Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

MẦM XANH(t,ngắn)


 
                                                                                                                                        Truyện 2
 

Mầm xanh

                                                                Truyện ngắn

Ngày đó tôi còn rất trẻ, mười tám tuổi đời, cùng đồng đội trấn giữ con đường huyết mạch trên cao điểm 585. Cao điểm đó lính lái xe và lính công binh chúng tôi gọi là cổng trời. Tôi cũng chưa rõ sự quan trọng của con đường này lắm. Nghĩa là nó dẫn đi đâu, phục vụ chiến gì nào hoặc cho địa bàn nào. Tôi được đưa từ phía sau lên. Phía sau không phải là hậu phương, phía sau đây là hậu cứ của trung đoàn tôi. Bom đạn đối với chúng tôi chẳng lạ lẫm gì, cũng đã quá quen rồi. Không ở trọng điểm này thì ở trọng điểm khác, thậm chí có cậu còn nói: “Không hi sinh hôm nay thì ngày mai hi sinh” cơ mà. Nói như vậy là chỉ cái sự ác liệt của những vị trí mà trung đoàn chúng tôi đảm nhận.

            Tôi mới nhập ngũ được một năm. Chỉ sáu tháng ở chiến trường mà tôi lớn lên bao nhiêu, già dặn bao nhiêu. Tôi cũng không kịp nhận ra sự biến đổi quá nhanh đó ở tôi. Tôi chỉ biết là mình đã trải qua ít nhất là một lần suýt chết. Còn những lần như bom bi nổ rào rào trên mặt đường cũng chả coi là gì, thậm chí có những viên đã găm vào áo giáp của tôi, có viên kêu đánh choang vào mũ sắt. Cái “suýt” của tôi chính là mảnh bom toạ độ cắm vào đất ngay đầu tôi, làm nóng  một bên má, bong lớp da má bên trái của tôi, nó chệch đi một hai xăng-ti vào phía gáy hay vào đầu là tôi có thể không còn ở trên đời nữa. Tôi nhặt mảnh bom lên, cầm trên tay mà vẫn còn thấy nóng bỏng lòng bàn tay của mình.

            Những ngày trên trọng điểm “cổng trời” là những ngày tôi lớn lên nhanh nhất. Tôi dạn dày bom đạn, tôi biết cách tránh bom đạn, tôi thuộc bài của bọn giặc lái và làm vô hiệu hoá bom đạn của bọn nó được. Bom không nổ lăn lóc cạnh đường, bom chui sâu xuống đất chưa nổ,  bọn tôi phá ngon ơ. Cũng những ngày này, tôi mới cảm thấy cuộc sống và cái chết thật gần nhau. Người ta có thể chết ngay sau bữa cơm, ngay sau tiếng cười. Mới đêm qua còn nằm với nhau, ngày hôm nay đã đem bạn đi chôn. Tất cả những chuyện đó diễn ra bình thường, diễn ra như cơm bữa. Tôi dạn dày bom đạn là như vậy. Tôi lớn lên nhanh là như vậy. Tôi phản ứng với sự sống và cái chết rất tài tình. Có thể vì thế mà tôi tồn tại.

            Từ hậu cứ của trung đoàn lên đến trọng điểm “cổng trời” phải đi bộ mất hai tiếng. Chúng tôi lên cổng trời bằng xe ôtô của các đoàn vận tải cơ giới vào ban đêm. Hầu như ban đêm là thời gian lính công binh chúng tôi làm việc. Cánh vận tải bằng xe cơ giới cũng vậy. Những chiếc Zin rách tã tời, xộc xệch, méo mó quăng quật trên đường,trải qua bao ngầm, bao suối mà không hiểu sao cái thùng xe vặn vẹo hết sang trái lại sang phải đó vẫn giữ được các hòm đạn, các bao gạo hay thịt thà, đường sữa gì đó. Cánh xế thì thực phẩm nhiều và dư thừa, bọn lính chốt chúng tôi thì thiếu thốn mọi thứ. Bọn xế vẫn thường chi viện cho chúng tôi. Chẳng là chúng tôi bảo đảm sự thành công cho bọn nó mà lị. Ai đã từng ở trên chốt đều có thể thấy cái tình cảm gắn bó này của chúng tôi.

            Những ngày nhàn trên cao điểm là những ngày mưa hoặc mù trời.  Nghĩa đen của nó là ít bom đạn hơn. Những ngày đó chỉ có bọn toạ độ và bọn B52 làm việc. Đương nhiên bọn xế và bọn lính đường chúng tôi cũng phải làm việc nhiều hơn. Nhưng nói nhàn rỗi là vì thời tiết như vậy nên ít bom, ít đạn.  Chỉ đứng ở chốt mà đếm xe, nhìn xe vù ga đi qua. Đường xá ít hỏng, bọn OV-10 ít xăm soi, bọn C-130 ít tắc cụp, tắc cụp. Mà sao bọn nó bắn giỏi thế, cứ lộ một cái là thằng OV-10 chỉ điểm được ngay. Lúc đó thì cha con liệu liệu mà tránh bom, tránh đạn. Liệu liệu mà tìm chỗ ẩn giữ chắc lấy cái “gáo”, rồi thì lại chuẩn bị lấp hố bom, san phẳng mặt đường.

            Tôi quên chưa nói về quang cảnh cái nơi gọi là “cổng trời” này. Đây là điểm cao nhất. Đứng trên này có thể nhìn thấy sự quanh co, lượn lờ của con đường qua các ngọn đèo, qua các con suối, nhìn thấy cả từng chiếc ôtô đang cố gắng, phì hơi leo từng con dốc. Đẹp một cách ngoan cường và mới thấy giá trị của từng con người đang góp sức lực của mình cho thông tuyến nơi đây. Ngày tôi được lên trấn giữ “cổng trời”, nơi đây cũng đã có vô cùng nhiều chiến tích. Tôi là lớp lính kế thừa. Kế thừa cả vinh quang và ác liệt. Xung quang, cái bán kính tầm mắt con người, còn nhìn được là còn thấy đất đỏ bị lật lên, rừng cây chẳng còn, toàn là đồi trọc đỏ lòm, trông cứ như bát úp. Những cái bát khổng lồ úp xuống. Đây đó còn sót lại vài cái cây khô cháy dở, đen thui, không hiểu sao chúng không cháy được hết, không đổ được nữa. Những nơi đó thành các địa danh vùng “cổng trời”. Thường thì gọi chúng là “cây cụt ngọn”. Cây nào ở đây mà chả cụt ngọn. Ngã ba “cây cụt ngọn” chẳng hạn. Có những cây khi thôi cháy để lại một dáng đứng lên nền trời, mà chỉ có lính cổng trời mới tưởng tưởng được ra những tên gọi gợi lên ngay một hình tượng thích đáng, như “cây dạng chân” là cây có hai chạc phía gốc, lên cao chỉ có một thân, “cây đón chào” là cây gần đỉnh dốc, sau một cái cua, ngẩng mặt lên là nhìn thấy nó, nó có một cành cũng cháy dở nghiêng về phía xe lên, “cây chia xa” là cây cuối cùng trong cái đám cây cháy dở ở khu vực cổng trời, từ đây xe của ta đi trong vùng bớt nguy hiểm hơn… Chúng tôi nằm mỗi đứa một nơi, đứng mỗi đứa một chỗ, rỗi hơi và bất chợt trong đầu nhận ra cái hình dáng đó và đặt tên cho nó. Cả cư dân nơi cổng trời gọi theo. Lính xế đương nhiên cũng gọi theo lính công binh, sau này nếu có ai đến sau cũng cứ cái tên đó gọi, dù có thể cái cây đó không còn. Nó đã bị bom làm biến mất, nhưng lịch sử vẫn được tôn trọng. Đó cũng là niềm tự hào của lính “cổng trời” chúng tôi.

            Phía lưng chừng đồi, nơi bọn chốt chúng tôi ở, tất nhiên xung quanh vẫn là cái bán kính, cái phạm vi mà măt lính có thể nhìn thấy được rõ mọi vật, có một gốc cây bị bom đánh bật tung lên trời, rũ hết mọi đất đá bám vào rễ cây và cắm cái thân còn lại xuống đất, bộ rễ tua tủa chổng lên trời, đó là cây “mọc ngược”. Đâu đó trên đường hành quân, tôi cũng đã nhìn thấy những gốc cây như vậy bị lính công binh mở đường đánh bật ra khỏi mặt đường, nhường chỗ cho xe pháo đi. Tất nhiên, do lính ta hành quân toàn vào đêm tối, nên những cảnh đó không để lại ấn tượng gì cả. Nó dễ lẫn vào đám cỏ dại, dây leo mà chỉ sau một mùa mưa, sẽ có thể phủ kín, để rồi lại một cây khác, nhiều cây khác đua chen, vươn lên cao, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của thế giới tự nhiên. “Cây mọc ngược” ở cổng trời tồn tại bất chấp trăm trận bom, mà mỗi trận bom là một trận bão, bất chấp bao nhiêu lớp lính chúng tôi đã trưởng thành, rèn dũa và tôi luyện. Chúng tôi thành các chiến sĩ từng trải trăm trận, thay nhau bảo vệ tuyến đường huyết mạch, và có lẽ “cây mọc ngược” đã nhiều lần vào ảnh tư liệu của các loại máy bay chụp ảnh do thám của Mỹ ở cổng trời. Tôi về đây thì cây đã sừng sững trước đó. Nó cũng có dáng hiên ngang dạng chân tạo thế vững chắc, nó cũng có dáng cởi mở vẫy chào, có cả dáng lì lợm, giơ tay che ánh mặt trời, hướng về phía máy bay thường lợi dụng mặt trời làm loá mắt quân ta, bổ nhào ném bom.  Tóm lại, lính cổng trời chúng tôi lấy đó làm biểu tượng của sự dũng cảm, của tính kiên quyết, của cả sức sống bất diệt nơi ác liệt và chết chóc này.

