Chuyện ngày em mười sáu và tôi mười tám
Bốn chục năm rồi, có lẽ mọi sự cũng đã phôi phai đi nhiều. Chỉ nhớ cái bất ngờ xảy ra với nhà em. Chuyện xưa bất ngờ đến. Với nhà em như một chuyện cổ tích.
Chuyện là:
Khi về nhà tập thể Giảng Võ, nhà em buồn lắm. Gặp các cụ tiền bối trên cơ quan cũng buồn lắm, sơ sài, nhạt nhẽo. Mọi người ai biết phận đó, lại nhớ cuộc sống ở đơn vị với lính. Điểm mặt, cả cơ quan, thấy có hai thằng trẻ trẻ như mình. Thôi thì... Hãy đợi đấy. Sau này thêm một vài tay nữa về, cũng tre trẻ nhập vào đội quân, mà mình chẳng biết cụ thể đầu cua tai nheo thế nào.
Như mọi nơi, ngoài các thủ trưởng, còn phải yết kiến “cụ” “Tư vụ trưởng”. Tư vụ trưởng là chức quản lý cỡ trung đội, đại đội bên Nga, thường khá già, là chuẩn uý chuyên nghiệp, mà mình đọc sách biết, người ta đôi khi cũng viết về nhân vật này, tiếp nhận vài thứ cho cuộc sống, như để xin ông ấy cái giấy ra vào Thành, nộp giấy chuyển đơn vị để nhận lương... Ra vào Thành là để ăn cơm, ở đó có người nấu cơm cho ăn.
“Cụ” Tư vụ trưởng hẹn đến Cửa Đông. Ừ thì đến. Nghe một cụ chưa già, người chưa cũ nhưng cũng không mới, nói rồi. "Chỗ chính của những thằng không có gia đình ở Hà Nội là Cửa Đông. Cửa Đông là nơi lo cơm áo gạo tiền cho cánh ta... đó là trung tâm kinh tế văn hoá…"
*****
Nhà em đến phố Cửa Đông. Giật mình và trống ngực đánh ầm ầm, cái nhà đối diện với số nhà này vẫn kia. Sao mà anh lại về được nơi đây, còn em có xuất hiện nơi này nữa không? Ký ức xưa tươi trẻ rất học trò ngày xa đó trở lại. Cái thời trong trắng ngây thơ hiện về. "Tôi xa Hà Nội năm lên muười tám, khi vừa biết yêu...". Sau chia tay với em, anh sang Liên Xô, ngày đó anh mười tám. Chẳng hiểu sao cái bài hát mà một lần nghe rồi nhớ mãi ấy lại vang lên. Năm ấy em đúng mười sáu, trăng tròn đắm say. Cái cô ca sĩ Sài Gòn hát bài về Hà Nội, làm anh tần ngần ở đường phố Lái Thiêu ngày mới giải phóng, để nôn nao nhớ về ngày nào đó chưa xa mà như đã là xa lắm.
Ồ, tất cả, tất cả những đắm say của mối tình tinh khôi học trò ngày đó, nếu có thể gọi đó là mối tình.
Ngày đó anh và em quen nhau như thế nào, bắt đầu từ đâu, không còn nhớ gì nữa. Tình đầu đâu dễ phôi phai cơ mà. Nhưng mà không nhớ cái buổi đầu đó thật. Có lẽ phôi thai từ thành phố của mùa hè với những cây phượng nở đỏ rợp phố khu nhà chúng mình. Hải Phòng phố nào mà không có phượng. Nhưng phố nhà mình đặc biệt hơn, toàn phượng là phượng. Những cây phượng mang trong mình bao nhiêu gánh nặng thời gian, cao to, già nua và bóng toả che hết mặt đường, chẳng ai biết tuổi của những cây phượng già đó hết, bọn trẻ con càng vậy. Chỉ biết rằng, mỗi khi hè về là phượng nở. Có nức nở tiếng ve, có chia ly và có hội tụ, có những cảm giác nhớ thương xen lẫn sự nâng niu, cả sự cẩn trọng của mỗi bước chân, khi mỗi sớm thấy sắc đỏ rải kín mặt phố. Anh nói văn vẻ: “anh và em là sự gặp gỡ của mùa hè, của màu đỏ thắm, màu của cánh buồm đỏ hoàng tử đón công chúa”.
