Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Ánh mắt sông quê

Ánh mắt sông quê

Phà Long Đại là bến phà trọng điểm đánh phá thời chiến tranh. Lính tráng không gọi Long Đai mà gọi Long Đầu. Cách gọi của lính nói lên sự ác liệt, máu lửa và cả mùi chết chóc của địa danh, một con sông với cả trăm thác đổ hiểm trở, với dòng chảy ngoằn nghoèo theo địa thế vùng núi, đẹp như hình rồng cuốn, chứa đầy những hoang dã của biết bao thần bí thiêng liêng. Và số phận cuộc chiến cho nó cái tên đi vào lịch sử.
Triều lần đầu vào tuyến lửa. “Tuyến lửa”. Nghe “tuyến lửa” thấy run và như đã thấy mùi khói lửa chiến tranh, nhưng, nhẹ và thấp hơn nhiều cấp so với Long Đầu. Thằng nào lần đầu đi mà không run. Có ông lính cũ kể chuyện, lần đầu lâm trận, sợ vãi đái ra quần nữa kia. Thật ra thì Triều không run nhưng hồi hộp và căng thẳng thì có. Cũng có lúc tim đập loạn, không phải vì cô gái quê mà là vì xe qua những trọng điểm thường xuyên bị đánh phá. Hình như, ở tuyến lửa, cứ chỗ nào có cầu qua sông là thành trọng điểm. Thời khắc đó căng thẳng lắm. Những lúc căng thẳng, Triều chỉ im lặng. Không gian im ắng là khi nó đang tích tụ năng lượng, chuẩn bị cho sự bùng phát. Những lúc đó, mặt mũi và nói chung toàn thân, luôn ở trong tình trạng lo lắng, căng cứng, chỉ sợ cái điều không hay xảy ra. Triều nghĩ đến chuyện ông lính cựu, tự an ủi, mình cũng kinh nhưng chưa đến nỗi.
Sau chuyến đi đó, Triều dần quen hơn với những nơi ác liệt. Những cái tên cua tay áo, dốc tử thần, đèo Đá đẽo hay cổng trời này, mây trời nọ… lần lượt bình yên vượt qua và Triều trở nên dạn dày. Nhưng với việc qua sông phải chờ phà, đón đò thì vẫn luôn có tâm trạng thấp thỏm.
                                                                                          *****
Chẳng hiểu mấy người chờ phà đây, có ai thấu hiểu được cái cảnh ngóng mẹ về chợ tuổi thơ? Triều thì rất nhớ. Nhà Triều nghèo như mọi nhà. Ngày đó thì có mấy nhà giàu, mấy nhà trung lưu? Có giàu hay có trung lưu chăng nữa thì cái cảnh bòn xẻn, tiết kiệm vẫn cứ diễn ra với tất cả người làng. Sự hoang phí hầu như không có. Cứ nghĩ đến lúc mẹ về, có mấy cái kẹo bột hay tấm bánh đa chia cho mấy chị em mà thèm và bây giờ thì thương. Thương quá ngày xưa thơ ngây trong nghèo khó. Vì quá trẻ con, nên Triều cũng chưa cảm nhận hết cái tủi, cái nhục của cái nghèo. Kể cả sự vất vả của mẹ. Mẹ Triều ở vậy nuôi ba chị em vì sợ chúng khổ và cũng sợ mình khổ. Cảnh làm lẽ hay đi bước nữa đâu có sung sướng. Có lẽ vì vẫn được sống trong sự ấp ủ của mẹ, trong cảnh rau cháo có nhau, mà chị em Triều không sớm nhận ra?
Quê Triều nằm bên sông. Một cái làng nhỏ, một con sông nhỏ, gày gò như một kẻ sốt rét rừng, gắn với tuổi thơ của Triều. Cái làng chỉ dăm chục nóc nhà và con sông không lớn, khi nước đổ về, chiều ngang chỉ độ dăm chục mét. Vậy nhưng vẫn luôn là nỗi nhớ của dân làng khi xa quê, nghĩ về cái làng nghèo khó, quanh năm chỉ tất tưởi chạy ăn. Cái gặp thường trực là những bộ mặt rầu rĩ, cằn cỗi, hốc hác. Triều nhớ con sông, gắn bó với nó, cái con sông còm nhom, oặt oẹo. Từ khi vào cấp ba, phải sang trường huyện, thì nó lại thành thân thiết. Triều được cả nhà nâng niu, mẹ và chị chăm bẵm, cả đứa em gái sát sau út ít cũng biết chiều anh.
Cái năm lên cấp ba là cái năm Triều phải qua sông hằng ngày. Vậy là vào cấp ba, Triều mới biết sự vất vả trong chuyện học với con nhà nghèo. Để được học, Triều thường xuyên phải dậy sớm để vượt sông sang trường huyện. Mỗi ngày, nếu thuận lợi, thông đồng bén giọt, Triều mất bốn giờ đồng hồ trên đường và trên sông. Đoạn trên sông thú vị nhất nhưng nhiều khi cũng rất sốt ruột. Rất nhiều lần Triệu chậm tiết đầu. Vẫn may, Triệu nghĩ, còn hơn khối đứa phải bỏ học và phải trọ học.
