua. 

*****
 Wikipedia: Cây thanh lương trà đã đi vào thơ ca, nhạc họa, đã được coi như một phần không thể thiếu của thiên nhiên, văn hoá, đời sống dân tộc Xla-vơ nói chung và người dân Nga nói riêng. Cây thanh lương trà (tên chữ Nga: рябина / riabina) là đối tượng chính được chỉ đến trong bài hát tiếng Nga "Уральская рябинушка" (nghĩa là Cây thanh lương trà vùng U-ran) mà đa số khán thính giả Việt Nam vẫn quen gọi với cái tên cảm tính là bài hát "Cây thuỳ dương". 

 Vinh Anh-27/4/22