Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2020

Cúc họa mi lại nở

 Cúc họa mi lại nở



Cuối thu, Hà Nội như chịu ảnh hưởng cơn bão số 8. TIếp nữa, cơn bão số 9 đổ về miền Trung, trời âm âm u u, xam xám, không khí như vẫn còn đọng nét những ngày đỉnh lũ vừa qua của miền Trung, tự dưng thấy trạnh lòng, thương nhớ một cái gì đó mờ ảo, mơ hồ. Lấy xe lên phố.

Phố vẫn vậy. Thì thậm chí, nói dại, nếu có quốc tang, vẫn thế. Cười với mình. Cái thương xót kia, cũng chỉ là đầu lưỡi. Có chăng, chỉ có ở những sự quen biết và đâu đó, trong một số người có lòng trắc ẩn. Lòng trắc ẩn thời nay cũng không dồi dào lắm. Tỉ như, người ta khen cô Thủy Tiên nức nở. Đó là “hiệu ứng đám đông”. Lẽ nào không khen. Không khen là không hiểu cái sự đời. Người ta ừ ào, người ta trầm trồ, người ta góp nhời cho có vẻ hiểu biết. Đại loại như, con ấy nó vững vàng, con ấy nó xả thân, con ấy nó cương quyết, con ấy nó độc lập, con ấy… con ấy. Đấy cái đám đông khen Thủy Tiên là như vậy đấy. Còn như sâu xa hơn, cô ấy nó có tấm lòng, cô ấy từng làm mấy bận rồi, cô ấy nó minh bạch, cô ấy giữ được lòng tin, cô ấy làm không hề chú ý đến phía bên. Hỏi ông “phía bên” là cái gì, thì phía bên là không phải cô ấy đấy, có thế mà cũng hỏi.

Cuối thu có vị lạnh của mùa đông xứ Bắc, Hà Nội đẹp lạ. Cái lạ mỗi người nhận biết một kiểu. Người thấy đẹp vì nó hờ hững, người thấy xao xuyến theo nhịp thở từng con gió, người thấy vui trẻ ngước nhìn đám lá vàng bay, người thấy cái “se se” khiến lòng người người xích lại… Đó là cảm nhận riêng và mỗi mùa thu qua, ta lại cảm nhận được một cái gì đó thấm hơn, đậm hơn, sâu hơn. Mỗi cái mỗi vẻ, mỗi cái đều vương lại sắc thu. Cái hương sắc làm ta vấn víu đó chỉ thoang thoảng thấy nó nhẹ lướt qua và làm ta bâng khuâng.

Ừ có lẽ, cái đẹp của hương sắc cuối mùa thu là cái bâng khuâng. Cái bâng khuâng đưa ta về thời tuổi trẻ say đắm. Cái bâng khuâng mà ta cảm nhận được chính là sự dịu dàng. Mùa thu là mùa dịu dàng và sự dịu dàng khiến ta bâng khuâng. Bâng khuâng mang nỗi nhớ.

Cái biểu hiện bâng khuâng chính là em. Em là cụ thể và em cũng là bóng hình. Em hiển hiện và em cũng mờ ảo. Con đường đầy lá vàng làm tà áo trắng bay bay. Người ta suy như thế. Chứ con đường lá vàng nào làm được tà áo bay. Nhưng con đưƠvới là vàng mà em đi nó bồng bềnh. Bồng bềnh nên ta nhận ra nó bay bay. Cái bay bay cũng nhẹ nhàng thôi, dịu dàng thôi.

Rồi áo trắng dừng xe bên xe hoa chở mùa thu. Cả dãy hơn chục chiếc xe chở mùa thu từ ngoại ô về phố. Chiếc xe đạp chở hoa về phố thay những gánh hàng hoa từ khi nào, chẳng cần nhớ. Nhưng nếu thiếu những chiếc xe chở hoa mang sự đẹp đẽ, sự ấm áp, sự hạnh phúc về phố thì sẽ thiếu đi cái nhớ của Hà Nội. Nhớ Hà Nội không quên nỗi nhớ những chiếc xe hoa đó.

Nơi những chiếc xe hoa đỗ là con phố đẹp, con phố của tuổi trẻ. Nhìn sang bên là hồ Tây. Hồ Tây mùa thu đẹp hơn hẳn mọi mùa. Không còn cái màu xanh ngăn ngắt của bàu trời. Thay vào đó là gió. Gió nhiều khiến tóc em rối nhiều hơn, tóc rối làm em đẹp tài tử hơn, ma mị hơn. Tất cả những cái đó để em khoe nét thanh xuân với đời một cách tự nhiên.

Vài bóng áo trắng dừng xe bên dòng người xe nườm nượp mà không hề nghe thấy một lời trách cứ. Cái nét thu đi vào tâm khảm con người. Các áo trắng khoe vẻ đẹp và còn muốn lưu lại vẻ đẹp nữa. Thời hiện đại điều đó quá dễ dàng. Lại bâng khuâng nỗi gì khó tả, phải chăng đó là sự nuối tiếc. Phải rồi, cái tiếc bâng khuâng là cái tiếc mang vẻ đẹp và nỗi nhớ.

Nổi bật trong các “cửa hàng hoa” trên xe là những bông cúc họa mi trắng phau, nhỏ bé, tinh khiết. Sự tinh khiết, trắng phau, nhỏ bé của ngây thơ.  Cửa hàng nào cũng vậy. Mới se se mà sao cúc họa mi đã lên tiếng đồng điệu thế. Nghe như thấy tiếng chim trên cao. Đúng rồi, trường Chu Văn An, sân trường đầy tiếng họa mi thánh thót, các áo trắng cũng từ đó ra, trẻ trung, nhí nhảnh. Rất hồn nhiên và rất đáng yêu.

Hoa đến mùa hoa nở. Đúng quá. Cái đẹp và cái yêu tự nó cứ lồ lộ, tự nó cứ phơi bày, chẳng cần trang điểm, chẳng phải làm màu gì hết. Trong veo tiếng hót họa mi là thế. Bạn đã bao giờ nghe thấy tiếng “họa mi già” chưa? Đã là họa mi thì chỉ là tuổi trẻ, đã là họa mi thì chỉ là tinh khôi.

Bỗng thấy yêu lạ lùng cái người trồng ra nó. Nhìn chiếc nón lá mà chị đội trên đầu, thấy ngay một đời tất tả. Những người mang lại cho đời cái trong trẻo tinh khôi thuở ban đầu đó mà sao cuộc sống vất vả làm vậy. Ấy vậy mà những chiếc nón lá ấy đã tạo ra bao nhiêu niềm vui cho đời, những tiếng hót của họa mi chắc sẽ ngấm mãi vào mùa thu Hà Nội. Một mùa nữa, hoa mi lại khoe sắc. Thương lắm họa mi ơi.

Vinh Anh

25/10/20




Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2020

Có ai dám nhìn thẳng vào trận lũ 18/10/20

 


Có ai dám nhìn thẳng vào trận lũ 18/10/20?