Cái nghèo thể hiện ra cái khổ những tháng năm học cấp ba. Nhiều lần phải nhịn đói vì tiết học kéo dài hoặc buổi chiều có tiết học. Những lúc đó, Triệu oán con sông. Đâu có còn cái “con sông đã tắm cả đời tôi” nữa.
                                                                                          *****
Ánh đèn dù pháo sáng chập chờn phía xa và gió sông, gió núi của đất trời Long Đại khiến nỗi nhớ về dòng sông quê cồn cào, day dứt. Cái căng thẳng biến mất khi những hình ảnh quê hương hiện về. Triều nghĩ về con sông quê và con sông chinh chiến này. Khác nhau quá! Sông quê, bình yên, hiền hòa còn con sông chinh chiến này dữ dội hơn. Số thác ghềnh trên dòng sông chưa đến trăm cây số này đã đủ khiếp, cứ trung bình, non cây số là có một thác. Mà “cái thác” đặc biệt hơn cả, chính là chỗ Triều đang đợi phà sang sông. Triều không muốn nghĩ về trọng điểm này nữa. Vậy mà cứ ám ảnh. Nơi đây phải gọi là gì? Một trọng điểm đầy những bom đạn và tiếng phản lực gầm rú. Những hố bom làm lở loét cánh rừng và những quả đồi. Chúng khoét thành những cái ao to tướng trên lên mặt, những vũng nước trong hố bom có màu xanh nhờ nhờ, kỳ lạ, ma quái. Nó là tọa độ lửa, tọa độ bom, tọa độ chết hay tọa độ của thử thách của lòng dũng cảm, của ý chí… Triều nghĩ lung tung, bát nháo, rời rạc trong cái đêm đầu tiên. Khi cận kề sự sống và cái chết, ý nghĩ con người cũng thật vô cùng lộn xộn, cái lộn xộn thể hiện sự thiếu khả năng nhìn nhận, phán đoán. Có cả cái lộn xộn phó thác cho sự may rủi. mà đa phần là vậy. Trên bến sông này, may rủi là điều dễ xảy ra.
Nhưng hôm nay với sự từng trải, những lo lắng, căng thẳng đã bị vất sang một bên. Triều chọn chỗ đứng gần một cái hầm kèo, nhìn ánh đèn dù chập chờn như ma trơi rồi đưa mắt nhìn sông, nhìn núi. Giá có một quả núi ở bến đò mình vẫn đi, chắc đỡ lẻ loi cho những buổi chờ đợi.
 Tiếng máy bay rú ầm ĩ trên đầu. Bến phà nháo nhác trong phút chốc, rồi mọi người biến hết xuống mặt đất. Bến phà phút chốc quạnh quẽ, im ắng trong lạnh lẽo của ánh đèn dù. Quang cảnh tiêu điều hiện ra dưới ánh trăng và pháo sáng. Mọi người như ngừng thở, hồi hộp, chờ đợi, lo âu lắng nghe tiếng bom..
Hôm nay sáng trăng, mặt đường rõ từng ổ gà. Trung úy chỉ huy đoàn xe 4 chiếc, cho xe cuối quay đầu, chạy về phía Bắc, theo hướng ngược lại, Triều trên chiếc xe này. Mục đích để thu hút máy bay về mục tiêu di động, ba chiếc còn lại tìm chỗ trú an toàn hơn. Ba chiếc xe lùi cách xa nhau và dẹp hết sang tà luy dương, nơi có thể lấy độ cao che chắn cho xe phần nào. Trong ánh pháo sáng, ngồi trong hàm ếch phía tà luy dương, nhìn rõ mồn một từng chiếc xe hàng, chiếc nào chiếc ấy, to lù lù như những ngôi nhà giữa đồng không mông quạnh.
 Tất cả những chuyện đó diễn ra trong chớp mắt. Và bom nổ chát chúa, tiếng bom bi rao rào, hầm kèo rung bần bật. Bom nổ rất gần, đất đá đổ ào ào xuống mặt đường. Xong ba loạt bom, một lát sau xuất hiện những bóng người từ hầm ra mặt đường nghe ngóng binh tình. Có tiếng “cút rồi, ra thôi”, mọi người trở lại mặt đất quen thuộc và thân yêu, nỗi lo sợ đã qua. Hai trong ba chiếc xe nằm bên ta luy dương, trúng bom bi, bốn chiếc lốp và một thùng xăng bị thủng. Lái xe đã lấy ni-lon bịt chỗ rò. May mà vết bi làm thủng phía trên thùng xăng. Mùi xăng nồng nặc.
Nửa giờ sau, Triều trên chiếc xe quay đầu chạy về hướng Bắc, quay lại. Vậy là hai xe lành co kéo, dìu hai xe bị thương, lùi về phía sau, tìm một cánh rừng nghỉ và khắc phục, sửa chữa xe.
Cái dạn dày, từng trải của Triều được tôi luyện trong những trường hợp như thế.
Sau đợt giao hàng đó, Triều được đi học sĩ quan và được tranh thủ rẽ qua nhà.