            Cái thú vị và đáng ghi nhớ nhất là trên một nhánh rễ cái của cái gốc cây chổng ngược đó tồn tại một mầm sống thật sự. Chẳng ai phát hiện, chẳng ai biết và bỗng dưng, một ngày nào đó, một sáng nào đó, tất nhiên ngày hôm đó rất đẹp, trời thì cao xanh, gió thì mát rượi và hẳn lúc đó bọn tầu bay Mỹ không quấy nhiễu, nghe nói lính ta còn cãi nhau là hôm đó có cả tiếng chim hót.  Một ai đó trên chốt phát hiện ra mầm xanh đã thành cành lá, ba chiếc lá toẽ ra ba góc, hứng sương đêm và bây giờ bung ra hứng ánh sáng. Ba chiếc lá vẫn còn nhỏ xíu và mong manh, mong manh lắm, mong manh đến nỗi lính ta sợ nó bị gió táp, nắng táp, bụi táp và ngay cả cái không khí nơi cổng trời hầm hập lửa đạn này cũng sẽ làm cho ba nhánh lá đó không tồn tại được.  Vậy mà nó sống, không phải là ba lá, mà là một cành con mềm mỏng đâm lên trời cao. Mầu xanh của cành non đó thay đổi dần, nó đã mất đi cái mượt mà , dịu mềm của nhành non, nó đã xẫm lại, cái mầu xẫm trông nó có vẻ già và từng trải, cứng cáp, nó đã phải chịu đựng, trải qua thử thách. Sự biến đổi đó chỉ xảy ra có vài ngày. Sự thay đổi đó chứng tỏ cành non đã có thể tồn tại, đã có thể bám trụ. Sự xuất hiện của mầm xanh và sự tồn tại của nó làm cho cánh lính thấy mình tồn tại trước đạn bom là lẽ tự nhiên, không phải bàn cãi. Truyện kể lại từ những người lính lớp trước chúng tôi: “ Một chiến sĩ chốt trên vị trí “cây chổng ngược” trong một trận đánh bị bom vùi, đồng đội đào lên, làm hô hấp nhân tạo mãi mà không thấy sự sống trở lại với cậu ta. Cậu bạn cũng được bới lên cùng hầm thì lại mạnh khoẻ. Chẳng hiểu cái sức ép của quả bom thế nào mà bao nhiêu hơi ép cậu này nhận hết. Cậu bạn vừa làm hô hấp, vừa khóc: “Tỉnh lại đi mày ơi, tỉnh lại đi. Tao vẫn thấy cái cành xanh kia sống, không bị bom,  không hề thương tổn, nó sống được thì mày cũng phải sống, tỉnh lại đi”. Cậu bạn vừa khóc vừa ấn ngực cậu bị sức ép của bom rõ mạnh. Thế rồi máu ở miệng cậu ta, chảy ra: “ Nó thở được rồi, nó sống rồi” và cậu lính đó sống đấy.  Mầm xanh trên chốt thiêng là thế! Sức sống bất tận trong cuộc đời là thế!” Bây giờ, cái mầm sống xanh đó đã lan thành một khóm, vài chục cái lá vẫn xanh tươi. Nó biết chọn hướng để tồn tại. Khát vọng sống, khát vọng tồn tại mãnh liệt và dẻo dai là thế.

            Tôi ở chốt được ba tháng thì cấp trên tăng cường cho chúng tôi một tiểu đôi các cô gái xinh tươi, trẻ trung. Các cô vốn là những cô gái “hai giỏi” của Quảng Bình đi dân công hoả tuyến, chuyển sang Thanh niên xung phong và bây giờ, theo yêu cầu nhiệm vụ, các cô ở cùng chúng tôi trên chốt. Khỏi phải nói các cô gái của chúng tôi chịu gian khổ đến chừng nào, vất vả đến chừng nào. Đặc biệt là vấn đề nước. Cũng may mà lính công binh chúng tôi với lính xế là chỗ thân tình, cần về hậu cứ trung đoàn,  chỉ ngồi ca bin với tài xế khoảng nửa tiếng là tới thôi. Có lẽ người “hậu cứ” thương lính trên chốt, nên mới điều cho chúng tôi những nụ hoa quyến rũ và đáng yêu đến thế. Có các cô ở, quả thật trên chốt thấy bớt đi cái vẻ trận mạc và máu lửa nhiều lắm. Con gái cũng như là mầu xanh của sự sống, bản thân mỗi cô là một nguồn sống và cảm hứng yêu đời với lính chốt chúng tôi.     

            Tôi trẻ nhất. đại đội phó phụ trách cũng có phần chiều hơn vì tôi nhanh nhẹn, phân công cho tôi chịu trách nhiệm chăm sóc một cô cũng trẻ nhất trong tiểu đội các cô gái xinh tươi. Lí lịch trích ngang mà tôi tìm hiểu nhanh là: Em mười tám, bằng tuổi tôi; học xong lớp bảy, văn hoá cao ra phết; có một anh trai cũng đi bộ đội , ở nhà còn hai em nhỏ. Vì bằng tuổi tôi, nên nhiều lúc em tỏ ra bất tuân lệnh, lại còn cãi nữa chứ. Không sao, xem có đứng vững được ở “cổng trời” không?

            Dạo này vào mùa vận chuyển. Xe vào cả trăm chiếc một đêm. hành lang vận chuyển lúc nào cũng phải thông. Có lẽ đánh hơi thấy sự chuyển động của quân ta nên máy bay địch hoạt động với tần suất cao hơn. Đêm nào cũng có xe cháy, khi thì đầu dốc, khi thì cuối dốc. Điều hành xe qua đỉnh cổng trời là một nghệ thuật. Cháy xe trên đỉnh cổng trời là tắc đường, kèm theo là cả chục xe khác đang chuản bị vượt đèo cũng có nguy cơ bị đánh lây, cháy lây. Lúc đó là có hi sinh, có tổn thất. Tôi và em bé(tôi vẫn gọi cô ta như vây) trực ở chốt cổng trời đã một tuần. Ban ngày khi chưa có “em bé” “ tôi ngủ kĩ, ăn uống qua loa lại ngủ. Cũng may từ ngày có em bé”  nên đêm nào cũng có bát cháo thịt hộp, bát cơm nóng. Lính tráng không phải “có suất” nữa. Tự dưng cảm thấy không thể thiếu “em bé” được, tự dưng thấy gắn bó.

Vậy mà em bỏ tôi đi. Đêm hôm đó, xe vào rất nhiều. Toàn chở đạn pháo. Một đoàn năm chiếc xe đang leo vào khu vực chốt “cổng trời” thì C 130  và pháo sáng treo lơ lửng trên đỉnh đèo. Trên chốt, chúng tôi nhìn thấy năm cái xe rõ mồn một, con đường huyết mạch cũng rõ mồn một, phía dốc cuối đèo cũng vừa có một đoàn xe qua. “Em bé chỉ kịp nói với tôi “Nguy hiểm rồi anh Vân” và chạy ra đường, nhảy lên chiếc xe đầu tiên vừa mới tới. Em đứng bên ngoài cửa xe, chỉ đường cho xe chạy vào chỗ trú bên tà luy dương. Hai chiếc đã vào được, còn ba chiếc vẫn ở ngoài. Hàng loạt bom vãi trên mặt đường, đạn mười bốn li, đạn cối hai mươi li chiu chíu chiu chíu găm trên thùng xe, cày toé lử mặt đường. Hai xe bị vướng đường không vượt lên được, một xe đang bén lửa bốc cháy. “Em bé” nhảy lên chiếc xe đó và chỉ cho lái xe đường lao xuống vực để giải phóng mặt đường. Khi em nhảy được ra khỏi xe thì chiếc xe đã thành một quầng lửa với những tiếng nổ kéo dài rền rĩ. “Em bé” lăn xuống dốc, ngất xỉu. Chúng tôi tìm thấy em thì tim em chỉ còn đập thoi thóp. Em đã không còn nhận ra tôi, người bạn đã từng ở với em suốt một tháng vừa qua. Cuộc sống với em quá ngắn ngủi, cuộc sống đang đẹp biết bao. Tôi ôm chặt em vào người, lần đầu tiên tôi ôm một người con gái. Tấm thân tròn lẳn vẫn còn ấm theo mãi tôi những năm chiến tranh, một kỉ niệm không bao giờ phai trong cuộc đời tôi. Mỗi lần nhớ tới em, tôi lại nhớ tới cái mầm xanh của “cây chổng ngược”. Sự sống của chúng tôi trên đất này mong manh quá! Sự ra đi của chúng tôi trên mỏm đồi này cũng đơn giản, nhẹ nhàng quá!

Chúng tôi để em nằm bên gốc “cây chổng ngược”, để em được mãi ngắm cái mầm xanh trên cấy. Nó là tường trưng cho tuổi trẻ của chúng tôi, gan góc, dẻo dai, kiên cường.. Tôi lấy dao khắc vào thân cây tên em, lại đi tìm một cây săng lẻ, đặc trưng của Trường Sơn trồng bên mộ của em. Suốt cả tháng sau, hình ảnh người con gái nhỏ bé, nhanh như sóc, cứ lẩn quất bên tôi. Tối nào tôi cũng nấu một bát cháo đợi em về cùng ăn.