Ngày 18/10 là đỉnh lũ. Hàng trăm nghìn nhà dân vùng lũ chìm ngập đến mái. Những nơi bên dòng Kiến Giang còn ngập nặng hơn. Nước sông Kiên Giang vượt qua báo động cấp ba, vượt qua đỉnh lũ 1979, có nơi bị ngập từ 3 đến 5 mét. Trận lũ càn quét 4 tỉnh miền Trung vốn đã xác sơ vì gió Lào, cát trắng, vốn đã phải quặn mình trước bom đạn chiến tranh, vốn đã phải chứng kiến rõ nhất những bất hạnh của sự phân li đất nước và những ngày này là bão nối bão vùi dập mảnh đất khô khốc gió, khô khốc cát và làm nổi rõ lên sự khô khốc như vô tình, phục vụ lợi quyền cho nhóm lợi ích.
Trong muôn vàn những tang thương xảy ra trong mùa bão lũ, những ai chứng kiến hoặc qua mạng xã hội biết được sự mất mát đến xé lòng, xé ruột của người đàn ông mất vợ, mất con vì thuyền lật, mới cảm nhận rõ thiên tai, mới nhận ra cái sự thật được hóa trang bằng sự hào nhoáng khi dòng nước vẫn là sợi dây thòng lọng treo lơ lửng trên đầu mỗi người dân ở mảnh đất rất hẹp, rất dốc này. Liệu người dân đất này có bị bịt mắt, bịt tai hi sinh, để đất nước phát triển? Câu hỏi là có thật vậy không? Sự thật ở đâu? Và câu hỏi muôn thuở đó, cũng luôn không bao giờ có câu trả lời: trách nhiệm thuộc về ai?
Những con sông gợi quê hương một thời sao hôm nay bỗng trở nên hung dữ làm vậy. Đâu là sông Bồ, phụ lưu cấp 1 của sông Hương dịu dàng như tên người con gái, đâu là Kiến Giang, nơi là quê của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm, và học giả Nguyễn Kiến Giang. Có phải, hầu hết các con sông ở Việt Nam đều chảy theo hướng đông nam, riêng con sông này chảy theo hướng đông bắc nên còn được gọi là nghịch hà, đâu là Nhật Lệ… ôi dòng sông, dòng sông cứ gắn liền với sự dịu đẹp của chị Hằng, với điệu hò khoan Lệ Thủy, và hình ảnh bà mẹ Suốt năm nào chở bộ đội sang sông… Còn cả sông Son đẹp hoang dã chưa mấy vấy bởi bàn tay con người, với mối tình đẹp như truyền thuyết mà kết thúc không hậu. Có phải đó là kết quả của thực tế hôm nay?
Tôi nhắc đến những con sông để nhắc đến những cánh rừng. Những cánh rừng đã bị bán phá giá.
Người ta đã bán phá giá, thật sự là đã bán phá giá những cánh rừng trước đây che chở và đùm bọc những người lính hồi chiến tranh, thật hơn nữa, người ta đã bán phá giá lòng tin. Những người lính đó có kẻ hôm nay, có thể có người đang hoặc đã ngồi trên ghế cao, đang đếm những đồng đô la, phải gánh chịu hậu quả của sự bán phá giá đó. 
Sống không thể thiếu niềm tin và người dân cả nước đã tìm được nơi gửi gắm. Trong cơn hoạn nạn, người Việt vẫn đùm bọc, thương yêu nhau. Những người dân Ngư Thủy mang thuyền đánh cá ở ngoài biển để đến sông cứu những người trên đất liền bị lũ lụt là hiện tượng chưa từng có ở nước ta. Tiếc thay, có những kẻ vì sự chỉ đạo nào đó, ở đâu đó đã làm hoen ố hình ảnh đẹp đó. Hỡi những kẻ ăn bám dòng lũ, muốn nổi danh nhờ dòng lũ ác độc kia, hãy cất lời xin lỗi bà con Ngư Thủy.
Việc Thủy Tiên quyên góp trên trăm tỉ cũng là biẻu hiện của sự tìm lại lòng tin của người dân. Tuyên bố của Thủy Tiên sẽ chia sẻ, phân phối đến đồng cuối cùng, tiền sẽ khộng bị ăn bớt ăn xén một đồng là một tiếng nói cương quyết, dù cô chịu rất nhiều áp lực của vô số “thế lực thù địch”. Vâng, vậy là Thủy Tiên được tin cậy, tiền vào tài khoản Thủy Tiên sẽ đến tay đồng bào bị bão lũ miền Trung, nó không bị cấu xé, chia chác với một đống giấy tờ và các cuộc hội thảo, nó gọn nhẹ và không biểu bảng, hoa hoét. Dẫu sao, kẻ viết bài này vẫn khuyên cô Tiên (đúng nghĩa cô Tiên) một lời, muốn có công bằng, cần phải phối hợp với những người ở địa phương, những người có tâm với đồng bào bị nạn. Việc của Thủy Tiên cũng nói lên cái điều xã hội hóa việc thiện nguyện giá trị hơn các lời kêu gọi cổ cồn phòng lạnh với tính hàn lâm của các nhà tư tưởng. Thời của những lời hiệu triệu đã qua. Người Việt lúc này cần những người am hiểu đồng loại, biết chia sẻ nỗi đau với đồng loại và đương nhiên, là những người hết lòng vì đồng loại mà hi sinh, mà phục vụ.
Muốn vậy, đất nước này không thể cứ mãi mãi mang hình ảnh già nua, trì trệ. Đất nước này cần phải có những người dám sắn quần, ôm bát mì tôm, dấn thân giữa dòng lũ mà vẻ mặt vẫn là của một thiên thần. Đất nước này cần có những người như thế. Đừng rao giảng đạo lý cao siêu và vô hình nữa.
Vinh Anh
24/10/20-Trời đã hửng nắng.

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2020

Suy nghĩ về sự hi sinh của 13 người lính Cụ Hồ

 Suy nghĩ về sự hi sinh của 13 người lính Cụ Hồ.