                                                                                          *****
Gió sông, hương núi lại đưa suy nghĩ của Triều về chuyến qua sông đầu tiên của mình sang học trường huyện. Triều còn nhớ như in cái lâng lâng có chút tự hào sáng hôm đó. Cả thôn chỉ có hai đứa. Cái Hạnh gần nhà cũng được vào cấp ba, nhưng nó bận lấy chồng. Ở miền quê xa vắng này, với con gái, lấy chồng là sự việc quan trọng nhất đời. Đặc biệt trong thời chiến. Chẳng vậy mà người ta nói về cái giá của nó “trai thời loạn, gái thời bình” là thế. Chiến tranh thế này, biết đến bao giờ… Vậy là Triệu cô đơn trên đường đến trường. Trên nó cũng có hai ba người nhưng đều rẽ ngang, không ở quê. Cậu tú thời đó là của quý hiếm.
Sau hai ba tiếng gọi “đò ò  ơi…” rải trên mặt sông còn đang ngái ngủ, nó nhìn thấy con đò bên kia cựa quậy. Ông Khả đang chậm chạp tháo dây buộc. Chỉ khoảng năm phút sau đò đã đến. Triều cẩn thận bước xuống bến, không để những vết bùn bắn lên bộ quần áo mới từ đôi dép cao su. Triều chọn chỗ khô ráo bên khóm tre chờ.
Triều nhận ra người lái đò không phải ông Khả mà là cháu ông, con Na “đét”, như người làng vẫn gọi. Vì đò chỉ có một mình, nên hôm nay Triều mới chú ý nhìn rõ mặt nó. Nó có đét đâu mà gọi nó là Na “đét”. Thậm chí, Triều còn thấy mắt nó rất đẹp. Nhưng đáng chú ý nhất là cái dáng cong cong, dướn người của nó khi khua mái chèo, mềm mại, uyển chuyển và cả điệu đàng nữa. Chiếc áo nâu ôm khít người, phía ngực hơi nhô cao, khoe cái vẻ đã là thiếu nữ. Con đò nhẹ nhàng cặp bờ mà người đứng không hề bị xô ngả. Mọi động tác của nó đều rất đẹp và thuần thục.
Sau vài buổi đưa đón, nhân dịp cũng có chuyến chỉ có Triều và nó, Triều nhìn trời còn đang nhập nhèm giữa tối và sáng, thấy có một ông sao xa tít, nói bâng quơ, “sao thương nhớ ai mà sao không tắt/mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…” thấy nó nhoẻn cười: “đèn hay sao hở anh”. Triều mạnh dạn hơn: “Mắt em đẹp thế sao người làng lại gọi Na “đét”? Nó cười ngặt nghẽo rồi nghiêm trang: “Bởi em xấu nên người làng gọi vậy chứ sao…” “Ai bảo em xấu?” “Người làng mình và cả anh nữa đó…” “Anh đâu có…”Triệu chống chế “anh không gọi vậy đâu nhé, bây giờ anh gọi là Na “đẹp”. Đẹp, chứ không phải đét…” Đò cặp bến, Triệu lên và ngoái lại, gí gí cánh tay như động tác vẫy: “Na đẹp nhé…”
Cứ vậy, hàng ngày hai lần hai đứa gặp nhau. Chuyện Na “đẹp” hay Na “đét”, Triều không quan tâm nữa. Nhưng có nghe người làng kháo nhau, con Na trông càng ngày càng xinh.
Hai năm sau, khi đang học lớp 10, Triều bất ngờ nhận ra, đã lâu không phải “đò ò ò ơi… đò” mỗi sáng. Khi thì thấy đò đang sang, khi thì thấy đò đã chờ sẵn bên khóm tre trong dáng chờ, dáng đợi của… con đò. Những lúc đó, Triều thấy ánh mắt Na liếc rất nhanh, đôi mắt nó sáng lên như ánh nắng ban mai. Triều cũng thấy nóng rát mặt mỗi khi thấy cái Na… Triều nhìn cái Na: “Sao dạo này không thấy bố em?” “Bố em đau lưng”. Hôm sau, khi xuống đò, Triều đưa cho nó một bó ngải cứu: “Em hơ nóng cho rồi chườm cho bố, nhớ rắc thêm ít muối đấy”. Nó nhìn Triều, cảm động, lí nhí: “Cám ơn anh, em cũng đang chườm cho bố…”.
Chẳng hiểu sao, cũng có lúc Triều không dám nhìn thẳng vào mắt nó, cũng không dám trêu nó như những năm trước nữa. Nó đã thành một thiếu nữ. Cái Na quả rất đẹp. Bất giác Triều nhớ truyện kể về nàng tiên cá bên bờ biển. Ở cái Na có gì đó hao hao… là cái gì nhỉ? Nó là một bông hoa, cũ kỹ quá. Nó là hình ảnh cô lái đò mà bao thơ ca nhạc, họa lấy cảm hứng. Đúng, nhưng những điều đó thường xảy ra trong trí tưởng tượng và đôi khi không thật. Không, cái Na có hình hài con người đầy đủ, nó ở đây, tự nhiên và gần gũi cơ. Nó là bến sông quê. Phải rồi, nó là hình ảnh giản dị, nghèo khó nhưng nhân hậu, nghĩa tình của quê hương. Triều nghĩ vậy và rồi thấy tiếc, nhỡ đến khi nào đó, nó thuyền theo lái, gái theo chồng, để bến sông này vắng vẻ.