Tôi còn ở trên chốt hết mùa khô, mùa vận chuyển của chúng ta đã sắp kết thúc. Giờ đây bầu trời đẫm sũng nước mưa, những chiếc xe ba cầu leo lên được đến đỉnh cổng trời cũng đã quá vất vả,  chúng thở khi thì ồng ộc, khi thì phì phò, kẽo kẹt, khịt khịt  và… già nua lắm. Nhìn chúng rất thương. Sao chúng vẫn kiên cường đến như vậy? Những chiếc lốp nhẵn thín và sứt sẹo bị mài mòn trên các lớp đá hộc vất vả khi leo dốc, khi vượt ngầm với cả ngàn cây số từ đầu mùa. Chả xe nào có kính mà mưa thì đã thường xuyên. Bụi còn có khả năng chịu đựng, chứ ngấm nước mưa thì lính xế dễ quị lắm. Sốt rét, sốt nóng và bao nhiêu sức lực đã đổ ra cho mùa vận chuyển rồi. Bọn xế tã tượi lắm rồi. Cả người và xe đều cần phải an dưỡng và đại tu. Qui luật là thế.

            Tôi , thằng lính mới hơn mười tám tuổi đời. Chẳng hiểu tôi đã trải qua cái mốc lần thứ mười tám vào ngày nào nữa. Chỉ biết là vào cái thời khắc đó tôi có mặt ở cổng trời. Đấy là niềm tự hào của tôi. Ông đại đội phó kĩ thuật chuyên phụ trách phá bom mìn của cổng trời, một sĩ quan dạn dày,  mặt mũi đen nhẻm và khét tiếng của “cổng trời” về sự thông hiểu bom Mỹ với các phương pháp phá bom tài tình, táo bạo, thủ trưởng của tôi: “Thằng này khá, chịu đựng gần một mùa rồi. Phải đào tạo mày thành một sĩ quan công binh xuất sắc”. Ông ta nói oang oang và đập đập lên vai tôi những cú đập đau điếng.-Trẻ trung như mày mà chết ở cái trọng điểm này thì uổng quá”.

Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện sẽ được đi học sĩ quan, tôi cũng chưa hề nghĩ đến chuyện phải xa “cổng trời”. Hơn một năm làm lính, khoảng một năm trong chiến trường và nửa năm trên “cổng trời” này đã thấm gì so với các bậc đàn anh, so với đại đội phó của tôi. Tôi hướng nhìn lên mầm xanh biểu tượng của khát vọng sống, sống  bền bỉ và kiên cường, bất chấp mọi vùi dập, vẫn tồn tại, vẫn rung rinh trước gió. “ Mầu xanh đó phải được duy trì, lính cổng trời sẽ bảo vệ mầu xanh đó. Lính cổng trời phải được nuôi dưỡng và đào tạo. Chú mày về học là duy trì và tiếp sức cho mầu xanh cổng trời, duy trì sự sống ở nơi gian khó này đấy”. Đại đội phó cũng nhìn về phía mầm xanh trên gốc “cây chổng ngược”, nói nhỏ vào tai tôi.  Tôi nổi gai vì những câu nói đó, nó hình như đã có sẵn trong đầu tôi. “Sự sống phải được nối tiếp”. Chẳng ở đâu rõ bằng ở đây, khát vọng sống mãi được duy trì.

Tôi rời cổng trời một ngày trời mưa rả rích. Bầu trời im ắng. Tôi đi ban ngày. Lính công binh am hiểu mọi qui luật của kẻ thù. Mấy cây số về hậu cứ có xa xôi gì, ba lô nhẹ tễnh và một khầu AK. Tôi ngắm nhìn mảnh đất đã gắn bó hơn nửa năm mà thân thể không bị xây xát. Các bạn và cả em nữa đã bảo vệ và che chở cho tôi, gánh chịu thiệt thòi cho tôi. Đất vẫn đỏ, vẫn một mầu chiến trường bụi bặm, trên cao kia là “ cây đón chào”, và ngay đây là “ cây chia xa”. Tất cả  đang nhìn tôi. Tôi rưng rưng nhìn những nhành cỏ non tơ dưới chân bên đường đi lại nảy mầm. Mùa mưa tới chắc lại xanh rì. Tôi thấy tôi phải sống. Khát vọng sống với tôi lúc này lớn quá. Có phải sau khi đã trải qua cái chết, mọi sự lại phải tiếp nối, vươn lên để tìm sự sống hay không?

 

                                                                                                                                                                Vinh Anh

                                                                                                                                                                     2007

 

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

NẺO ĐỜI (tiếp-33)

VINH ANH
                                             NẺO ĐỜI
                                                                                                                                                        tiểu thuyết


33. Ngọc không vào chiến trường, cũng không đi nghiên cứu sinh mà là được cử đi học một lớp cán bộ trường Đảng ngắn ngày. Sự nghiệp buộc cuộc đời Ngọc. Muốn dãy ra cũng khó. Dở dang và những đắn đo. Dường như chuyện học hành là một động tác chuyển vị trí. Ngọc hiểu rõ những chuyện này. Những động tác thăm dò của tổ chức. Sau khóa học, Ngọc nhất quyết xin vào thực tế trong chiến  trường.

 Những cuộc tranh cái với Hà và những gì đang xảy ra đã khiến Ngọc phải suy nghĩ. Nhiều đêm bồn chồn, bất an, đứng ngồi không yên. Dòng suy nghĩ miên man, từ chỗ nọ chuyển sang chỗ kia liên tục đổ về lộn xộn. Mắt trong trong nhìn vào màn đêm. Ngọc tìm ra cách ‘tự điều trị” cho mình, ngồi vào bàn và  viết. Viết liên tục những gì vừa chợt lóe lên trong đầu, viết hết những ý nghĩ lộn xộn đang nhay múa. Gặp gì, nghĩ gì viết nấy. Có sự lộn xộn là chính bởi có sự bất an. Các ý nghĩ va đập vào nhau. Đó chính là sự đấu tranh tư tưởng.

Thực ra, ban đầu Ngọc nghĩ, chuyện tranh cãi với Hà đâu có là chuyện lớn. Quan trọng phải là chuyên môn. Về chuyên môn, Ngọc luôn tự biết đánh giá bản thân. Trẻ và hiểu biết, được học hành bài bản. Cơ quan mấy người như vậy. Đa phần họ chỉ sống lâu lên lão. Có mấy vị tú tài Tây nhưng trong một “đống” người thì thấm tháp gì.

Trong cái cơ chế này, sự im lặng rất đáng giá. Cơ quan chính trị nơi Ngọc làm việc, thường phải viết nhiều bài để tuyên truyền giáo dục và phổ biến cho toàn quân. Nguồn tư liệu viết bài đơn giản là các nghị quyết. Không khó. Ngọc đã sớm nhận ra sự trùng lặp và đơn điệu. Ngọc nhớ, chính từ buổi đầu mới yêu, Hà đã nói vấn đề này với Ngọc, đó là “cái sự na ná, cái sự ăn theo, nói leo”. Ngày đó Ngọc đã phản ứng lại “phát hiện vấn đề mới là công việc cả chục năm, vài chục năm” và đã thấy rất đúng. Nhận biết được thấu đáo vấn đề phải là cả một quá trình! Mình hình như đã lạm dụng điều đó để kéo dài cái tự bào chữa. Nhưng Ngọc cũng không ngờ, chính đó là sự giả dối được phép lặp đi lặp lại. Đó chính là sự na ná mà Hà phát hiện, đó chính là “cái từ từ” mà Ngọc mới nhận biết được.

 Nhưng thực ra, lại cũng thực ra, đọng hơn tất cả lại là những lần nói chuyện có tính “tranh cãi” với Hà. Hà như muốn để một cửa cho Ngọc bước ra. Cái cửa đó là để sau này, Ngọc không thẹn với các bạn và đặc biệt, không hổ thẹn với chính mình.

Trong một thế giới, mà Nhân thường nói nửa đùa, nửa thật, trong bầu không khí phẳng lặng của những cuộc tranh cãi học thuật, cái mới sẽ không bao giờ có. “Chúng ta vẫn cứ bước tiếp trên con đường đã được chỉ sẵn”. Hắn còn nói thêm, cái ý xa xa, một câu châm ngôn: “ Trên đời này làm gì có đường, người ta đi mãi mà thành đường!”

Ai trên đời mà không cần những người bạn. Với Ngọc, những người vừa là bạn lại là đồng nghiệp, từ ngày ra trường nhiều lắm. Bạn cùng ta gánh vác mọi công việc mà nếu như thiếu bạn, chắc chắn công việc sẽ không thành. Vốn là lính, nên nhiều vấn đề rất dễ thông cảm. Nhưng để có người bạn được gọi là tri âm, tri kỷ lại khó. Tìm được người bạn tâm giao, có thể thổ lộ hết nỗi niềm của cuộc đời, nhận được ở bạn những lời khuyên chân thành, khó lắm!

Ngọc nghiệm ra rằng, người bạn tốt phải hội đủ ba yếu tố. Đầu tiên là phải ngay thẳng, chân thành. Dám nói thật hết ý nghĩ với bạn không vì nể, không xuê xoa, không chín bỏ làm mười. Chín bỏ làm mười trong điều kiện khác. Sau đó phải là người hiểu biết. Có hiểu biết mới có tầm nhìn và phân tích khách quan sự việc. Hiểu biết ở đây cũng đồng nghĩa với thông minh, nhanh nhạy. Nắm chắc và phán đoán được con đường đi tiếp. Và nữa, người bạn đó phải vị tha, rộng lượng. Có lẽ chín bỏ làm mười để vào đây mới đúng.