Anh về nghỉ phép để đi học ở Liên Xô. Cả khu nhà binh ngày đó chỉ có một mình anh học xong cấp ba và được chọn. Em nói: “Anh là sự mong muốn của nhiều gia đình…” Em nói với anh thế. Nhưng anh không biết điều đó, anh chỉ biết người ta chọn anh. Em ở Lạng Sơn về chơi với gia đình ở khu nhà binh này và chúng ta quen nhau. Chúng ta quen nhau rất bí mật, trao ánh mắt và trao nụ cười như những nhà tình báo Liên Xô, mà anh tưởng tượng trong những truyện trinh thám anh thích đọc. Có điều, mối thiện cảm đó, không một ai trong khu nhà binh biết hết.
Khi biết em chỉ ở chơi vài ngày ở đây rồi sẽ lên Hà Nội, anh và em đã hẹn sẽ gặp nhau ở Mạc-tư-khoa (tên một phim tình cảm thời xa xôi đó)”. Địa chỉ là thế và anh tìm đến. Chúng mình gặp nhau và có những ngày tự nhiên, không sợ ai nhòm ngó. Tình cảm trai gái ngày xưa cũng nhẹ nhàng nhỉ, không vồ vập, không ồn ào như những cú sét đánh ngày nay người đời hay nói. Sét đánh thì có mà toi.
Vài buổi đi chơi chưa thể biết nhiều về nhau. Em nói về Lạng Sơn. Anh đọc câu thơ mà ai cũng biết “Lạng Sơn có phố Kỳ Lừa/Có nàng Tô Thị, có…” Chưa đọc xong đã thấy Em bĩu môi làm anh ngượng quá. Nhưng rồi có dịp lên Hồ Tây và anh có dịp cho em biết khối “kiến thức đồ sộ” của anh. Anh giải thích về con đường chúng ta đang đi, nó bắt đầu từ cái tên Cổ Ngự, sang Cổ Ngư và rồi mới là Thanh Niên. Anh nói về hồ Dâm Đàm, về đầm xác Cáo và về hồ Tây… Anh định nói thêm về Đoàn Thị Điểm nhưng thấy em tròn mắt, đôi mắt ngây thơ đen láy trong một đêm đầy sao với những con gió hồ mát rượi.
Em rủ anh bơi thuyền. Anh lưỡng lự. Hỏi anh có biết bơi không. Không biết. Không sao, em biết. Hỏi anh có biết chèo thuyền không. Không biết. Không sao, em biết. Vậy thì chúng mình xuống thuyền. Thuyền nhỏ xíu và dài ngoẵng và chòng chành, nghiêng lệch kinh lắm. Em bảo anh đứng yên, em tự lựa được chỗ ngồi, mọi sự êm ả và em bơi thuyền ra xa. Thực ra là không xa. Em hỏi anh sợ không. Sợ. Anh rùng mình vì một con gió. Chẳng hiểu do là gió hay là do sợ nữa. Em cười, cho thuyền bơi loanh quanh, loanh quanh cho hết giờ thuê và nghe anh kể chuyện vu vơ. Em gợi để anh nói cho anh khỏi nghĩ đến hồ, đến nước mà thêm sợ. Em mới mười sáu, mười sáu trăng tròn đắm say.
Hết giờ thuê thuyền, cặp bờ, anh thở phào và hình như em nghe thấy tiếng thở của anh. Một cái gì đó muốn nũng nịu đột nhiên xuất hiện. “Vậy là vẫn sống…” Em cười, ôi nụ cười con gái chiếm hết hồn anh. “Không ai để anh chết đâu. Anh không biết về em đấy thôi…”
Em ngó tìm chỗ ngồi “Chẳng còn chiếc ghế nào trống cả. Chẳng sao, ngồi bãi cỏ cũng được. Công tử, có ngồi không? Anh mười tám mà sao em nói gì anh cũng nghe.