                                                                                          *****
Triều về quê với sự háo hức của anh lính xa nhà, mong gặp mẹ, gặp chị, gặp em. Triều vẫn dối lòng, còn một người nữa, đó là cái Na “đẹp”, muốn thấy lại ánh mắt hồi nào đó, lóe lên như tia nắng, làm rám mặt cậu học trò bên bến quê này. Thậm chí cái mong này còn lấn át cả mấy cái mong kia. Nhưng bảo nếu chỉ được chọn một, thì lại làm khó cho Triều.
Hồi đó, có những sáng, có phải là do sương sớm mát lành và trong trẻo, mà Triều chỉ muốn, chuyến đò đầu tiên không có thêm ai, để đừng ai nhận ra, nó đang luống cuống trước một ánh mắt, cũng có thể để bâng quơ buông một câu gì đó, đại loại như: “ánh mắt ai mà cứ như có sương sớm sao chiều bên trong ấy nhỉ… hoặc khi nào thì cô “bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông. Cô lái đò xưa đi lấy chồng…”Cái si mê rất đỗi học trò, rất mộng mơ và rất chi ư là muốn để tỏ cái gì đó cho người ta biết.
Đường về quê gần mà xa. Con đường quen thuộc suốt ba năm học cứ nhíu bước chân Triệu làm Triệu vấp liên tục. Có người mong? Mẹ vẫn bảo như vậy mỗi lần ai trong nhà vấp chân. Ai? Ai nào? Ai nhỉ? Tất tần tật đều không thay đổi nhưng sao Triệu lại nóng ruột vậy. Bến sông đây rồi. Những bãi rau cải đang xanh. Đường xuống bến cỏ dại lan gần hết lối mòn, chỉ hằn những vết chân trâu và mùi nước đái của chúng. Vẫn đấy mà khác. Thưa bóng, luễnh loãng và hoang hoải. Có cục gì chặn đứng trong cổ. Lẽ nào cái Na đã bỏ quê đi lấy chồng? Hóa ra, ông nhạc sĩ kia đã viết đúng một sự thật, cái sự thật khiến Triều khắc khoải.
Gió làm nghiêng ngả những bông lau ven sông. Một cái buồn ngơ ngác, một ánh mắt trống rỗng. Người ở bến sông quê ngày nào chỉ còn là ký ức.
Một cánh cò vẫy nắng bên sông cho Triều gặp lại ánh mắt sông quê ngày nào.

Vinh Anh 17/6/20

























Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

Kỷ niệm xưa chúng mình

Kỷ niệm xưa chúng mình

Xa rồi, xa lắm rồi. Thảo ngồi trên ghế đá xưa. Chẳng hiểu sao, sau bao nhiêu thay đổi, nó vẫn sót lại, tồn tại được qua bao năm tháng trầm luân của dâu bể thời cuộc. Nhiều năm tháng đã trôi qua… nó vẫn ở đây, cũ hơn, già hơn, chai sạn hơn, vững vàng hơn, như sẵn sàng chờ đón những thách thức mới. Sao lại thách thức? Những mối tình mới chứ. Cặp đôi nào ngồi ở đây, sẽ có được mối tình đẹp.
Ngày đó, trên cái ghế xi măng (bằng xi măng chứ không phải bằng đá), to, nặng nề, chắc chắn nhưng thô kệch này ở đây và hôm nay vẫn ở đây, như chứng kiến, như nhắc nhở hay như muốn cùng Thảo ôn chuyện xưa. Chuyện xưa lâu lắm rồi, đã mấy chục năm… mấy chục năm nghĩa là lâu lắm. Cái ghế đã cũ, mọi chuyện đã cũ như tình xưa đã cũ, cũ nhưng vẫn tồn tại theo thời gian.
Hà Nội vắng. Chiến tranh lan ra đến đây. Không phải, chiến tranh đã bao vây Hà Nội. Khắp nơi đã dính bom, Hà Nội cũng dính nhưng nơi đây thì không. Đất thiêng của tổ tiên, nên tổ tiên bảo vệ.
Hàng cây cổ thụ từ bao giờ cao vút và rất xù xì. Những gốc cây mà rễ của chúng tạo thành một chiến lũy của sự kiên cố, vững chãi, bất khả xâm phạm. Nó được cả ngàn cái rễ tỏa ra các phía, đâm vào lòng đất và bám chặt lấy đất, quyện vào đất, tạo ra muôn vạn kiểu xù xì ở gốc. Cái xù xì chứng tỏ sự già nua, chứng tỏ sự lâu đời, chứng tỏ sự cũ kỹ và cũng chứng tỏ cả cái gắn kết, bền chặt. Với đời một người, còn chứng tỏ sự vĩnh cửu nữa.