Ngọc nghĩ, hai thằng bạn mình, kết hợp nhau sẽ cho mình một thằng bạn tri âm, tri kỷ. Chúng nó kết lại sẽ thành những người bạn trung thành trong hành trình cuộc đời. Mình đặt vấn đề như vậy có phải là quan trọng hóa cái nghĩa bạn bè lên quá không. Đòi hỏi một người bạn tốt phải hội đủ cả ba đức tính đó. Có ở trên đời không? Đầu Ngọc bỗng lóe sáng, có, người đó là Hà. Hà đã rất tế nhị trong một việc rất khó, tìm cách nói để mình thấy cái đúng, hợp với đạo lý cuộc đời và nhận rõ hơn công việc mình đang đảm nhận. Cái đó là cái gì, ngay Hà cũng không thể biết, Hà chỉ nói ra cách để mình suy nghĩ, tự vấn lại mình.

Đúng. Chỉ có thể là Hà. Cái quan trọng nhất, hai thằng bạn kia không có là chúng nó vẫn không dám nói thật ý nghĩ của chúng về mình trong một vấn đề tế nhị. Hoặc giả không nhận biết được cụ thể sự phức tạp con người mình. Đức tính ngay thẳng. Dẫu gì, ở chúng nó, vẫn có sự nể nang, vẫn muốn chiều theo ý của bạn. Chuyện Nhân nhiệt tình ủng hộ để Ngân yêu Sen chẳng là một ví dụ đó ư? Hà không thế. Hà chưa nói rõ nhưng đã động chạm đến. Có thể đó là bản tính phụ nữ, không đốp chát, thẳng ruột ngựa. Hà đã nhận ra điểm yếu cốt tử của mình và nàng đã rất kiên quyết. Phải! Cái điều khó nói nhất của mình, đáng xấu hổ nhất của mình, Hà đã chuẩn bị cho mình tự giác và từ từ tiếp nhận.

Vậy thì có điều gì nữa mà ta phải dấu Hà. Cứ vậy hàng đêm, Ngọc chong đèn, viết những gì đã nghĩ, với ý định sẽ gửi  lại cho Hà trước khi lên đường.

Sau mỗi trang viết, Ngọc như được cởi bỏ một phần gánh nặng, giải tỏa được cái gọi là “trường” kiềm tỏa vô hình mà từ bao giờ và từ đâu đó áp đặt lên tư tưởng, suy nghĩ mỗi chúng ta một cách rất từ từ, chầm chậm. Để đến nỗi, ta, ngay cả một người trong cuộc, nếu không ngoảnh lại nhìn, vẫn có thể cứ ung dung bước tiếp với một niềm tin. Một niềm tin, nếu để ý đến, có khi rất xa vời.

Phải rồi, đó là sự hoài nghi. Câu trả lời của Mác với con gái. Mình có dám hoài nghi những vấn đề hệ trọng như vậy không? Thực ra là không dám. Bởi trong mình còn có cả sự sợ hãi. “Hoài nghi tất cả” là bản lĩnh của con người không chịu để cái cũ kỹ, cổ hủ thâm nhập vào cuộc sống tư tưởng con người. Chỉ khi tư tưởng con người được giải phóng, được thoải mái, lúc đó con người mới dám hoài nghi. Hoài nghi là cách lật ngược lại vấn đề, như định lý đảo của bài toán hình học. Đó là chấp nhận lời chê của bạn mình và từ lời chê đó rút ra bài học cho mình. “Người chê ta là thầy ta”. Bao nhiêu năm nay trong lĩnh vực tư tưởng, ta chỉ biết đơn thuần chấp nhận một cách giáo điều những gì trên cao truyền xuống. chính cái “trường” kiềm tỏa đó đã buộc chặt mọi tư duy của ta.

Nhưng khó khăn hơn cả của người làm công tác chính trị là nhận thức về bạn và thù, đúng và sai ngay trong thực tiễn cuộc sống thường ngày. Để rồi từ đó, phân tích có lý lẽ cho người khác, nhiều người khác nữa hiểu.

Đó chính là công tác nghiên cứu, nếu sai, hậu quả sẽ rất to lớn. Đánh giá sai của một cán bộ làm công tác chính trị sẽ kéo theo một tập thể sai, và cái tập thể đó càng lớn thì càng tai hại. Trong chừng mức nào đó, chúng ta cũng đã có những bài học. Nhưng, vì chịu tác động và chịu ảnh hưởng của nhiều xu hướng bên ngoài, ở một chừng mực nhất định, dẫn đến sự hạn chế trong công tác nghiên cứu, phân tích nên các nhà lý luận của ta vẫn chưa đạt được thành tựu gì trong khoa học. Ta vẫn chưa có đột phá. Do đó không có sự quyết đoán để mở ra con đường mới.

Từ ngày chính thức yêu, hình như Hà chưa có điểm nào hoàn toàn đồng ý với mình. Ấy vậy mà vẫn yêu. Khó hiểu sao con gái! Có phải là do những câu thơ? Có thể thế lắm. Những câu thơ ngọt ngào rất dễ làm rung động trái tim thiếu nữ. Không thể. Người như Hà không đơn giản như vậy. Ngọc phủ nhận ngay lý do đó. Nhất định với Hà, “cái đáng yêu” của Ngọc phải khác. Đó có phải là sự biết im lặng để soi xét lại mình. Im lặng là bản nhạc du dương để cho trí óc ta tưởng tượng, bay bổng. Im lặng cũng là sự thẳm sâu suy nghĩ. Biết suy nghĩ, biết dừng lại hoặc quay lại để nhìn và đánh giá mình là cái điều cần thiết của mỗi con người. Nhưng không phải ai cũng có phẩm chất đó. Liệu mình có được những đức tính đó? Chắc là không, mình không hội tụ đầy đủ những đức tính như vậy. Đó là một đỉnh dốc cao thách thức lòng trung thực của con người. Đó là cái trở ngại khó vượt, để nếu qua được nó, có thể tự hào trở thành một người tử tế trong xã hội. Mình đang mới ì ạch bò lên đỉnh dốc đó.

 
      ảnh internet

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

MƯU SINH (t.ngắn)

Chủ nhật mưa. Định chọn tuyển những truyện ngắn
mà mình thích. Đây là truyện ngắn đầu tay được in
 trên VNT. Mình sẽ cố chọn dần đưa lên đây.VA

                                            Truyện 1

Mưu sinh

            Con đường ấy xa rồi, rất xa rồi và lâu nữa, lâu lắm rồi. Lâu đến nỗi nếu bây giờ nhớ lại, tôi chỉ nhớ đấy là heo hút một con đường, con đường đi qua một bãi đất hoang toàn cỏ và rác cả bùn nữa, những vũng nước đọng hầu như quanh năm với mùi hôi thối. Thế mà trên bãi đất hoang đó thỉnh thoảng lại trông thấy một bông hoa dại. Tôi cứ gọi nó là hoa cỏ, có bông mầu vàng, lại có bông mầu trắng, rất đơn sơ, nhuần nhụy mà sao tôi lại cảm thấy chúng nhỏ nhoi, rất tinh khiết, trong trẻo và mỏng manh. Mỏng manh như số phận chính tôi vậy.

Con đường đó dẫn đến một cái nhà. Một cái lán thì đúng hơn. Kiểu lán công trường tạm bợ: giấy dầu, cót ép, phên nứa vá chằng đụp, tạp nham mà ta thường thấy bị bỏ lại rã rượi, dột nát sau khi công trình hoàn thành. Đến đời tôi ở, tôi và lũ bọn tôi ở thì không còn người giải thích cái nguồn gốc xuất xứ của nó nữa. Bởi có bọn trẻ chúng tôi nên nó mới tồn tại, nhờ có chúng tôi mà cái lán luôn được gia cố và điều quan trọng nhất là nó đứng vững. Nó là chỗ che mưa, che nắng, trú đêm của bảy đứa chúng tôi. Một gia đình không có cha, mẹ. Chỉ còn lại toàn anh em lít nhít, sàn sàn, kiếm sống bằng cùng một nghề: bới rác. Kể cả thằng cu Tú bé nhất mới khoảng mười tuổi, gày gò, đen nhẻm và tôi là lớn nhất nhưng hồi đó tôi lại không có ý thức là lớn nhất. Với thằng cu Tú, chẳng hiểu sao khi đứng với nó, tôi luôn cảm thấy tôi phải che chở nó. Kiếm được bất cứ thứ gì ăn được tôi luôn nghĩ đến nó và tìm các để dành mang phần về cho nó.

Hàng ngày, chúng tôi túa ra đường theo hàng dọc. Con đường mà tôi luôn cảm tưởng hun hút, bẩn thỉu, cỏ mọc cao vẫn còn đọng sương, tuy lúc này cũng chẳng sớm sủa gì nữa. Mà tôi thì luôn có cảm tưởng con đường này chẳng bao giờ khô cả. Bọn chúng tôi đi chả có mục tiêu gì ghê gớm. Cũng chẳng có phân công công việc mà chỉ đơn giản là phải đi, ai cũng phải đi. Chỉ có đi thì hôm nay mới có cái ăn, mới no bụng, mới tồn tại được.

            Thằng em út Tú cũng lất phất một bao tải và một que cời bằng sắt được tôi trang bị cho. Thỉnh thoảng đang đi nó lại nhảy cẫng lên, vô tư. Có lẽ, tôi nhận thấy trong cái đầu đã sạn sỏi của tôi, nó làm cho chúng tôi gắn kết lại với nhau một cách tự nhiên hơn tình cảm và gần gũi hơn.