Thế rồi đói. Đi mãi cũng phải đói. Anh rủ em vào ăn bánh tôm. Bánh tôm Hồ Tây nổi tiếng đấy. Em bảo vào đấy đắt lắm, mua bánh mì ăn cũng được, em có phiếu. Ngày đó anh có tiền. Không nhiều, phụ cấp binh nhì có năm đồng thôi. Nhưng anh nghĩ là đủ, trong túi có những hai chục cơ mà. Tích cóp mấy tháng phụ cấp đấy. Em lại cười “Công tử sang thế…” Và chúng mình vào quán bánh tôm Hồ Tây. Cái quán này thành nỗi nhớ, là kỷ niệm tuổi mười tám thơ mộng, ngọt ngào nhất đời anh.
Ở đây như bắt đầu một mối tình. Lúc đó chưa rõ và sau này cũng vậy, chẳng có gì rõ ràng thêm. Tình yêu rồi đấy ư, đâu nhanh thế. Sau này vào Trường Sơn, có những lần nằm võng bên suối nước chảy, anh hay nghĩ, tự hỏi và trả lời như thế.
Hôm đó ngồi vào bàn, cô mậu dịch mang ra một đĩa bánh tôm, hai bát nước chấm và một ít rau sống. Anh nói với cô mậu dịch, chị ơi cho em thêm một đĩa bánh. Sao ăn nhiều thế, hai người vậy thôi. Em cười, chưa ăn đã lo đói…. Quả thật một đĩa cũng hơi đói. Em bảo vậy là đủ, nữa là thừa. Đừng phí của… Ôi, ngày đó em mới mười sáu.
Nhưng đi chơi bằng xe đạp thích hơn. Ở Hà Nội không đi xe đạp thì còn đi bằng gì. Anh hỏi, em biết đi xe đạp không. Biết. Sao cái gì em cũng biết thế nhỉ. Xe đạp thì ai không biết. Nhưng anh muốn em không biết đi xe đạp. Để làm gì? Để ngồi sau, anh đèo. Em cười. Thì em ngồi sau, anh đèo nhé.
Hôm đó, từ sáng, chứ không phải chiều tối như những lần khác, em nhớ không, anh đến đón em ở đây, tại ngôi nhà này. Vào khoảng đó mọi người đi làm hết cả, không ai thấy chúng ta đi chơi với nhau. Tình yêu đang ủ, vẫn còn trong bí mật. Hà Nội đang vào giờ vắng người trên phố cho ta cảm nhận một Hà Nội thanh thản, cái thanh thản trong buổi sáng cuối hè không thật nắng và nóng. Chúng mình đang nghỉ hè, nghỉ phép. Thời gian rất nhiều.
Anh có thằng bạn, thằng này yêu sớm, nó bảo lúc nào cũng bận. Bận vì người yêu của nó. Còn anh và em, chưa là gì của nhau hết nên lúc nào cũng thanh thản. Vậy cứ như chúng mình thế này thích hơn, chỉ đâu đấy có một chút ngong ngóng chờ, ngong ngóng đón đưa, ngong ngóng mong cái mới của ngày hôm sau đến, mà cũng thật chẳng biết đến ngày sau thế nào đâu. Ngay cả dự định đi chơi bằng xe đạp cũng vậy, đi thế nào, đi đâu xem xét những gì… chẳng có chút ý định gì hết, mọi sự cứ để nó tự đến rồi sẽ có gì đó mới hơn, khác hơn… Đại loại là thừa thời gian, thời gian chỉ để ngong ngóng và chẳng biết làm gì nên có cái hay, nhớ về nhau nhiều hơn. Đó là cái hơn cả, là cái chưa gọi thành tên, cái mà lúc nào cũng thấy ngong ngóng được ở bên nhau.