Con đường đi rộng chừng năm mét vẫn như xưa. Không thấp thỏm, gồ ghề đá sỏi mà đã được tráng nhựa nhẵn nhụi. Cái hồ bé tẹo vẫn thế. Không thể gọi nó là hồ được. Trong thâm tâm, Thảo nghĩ, so với khuôn viên rộng lớn này, nó chỉ như một bể nước. Ở đó, người ta dựng lên những hòn non bộ, tạo cảnh quan núi rừng trên một mặt nước. Bỗng Thảo thấy thương cái hồ bé nhỏ. Theo Thảo, nó phải có tầm nhìn khoáng đạt hơn, ngập tràn nước và có cả sóng vỗ nữa. Nó phải là một không gian rộng chứ không bí bách như vậy. Nhưng, Thảo nghĩ, cái ghế đá của chúng mình đặt bên nó lại đẹp, lại hợp lý. Nó được tạo dáng. Dẫu cả khi không có người ngồi, nó vẫn là một sự chào mời, nó vui vẻ, cởi mở. Vậy là nó hiếu khách. Nếu không có mặt nước với những đám bèo, những chiếc lá khô, những cỏ cây dại, thì chiếc ghế của chúng mình giảm giá trị đi nhiều lắm.
Bên những hàng cây cao vút vẫn có những cây nhỏ bé chen vào. Tầm thấp của một cánh rừng do con người tạo ra là thế.  Những cây chỉ cao tầm độ vài ba mét. Những cây thân leo, phủ kín những cây cổ thụ, tạo nên bộ áo cho cây, tạo sự ẩm ướt và bao bọc cho cây, một sự bảo vệ của tự nhiên. Đừng tưởng to xác mà không cần chúng tớ!
Trên ghế đá này chúng mình đã nói chuyện gì nhỉ? Nhiều lắm nhưng trước tên, hỏi cậu, cậu có nhớ buổi đầu tiên ta ngồi ở đây không?
Thảo nhớ lắm buổi đầu đó. Vì sao? Vì đó là lần đâu đi với cậu chứ còn vì sao. Được chưa. Không những thế, cậu còn là người đi chơi riêng, đầu tiên trong đời Thảo đấy . Hôm đó, cậu nói cậu háo hức chờ đến giờ hẹn. Lại hỏi thêm, chúng mình hẹn nhau ở đâu? Đúng rồi, đó là nơi cậu đề nghị. Cậu bảo đúng giờ Thảo ra đó, tớ sẽ đón. Tại sao cậu chọn nơi đó? Cậu bảo với Thảo, đó là nơi lớp chúng mình tập trung để đi cắm trại.
Cậu kể, bọn bạn tán chuyện nhau về bọn con gái lớp mình, chúng nó bảo, cái Thảo dễ ưa nhất. Bọn con trai nói như vậy hay cậu nói như vậy? Cậu nói, “anh”. Vô duyên, nhưng mà tự nhiên qua, tự nhiên là “anh”. Chúng nó không đứa nào phản đối. Vậy là cái Thảo là đứa xinh nhất, hoa hậu của lớp trong mắt bọn con trai.
Bữa đó em hỏi, Thảo đẹp về cái gì? Anh trả lời buồn cười lắm, anh nhớ không, tóc đuôi sam. Tại sao lại là tóc đuôi sam? Vì “cái răng cái tóc một góc con người”. Anh cười, nhìn Thảo. Còn Thảo quay mặt đi, cũng cười. Anh bảo, đấy là cách khiến người khác “ưa nhìn” đấy. Vậy là ưa nhìn còn bao hàm cả sự duyên dáng nữa, phải không?
Có tiếng chim chúc chích trên cành cao. Hôm đó là buổi trưa. Buổi trưa trong công viên thời chiến vắng ngắt, tịnh không bóng người. Cái nắng hè bớt gay gắt dưới những tán cây mùa hạ. Gió từ hồ Tây thi thoảng từng cơn, nhè nhẹ, nhè nhẹ muốn đưa cả hai về vùng cổ tích. Không gian im ắng khiến cho tiếng người con trai nhẹ lại, nghe rì rào như tiếng gió, nghe thì thầm như hơi thở. Thảo ngả đầu vào vai anh và nhắm mắt. Một vệt nắng hiếm hoi đậu trên mái tóc, vệt nắng nhấp nháy, nhún nhảy không yên. Hóa ra tia nắng chiếu qua tán lá đang đung đưa vì gió. Im ắng như giữa rừng sâu.
Lần khác, thứ bảy, chúng mình hẹn nhau muộn hơn. Em ngồi sau chiếc xe Phượng hoàng nữ, màu xanh rất đẹp của mẹ anh. Con đường từ chỗ đợi cũng của ngày xưa, ngoằn nghoèo khắp mọi ngõ ngách rồi lại dẫn đến ghế đá chúng mình. Không có ai. Anh nói, nó đã đợi từ lâu, nó là dành riêng cho mình, không đến là nó buồn. Em không tin hỏi thử nó xem, từ bữa trước, đã có ai đến chưa.