            Con đường tới thành phố dần dần tách chúng tôi ra khỏi nhau. Thực ra ban đầu vẫn còn nhìn thấy bóng đứa này, đứa khác. Hai, ba đứa một nhóm. Sau đó thì cũng chẳng ai chú ý đến ai nữa. Thậm chí cả thằng cu Tú, nó cũng tụt lại dần và biến vào đâu đó giữa chốn ồn ào, bụi bặm.

            Địa điểm chúng tôi hay đến nhất là chợ. Con đường dẫn đến chợ đối với chúng tôi cũng tự nhiên. Chợ - cứ như ở đó có một sức hút vô hình để cho chúng tôi quần tụ. Chợ ôm ấp và che chở chúng tôi, quan trọng hơn chợ nuôi chúng tôi trong những ngày lênh đênh này.

            Chúng tôi len lỏi ở mọi ngóc ngách chợ. Rất ít người có cảm tình với chúng tôi. Hình như họ coi thường và có phần sợ chúng tôi. Từ những ngày còn vất vưởng đó, tôi đã lờ mờ hiểu ra vì sao họ khinh, họ sợ chúng tôi rồi. Hình dáng chúng tôi nhếch nhác, bẩn thỉu. Người cóc cáy, rách rưới và hôi nữa. Tôi có cảm tưởng mình như một chiếc giẻ lau, cứ đến gần ai đó là khiến người ta phải cảnh giác, giật mình xem lại túi quần, túi áo, ví xách có bị làm sao không và sau đó là họ lảng xa. Cũng còn là may! Có người còn xua đuổi nữa kia. Với con mắt người đời, chúng tôi là một lũ lang thang, trộm cắp, không cha mẹ và không được học hành, giáo dục. Thậm chí có người còn coi chúng tôi như những kẻ mang bệnh truyền nhiễm, là những ổ bệnh mà con cái của họ phải tránh xa cứ như là nếu nói chuyện, tiếp xúc với chúng tôi là họ sẽ bị nhiễm bệnh ngay. Ôi thật nhục với những đứa trẻ vì mưu sinh mà phải sớm bước vào đời bằng con đường không lấy gì thuận lợi.

            Các đống rác ở chợ và đâu đó trên hè phố hay gốc cây đều rất dơ dáy. Mỗi lần bắt gặp chúng đều bị chúng tôi khai quật không thương tiếc. Bằng con mắt tinh tường chúng tôi nhận ra những thứ có trị giá từ vài đồng đến vài chục đồng thậm chí vài trăm bạc. Đôi khi cũng có những người tốt bụng gọi chúng tôi lại và sai chúng tôi dọn dẹp, cho chúng tôi hàng đống giấy lộn, vỏ đồ hộp, bìa cát tông. Đứa nào hôm đó được như vậy coi như trúng xổ số có thể tích cóp được vài ngàn đồng vào ngân quĩ phòng khi mưa gió trở trời.

            Cuộc đời con người ta thật cũng lạ kì! Bảy đứa chúng tôi chẳng hiểu sao lại tự nhiên gắn bó được với nhau trong hoàn cảnh khốn khổ như vậy. (Sau này nghĩ lại tôi mới thấy hồi đó mình khốn khổ chứ ngay lúc đó tôi có cho hoàn cảnh tôi là khốn khổ đâu, ngày ngày cứ trôi đi và tôi đâu có để ý gì đến cái ăn, cái ngủ, cái ở là mấy). Dần dần chúng tôi biết tên tuổi, quê quán của nhau. Trong bảy đứa thì có bốn đứa ở Thanh Hóa còn hai đứa ở Hưng Yên. Riêng thằng cu Tú ở đâu không biết nhưng nghe chừng nó là thằng ở xa nhất, qua giọng nói tôi đoán nó phải ở rất xa tận Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó. Nó đến với chúng tôi cũng tự nhiên như bao đứa khác gặp nhau trong cảnh lang thang không nhà, không cửa, không gia đình và đều đã tự bươn chải trong sóng gió của cuộc đời. Cu cậu nhập hội bọn tôi trong một chiều mưa ướt át, nó như chim con mất mẹ cứ chiếp chiếp hoài mà không nhấc nổi đôi cánh để bay lên cành cây. Cu cậu tóp teo, héo rũ, co ro trong xó chợ, che gió và mưa hắt bằng một tấm bìa có in mấy quả táo đã tơ xướp và nhòe bẩn. Tôi phát hiện ra nó khi bên tai tôi ai đó buông một câu bâng quơ “chẳng biết con cái nhà ai mà để thế!” Tôi không chú ý đến người nói câu nói đó nhưng sau này mới ngẫm: “Tình thương con người ta mới yếu đuối làm sao, mới mơ hồ làm sao, mới lơ lửng làm sao!”

            Đúng là tình thương đó có thật. Sự thông cảm đó có thật. Nhưng tại sao tôi lại nghĩ nó cứ là giả dối, nó cứ là điêu điêu. Đến tận bây giờ tôi cũng không cắt nghĩa được vì sao mà tôi lại bảo đó là có thật mà vì sao tôi vẫn cho là giả dối. Ôi sao mà phức tạp thế không biết!

            À mà tôi quên béng đi mất. Mà làm sao tôi lại có thể quên được cơ chứ? Trong nhóm bọn tôi có hai đứa con gái. Một đứa ở Thanh Hóa còn một đứa ở Hưng Yên. Thực sự những ngày trước khi thằng cu Tú về ở với bọn tôi chúng nó chẳng có gì đặc biệt khiến tôi phải chú ý. Tôi thực sự vẫn là một đứa trẻ ngô nghê và tộc ngộc. Chỉ khi tôi đưa thằng cu Tú về mới thấy vai trò của hai đứa trong nhóm. Đầu tiên là hai đứa hỏi tên tuổi, quê quán, anh em, bố mẹ và nói chung là những câu hỏi về hoàn cảnh mà hầu như bọn tôi đều na ná như nhau. Qua nghe câu được câu chăng tôi mới biết thằng Tú quê đâu tận Nghệ An xa xôi nào đó. Sau nữa là ăn, chúng nó hỏi thằng Tú đã ăn gì chưa. Thường thì chúng tôi ăn vạ, ăn vật bữa tối ở một nơi nào đó thuận tiện rồi về thẳng nhà này. Đứa nào có điều kiện thì nhớ bữa cho ngày mai hoặc cái bánh mì, cái bắp ngô hoặc một cái gì đó có thể ăn. Cũng đôi khi chúng tôi nấu cháo xì xụp với nhau trong một cái xoong méo mó rất đồng nát không ai dùng nữa đã đem đi bán cho đồng nát mà một đứa con gái mang về. Chúng tôi đặt cái xoong lên trên ba hòn gạch vỡ đôi và nổi lửa ở ngay giữa nhà. Cái bếp cơ động này chẳng mấy khi được sử dụng. Vì đơn giản như vậy nên nó được dựng lên hay bỏ đi đều dễ như nhau. Rất nhanh chóng và thuận tiện. Khi cần, một đứa nào đó cúi xuống cái được gọi là gầm giường lôi ra ba hòn gạch vỡ và chụm lửa. Những buổi tối đó thường rất vui, có lửa bếp nên gian nhà sáng hẳn, có khói bếp nên gian nhà trở lên ấm cúng và đặc biệt vui là lúc bắt đầu ăn. Bát, thìa, muôi, đũa cộc cạch, nham nhở ở đâu mà đứa nào cũng có. Lạ vậy. Sự sinh tồn của con người được duy trì từ những điều phải tự biết lo cho cuộc sống của mình. Tôi đố cô cậu nào ở thành phố có cha mẹ đàng hoàng mà sống được như chúng tôi. Cái vô tư, vui vẻ của chúng tôi chính là cái chất bụi hoang dã mà các cô chiêu, cậu ấm không hình dung nổi.

            Lại nói tiếp về hai đứa con gái ở chung nhà với bọn tôi. Buổi tối dẫn thằng cu Tú về, tôi đã đưa cho nó cái bánh mì không nhân và bảo nó ăn. Bánh mì là đồ ăn thường xuyên của bọn tôi. Ăn được ngay, ăn được bất kì lúc nào và chẳng cần bát đũa, xới múc gì cả. Vô cùng thuận tiện!

            Cái Hoa đứa con gái ở Hưng Yên lại đưa cho thằng cu Tú một nửa cái bánh mì nữa. Bọn con gái hình như ăn ít hơn thì phải. Chẳng ai để ý nó ăn thế nào và có ăn hết hay không. Còn cái Thương, đứa con gái ở Thanh Hóa thì loạt soạt rũ đập chuẩn bị chỗ cho thằng cu Tú ngủ. Nó xếp cho thằng cu Tú ngủ cạnh nó ở một phía sạp. Và thực như một bà chị lớn ở nhà thay bố mẹ chăm nom các em, nó giục thằng cu Tú đi đái rồi lên sạp ngủ.

            Thành viên nhỏ nhất và cuối cùng của nhóm tôi được kết nạp như vậy.

            Cái đáng nói là tối hôm đó thằng cu Tú bị sốt. Thực ra khi cúi xuống cái xó chợ ẩm ướt, rét mướt tôi đã có cảm giác là thằng cu Tú bị ốm rồi. Cái ốm, cái đau đối với những đứa trẻ bơ vơ, không gia đình như bọn tôi thường cũng chỉ xảy ra qua loa. Nó lướt qua như cơn gió nhẹ, nó thoang thoảng, lởn vởn bay như làn sương mong manh, cũng có khi nó ào ào như mưa rào rồi thì xong, nghĩa là trời lại khô ráo và vẫn là cơn gió nhẹ mát, vẫn là làn sương nhẹ mong manh, vẫn là chúng tôi, những đứa trẻ bụi bặm, hoang dã, mạnh khỏe bình thường. Cả ở cái điểm này nữa, tôi đố cô cậu nào ở thành phố có sức chịu đựng và chống đỡ dẻo dai như chúng tôi và cũng coi thường cái sự ốm đau như chúng tôi.