Vòng quay bánh xe lại đưa chúng ta lên Hồ Tây. Hồ Tây có sức hấp dẫn lớn hơn hết thảy với tuổi trẻ thủ đô. Anh nói đố em biết sắc màu Hồ Tây thế nào? Em ngỡ ngàng trước câu hỏi. Hà Nội chỗ nào cũng nhiều sắc màu, Hồ Tây là một phần Hà Nội… Em hỏi anh sắc màu là gì, nó thế nào? Anh không trả lời được gọn ghẽ, bảo, đố em đấy, rồi anh cũng nói, đó là những con phố nhỏ, đó là rì rào gió sông Hồng, đó là tiếng lá rơi, đó là tiếng guốc lóc cóc của người đi vội vang trên hè đêm đêm… Em cười. Em hình dung ra màu đó rồi. Anh hỏi, thế là màu gì, nó thế nào? Em lại cười như chờ anh nói tiếp, và anh nói tiếp cái hiểu của mình, đó là cuộc sống, đó là hơi thở, đó là sự gắn bó… là lối xưa xe ngựa hồn thu thảo… Anh nói tự nhiên như diễn đạt tâm tư của mình, em như sửng sốt khi anh đọc thơ bà Huyện Thanh Quan để kết luận, câu ấy chứa đựng cả Hà Nội xưa. Em kêu lên, anh nói hay quá… Cứ vậy để rồi chúng mình đi hết Hà Nội. Hà Nội vậy mà không to lắm nhỉ…
Vừa đi vừa nói chuyện nên cũng chẳng biết xa gần thế nào. Những giờ phút “thăng hoa” của anh khi nói về Hồ Tây đã qua, cái đói đang đến. Anh bảo, hình như đâu đây là làng Quảng Bá, Quảng Bá có ổi ngon lắm, em biết không? Anh cũng đâu đã được ăn. Đến đấy vào làng ta mua ổi ăn cho đỡ đói nhé. Em bảo anh dừng xe lại, lên ngồi ở chỗ gò cao kia kìa. Nhìn xa xa kia, em chỉ tay, vẫn là Hồ Tây, đã bao xa đâu, vẫn chưa hết một vòng hồ.
Em lấy cái túi treo ở ghi đông xe đạp, mà từ đầu anh cứ nghĩ là túi đựng mấy thứ lặt vặt của bọn con gái, em lôi từ trong túi ra một tờ báo, nói, anh rải ra chỗ cỏ dưới gốc cây kia, chúng ta ăn bánh mì. Ôi, có bánh mì, anh thực sự ngạc nhiên. Em lấy ra hai chiếc bánh mì đã được gói cẩn thận và một gói đường. Chúng mình ăn bánh mì chấm đường, ngon quá. Em hỏi, công tử thấy thế nào? Anh nhìn em cười, không biết nói sao, chỉ nhìn em thôi, em mười sáu trăng tròn đắm say, dường như lúc này đây đang làm lòng anh say đắm. Hôm nay là ngày tuyệt vời. Có lẽ chưa bao giờ anh ăn bánh mì chấm đường ngon thế.
Em kể về quê em. Em không biết ổi Quảng Bá đây ngon thế nào nhưng hồng ngâm quê em ngon lắm, quả tròn đẹp, giòn, ngậy, không hạt và mùi thơm lảng vảng chất núi rừng nữa. Anh biết không, giống hồng trên xứ Lạng là đặc sản quê em đấy. Anh nói, anh không biết hồng ngâm quê em ngon thế nào đâu, nhưng qua lời kể, anh thấy trong em có một tình yêu với quê. Anh chưa nghe ai nói về quê với một tình cảm như em. Chỉ vài câu giới thiệu về một loại quả dân dã thôi, nhưng đã thấy nó gắn chặt với cuộc sống của em. Anh đang nghĩ mùi hương toả ra từ em chính là hương của núi rừng xứ Lạng đấy, mùi hương đó đậm chất quê, có sự kết dính, nó man mác thoang thoảng, không quyến rũ nhưng lại không dễ quên.