“Sao mà khéo phịa thế, em nói và anh lâng lâng. Học sinh giỏi văn có khác. Mà, em hỏi cái này, có trả lời không? Sao không, khó gì đâu. Sau này anh định làm gì, viết văn hay làm báo? Chịu, ai mà biết được, nhưng chắc là sẽ viết thư. Chịu đọc không? Khi xa nhau, anh sẽ viết thư, mà có khi ở gần cũng viết. Nhiều chuyện viết ra “bút sa gà chết” xem thú vị hơn là “lời nói gió bay”. Đọc nhé. Nhưng mà em không muốn xa. Chẳng ai muốn xa cả. Tất cả đều là giả vờ đấy, bề ngoài đấy, trong lòng ai cũng rối như tơ vò cả. Không thấy cô giáo mình à, năm canh vò võ cô đơn đấy, vọng phu đấy. Sao biết? Tự nhiên thôi. Buồn nhỉ. Ừ, quá buồn là đằng khác…”
Lần nữa, trước khi anh đi về phương Nam. Họ hẹn nhau ở ghế đá chúng mình. Chiều muộn lắm, rồi hoàng hôn buông, bóng tối cũng đến và ánh trăng lên. Hôm nay chẳng ai muốn nói. Cả hai  cùng nghĩ về chuyện đi và chuyện ở nhưng chẳng ai muốn nhắc đến. Chỉ có gió thì thầm, gió nói nhỏ với người này, gió rỉ tai với người kia, đều một giọng êm dịu, nhẹ nhàng, ve vuốt, mơn trớn. Thảo không thích giọng đó, nó độc như lưỡi con rắn. Thảo rùng mình và phải lên tiếng “Ảm đạm quá, em không muốn ngày cuối cùng như thế này… Không phải cuối cùng đâu, em đừng lo, anh sẽ về. “Đợi anh về em nhé/ mưa có rơi dầm dề/ngày có dài lê thê/thì em ơi vẫn đợi…” Thảo lấy tay bịt mồm anh. Anh cầm bàn tay nhỏ nhắn với những búp măng trắng tinh khôi, đưa lên miệng. Lần đầu anh cầm tay Thảo. Thảo rùng mình, một thoáng sợ hãi và rồi trái tim thiếu nữ rối loạn. Thảo ngả đầu vào vai anh. Anh nghiêng đầu, hít hà mái tóc đượm mùi thơm bồ kết, mùi mà mẹ anh vẫn dùng.
Thế rồi anh đi, anh đi về phương Nam. Ít sau, Thảo cũng đi, Thảo hướng phía Bắc. Vậy là thật sự bắt đầu sự xa cách. Nối với nhau chỉ còn là nỗi nhớ, kỷ niệm và hy vọng vào những bức thư chậm chạp, muộn mằn.
Năm cuối ở giảng đường đại học, Thảo biết tin anh hy sinh và cũng năm đó, Thảo về nước. Cô thiếu nữ duyên dáng, dịu dàng ngày nào giờ mang trong lòng nỗi buồn u uẩn. Phảng phất chợt đến chợt đi. Thảo được đọc những dòng chữ của anh viết riêng cho mình trong quyển sổ chính Thảo tặng anh khi lên đường. “Anh sẽ viết trong này những suy nghĩ về em và về anh? Chắc chắn rồi. Lúc ấy chúng mình sẽ thế nào? Già hơn. Chín chắn hơn. Gì nữa chứ? Sẽ yêu mãnh liệt hơn. Thật không? Thế nào là mãnh liệt? Thế này này…” Anh kéo đầu Thảo về phía anh và hôn Thảo. Nụ hôn đầu đời của người con trai với người mình yêu nhẹ nhàng, rồi say đắm, rồi mãnh liệt.
Thảo ngồi đây và nhớ lại tất cả. Anh đấy, mình đây, gần gũi, gắn chặt và xót xa. Sao lại phải chia xa, rồi không trở lại, để mình em với trái tim tan nát.
Anh à, tất cả những gì anh và Thảo thấy ở đây ngày xưa vẫn y nguyên. Mấy năm trôi qua, những cây cổ thụ có già hơn một chút, gốc của nó có gồ ghề, sần sùi thêm? Chắc có, nhưng không rõ lắm. Mọi thứ vẫn như hôm qua, hôm kia, hôm trước mà thôi. Anh vẫn vậy, rụt rè, rất học trò và có thêm chút lãng mạn, mơ mộng hơn các bạn trai khác. Chắc bởi vì em, vì cái “ưa nhìn” của em. Anh lãng mạn và mơ mộng là để cho một người, người đó là em. Thảo như nghe thấy tiếng anh. Không thì thầm. Anh sôi nổi, cái tươi trẻ trong anh còn rất đậm. Thảo rất thích cái trẻ trung học trò đó. Đời người, có một thời duy nhất mà ta vô tư, vô tư đến cả khi bước chân vào sự chết chóc.