Tôi mạnh dạn dùng ba từ “lính Cụ Hồ” để nói về các anh, những người lính thời nay, khi mà thị trường sao và vạch vẫn cứ hồn nhiên tồn tại. Các anh với tôi là lính Cụ Hồ.
Tôi không được gọi là lính Cụ Hồ dù có trên bốn chục thâm niên làm lính và gần chục năm chiến trường B, C. Thế hệ chúng tôi không phải là những anh Vệ túm hay oai hơn Vệ quốc đoàn. Chúng tôi là lính hòa bình, sau lớp lính Giơ-ne-vơ một chút.
Dài dòng vòng vo tam quốc để các bạn biết. Tôi là lớp kế cận của lính cụ Hồ và sau này cả chục năm, vẫn được gọi là lính cụ Hồ. Cái chất lính ngày Vệ túm xưa vẫn được lứa chúng tôi phát huy. Chất lính ngày đó là “đi dân nhớ, ở dân thương”, “không lấy cái kim sợi chỉ của dân…” nhiều phẩm chất, đức tính rất tuyệt vời của người lính ngày đó. Rất tiếc, đến hôm nay, thế hệ hiện tại, đã làm sói mòn tất cả. Và thật tuyệt vời, nhóm công tác của Quân khu 4 do tướng Ma dẫn đầu đi cứu dân, đã thắp lại hào quang ngày xưa, đã có thể lấy lại phần nào niềm tin của người dân với những người lính.
Đọc đâu đó trên mạng, có những lời khen chê về những hành động của đoàn cứu hộ. Thậm chí còn nói sư hi sinh của họ có kèm theo sự dốt nát. Này, mấy kẻ nỏ mồm, hãy biết rằng những người lính của tướng Man và bản thân ông ta, không ai dại gì đi vào chỗ chết. Kể cả các vị nào đó có nhắc về sự sụt lở đất đá, núi đồi đã được cảnh báo từ trước đó mấy tháng. 
Xin kể một chuyện về người bạn, người anh của người viết bài này. Tôi muốn nói về anh hùng phá bom từ trường Hoàng Kim Giao. Ở chiến trường khu 4 những năm chiến tranh đó, có loại bom từ trường và một hút bom đã khiến cả đoàn người dừng lại trong đêm. Đó là một sự nguy hiểm vì trên không, bàu trời là của địch chứ không phải của ta. Anh Giao được mời đến và xem xét hút bom. Với kinh nghiệm phá bom của mình, anh đứng bên hố bom và động viên đoàn người vượt qua. Khi có một ngọn cờ, lòng tin của đám đông được đánh thức và niềm tin đó có được là nhờ có trái tim Đan-kô-trái tim Hoàng Kim Giao.
Anh Giao có biết đó là điều nguy hiểm không? Chắc chắn biết. Nhưng tại sao, đơn giản thôi "Việc thì gấp, vì nhiệm vụ, vì nhân dân chúng ta phải làm". Thiếu tướng Nguyễn Văn Man đã nói như vậy. Tướng Man cùng đồng đội đã dấn thân vào nơi nguy hiểm giữa sự sống và cái chết và đã chết xứng đang. Từ cái chết chói sáng này, trong phút chốc, họ đã thành những người anh hùng. Giờ phút đó, khi tính mạng người dân còn chưa xác định, không thể có lựa chọn khác. Thời thế đã bộc lộ bản chất anh hùng trong mỗi con người. “Có những phút làm nên lịch sử “ là như vậy. Đừng vì một thành kiến nhỏ mọn mà không nhìn thất ánh hào quang.
Trong chiến tranh, luôn có sự bất ngờ không thể lường mà phải nhờ vào mưu trí và lòng dũng cảm. Chiến tranh, giờ phút khẩn cấp, không thể họp cấp ủy hay đại hội để biểu quyết nên hay không? Và bất cứ chiến thắng hoặc thất bại nào cũng kèm sự rủi ro có thể. Lở núi vào đúng lúc đoàn nghỉ là một sự rủi ro và chúng ta biết thêm về sự hi sinh thầm lặng của những người lính thời bình. Cái thầm lặng bỗng hóa thành ngọn lửa.
Xin nói thêm với bạn đọc, trong những lúc lâm trận, không có người lính nào mong mình sẽ thành anh hùng cả. Chúng tôi những người lính, chỉ mong sẽ tồn tại sau cuộc chiến mà thôi. Những lúc đó, thứ nhất phải biết giữ an toàn cho bản thân và thứ hai, phải hoàn thành nhiệm vụ.
Lại nói về lính Cụ Hồ. Đó là danh hiệu không chỉ thân thương mà còn biểu lộ những tình cảm giữa quân với dân. Chỉ có những người lính hết lòng vì dân thì mới có “xe chưa qua, nhà không tiếc”. Đừng nói gì về những điều đao to búa lớn, đó là lòng yêu nước. Lòng yêu nước đã hòa quyện vào tình thương của đồng bào với người lính rồi. Chỉ có những người “vì nhân dân” thật sự mới sinh nở được tình yêu vĩ đại đó.
Những phút lóe sáng của những người lính trong đoàn công tác tướng Man, quân khu 4 là dịp để những người lính hôm nay, từ những ông sao vạch đầy mình đến chàng trai binh nhì măng tơ, hãy cố gắng làm được như người lính Cụ Hồ năm xưa

Vinh Anh 17/10/20
Kính viếng hương hồn những người lính vì dân đã hi sinh trong đoàn cứu hộ.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2020

Bi bô tập nói

 


Bi bô tập nói


Mưa, rỗi hơi, ngồi hóng. Mở facebook đọc, sao mà phê “Tiếng Viết lớp 1” ghê thế. Đọc lại phản biện của những vị coi như quân xanh, thấy cũng ác chiến. Chẳng hiểu mưa lũ thế này động chạm đến những ai ngoài vùng ảnh hưởng hay các bác í đang lo đại hội đảng một cách “rất chi ư” là dồn dập. Đọc ông “nhà cháu-gốc sậy” thấy một tin cũng hay: tỉnh Thừa Thiên Huế lo chống bão lụt chứ không thấy nói đến chuẩn bị đại hội rùm beng. Ừ, thì trong vô vàn tin, cũng có tin làm thỏa mãn cái thằng hay hóng.
Thôi thì “bão mưa là chuyện của giời”. Cái phần sai của ta thì khó mà biết. Thể chế mình nó thế, khó mà biết! Dẫu có rõ mồn một, nhưng qua các kiểu “nói lại, đối mặt, phản diện…” lại rất chi dễ ư là đụng và chạm. Đụng đến, nhỡ va phải bí mật quốc gia thì lại lâm vào trạng thái “thế lực thù địch”, cũng chết. Lại nhớ, hôm rồi có đọc câu rất chí lý “hễ cứ phản biện là thành phản động”, cũng “rằng hay thì thật là hay, nghe ra…”
Buổi trưa, ôm thằng cháu đang tuổi mẫu giáo ngủ. Nó bắt ông kể chuyện. Đơn giản. Ông kể chuyện “Chó rừng và chó nhà, Con quạ và con công”, những chuyện xưa cũ rích mà ông được học ở sách giáo khoa, thời ông còn bé. Ông tuyệt không đụng đến “con ve, cái kiến” đâu nhá. Không được đòi hỏi. Chuyện đó đang thời kỳ tranh tối tranh sáng, chưa ngã ngũ đúng sai, vẫn đang tranh biện ào ạt… 
Nghe chuyện xong, thằng cháu ngọng nghịu tuyên bố, thế thì không thích chó nhà và không thích quạ. Ừ, đúng quá, chuyện xưa nói cái thấm ngay. Yêu tự do phóng khoáng, không muốn bị trói buộc, yêu cái đẹp, cái tỉ mỉ chăm chỉ, không tham ăn tục uống. Đúng quá! Dạy thế mới là dạy chứ. Sách thế mới là sách chứ. Chuyện ngày xưa, giờ ông sắp chết kể lại, thằng bé còn bi bô, vẫn cứ muốn nghe.
Thằng cháu giọng ngái ngủ, ông ơi, vậy có phải là cháu đi học sớm không? Cháu biết số “bốn’ và cả “bốn cái giỏ” nữa đấy, cháu thấy ông đọc trên máy mà… Chưa nói xong, cu cậu đã nhắm tịt mắt. Chuyện xã hội cũng đã xâm nhập váo thằng bé.
Tôi nhắm mắt, nghĩ. Thật lắm chuyện, chuyện nào cũng có thể nói, có thể bàn luận và có thể hội thảo khoa học. Chắc lại phải hội thảo thôi. Những năm bộ sách mà quay đi quay lại cũng vẫn là quân ta với quân mình. Chẳng hiểu đúng không?
Lại nhớ Cánh buồm của cụ Phạm Toàn. Có nhẽ chẳng ai có thể trả nhời và người có trách nhiệm(anh Đam trẻ trung hẳng hạn) cũng không muốn trả nhời. Nghĩ vậy đấy.

Vinh Anh-14/10
Bi bô một tí ngày mưa.