Anh nói, anh có kỷ niệm về mùi hương quả bàng chín cũng vậy. Ngày nhỏ, bọn trẻ hay trèo bàng. Tán bàng mát thì rõ rồi nhưng quả bàng chín mới gắn với một phần tuổi thơ của anh, một tuổi thơ không nhọc nhằn, nhiều trò chơi. Chỉ những đứa trẻ không phải lo đến cuộc mưu sinh mới có thời gian hái bàng, đập quả bàng chín mà cùi của nó có mùi thơm bảng lảng giống như một loại quả gì đó của núi rừng quê em ấy, quả bàng bị chim ăn hay vì chín quá rụng xuống đất, không thể ăn được nữa, đập ra lấy cái nhân nhỏ hơn hạt lạc. Cái nhân ấy bùi, ngậy lắm… Nó là một thứ quà ăn vặt, không mất tiền mà tụi nhỏ bọn anh tự kiếm được trong những ngày hè thơ bé.
Vậy là thêm một ngày nghỉ hè của em trôi đi, thêm một ngày nghỉ phép của anh trôi đi. Anh còn một tuần phép nữa còn ngày về xứ Lạng của em tuỳ, chưa biết lúc nào. Em nói với anh đã xin anh chị ở lại thêm, vẫn muốn ở lại đây chơi. Chị em nói, chắc lại quen chàng nào rồi chứ gì… Chàng ấy là chàng công tử mà em gán cho. Anh cũng chẳng rõ mình công tử ở chỗ nào. Hỏi em, em chỉ cười. Nói, anh biết nhiều, giảng giải được nhiều điều… nhưng thật ra, có vẻ cũng không biết nhiều đâu, nhiều khi còn tồ tồ, ngô ngố… Em nói gì lạ thế… Em quay đi, bỏ lửng câu chuyện ở đó. Anh nghĩ về câu ca dao “người khôn ăn nói nửa chừng…” Vậy người dại là anh ư?
Chúng mình còn có cuộc đi chơi khác khi em có ý kiến, chỉ quanh quẩn Hà Nội thôi sao? Ừ hay ta sang bên xứ Đoài, hay ta về vùng ngoại ô để ngắm những cánh đồng thẳng cánh cò bay… hay ta bay lên mặt trăng… Xa đấy. Theo anh biết, xứ Đoài nhiều cái hay, cũng không thật xa, cách hai chục cây gì đó, đi xe đạp mất hơn một giờ. Xứ Đoài có chùa Trầm, có núi nhấp nhô. Giữa vùng đồng bằng mà có núi, nên có người ví như là Hạ Long cạn trên đất Phụng Châu, Chương Mỹ đấy. Ngoài vẻ đẹp sơn thủy, cảnh núi rừng và chùa chiền bao giờ cũng gắn với một vài sự tích của tổ tiên, cha ông chúng ta. Những sự tích ít nhiều mang màu huyền bí.
Vậy là chúng ta đi sớm. Em kể, Chị em hỏi đi chơi với công tử Hà Thành à. Em gật đầu. Về sớm nhé, lần sau nó đến đây ra mắt anh chị… Mà thân con gái phải biết giữ gìn đấy… Em vô tư cười khi kể lại cho anh chuyện với chị: “Anh ấy tồ và ngố lắm… Chị chỉ khéo là lo xa…” Còn anh, anh cười ngượng khi nghe em nói lại là “anh tồ, anh ngố”. Anh phân vân, phải làm thế nào cho hết ngố, hết tồ…
Chúng ta đến Phụng Châu. Hoá ra ở đất này không chỉ có chùa Trầm mà còn có chùa Hang và chùa Vô Vi nữa. Nó là một quần thể, không xa nhau lắm. Cũng có sự tích lịch sử qua truyền miệng trong dân gian gắn với mảnh đất này từ trên hai trăm năm trước. Nghe để mà biết thêm. Đi một ngày đàng học một sàng khôn mà.