Thời gian vẫn chậm trôi, nhưng con người như bị cuốn vào dòng xoáy để tồn tại và thụ hưởng. Xã hội thay đổi nhiều lắm. Bộ mặt phố xá thay đổi nhiều lắm. Nơi chúng mình hẹn nhau đi chơi lần đầu cũng thay đổi. Em chỉ nhận thấy sự ồn ào và vội vã. Em đã quên nhiều cái xưa. Cuộc sống có những đòi hỏi và bắt con người sống trong đó phải tất bật, linh hoạt hoặc không thể thờ ơ trong cuộc đua chen. Cái sự đua chen hẹp hòi, ích kỷ. Em đã có gia đình riêng. Em phải lo toan cho cuộc sống và vun vén cho gia đình. Em nghĩ về hiện tại nhiều hơn là nghĩ về ngày xưa. Chỉ đôi khi bỗng ký ức vụt đến. Em thú nhận với chồng “những ngày đó với em thật đẹp, em không hiểu rồi sau này, em có những kỷ niệm đẹp như vậy nữa không. Chồng em là một người đại lượng anh à, anh ấy nói “Anh không dám hứa, nhưng anh cố gắng để cuộc sống mới, em cũng sẽ có những ký ức đẹp về nó.” Và anh ấy làm được. Chúng em có nhiều kỷ niệm đẹp, đặc biệt là về những đứa con. Có một đứa, giống anh, lãng mạn, mộng mơ và cũng rụt rè lắm. Cái rụt rè làm nên vẻ đáng yêu và tin cậy anh ạ. Người phụ nữ yêu cái “rụt rè” đó ở đàn ông. Đó là cái rụt rè chết người đấy. Anh biết không?
Nhưng, Thủy ơi,  bỗng dưng, em nhận ra một điều, ở cái hồ bé tèo tèo này, nếu không có cái ghế đá chúng mình, nó như bức tranh bị thiếu cảnh, có nó vào, bức tranh sinh động hơn, người ta thấy cái hồ be bé ấy có sức sống, nhưng chiếc ghế lại chỉ ra sự cô đơn, lẻ loi, Thủy ạ.
ảnh trên mạng

Vinh Anh-12/6/20

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

Vì dân, thương dân

Vì dân, thương dân

Mỗi lần nghe được một lời nói vì dân, thương dân từ chính mồm các vị lãnh đạo có số có má, mình phải xem chỉ vì cái muốn, cái muốn dở hơi, xem cái mặt ông đó là ông nào. Thực ra là không xem, chỉ ngó thôi, ngó rồi lại quên cái mặt đó đi ấy mà. Nhưng, mặt khác, lại nhớ rất dai những lời mà cái ông đó nói. Nhớ và luôn kèm theo nỗi nghi ngờ. Không, không thể nói là nghi ngờ mà… nói luôn, không tin, không thể tin. Đố các bạn tìm được một trong các vị đó, lời nói và việc làm trong phạm vi “vì dân, thương dân”, đi đôi với nhau đấy. Nhưng, nhưng nếu như muốn tìm, lời nói và hành động ngược nhau, tìm dễ ợt.
Vì dân, thương dân ở nước mình là thứ tình cảm xa xỉ của quan chức nhưng lại là thuộc tính của kẻ có chức có quyền, muốn trưng ra cho thiên hạ biết. Phàm như tất những ai muốn trưng cái tốt, cái đẹp của mình ra, thì đều là những người có vấn đề về tư cách. Để che chắn an toàn cho tính cách, mang ý nghĩa đạo đức này, người ta mang đạo đức cụ Hồ ra để học tập, và làm bia chống đỡ. Bắt mọi người nghe và học. Còn với riêng họ, những người hô hào học tập cụ, coi như đã thấm, càng chức to càng thấm, cứ như là đã miễn nhiễm với mọi loại vi-rút rồi, toàn thân đã được bao bọc và bảo vệ bởi đạo đức của cụ rồi.
Thực ra, nói cho ngay, bọn đó đa phần là bọn đạo đức giả. Ngày hôm nay, bọn đạo đức giả đầy rãy trên sân khấu chính trị nước nhà. Đạo đức giả là gì? Các bạn thử xem những kẻ hay đứng trên bục giảng dạy đạo đức, có những nét sau đây không?(Tổng hợp trên mạng):
1.Giúp người nhưng không vô tư. Tục ngữ có câu, làm ơn không mong báo đáp, muốn được báo đáp đừng làm ơn. Sống trên đời, hãy sống bao dung rộng lượng, vui vẻ giúp đỡ người khác một cách vô tư, chúng ta sẽ nhận được phúc báo lúc nào không hay, thậm chí còn giúp bản thân hóa giải được họa hại.
2. Làm việc thiện nhưng muốn hơn người, hình thức bề ngoài tốt lành thánh thiện nhưng tâm địa cực kỳ xấu xa.
3. Có đạo đức khí tiết nhưng lại muốn thể hiện mình khác biệt. Họ thích huyễn hoặc, khoa trương bản thân hơn là phấn đấu để đạt những giá trị thiết thực. Họ thích hư vinh, thích được người khác tán dương, coi mình là trung tâm. chính lòng không ngay thẳng, không thiện tâm
Nếu có dính một điểm nào đó, thì đó chính là kẻ đạo đức giả. Nói và làm của những kẻ đó không bao giờ thực sự vì dân, thương dân đâu. Xem ra, để làm người tử tế, dù muốn đâu có dễ.