Tham khảo đường dẫn:
p/s https://www.aedaily.net/…/sach-tieng-viet-lop-1-ma-tran-cu…/
Sách Tiếng Việt lớp 1: 'Ma trận của ngành giáo dục'
Sáng 11-10, đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đơn vị 6 gồm ĐB Trương Trọng Nghĩa, ĐB Phạm Khánh Phong Lan và ĐB Nguyễn Việt Dũng đã có buổi tiếp xúc với cử tri quận Bình Thạnh trước kỳ họp thứ 10, QH khóa XIV. Tại đây, nhiều cử tri nêu ý kiến về vấn đề sách giáo khoa, chương trình học của học sinh lớp 1. Cử tri Phan Văn Lực mang dẫn chứng về sách giáo khoa lớp 1 lên trình bày với ĐBQH. Ảnh: LÊ THOA Cho học sinh lớp 1 "gánh" nhiều sách là bóc lột Cử tri Phan Văn Lực, ngụ phường 13 nêu: “Các bậc cha mẹ đang tá hỏa khi khai giảng năm nay mỗi học sinh lớp 1 đã phải chi hơn 800.000 đồng cho 26 đầu sách. Một học sinh lớp 1 sao có thể gánh nổi trọng lượng 26 cuốn sách này chứ. Việc 26 đầu sách đè lên vai một học sinh lớp 1 có phải là cách để kiếm tiền không?”. Cử tri Lực cho rằng phụ huynh, học sinh đang lạc vào ma trận của ngành giáo dục. Việc cho học sinh gánh quá nhiều sách như đang bóc lột trẻ em qua việc dạy chữ trong khi tuổi này đang còn là tuổi ăn chơi, cần học tập, nghỉ ngơi đúng cách. “Tôi mong tư lệnh ngành giáo dục cần nghiên cứu cẩn trọng hơn, không nên vội vã” – ông Lực nói. Cử tri Đỗ Thị Kim Thanh, ngụ phường ...

Bức ảnh ám ảnh ngày lũ

Bức ảnh ám ảnh ngày lũ


Cái buồn vô cớ khi nhìn bức ảnh? Không, nghìn lần không vô cớ. Nó là bức ảnh nhìn vào, thấy tê buốt nhức nhối và cả phẫn uất. Phất uất và tê buốt khôn nguôi, tê buốt đến mụ người.


Có kẻ ác mồm bảo rằng rỗi hơi phung phí tình thương vì hàng ngày biết bao nhiều điều xấu xa hơn, tệ hại hơn xảy ra. Quả thật, nếu so với những bất hạnh mà người dân khắp nơi phải chịu, nỗi đau của ông bố vừa mất vợ, vừa mất con trong ngày mưa lũ kia, có khi cũng “chưa đến nỗi”. Ngoài những kẻ ác mồm kia, còn có bạn nào nghĩ vậy không? Tôi không biết, nhưng với tôi, bức ảnh để lại nhiều day dứt. Các trang mạng đưa rầm rập và tôi không dám nhìn thêm, ám ảnh chua xót lắm, ám ảnh cay đắng lắm, ám ảnh khốn khổ khốn nạn lắm. Cả nỗi ám ảnh tởm lợm với những kẻ vẫn cho rằng, chúng ta đang ở thời kỳ vẻ vang, đáng tự hào, chói lọi vinh quang. Giá như bớt đi những ngôn tự mỹ miều, bớt đi những lời ngợi ca rỗng tuếch và chú ý hơn nữa đến trăm nỗi cực khổ người dân phải chịu, mỗi khi mùa mưa bão đổ về giải đất này, thì đâu nên nỗi.
Nhưng rất nhiều kẻ vô tình chỉ lướt qua. Ông ta đang làm gì, vì sao ông ta lại quỳ gối vái lậy giữa cơn mưa lũ? Ông ta đang mất trí, hết khả năng tỉnh táo, làm một việc mê muội, ông ta đang quỳ gối vái xin dòng lũ trả vợ, trả con cho ông vừa bị lật thuyền, cướp đi sinh mạng. Dòng nước lũ ác độc, thiên nhiên ác nghiệt và trong đó, cả con người tham lam, ích kỷ, vô liêm sỉ vì lợi ích cá nhân, nhóm, dòng tộc đã gây ra. Niềm vui tưởng đến với người chồng, người cha mà phút chốc bỗng thành tang tóc không ngờ.
Không ai và chẳng một đấng siêu nhiên nào có thể trả lại vợ con cho người đàn ông kia và chắc hẳn từ đây, cuộc sống của ông sẽ được nhắc lại nỗi buốt đau mỗi mùa mưa bão đến. Là một kẻ xa lạ, nhưng nhìn ảnh thấy buốt lòng, không mong gì hơn, mọi nỗi buồn sẽ qua và ông sẽ nguôi ngoai. Ông nguôi ngoai đi để vợ con ông, đang ở một nơi nào xa xăm, được nở nụ cười.

Sao chúng ta không thể làm giảm và biến hết, biến mất sạch những hình ảnh đau thương đó? Được lắm chứ nếu chúng ta cùng đồng cảm với nỗi xót xa và thấy đau cùng ông ta. Hãy bớt đi và chấm dứt những tượng đài trăm nghìn tỉ chỉ để dâng hương dâng hoa vài ngày lễ, hãy bớt đi những hoa hòe hoa sói mỗi khi đảng họp, hãy bớt đi những bộ ấm chén, bộ quần áo, những chiếc cặp da đầy ứ ở nhà các quan lớn… ta sẽ có những bệnh viện khang trang, phương tiện chuyên chở cấp cứu hiện đại và có thêm những con người tử tế. Có những người tử tế trên cõi này chắc chắn sẽ không có cảnh mê muội đến mất trí của người đàn ông quỳ vái dòng nước lũ trả lại vợ con cho mình nữa. 

Chơi với những người vô cảm

 


Chơi với những người vô cảm



Họ là bạn tôi, một thời từng là bạn thân thiết. Có những kẻ là bạn thuả thiếu thời, thời thơ ngây, trong trắng, tinh khôi, thời đẹp nhất của đời người, kiếp người.

Tôi tự biết mình, tách ra, không muốn nói những chuyện mà các bạn tôi không thích và tôi, nói thật, cũng không muốn nghe chuyện mà các bạn tôi quan tâm, chuyện các bạn tôi bình luận. Tự dưng, tôi thấy thương các bạn í, dẫu rằng biết thật rõ, hiểu cũng thật rõ, các bạn chẳng thèm cái tình thương của tôi và tôi cũng còn biết, một số bạn còn sổ toẹt cái tôi theo đuổi.

Cuộc sống là cái gì đó mà tôi, người ngoài cuộc chơi, nhìn vào, thấy sao quá vô nghĩa. Ồ, tại sao họ có thể bỏ tất cả để theo đuổi cái vui tức thời, vớ vẩn và đối với tôi, ngàn lần vô vị. Vâng, bởi vì tôi là người ngoài cuộc chơi, tôi không có niềm đam mê đó. Cũng như, phải thôi, các bạn không có niềm đam mê của tôi, không có cái trăn trở, áy náy mà tôi “ôm rơm rặm bụng”.

Để rồi, bỗng tủi thân vì cái ý nghĩ “ôm rơm rặm bụng”. Lẽ nào công việc mình làm là vô nghĩa? Tôi biết, tôi chẳng thiếu lý do để nói, để tranh luận, nhưng với bạn bè ở tuổi tôi, nói cũng không vào được đầu. Nói là tự mình chuốc vạ vào thân, tự mình “kéo thù kéo oán” tự nhiên tạo thêm “thế lực thù địch”. Tôi sợ cái thế lực thù địch lắm. Tôi đã mất một thằng bạn 50 năm tuổi chơi với nhau. Ngày chúng tôi bỏ nhau cũng đã chục năm, từ cái mùa hè đỏ lửa 2011. Ngẫm và tiếc nhưng lại thoải mái, khỏi vương vấn cho một vấn đề tế nhị. Tôi đọc phây-búc của nó, thấy hình như, nó cũng đã gần lại với tôi về tư tưởng, nhưng, một cú va chạm mạnh không thể không sứt mẻ, tôi quyết buông.