            Thằng cu Tú nóng hầm hập. Nó rét mà lại toát mồ hôi như tắm, mồ hôi ướt đẫm khuôn mặt gầy gò, đen đủi, mồ hôi ướt đẫm ngực, áo, mồ hôi làm bết hết cả tóc vào đầu. Con Hương đánh thức con Hoa dậy, nó sờ đầu thằng cu Tú và rên rỉ “Khổ thân thằng bé! Nó nóng quá”. Hai đứa trở dậy đốt ngọn đèn dầu làm bằng ống bơ khiến muội khói phun ra mù mịt, Con Hoa sờ soạng thắp ngọn đèn có bóng ra ngoài, một lúc sau nó mang về một nắm lá đã rửa sạch rồi dùng cán con dao cho nắm lá vào cái bát giã một lúc, lại thấy nó đổ một ít nước từ cái chai nhựa vào bát khuấy lên rồi lại chắt ra một cái bát khác đem cái nước đen đen, xanh xanh, nhờ nhờ như nước rêu đó bảo thằng cu Tú uống. Không cha, không mẹ, thui thủi và trôi nổi ở đời từ lúc nào và từ bao giờ ngay nó cũng không biết thì hỏi nó làm gì có thời gian được nũng nịu với mẹ, với bố. Nó cũng tự biết là mình đang ốm và đang được chăm sóc. Tự đâu nó tin, tôi cũng chẳng biết chỉ thấy nó cầm cái bát nước mà con Hoa đưa cho uống một hơi cạn sạch. Không nói gì thêm, nó lại nằm xuống, nhắm mắt. Con Hoa còn lấy một cái khăn xấp nước lã đắp lên trán nó. Xong việc thằng cu Tú chắc cũng phải nửa đêm, bọn chúng tôi chả lục cục cả tiếng đồng hồ chứ ít đâu. Con Hoa sau khi sờ trán thằng cu Tú một lần nữa mới buông một câu chả phải với một ai: “thôi đi ngủ tiếp!”. Chẳng ai bảo ai, hình như lúc đó chúng tôi cũng buồn ngủ lắm rồi. Đèn tắt, gian nhà trống trải nồng nặc mùi dầu khét lẹt, cái mùi khét lẹt đó cùng chúng tôi vào giấc ngủ trên cõi thiên đường.

            Và cái đêm ấy cũng qua đi nhanh chóng. Có lẽ là tất cả chúng tôi đều mệt vì mất giấc cho nên khi tỉnh dậy đều cảm thấy có lẽ muộn rồi. Riêng cu Tú vẫn ngủ. Hình như nó đã hết sốt. Tôi chỉ thấy khuôn mặt gầy gò nhô ra khỏi cái chăn mà cái Hương đắp cho nó. Tóc nó cũng khô két lại bện vào nhau không bết vào trán nữa. Tự nhiên tôi thấy con Hoa cười. Tôi ngạc nhiên nhìn nó và nhìn thằng cu Tú đang ngủ. Bất giác tôi phát hiện ra nó có một cái gì hay hay mà tôi không biết, hình như nó dễ nhìn hơn…

            Ngày hôm đó tôi cảm thấy tôi là chỉ huy của cả nhóm. Lần đầu tiên tôi ý thức được tôi là đứa lớn nhất và lớn tiếng nói cho mọi người nghe thấy một cách rõ ràng, dứt khoát. Tôi bảo con Hoa hôm nay ở nhà trông chừng thằng cu Tú còn lại mọi người vẫn đi nhặt rác bình thường nhưng nhắc mọi người buổi tối nhớ kiếm thêm một cái gì đó về cho con Hoa và thằng cu Tú. Năm đứa còn lại lại thành một hàng dọc lên đường kiếm ăn. Lại vượt qua con đường tắt cắt qua bãi đất bỏ hoang, bẩn thỉu, ruồi muỗi, cỏ mọc cao tiến vào thành phố.

            Một ngày mới bắt đầu với chúng tôi đồng thời cũng là một ngày tôi  cảm nhận tôi phải có vai trò nhất định với nhóm bởi từ hôm nay tôi đã thấy mình lớn nhất rồi.

            Lại nói về cái nghề nhặt rác của bọn tôi. Không phải nói ngoa đâu, nó cũng công phu và tỉ mỉ lắm đấy. Khi đổ cái bao tải lộn nhộn đủ mọi thứ tạp nham mà bọn tôi thu nhặt được ở khắp mọi nơi về trông nó mới ngán ngẩm làm sao cơ chứ. Toàn những thứ bỏ đi. Vì bỏ đi nên người ta mới vứt ra đường.Đây là mấy cái lon sữa còn có đầy xác kiến, những lọ nước gôị đầu, những chai thủy tinh có mác là nước mắm, là rượu “Lúa mới”, là bao bì bánh ngọt, là bìa cát tông, là sách báo cũ, là một cục sắt han rỉ không biết được tháo ra từ cỗ máy nào, là mấy ống nhựa như là ống nước…thôi thì thượng vàng hạ cám chẳng dùng được vào việc gì hết cả, nhưng những thứ đó lại có khả năng nuôi sống chúng tôi trong cái thành phố mà chẳng ai coi chúng tôi là cái gì cả. Cứ chiều chiều chúng tôi lại tụ tập nhau ở một địa điểm gần chợ, phân loại, phá dỡ, đóng gói, buộc chằng cẩn thận rồi đem đi đến đại lí. Đại lí đã nhẵn mặt chúng tôi-những đứa trẻ lang thang từ khắp nơi đổ về nhập hàng vào kho. Thực ra, nếu chăm chỉ và cả gặp may nữa, cái gặp may là quan trọng lắm, mỗi ngày chúng tôi cũng kiếm đủ hai bữa cơm bụi với thức ăn là đậu phụ, rau muống và nước rau thoải mái. Tất nhiên cũng có thịt và cá nữa. Nhưng thịt và cá chỉ gọi cho vui thôi. Dù sao cũng còn hơn ở nhà quê chỉ có sắn và khoai luộc. Hôm gặp may là chúng tôi có thể bỏ ống được ít tiền. Hai bữa cơm bụi là sáu ngàn đồng, cái bánh mì cho bữa sáng nữa. Cứ có chục ngàn một ngày là chúng tôi có thể sống được. Đấy là nói nhóm chúng tôi còn không mất tiền nhà đó. Chỉ phải cái nó hơi xa, xa nhưng chẳng sao. Càng đỡ tốn tiền càng tốt. Mà đi kiếm ăn trên đường là nghề của chúng tôi nên chúng tôi cũng chẳng ngại lắm. Dọc đường đi về chúng tôi có bỏ sót cái túi rác, đống rác nào ở ven đường đâu. Bất cứ gặp túi rác nào cái que cời của chúng tôi cũng phải chọc vào, chọc vào và khui ra, tìm ra được những thứ có thể góp vào cho bữa ăn của mình.

            Cũng từ môi trường rác này tôi được nghe nhiều chuyện về những con người quanh bãi rác. Bạn đọc có thể tin được không khi có những gia đình mà có tới ba thế hệ cùng làm. Đời ông nuôi đời bố, đời bố nuôi đời con và đời con còn đang tiếp tục lớn cùng bãi rác, sống cùng bãi rác. Có những ông chủ thành danh nhờ rác, có những mối tình nảy nở từ rác và cả những thảm kịch cuộc đời kết thúc ở bãi rác và còn đến đâu nữa không biết.

            Bãi rác là một xã hội, xã hội của dân hạng ba, hạng bốn, dân ngoại thành, dân tứ xứ đổ về những người luôn ý thức về mình với một thái độ rất khiêm tốn, nhẫn nhục với các bậc chính quyền. Bãi rác là nơi mà chẳng hiểu vô tình hay hữu ý tự dưng cả làng phải hứng chịu mọi thứ mà xã hội đã qui bằng một từ “rác”.

            Dễ đã nhiều ngày trôi đi. Thời gian với chúng tôi là cái quái gì đâu mà chúng tôi phải nhớ. Tôi chỉ mang máng là tôi đã trải qua ở cái lều này, đã trú mưa, trú đêm ở đây trong cả những ngày hè oi bức, đã trải qua cái mùa đông rét buốt. Khổ nhất là những đêm mưa. Tất cả chẳng còn chỗ nào khô mà có thể nằm được, ngoài trời thì gió. Những mảnh giấy dầu, cót ép , ni- lông cứ phần phật, phần phật. Thỉnh thoảng gió đổi hướng làm cái lều của bọn tôi cứ rung rinh, lung lay như muốn đổ xụp lên đầu chúng tôi. Những đêm đó chúng tôi loay hoay cả giờ để có thu xếp được một chỗ ngả lưng. Đó là những gì mà tôi nhớ nhất trong những ngày sống cùng lũ bạn nhặt rác trong một cái lều vô chủ nằm ở giữa một mảnh đất bẩn thỉu, bỏ hoang chẳng ai nhòm ngó.