Cái sự thương người nó là tính thiện vốn có. Cuộc đời, nghĩa là môi trường sống, sẽ làm cho cái tính thiện đó được vun đắp nhiều thêm, lớn thêm hoặc cũng có thể khiến nó teo tóp đi, biến dạng mất. Cái tính thiện đó phụ thuộc rất nhiều điều kiện, có những điều kiện mà ta không thể lường hết được trong cuộc đời ngắn ngủi của ta.
Tại sao người Việt mình khi ra nước ngoài (đặc biệt là các nước phát triển, như mấy nước Bắc Âu chẳng hạn), rất tự giác, biết tôn trọng luật lệ giao thông hoặc vệ sinh công cộng. Nhưng cũng chính những con người đó, khi về nước, họ sẵn sàng uống rượu bia khi lái xe, vượt đèn đỏ hoặc đứng đái ngay chỗ đông người qua lại. Có phải cái thiện trong con người ta được vun đắp khi ở Tây, và teo tóp khi về Ta?
Có thể hiểu vì sao, 4 ông cảnh sát Mỹ đã làm chấn động nước Mỹ khi gây ra cái chết của một người Mỹ da màu. Cũng có thể hiểu vì sao tất cả cảnh sát ngày đưa tang người Mỹ da màu đó, cùng quỳ gối. Có phải tính thiện trong con người, vẫn có xu hướng cao hơn? Có phải con người nhân  bản vẫn luôn đề cao tính thiện và vẫn tồn tại trong mỗi con người?
Lại nói về chuyện cụ Kình Đồng Tâm. Sự chuẩn bị từ trước khi xảy ra cái chết cụ Kình, cho ta thấy, đây là một vụ việc mà Nhà nước này coi trọng. Vụ việc xảy ra, khiến nổi lên cái lý, phải có ý kiến của cấp lãnh đạo cao nhất chỉ đạo. Họ đã lên kế hoạch chu đáo, muốn làm gọn, muốn dứt điểm. Cái thiếu của người xây dựng kế hoạch là không tính đến tính thiện của con người. Mọi sai lầm bắt đầu từ sự vô cảm trong suy nghĩ và hành động. Chính sự vô cảm, coi nhẹ tính thiện đã dẫn đến hàng loạt sai lầm của những người lãnh đạo và chỉ đạo vở diễn.
Khác hẳn với vụ Floyd bên Mỹ. Bên Mỹ, dòng người biểu tình phản đối bất công nổi bão. Người Mỹ nhận ngay ra sai lầm của cảnh sát và người ta đã và đang làm tất cả để sửa sai. Bên này đại dương, người ta lấp liếm và che dấu mọi diễn biến sự việc. Nổi bật nhất là quyết không chịu thua, thua là cả hệ thống chính trị thua. Vậy thì phải tìm mọi cách để thắng. Vì thế, có người chết bị phỉ báng, coi là khủng bố, có người chết là vinh quang, coi là anh hùng. Cái khốn nạn của dân ta là phải sống trong xã hội như vậy.
Trong đoàn quân chiến thắng kia, có ai nghĩ, khi những người cảnh sát quỳ gối, tức là thâm tâm họ đã nhận ra sai lầm, họ muốn được tha thứ, họ muốn hòa giải. Cũng đã có nhũng người công an xuống Đồng Tâm với ý đồ ban đầu khác nhưng họ đã biết chắp tay xin lỗi, đó cũng là ý nguyện hòa giải. Tiếc rằng hành động của vị trung đoàn phó đó không đủ lay động lên đến cấp cao hơn.
Còn nữa, cái chết của ông Phước (Bình Phước) có nói lên sự vô cảm, thiếu tình người của đám quan tòa? Còn nữa, hình ảnh 4 đứa trẻ ở Đắc Lắc ăn cơm nguội với ve sầu có làm lương tâm chúng ta ray rứt? Hơn thế, bọn khiến cho lũ trẻ kia phải ăn cơm nguội với ve sầu còn mở miệng nói, “do ý thích của các cháu” và chúng bỏ túi chia nhau 2, 8 tỉ ngon ơ. Đó là cái gì? Lòng thương dân, làm việc vì dân của lũ quan đó để ở đâu? Và tôi tin, đất nước này hôm nay, cả hai vụ này, nhà đương quyền lại có lời biện bạch, tìm cách chối tội.
Lý ra, thấy cái chết ngay trước mặt mình (ngay sân tòa), thấy mấy đứa trẻ nhỏ ăn cơm nguội với ve sầu, bất cứ con người nào, phải động lòng trắc ẩn. Nhưng không, chế độ ta đã tạo ra một thế hệ vô cảm, một lớp người dửng dưng trước những việc như vậy và họ đang tìm cách thoát tội.
Những chuyện vì dân hay thương dân hôm nay vẫn là hàng xa xỉ!


Vinh Anh-10/6/20