Và tôi hiểu ra, bạn tôi, tất cả đều an phận với sổ hưu của mình. Và tôi nghĩ, sự vô cảm được khởi nguồn từ rất xa, rất lâu rồi. Hình như chúng ta sống không thật với nhau, chúng ta kết nối với nhau bằng một cái tình rất hờ hững. Vậy đấy!











Vinh Anh 9/10/20










Thứ Tư, 7 tháng 10, 2020

 

Hệ lụy từ tính cách giả dối của người Việt.


Người Việt mình thích khen, khen mình, khen con cháu mình, khen ông bà tổ tiên mình, khen quê hương bản quán mình, khen tổ quốc non sông mình… khen hết thảy. Khen là thích. Nói chung đời là vậy, chẳng cứ người Việt. Còn chê phải chê khéo, đúng lúc, đúng chỗ và đừng để người bị chê mất thể diện. Đời là vậy, chẳng cứ người Việt và suy ra cả thế giới cũng vậy. 

Vậy thì đó là đặc tính của thế giới. Cả thế giới đều như vậy chứ đâu chỉ riêng ta. Hì hì. Thế thì bàn cái giề?

Nhưng dẫu sao, người Việt cũng có cái khác. Cái khác làm nên tính cách người Việt hoặc ít ra, cũng gọi là đại diện cho cái gì đó có chất Việt. Thử tìm cái khác đó xem sao.

Cái thời đất nước còn chia làm hai, nhiều người dân miền Bắc thích thú với câu: “ra ngõ gặp anh hùng”. Đúng không? Dẫu có khiêm nhường đến mấy, nghe mãi cũng thấy vậy, mình cũng anh hùng chứ chơi, cái cao sang đó cũng có trong mình một chút? Ẩn trong cái từ “anh hùng” mà mình được gán một cách hợp pháp đó là gánh nặng mà chẳng mấy ai muốn, nghĩa là có sự đòi hỏi làm sao cho xứng đáng hoặc có cái gì đó nhỏ tí ti trong đầu, phải gắng làm tốt mọi việc (phải nói cho chính xác là chẳng ai yêu cầu cả đâu). Nhưng trong bầu không khí cách mạng đó, thậm chí có nơi chỗ còn có thể gọi là sục sôi đó, thì, sống phải phải cố gắng, phải cống hiến, phải chiến đấu phải nghe và phải đương nhiên, mỗi người làm việc bằng hai. Nghe là nghe theo định hướng, phải cố giữ cho được cốt cách xứng đáng của người anh hùng… Vậy là trong cuộc sống đời thường, con người vẫn phải gồng mình, cố dướn người lên. 

Cái đó có là cái xấu không? Nếu cái gì không thật thì là cái xấu, làm nhiều lần, lâu dần thành thói xấu, kèm theo nó là thói giả tạo, háo danh. Và thế là thành cái nết, thành tập tính. Người Việt mang tính giả tạo trong cuộc sống bình thường một cách tự nhiên như vậy như một đặc tính. Cái chân thật, bình dị, chan hòa, củ khoai củ sắn dần biến, rồi biến mất tiêu.

Tất nhiên, chân thật mất đi thì giả dối vào thế chỗ. Cái chân thật cần ngàn đời xây dựng và cẩn duy trì. Muốn bảo tồn được phải mất công nuôi dưỡng. Còn cái giả dối, muốn phá, chỉ cần vài chục năm là xong và cũng tất nhiên, kẻ chiến thắng sẽ cười ngạo nghễ. 

Người Việt hiện nay đang sống giả dối. Tất cả đều giả dối. Trẻ con còn bé thì ngây thơ trong sáng nhưng càng lớn càng giả dối và sau thì giả dối hơn cha mẹ chúng. Hãy xem đi, hãy trả lời đi, còn hay không cái chân thật như củ khoai củ sắn của người dân Việt? Không còn nữa. Chắc chắn vậy. Nói ra thì nhiều lắm, đau lòng lắm, nhưng mà nó là như vậy. Người Việt thành kẻ nói dối, nói dối không còn tự trọng, mất hết nhân phẩm, đạo đức con người.

1.Đầu tiên là giả dối với chính bản thân. Cái đau khổ là thế. Ngay với bản thân mình cũng phải giả dối. Rồi sau đó là thói sĩ diện. Vì sĩ diện nên cho rằng mình chỉ có đúng, có tốt mà thôi. Người Việt mình là như thế, sai rành rành nhưng không dám nhận, chối quanh co (nếu là việc nhỏ), đổ tội cho đông tây nam bắc… tại chúng nó chứ. Chúng nó là ai? Xin thưa, là tập thể, là chủ thể rất chi mơ hồ, mông lung như trên mây í.

Sự giả dối với ngay bản thân thể hiện ở các bậc cao niên lão làng có ngôi vị quan yếu. Các bậc quan yếu này thường quan niệm, đã là cha mẹ thì không sai. Đã là bậc bề trên là không sai. Vậy là tạo thành nếp. Các bậc thánh nhân này tạo ra chữ Trung, chữ Hiếu. Những chữ này trói buộc con người, tạo ra cái nếp phải nghe lời. Cái nếp phải nghe lời đó dẫn đến nếp nghĩ phải vâng lời, buộc phải vâng lời. Nghe lời bề trên là thể hiện sự hiếu thuận của kẻ làm con, suy ra của kẻ tôi đòi, kẻ thấp cổ bé họng. Vậy mới có chuyện: Vua ban cho chết thì phải chết. Đấy cũng là ân sủng của vua. Kỳ là chưa? Thử hỏi ai muốn chết.

Thời nay, biết bao chuyện tày đình xảy ra trong xã hội. Thí dụ về cải cách ruộng đất là một chuyện tày đình. Làm thứ dân thì chỉ biết qua loa rằng, có sự việc như thế, đã làm như thế, đã sai như thế, đã sửa như thế… “Cái như thế” là như thế nào thì có giời biết, đất biết và chẳng ai biết cụ thể hết. Gần đây, trên mạng công bố một số liệu của nhà cách mạng lão thành nói về số người bị chết trong CCRĐ, con số có thể tin tưởng, vì đó là của một cán bộ có trách nhiệm trong báo cáo, nhưng số liệu đó, vẫn chỉ là của một cá nhân. 

Vậy là phải có bề trên chỉ đạo. Bề trên chỉ đạo phải lừa dối? Chẳng bao giờ bề trên chỉ đạo như vậy. Một lớp bề trên lòng vòng như ma trận chỉ đạo, lớp lớp bề dưới chấp hành. Có điều, kẻ bề trên không phải chỉ một, mà là cả một tập thể, luôn mang danh tập thể. Vậy đó là tập thể lừa dối. Hậu quả không thể quy kết, không có người chịu trách nhiệm, cách làm việc của thể chế nước mình là thế.