Nhưng theo anh, thú vị nhất là cảnh núi rừng. Không ngờ, một nơi cách Hà Nội hai chục cây mà hoang sơ, nghèo khó thế. Những nếp nhà gianh, phên giậu sơ sài chỉ ra sự nghèo khó.
Em thì không lạ. Em bảo: “Chẳng khác gì quê em. Quê em còn hoang sơ và nghèo khó hơn. Công tử vẫn tồ và ngố lắm. Công tử có thời gian thì lên em, em là người dẫn đường cho công tử. Gì chứ, hoang sơ và nghèo khó thì chỗ nào trên đất ta không như vậy…” Anh bảo: “ Bà cụ non…” Em giận, em không nói gì hết nữa.
Mãi, khi thấy em cứ lặng im, anh mới nhận ra là em dỗi vì cái “bà cụ non”. Anh thấy một bông hoa cỏ, nhỏ nhoi nổi bật lên trong bãi cỏ hoang. Anh bảo em chờ anh chỗ bóng cây. Anh chạy vàu sâu bên trong, cả một bãi đầy hoa. Anh hái một chùm hoa lớn. Hoa trắng muốt, có những chấm vàng ở giữa, phấp phới bay trong gió như những cánh bướm. Anh hái vội vàng, cũng vội vàng trở lại chỗ em. Thở gấp, em không nhìn anh. Không hiểu lúc đó anh có tồ có ngố nữa không, anh đưa bó hoa cho em, vừa cười vừa nói: “Tặng bà cụ non của anh đây… Đẹp không, hoa mong manh như em đấy và vì thế em cần một hoàng tử chứ không phải là công tử nhé, anh sẽ là hoàng tử…” Em cười, mặt tươi rói, đưa tay đỡ bó hoa. Ôi, sao mà em xinh thế. Thiếu nữ bên những cánh bướm trắng mong manh… Cả hai đều mong manh. Em đưa tay lau những vệt mồ hôi trên trán anh. Anh nắm lấy bàn tay bé nhỏ: “Anh không ngố và tồ nữa chứ…” Em để nguyên bàn tay em trong bàn tay anh. Em mười sáu trăng tròn đắm say.
Nhưng vẫn chưa hết buổi đi chơi ở xứ Đoài mà mục đích là tìm hiểu về chùa Trầm. Theo chỉ dẫn của dân trong vùng, chúng mình tìm đến chùa Trầm. Sao chùa tiêu điều, vắng vẻ thế? Chợt nhớ, ngày đó, mới sau cải cách ruộng đất vài năm, chuyện lễ bái, chùa chiền bị coi là mê tín, không được khuyến khích nên vậy thôi. Chùa Trầm ngoài mang trên mình tính lịch sử truyền lại từ xa xưa và phong cảnh đẹp, còn là một di tích cách mạng, nên không bị phá, vẫn thấy đôi chỗ còn lại những chân nhang thưa thớt đã phai màu, lâu ngày ít người lai vãng. Trong ánh sáng mờ ảo của ngôi chùa dựa vào vách núi tạo vị thế thâm nghiêm, anh như thấy có sự thiêng liêng và huyền bí hoà trộn. Thấy em rất nghiêm trang chắp tay lầm rầm trước một bức tượng không nhìn rõ, anh cũng bắt chước theo. Em, nét mặt nghiêm trang không thay đổi, anh giữ riêng cho em cái khoảng không gian im lặng thần bí, để em đó với những lời cầu nguyện thiêng liêng, anh đi tìm hiểu những chỗ khác và lúc sau, ra phía ngoài, đợi em.
Chừng hơn chục phút sau em mới ra. Nhìn mặt em, anh thấy phảng phất nét thiên thần trong những bức tranh công giáo mà ngày xưa bé tí, những lần vào nhà thờ, anh đã được xem. Anh cũng nghĩ về các cô nữ sinh dập dìu bên cổng trường Trưng Vương những giờ tan học. Những cô gái với những tà áo trắng tinh khiết học trò, mà ngày đó, anh chẳng dám nhìn lâu.