            Cuộc sống chẳng có gì thay đổi, cũng chẳng có gì xảy ra. Nhưng thật không ngờ lại có cái xảy ra mà lại xảy ra với chính tôi. Tôi là đứa lớn nhất. Vị trí đó tôi chỉ xác định được sau khi đón thằng cu Tú về ở. Hồi đến ở cái lán khốn khổ này tôi đã mười bốn tuổi. Cái tuổi lẽ ra mới chỉ biết ăn và ngủ, chơi và học. Nhưng tôi đã bỏ làng ra đi. Bỏ ra đi vì ở làng đói quá. Cái làng sinh ra tôi nghèo quá! Ngoại trừ mấy ngày tết, tôi không còn nhớ các ngày khác mình được ăn no như thế nào. Những thứ mà bụng tôi được nhét, được tiêu hóa gồm đủ các loại rau, ngô đậu, khoai, sắn. Cơm cũng có nhưng mà ít. Trong hoàn cảnh đó tôi khao khát chỉ mong có một sự tình cờ thần thánh nào đó làm thay đổi cuôc sống của tôi và gia đình. Và tôi đã bỏ làng ra thành phố theo một người làng, đã gia nhập vào đội quân bới rác kiếm ăn một cách bất ngờ. Cái bất ngờ đó sau này biến thành số phận. Số phận gắn bó tôi với rác, nuôi sống tôi bằng rác.

            Bới rác có phải là một nghề? Tôi chưa bao giờ nghĩ nó là một nghề nghiêm chỉnh cả, mặc dù đội quân ở làng quê ra thành phố sống bằng “nghề” bới rác ngày càng đông. Bới rác không kén chọn tay nghề, không kén chọn tuổi tác và cả sức khỏe nữa. Tuy nhiên nó cũng giống như bất cứ một công việc nào khác, bới rác, kiếm ăn bằng rác cũng có những mánh khóe riêng, bí mật riêng và nó cũng đòi hỏi con người ta phải lăn lộn, phải “ăn cùng rác, sống cùng rác” mới có thể trưởng thành. Ông bà xưa có câu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” cả với trường hợp này cũng đúng! Nhưng quả thật tôi chưa thấy ai chung thủy với rác, ở đây là nói người trực tiếp phải bới rác kiếm ăn, khi có điều kiện rẽ ngang lại vẫn chung thủy cùng rác mãi được.

            Thằng cu Tú vậy là cũng đã ở với bọn tôi qua những mùa nóng lạnh, qua những ngày gió bão. Nó đã trưởng thành trong cuộc sống có phần bụi, có phầ vẫn được chiều chuộng trong một nghĩa nào đó trong môi trường mà nó đang sống. Con Thương và đặc biệt là con Hoa rất yêu nó. Hai đứa con gái yêu thằng cu Tú theo kiểu các bà chị lớn yêu và chiều thằng em trai út. Còn tôi, tôi yêu thằng cu Tú kiểu như một đàn anh đã lăn lộn kiếm sống ở đời. Tôi yêu nó kiểu bênh vực, che chở bởi vì nó còn quá bé. Có phải vì thằng cu Tú nó biết thân phận của nó thành ra đối với các anh chị trong nhóm nó có thái độ làm cho mọi người rất thiện cảm, nó ăn nói rất lễ phép và nghe lời tất cả mọi người. Tôi nghĩ  tất cả những nhơ nhớp của cuộc sống này vẫn có một chỗ sạch sẽ, trong sáng. Sự trong sáng của nó làm cho tôi nghĩ tôi thật đã già dặn trong cuộc đời. Những lừa lọc, đểu cáng mà hàng ngày tôi va vấp, tôi tiếp xúc, tôi phải im lặng chịu đựng, không hiểu sao tôi không muốn cho thằng cu Tú biết, nếu vì một lí do nào đó có liên quan đến nó như tranh chấp một món lời nào đó chẳng hạn, tôi đều không muốn nó tham gia, tôi không muốn có mặt nó trong việc dàn xếp mà đôi khi những câu chửi thề được vung ra vô tội vạ, thậm chí , đôi khi, phải dùng cả vũ lực can thiệp.

            Tôi không thấy thằng cu Tú khóc. Cũng ít khi thấy nó cười. Nét mặt nó cứ phảng phất một cái gì thiếu thiếu, một cái gì cam chịu. Cứ nghĩ như vậy tôi lại cảm thấy xót xa, tồi tội cho nó. Mà không chỉ riêng tôi đâu. Tôi thấy cả nhóm chúng tôi đối với nó đều như vậy. Đặc biệt là cái Thương và cái Hoa. Những lúc thấy chúng nó ngồi nói chuyện với nhau vui vẻ, thân mật  tôi lại nghĩ thầm không hiểu vì sao bọn trẻ lang thang bất hạnh như chúng tôi lại gặp được nhau và hòa thuận dưới mái lều trống hoác này. Đúng, đúng là dưới mái lều trống hoác không che nổi mưa gió cho chúng tôi thì tôi lại cảm thấy ở nơi đây tôi đã hiểu được một phần cuộc đời, chính ở nơi đây tôi thấy mình từng trải, cái từng trải có phần bụi bặm, cái từng trải có phần giang hồ. Tự nhiên tôi muốn làm một “đại ca”. Thật vớ vẩn! Sau này khi  đã xa chúng nó, đôi khi, tôi lại mỉm cười với cái ý nghĩ đó. Tự dưng mình lấy quyền gì để mà tự phong mình làm “đại ca”. Con người ta, từ thăm thẳm sâu hình như vẫn luôn mong khuất phục được người khác, vẫn mong có một vị trí làm cho người khác phải nể phục dù rằng ở một vị trí tận cùng của xã hội như tôi - một thằng chuyên kiếm ăn nhờ vào các đống rác - vẫn cứ mơ có một địa vị nào đó trong xã hội mà mình đang sống.

            Nhóm chúng tôi còn ba đứa con trai nữa. Thằng Phong, thằng Tài và thằng Quyền. Tất cả đều quê Thanh Hóa. Mỗi đứa một hoàn cảnh mà tại sao tôi cứ nghĩ cũng như nhau cả thôi, chẳng có gì đặc biệt cả. Hoàn cảnh, ai mà chẳng hoàn cảnh. Tất cả đều là do thiếu ăn, không còn con đường sống nên mới phải bươn trải, lặn lội, lần mò ra nơi đất khách quê người để kiếm cái ăn. Nói là kiếm cái ăn chứ thực ra đứa nào trong chúng tôi cũng có em nhỏ ở quê, có cha mẹ, có ông bà và họ hàng thân thích nữa chứ. Chỉ có điều tất cả cái mối quan hệ nhằng nhợ đó không đủ sức níu giữ chúng tôi ở lại với lũy tre làng, với đồng ruộng. Bọn chúng tôi có ham muốn gì cao siêu lắm đâu!. Đặc biệt là hai đứa con gái. Chỉ từ khi ra kiếm sống ngoài thành phố, mọi nhu cầu của con người, của cuộc sống mới đập vào mắt chúng tôi. Mỗi đứa trong chúng tôi cũng thấm vào máu của mình một kiểu riêng. Cái Hoa và cái Thương chúng nó “giác ngộ” sớm nhất. Ngày mới gặp chúng nó, tôi thấy nó cũng chẳng khác gì với mấy đứa con gái ở quê tôi cả. Tôi chỉ chú ý đến cái Hoa khi thấy nó chăm sóc thằng cu Tú hôm mới nhập nhóm và bị sốt mà thôi. Vậy mà bây giờ chúng nó khác với mấy đứa con trai chúng tôi quá. Chúng nó ăn mặc sạch sẽ hơn, hình như dạo này chúng nó cũng tươi tắn hơn thì phải. Có phải chính vì thế mà tôi hay nhìn cái Hoa và tôi thấy nó hay hay. Hình như cả cái Thương và cái Hoa đều biết như vậy nhưng chúng nó lại làm ra bộ không biết gì cả, chỉ đôi khi chúng nó tự nhiên ré lên cười rồi ôm lấy thằng cu Tú, rồi lại cười, chẳng hiểu vì cái gì cả! Đúng là đồ con gái!

            Lối sống ở thành phố tác động đến bọn tôi khi nào không rõ nữa. Mỗi  tối quay trở về cái lán ngủ đêm, chúng tôi lại kể cho nhau nhiều chuyện gặp phải trong ngày hơn. Cái Hoa và cái Thương kể về một chị làm thuê cho một bà chủ vợ của một ông chủ nào đó có xe đưa đón đi làm. Chị làm thuê này mới đến ở được có hai tháng thôi. Công việc toàn là làm việc vặt trong nhà dễ ợt: nào là lo cơm nước (mà chuyện chợ búa cũng không phải đi, lau nhà, giặt giũ quần áo (mà giặt giũ gì đâu, tất cả các công đoạn đó đẫ có máy giặt lo cho rồi, chị ấy chỉ việc làm mỗi một công đoạn là mở nắp và mang áo quần ra phơi). Sướng thế, bằng chuột sa chĩnh gạo! Hôm khác thì thằng Quyền kể chuyện bọn trẻ con lang thang như chúng tôi, cái bọn làm nghề đánh giầy. Công việc chúng nó đơn giản hơn chúng tôi nhiều mà lại kiếm được nhiều tiền, mỗi đôi được hai ngàn. Chỉ cần hai đôi là được bữa ăn. Bọn chúng tôi thực dụng là như vậy đấy. Tất cả đều qui ra tiền, tất cả đều qui ra thóc! Nhưng những đau khổ của cuộc sống vất vưởng này luôn rình rập chúng tôi. Hôm gần đây, cái Hoa kể chuyện chị làm thuê nọ đã bỏ nhà chủ ra đi. Lí do vì sao thì không ai biết. Nó có hỏi chuyện các bà già hàng xóm gần nhà chị ta làm việc thì thấy bảo bị bà chủ “tống cổ” ra khỏi nhà rồi. Cái từ “tống cổ” hàm ý không hay ho gì cả. Khổ thân chưa, đang yên đang lành bỗng dưng… mà cũng tại cả chị ta nữa chứ, nếu không thì đâu đã xảy ra!... Ngoắt ngóeo cuộc đời là thế, cái khổ của kẻ khó là thế, ai mà lường hết được! Hai đứa con gái nói chuyện người như thông cảm và ngậm ngùi trước số phận của những đàn bà quay ra ôm nhau ngủ ở một góc lán. Bọn chúng tôi  vẫn thờ ơ với câu chuyện đó. Mấy ngày hôm sau, chúng tôi thấy xuất hiện ở lán ngủ chúng tôi  một người phụ nữ phờ phạc, mặt buồn tênh, vô hồn. Đấy chính là chị Xuân - người làm thuê - mà cái Hoa, cái Thương nói chuyện bữa nào. Hôm nay cái Hoa gặp được chị trên đường đi kiếm rác và đã rủ chị về cùng ở với bọn trẻ chúng tôi. Ngôi nhà của chúng tôi lại có thêm một nhân vật mới. Nhưng chị ta không ở lâu được với chúng tôi, chỉ khoảng mươi ngày sau chị đã bỏ đi. Chị đến và đi chỉ như một làn gió nhẹ. Có gây chú ý cho chúng tôi lúc đến nhưng không bất ngờ với chúng tôi khi đi. Bởi vì chúng tôi biết để nuôi sống một hậu phương nơi quê nhà chỉ cần bỏ công sức ra chưa đủ. ở chốn này cần phải có người che chở. Một người như chị nơi phù hoa thành phố rất dễ bị sa sẩy. Con đường đi với mọi người luôn không giống nhau.