Sự dối trá này đã làm hư hỏng nhiều lớp người. Xã hội tạo ra những kẻ nịnh thần, bợ đỡ cũng đồng thời tạo ra những kẻ chỉ biết nghe, thích nghe, tạo ra thói quen chỉ nghe những lời xu nịnh. Và bây giờ dối trá là hàng bầy, hàng đàn. Nếu phản biện lại những vấn đề đó thì đương nhiên thành thế lực thù địch. Muốn tìm thù địch ư, hãy tìm những kẻ phản biện. Vậy nên, chắc chắn, chắc như đinh đóng cột, không thể dọn sạch nếu khôn thay đổi thể chế.


Một thí dụ khác về sự lừa dối: phương cách bàu cử, ứng cử:

Đây chính là lừa dối của tập thể với một tập thể lớn hơn, đối tượng là cử tri cả nước.

Ai cũng hiểu, đất nước có nhiều người tài giỏi. Người tài giỏi không giống nhau, Không thể có người giỏi toàn diện, giỏi tất cả mọi mặt. Để có được một người ra giúp dân, giúp nước phải chọn từ cả trăm, cả nghìn người. Đó là sự thật hiển nhiên. Nhưng ở nước ta, người ta chỉ chọn trong một nhúm người, từ một nhúm người đó, người ta thỏa  hiệp để chọn ra một nhúm nhỏ hơn, là hạt nhân. Chỉ có điều, tất cả sự lựa chọn đều như diễn ra trong bóng tối. Tât tần tật số còn lại, nghĩa là cả trăm triệu người,  ngoài nhúm người kia, không một ai có thể biết những gì đang diễn ra. Người ta đã diễn trò cho dân cả nước xem, trò bàu bán được diễn lại mà kết quả đã được thoả hiệp từ cuộc bàu trong bóng tối. 

Cả nước bị lừa dối mà vẫn cứ mà vẫn răm rắp làm theo sự lừa dối. Kỳ lạ thay một dân tộc!

Kết quả là gì? Kết quả là chúng ta có một nhúm người nắm quyền sinh quyền sát cả một dân tộc và chúng ta ngồi im, nhìn nhúm người đó tàn phá đất nước. 

Một dân tộc hèn kém, nhục nhã mà mới cách đây không lâu, trong máu từng con người như có chảy dòng máu anh hùng.

Cái thành công của thể chế nhúm người đó thật là vĩ đại, thật là to lớn. Thành công vĩ đại nhất là đã vo tròn được một dân tộc, mà từ trước đến nay, không thế lực ngoại bang nào khuất phục được.

Sự dối trá của người Việt cũng đã thành hình từ sự hèn nhát. Vâng dối trá đã sinh ra sợ hãi, hèn nhát và chịu khuất phục trước bạo lực. Xứng đáng thôi.


Vinh Anh 

6/10/20

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

 

Chuyện gia giáo

Lão không quen ở chung với người lạ. Chuyện thật từ xửa xừa xưa, hễ người khác giới đụng vào hắn là hắn thấy nhột, thấy khó chịu và muốn chạy ngay. Thời đi làm hay được chiêu đãi ca ba, ca hai, lão luôn bỏ, dù rằng là đang phải tháp tùng sếp. Chuyện đến tai mụ vợ, mụ yên tâm. Ở một gia đình gốc công giáo, mụ biết điều cấm kỵ đó.

Nói không ngoa, anh em nhà lão đều như vậy. Cái “như vậy” là cái chỉ có ý nghĩa từ thời xã hội mở cửa, đổi mới, đón gió mới thổi vào từ bên ngoài. Cứ như ngày xưa, nhà nhà đóng cửa cùng giờ với gà lên chuồng, chuyện đó chẳng bao giờ có. Thật đấy, kết hôn rồi thì ít li hôn, nên vợ nên chồng thì coi như yên bề gia thất. Đàn ông thì còn coi đó là việc lớn thứ nhì trong đời người phải làm. Đâu có như thời nay phóng khoáng, đóng mở cứ như là trò đùa. Người sâu sắc hơn bảo bọn trẻ bây giờ nó thế, nó có đâu như các cụ ngày xưa. Vậy là được lời giải thích để yên cái tâm vẫn đang bất an, chỉ ai đang trong cái vùng xoáy đổi mới, mới thấy quý cái ngày xưa. Cái ngày xưa lễ nghi phép tắc để rồi nuối tiếc, nuối tiếc cái mà người ngày nay tôn lên là gia giáo. Vâng, đấy là gia giáo. Người ta nuối tiếc ngày xưa. “Ngày xưa đâu có như thế…” Chuyện chẳng nhỏ nữa. Chẳng nhỏ thì nghĩa là to. Vâng, to đấy, vì gia giáo là lễ nghi phép tắc trong gia đinh mà. 

Nói đến gia giáo lại liên hệ đến mẹ lão. Nói đến mẹ là nói đến con người cụ thể và rộng hơn là tình người, tình mẹ. Vì mẹ lão già lắm nên cái tình, cái nghĩa với đời nhiều lắm, không khúc này cũng khúc khác, không đoạn này thì đoạn nọ, chỗ nào cũng có. Nói vậy, mẹ lão đã quá tuổi xế chiều rồi. Cây cao bóng cả của xóm. Cả xóm cứ phải cúi đầu trước cụ. Và cũng là quy luật, cụ cần người chăm sóc chứ “tao không còn hơi sức đâu chăm sóc cho chúng mày nữa”. Mắt cụ nói thế chứ mồm cụ có nói được nữa đâu. Thì đương nhiên, cụ cứ ngồi đấy chúng con hầu. Hiện thì giao tiếp bằng tiếng nói loài người, với cụ hạn chế đi mất quá nửa. Và lại thấy ta phải quay về cái ngày xưa. Cái ngày xưa chứa đựng những cái tình, ngày đó cụ nói còn có người hiểu.

Cái ngày xưa mà hôm nay đã bị đảo lộn. Nói bị đảo lộn thì ối người không muốn nghe, có khi mang thù mang oán chứ chơi. Ai đảo lộn? Chính chúng ta “đảo” lên chứ ai? Nghĩ đến cái ngày ấy mà kinh hãi. Có đâu trên trái đất, có xứ nào tự xưng là nghìn năm văn hiến mà con cái dám cả gan xỉa xói, gọi bố mẹ là địa chủ ác độc. Ở đâu, ở đâu, chẳng ở đâu cả, chỉ có ở xứ Việt này thôi. Vậy là cái nghìn năm đó bị rũ sạch sau một cơn bão đi qua. Một cơn bão để lại di chứng và sự hủy hoại cả trăm năm không sạch vết. Và bây giờ người ta lại nói đến sự gia giáo, lại nhớ ngày xưa.

Nhà chị giúp việc cụ bà cũng trên sáu chục. Trên sáu chục với phụ nữ là qua tuổi nghi hưu chục năm. Vậy mà chị vẫn kẽo kẹt hết nhà này đến nhà khác với công việc là người giúp việc. Thời hiện đại gọi là ô-sin. Sự tích từ “ô-sin” bắt nguồn từ đâu, ối người không biết. Nó đã được Việt hóa, nó đã là một nghề, một nghề thật ra không sang trọng nhưng là một nghề cũng có thu nhập kha khá. Còn nỗi vất vả ? Cũng tùy từng hoàn cảnh, nhưng nói chung là không đến nỗi. 

Nhà lão có được bà chị trên sáu chục này ở cùng cũng nhờ mai mối, mách bảo. Chẳng bao giờ hết người già cần giúp đỡ. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi thân phận mỗi kiểu. Nhưng người nhận việc giúp đỡ mỗi ngày một ít đi, một khó thêm. Cái khó chẳng ở riêng ta, nó loang ra từ mấy nước phát triển, họ giàu, họ có nhu cầu. Vậy là nhà lão cũng giàu, giàu theo kiểu con nhà nghèo. Hì…hì.