“Công tử, ta ra bãi cỏ có gốc cây kia ngồi đi…” Nơi đây hoang sơ, rất sạch. Bãi cỏ mượt mềm cho cảm giác êm ái làm sao. Lác đác vẫn thấy những bông hoa cánh trắng nhuỵ vàng đung đưa theo chiều gió mà anh hái tặng em. Nhìn hoa lay lay trong gió càng thấy em mỏng manh hơn trong không gian vắng lặng. Anh còn nghe vẳng đâu đây tiếng nước chaỷ. Em bảo anh nằm mơ. Anh bảo chốn thiên thai thì ai mà chẳng mơ. Đây gần “Suối mơ” đấy…
Chúng mình ngồi bên bãi cỏ mang xôi ra ăn. Xôi muối vừng, dân dã mà ngon thế. Vừa ăn, anh vừa hỏi em, em cầu gì mà lâu thế. Em hỏi anh, suối mơ là gì. Anh hỏi em, em có thấy sự linh thiêng. Em hỏi anh, thiên thai ở đâu. Anh hỏi em, thần phật có thật không. Em hỏi anh, suối mơ có thật không… Chẳng ai trả lời ai và cũng chẳng ai hỏi lại câu hỏi mình. Anh cảm như em đã là gì đó thân thiết, rồi mọi chuyện cũng sẽ rõ.
Có đoạn mà anh thích nhất chuyến đi, anh dựa gốc cây, nhắm mắt và tưởng tượng lung tung cảnh núi Thiên Thai. “Này em, Thiên Thai là như thế này đấy. Em cũng dựa gốc cây nhưng ở phía bên kia, mở mắt, xoay về phía anh, chờ nghe… Nghe không? Không thèm nghe nữa… Hỏi từ nãy… lại bịa hở… Anh cười, không bịa, nghe không. Không nghe… Vậy thì thôi. Một lúc sau, em, thì nghe. Không kể nữa. Không được, phải kể. Nói rồi phải kể. Em giả vờ đấm anh, những cú đấm nhẹ như phủi bụi. Anh thích vậy. Kể đi, kể đi. Anh nắm được bàn tay nhỏ nhắn, vậy thì kể.
Và kể cho em: “Thiên Thai là động tiên. Ngày xưa có hai chàng trai tên là Lưu, Nguyễn, người trần thế, lạc đường. Họ lạc vào động tiên, gặp hai nàng tiên nữ. Vậy là quên lối về. Các nàng Tiên đẹp lắm. Nhưng rồi cuộc sống trần gian quyến rũ nhiều nhớ nhung hơn, họ bỏ động tiên tìm về với trái đất. Em thấy chưa, người trái đất chúng ta đẹp nhất và đáng yêu nhất…” Anh nhìn em còn em quay đi… Anh không nói nữa. Một cái gì đó bâng khuâng, xáo động. Chúng mÌnh im lặng tận đến lúc lên đường về nhà, mỗi người một suy nghĩ.
*****
Rồi anh đi, rồi chiến tranh… Chiến tranh cũng đồng nghĩa là sự chia li. Thư từ trao đổi cho nhau nhẹ như ngọn gió chỉ đủ lay lay làm đung đưa những cánh hoa bướm mong manh. Năm năm sau anh về, tìm con phố đó, đi trên con đường đó, mong gặp được con người đó… Tất cả là một giấc mơ. Ngước lên xanh cao là những cánh chim trời.
Anh như bao người trai khác, lao vào cuộc chiến không mong muốn. Anh đi và mang theo hình ảnh ngôi nhà, nơi em hẹn gặp, ngày đó em mười sáu trăng tròn đắm say.
Và hôm nay, sau bốn chục năm, như một định mệnh, hình ảnh ngày xưa em mười sáu trăng tròn đắm say, trở lại. Hoá ra với em, anh vẫn chỉ là một công tử suốt đời lãng du và chẳng bao giờ là hoàng tử với cánh buồm đỏ thắm đón được em.













.jpg)