Bà chị hơn sáu chục cũng là người biết việc và biết điều. Hơi một chút xưa và nhiều chút nay, luôn tỏ ra là người tân tiến. Bà chị biết nhiều là do chắc được phục vụ nhiều hoàn cảnh, nên cũng đặc biệt biết chiều chủ nhà. Chiều chủ nhà là khôn. Lão không thích cái khôn đó, có phần sợ. Ai có cái khôn đó thường là loại phải đề phòng. Có điều chắc chắn, lão không ưa sự so sánh của bà chị với thời gian giúp những chủ cũ. Lão nghĩ thế, chẳng hiểu đúng hay sai. Có khi bà chị bột phát nói thôi, đừng nghĩ oan cho người ta, phải tội.

Cái sợ bà chị hơn sáu chục là cái gia giáo, mà bà chị đôi khi nhắc đến và lão cũng đôi khi phụ họa cho thêm đầy câu chuyện. Chuyện phải có người nghe, người hưởng ứng thì người kể mới thích thú và mới có hứng nói. Bà chị này cũng hay chuyện, trong cái chuyện bà chị kể, đôi khi nhắc khéo đến sự gia giáo, khiến lão giật mình thon thót, không hiểu bà này có ý gì nói về lão không, lão cảnh giác và luôn đối chiếu với bản thân. Có hôm bà kể:

Sắp đến giỗ cụ nhà chị rồi, mấy đứa em cứ tán tác, chẳng chú ý gì đến ngày giỗ cả. Cả thằng trai trưởng nữa. Mọi chuyện cứ ì ra. Chuyện giỗ chạp bây giờ cũng nhẹ, đúng không? Bà chị chẳng như hỏi ai và cũng chẳng như chờ nghe ai trả lời, tiếp dòng suy nghĩ của mình: “nhà gia giáo đâu thế.”

Lão đủng đỉnh, thời nào thế đó. Lễ giáo với gia giáo làm gì cho mệt. Tất cả sẽ là hư vô.

Bà chị hơn sáu mươi nổi khí, nói như chú cũng gọi là nói. Tôi tưởng chỉ có nhà tôi. Danh gia vọng tộc như nhà chú, phải nghĩ khác chứ?

Lão ôi dào. Danh gia vọng tộc làm gì. Chỉ nổ cho oai thôi. Danh gia vọng tộc là truyền thống gia đình, là cái thứ mà người ngoài nhìn vào phải ngưỡng mộ, người trong tộc thấy tự hào. Ông nội tôi giỏi, từ người nông dân thành anh thầu khoán và cứ thế đi lên. Ông bố tôi được các cụ kỳ vọng nhất, mà thi cử cứ trượt lên trượt xuống, ra gì đâu. Vậy là ngắt quãng. Ai muốn thì muốn, tôi nghe bề gia thế, chỉ thấy ngượng, gì đâu mà vống lên. Cái cần là cái hôm nay… 

Bà chị ngoài sáu mươi nghĩ đến ông trai trưởng, ừ mà vậy nhỉ. Ai đời, lo cho đủ chuyện, tốn kém bao nhiêu công sức, tiền của, vậy mà cái thằng đít nhôm đó vẫn chứng nào tật nấy. Cái chứng nào tật nấy của nó, như bà sáu mươi hơn đó nói, là vẫn chẳng ra làm sao, làm thằng người chẳng ra thằng người. Ừ, nếu vậy thì đâu ra giáo, ra mác nữa. 

Chuyện chưa hết. Cậu chàng có thằng con cưng đó bây giờ sinh chuyện bỏ vợ bỏ con. Thì đã nói, chuyện vợ con là chuyện của chúng nó, thế hệ nó như vậy. Bây giờ hình như, đôi khi người ta lại quay về gia đình, bớt nói đi cái tự do rồi thì phải, đúng không? Không biết , lão trả lời, xã hội quay đến chóng mặt, biết đâu mà lần. Ta đây cứ sống cho ta, hiểu chúng nó thế nào được. Bà chị: vậy còn đâu là gia giáo? Ôi dào, lão buông, rách việc, lại giáo với mác…

Mà xem ra thời nay, người ta đua nhau, gọi là đua nhau… đúng không nhỉ? Lão nghĩ, thì đấy thôi, cứ mồ to, mả to là danh gia vọng tộc, đúng không nhỉ. Đấy, lại đấy, cái xứ Huế hẹp bằng gang tay, chẳng toàn mồ to, mả to là gì? Gần cạnh nó, cái ông gió Lào, cát trắng đấy, cũng mồ to, mả to, lại còn cả đường lớn nữa chứ. Khiếp! Kinh!

Lão vẫn còn đang nghĩ thì bà chị ngoài sáu mươi kia lại tiếp. Đúng là bà này không chịu yên. “Chú biết không, quê tôi ý, đạo gốc toàn tòng, không thế đâu. Chú về quê tôi chưa? Chưa à? Thế thì phải về mà thăm quê tôi. Quê tôi có nhà thờ đá, toàn bằng đá nhé, nhỏ thôi, nhỏ thôi nhưng tất cả đều bằng đá, là kiến trúc đặc biệt đấy, chú cần phải biết để mà viết về nó. Cả nhà thờ chính tòa nữa, đẹp lắm, rất quê Việt. Nó không to đùng to đoàng để nổi danh nhất nhì đâu. Cái to đó để các ông lớn tự hào, người quê tôi tự hào vì cái đặc biệt, chẳng nơi nào có, tuy rằng nó nhỏ, nhỏ nhưng dễ cũng đến ngoài trăm năm, mới chỉ thế thôi. Có cả mộ ông Sáu, cha chánh xứ khiêm nhường nằm đó. Ngài là người có công với xứ đạo nhưng mộ ngài khiêm nhường lắm, cứ như nằm trong lòng giáo dân, được giáo dân che chở… Người quê tôi nhỏ nhoi thôi, không phô trương, bé mọn lắm. Những gì to lớn, kỳ vĩ là không đúng với người quê tôi đâu, họ học mót ở đâu đó đấy, dân ai người ta tôn trọng như cụ Sáu nằm nhỏ nhoi ở kia. À mà chú tìm trong đống sách của chú xem, chắc thế nào cũng có cái nhà thờ đá quê tôi đấy.

Ồ, cái mụ này, biết nhiều kinh. Bây giờ cái sợ của lão với người giúp viêc mới lộ ra. Bà ấy biết nhiều chắc không phải do bà ấy được “phục vụ” các gia đình giàu có, có người già, mà là do hiểu biết, cái hiểu biết này xuất phát từ truyền thống, chứ đâu cứ dăm ba chữ ba lăng nhăng mà thành. Lão lần mò hỏi bác Gúc trên mạng và thấy bà chị ngoài sáu mươi này nói đúng. “Trong hệ thống 5 nhà thờ nhỏ ở Phát Diệm, có một ngôi được làm hoàn toàn bằng đá, có tên là Trái Tim Đức Mẹ, công trình được cụ Sáu cho xây đầu tiên trong cụm di tích này. Nhà thờ dài 15,3 m, rộng 8,5 m, cao 6m. Hầu hết nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp hay bàn thờ đều bằng đá, do đó người ta quen gọi là nhà thờ đá.”

Lão sợ thật. Cái gia giáo cho người ta hiểu biết nhiều đấy chứ, cái danh gia vọng tộc cũng tùy, có “gia” được đời nay ca ngợi, đời sau xuống bùn đen, có “gia” đời nay dưới bùn đen, được đời sau lại đưa lên ngang trời. Cả con người cũng vậy. Lúc thì bị chửi, khi thì lại được tụng ca. Sửa sai với sửa đúng chẳng theo một pháp luật nào. Chóng cả mặt. Cũng khó phân biệt thật. Lão nghĩ, hay là hỏi bà chị ngoài sáu chục xuân… Lão thấy mất sĩ diện sao ấy. Ai lại hỏi ô-sin… Nhưng lão hiểu thêm về con người. Con người, nếu chỉ nhìn bề ngoài, thật chưa thể nói được điều gì.

Vinh Anh

3/10/20


Chuyện về nước Mỹ

 

  • Chuyện về nước Mỹ
  • Mãi mới đọc được cái đầu đề tút hay của cô Bích Phượng “Người Việt tốn năng lượng vào bình luận chuyện nước Mỹ”. Thực ra mình cũng ngứa nghề, muốn bình từ lâu, nhưng tự nhìn ra cái bản mặt, thấy rất buồn cười, cứ cãi nhau cái chuyện không đâu, chuyện rất xa xôi mà chẳng mấy ai hiểu rõ. Dù có hiểu chăng nữa, cũng đưa ra kết luận là đoán mò. Bàu cử nước Mỹ nó thế. Đào đâu ra đáp án chính xác, nếu chưa bàu cử. Toàn ngồi đấy giếng nhìn bàu trời và phán. Thậm chí còn chửi nhau cuồng nọ cuồng kia, nghe ra thấy người Việt quan tâm đến nước Mỹ hơn là mấy ông đang mua cặp, may quần áo, mua máy tính tặng nhau. Ùi dào, chuyện mấy ông lãnh đạo nhà mình, nếu nói, có mà nói cả đời. Cứ mỗi ngày một chuyện “bổ ích và lý thú”.
  • Nhưng phải nói thật với nhau, tại sao lại rào đón như vậy? Người mình vẫn vậy, bàn tán nhiều chứ. Bàn tán tức là quan tâm đấy. Nhưng cái quan tâm là xem chuyện xếp ghế của họ cho nhau. Họ chứ không phải mình. “Họ” là ai và “mình” là ai thì phải tự biết.
  • Người xứ mình có bao giờ dám nói thật suy nghĩ của mình? Không có đâu, có mà dám! Thách đấy. Đấy là cái gì? Đấy là thói xấu. Thói xấu hình thành khi chúng ta chẳng ai tin ai. Đau khổ cho một dân tộc. Đau khổ và nhục. Xấu hổ lắm.
  • Vậy mà, bàn đến cái bên bờ kia đại dương lại hăng. Hình như tất cả xã hội đều vào cuộc. Có chăng, chỉ mấy ông vẫn im là im. Động mồm nhỡ miệng có khi toi cái sinh mạng chính trị.
  • Nhà em chẳng thích khen ai, cả thằng Mỹ cũng không ngoại trừ. Cứ muốn soi mói tìm ra cái dở của thằng Mỹ để chê. Cái đận xin vi-sa đi mỹ thăm con gái là một ví dụ. Mở ngoặc một tí. Trước đó, nhà em cũng đã xin đi Pháp. Giấy mời là của một công dân Pháp xịn mời. Nó ngâm đúng hạn đâu như 2 tháng. Và im luôn. Mất tiền triệu (đâu có ít) đóng cái phí mả mẹ gì đấy và không được một tiếng trả lời. Ít lâu sau, con gái nhà em thuần Việt, mời nhà em sang Mỹ. Tất nhiên là khó hơn sang Pháp. Cái tính nhà em cứ nghĩ thế. Thằng Mỹ ở chỗ tiếp nhận hồ sơ, không thèm ngó cái đống giấy tờ “bảo lãnh” cho nhà em, nó đút hồ sơ vào cái máy gì đó và có tiếng kêu tít hay tút gì đó. Nhà em được thông qua. Đến vợ nhà em, cái máy nó tịt. Không tút mà cũng chẳng tít. Nó bảo về. Không phải nộp tiền phí gửi bưu điện (chỉ có vài chục bọ thôi). Gọi sang Mỹ cho con gái nói về cái máy của nó không tút cũng chẳng tít. Sau đó 2 ngày. Nói lại nhé, 2 ngày, bác chuyển phát nhanh đưa cho nhà em 2 cái hộ chiếu có vi-sa vào Mỹ, chẳng mất tiền phí bưu điện. Hỏi bác chuyển phát nhanh. Bảo, thằng Mỹ nó nộp rồi. Nhà em ok thằng Mỹ quá. Phục nó quá. Chuyện này ở xứ ta, chắc còn lòng vòng chán chê để tìm cửa. Đương nhiên là chuẩn bị thêm khoản bôi trơn. Chuyện thật 100% đấy, bác nào phản biện cứ cho nhà em hay, nhà em sẵn sàng đáp trả đích đáng.
  • Cái vụ cuồng “Chôm”, đúng là nhà em không muốn bàn, vậy mà cũng tốn năng lượng để giải thích cho … vợ con nó nghe. Vợ con nó bảo nhà em chỉ được cái huyênh hoang xó nhà. Biết thân, im. Nhưng thấy thằng Chôm dồn thằng Tàu vào thế hơi khó, cũng thích thằng Chôm hơn thằng Bai-đờn kia. Ấy là nhà em nghe bọn “vô công rồi nghề” trên phây tán thế. Nhưng vậy mà, đâu như hiện giờ thăm dò, thằng Bai-dơn lại hơn thằng Chôm tí ti điểm. Đấy, thằng Mỹ khó lường là thế. 
  • Có bác Mao Tôn Cương: “đấy chỉ là Chôm im lặng chờ thời và sẽ thắng như thằng tóc vàng bên nước Anh và cả thằng gì nữa cơ, nhà em quên rồi. Hai thằng đều giả “chết”, sau đó quật lại. Thắng!” Đâu như bà chị vợ bác Bin ấy, lúc đầu cũng dẫn điểm thằng Chôm, sau lại thua. Chuyện Mỹ ấy mà, bàn về nó rất chi là tốn năng lượng, Bích Phượng nhỉ? Mà nhà em nói lại cho thật, mấy thằng phây chúng mình chỉ ra cái vẻ hiểu biết thôi, chứ có hiểu sâu cái gì đâu. Chém gió í mà. Hình như chỉ có xứ mình, người dân thích chém. Gặp mấy bác công chức nữa thì mới kinh, xe tăng tàu ngầm, gỉ gi cái gì cũng biết tuốt. (nhà em là dân công chức chính hiệu con nai vàng đấy nhé). Hỏi kỹ thêm thì đó là chuyên môn hẹp. Nhà em hiểu là hẹp môn vị. Đúng không ạ?
  • Mưa gió không đi đâu được, viết tí chơi. Nhà em cũng thích “Chôm chôm”. Đố các bác biết nhà em thích “chôm” nào. Có những mấy chôm cơ: Chôm chôm, chôm chỉa và Chôm Mỹ. Nói thêm tí xíu, nhà em có tập ký viết về nước Mỹ, vài chục trang A4 thôi. Hay ra phết (nghe người ta nói thế). Bác nào rỗi rãi, nhà em hầu chuyện.
  • Vinh Anh
  • 5/10/20. 
  • Viết về thế lực thù địch là ngứa ngáy phát điên.