            Lan man kể những chuyện ngoài lề trong cuộc sống của bọn chúng tôi, tôi lại quên khuấy chuyện về thằng cu Tú. Thằng cu Tú quê đâu như ở mạn trong Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó. Nó đến với chúng tôi trong một chiều mưa gió. Nó được nhóm chúng tôi cưu mang và được tryền cho bí quyết cũng như kinh nghiệm sống bằng nghề nhặt rác. Nó chẳng có anh em gì cả. Nó là đứa trẻ bị bỏ rơi hay bị lạc gì đó. Trước khi nó đến với chúng tôi nó sống bằng “nghề” ăn xin. Nó lang thang khắp nơi  và đặc biệt là các quán ăn. Các chủ hàng ăn nhẵn mặt nó. Đầu tiên nó xòe bàn tay bé nhỏ và đen nhẻm lí nhí nói một câu gì đây với những người đang ăn. Không cần nghe rõ người ta cũng biết là nó xin ít bạc lẻ. Người cho hai trăm, người ba trăm và bằng số tiền còm nhỏ nhoi đó nó cũng sống qua ngày. Nhưng thực ra nó sống không phải bằng số tiền còm ít ỏi mà nó xin được, nó sống bằng các loại thức ăn thừa của khách ăn. Có chủ cửa hàng dễ dãi cho nó ăn luôn trong cái bát mà khách bỏ dở hoặc sót lại, cũng có chủ hàng khó tính hơn đuổi nó đi chỗ khác. Những lúc như vậy nó vội vơ vét tất cả mọi thứ vào trong một cái bát mà lúc nào nó cũng mang theo bên mình đựng trong một cái túi đen đúa. Cái túi ấy đựng cả gạo mà nó xin được khi bị đuổi rát quá ở các cửa hàng ăn uống phải đi vào các nhà dân để xin ăn. Tiền nó cũng gói lại và đút vào trong cái túi đó. Khổ một nỗi là nó bé quá. Bất cứ đâu cũng có thể là nhà ngủ của nó được. Chỗ nó thường xuyên ngủ là nhà ga, bến tầu. Hôm tôi thu nhặt được nó cũng là thời mà các cửa hàng đuổi riết, cu cậu không lê la được ở đó phải dạt sang chợ kiếm ăn, lấy chợ làm nhà ngủ và lên cơn sốt vào một chiều mưa. Nó ngủ từ bao giờ không ai biết và cái túi với một số tiền ít ỏi tích cóp được cũng mất luôn. Nó về với chúng tôi với đôi bàn tay trắng. Khổ thế đấy! Vì miếng ăn mà ngay cả số tiền ít ỏi thằng bé tí tuổi liếm được bằng bao buổi ăn xin người ta đâu có tha. Ôi, lòng dạ con người!

            Một hôm, thật bất ngờ, thằng cu Tú đột nhiên hỏi tôi: “Anh thấy chị Hoa có xinh không?” Tôi giật mình vì câu hỏi của nó. Hỏi lại: “Tại sao mày lại hỏi tao?” Nó trả lời trơn tuột: “Vì em thấy các chị ấy hay nhìn anh và hay nhắc anh mỗi khi anh về muộn” Tôi buông thõng: “Có vậy mà cũng hỏi!” Rồi chúng tôi không nói chuyện đó nữa.

            Sau đó tôi  tự nhiên lại hay nghĩ về chuyện thằng cu Tú và hay nhìn trộm cái Hoa. Lạ thật!

            Một lần khác, thằng cu Tú lại hỏi tôi: “Anh có biết chị Hoa và chị Thương sắp chuyển đi làm Ô-Sin chưa?”. Một lần nữa tôi lại giật mình: “Thế à?” và lại bỏ câu chuyện ở đó. Mấy ngày sau, nhân lúc buổi trưa đang ngồi nghỉ, mà lúc đó lại chỉ có tôi và cái Hoa, tôi mới đem chuyện thằng cu Tú nói với tôi hỏi lại cái Hoa. Nó xác nhận là đúng và nói thêm: “Còn đợi thêm tin của chị Xuân”. Tôi bỗng thấy hụt hẫng như bị mất cái gì thì phải. Từ lúc đó người tôi bỗng bồng bềnh, say say, ngơ ngơ…

Thế rồi cái Hoa và sau đó chẳng bao lâu cái Thương đã rời nhóm chúng tôi đi làm Ô-Sin. Nhóm chúng tôi trở nên vắng vẻ. Dù sao thì hai đứa con gái cũng để lại trong lòng chúng tôi một cái gì âm ấm, khó nói. Để tồn tại, người ta phải dứt bỏ nhiều cái quí giá. Thời gian mà hai đứa con gái ở trong nhóm của chúng tôi là bao lâu, thật ra chẳng ai nhớ, nhưng chúng nó đã để lại trong chúng tôi cái nét đặc biệt của con gái, cái hơi ấm của con gái, cái tình bao dung của người con gái mà sau này trên mỗi nẻo đường đời, mỗi khi nghĩ lai, tôi lại thấy bồi hồi, lại thấy xúc động, lại thấy một sự trong trắng, ngây thơ mà cuộc sống bụi bặm không phủ mờ, không vấy bẩn. Quả cũng lạ! Tôi và chúng nó có mấy khi trò chuyện, vậy mà chỉ từ cái tối thằng cu Tú bị sốt, tôi bỗng thấy nó hay hay và bây giờ nó bỏ đi làm việc khác, tôi nhớ lại, lại như thấy bị thiếu mất cái gì đó mỗi khi trở về cái lán trống hoác của bọn tôi.

Trải qua những ngày mưa gió, nóng lạnh của thời tiết, thằng cu Tú đã trưởng thành trong nghề. Nó nhanh như thỏ, như sóc và vẫn rất đáng yêu, chí ít là đối với tôi. Trong cuộc đời, mối quan hệ với gia đình có một vị trí hết sức quan trọng vậy mà nó không có. Vậy nên nó coi bọn tôi là những người thân nhất của nó. Mấy hôm tết vừa rồi trong khi mọi đứa nôn nao vì nhớ nhà thì nó chẳng có ai để mà nhớ. Tôi chưa biết khơi gợi những điều mà nó suy nghĩ trong cái đầu non nớt của nó. Nó chẳng nhớ ai cả. Đâu như cũng đã từng có người săn sóc nó, bế ẵm nó. Nó lờ mờ hiểu đấy là mẹ nó. Hình như mẹ nó đã chết và một người đàn ông khác thay mẹ nó trông nom nó. Người này thường xuyên bỏ đói nó cho nên nó mới èo uột, khẳng khiu cho đến tận bây giờ. Nó thường được người đàn ông dẫn đến các nơi hội hè. đông người tụ tập và lăn lộn trên đường kêu khóc, xin ăn, xin tiền. Nó nhiều lần bị đánh chỉ vì xin được ít và không chịu khóc. Những hôm đó về chỗ ở là một cái quán cũng xiêu vẹo, vắng vẻ, nó thường bị đánh và bị bỏ đói. Nó nằm trong xó lều ngủ để quên đói, đợi người đàn ông về vất cho nó một cái gì đó có thể ăn. Kí ức của nó là như thế, mối quan hệ xã hội của nó là như thế, vậy thì làm sao và ai nỡ hỏi chuyện gia đình, người thân của nó. Nó nói với tôi: “Anh về ăn tết nhanh rồi ra với em”. Tôi xót cả ruột: “Tao bỏ một mình mày ở lại đây à?”. Vậy mà có ai ngờ…

Tết vừa rồi đó, tôi ở lại với thằng cu Tú. Trong rét mướt của gió mùa Đông Bắc, chúng tôi cũng đi chơi xuân. Trước đó tôi gom tiền của hai anh em đi mua mỗi đứa một cái áo bu-dông hàng thùng. Nó chẳng đòi hỏi gì cả và cũng chẳng cần biết là mình có bao nhiêu tiền. Ngây thơ và non nớt là thế! Nó nắm tay tôi chen vào mọi chốn đông người. Hình như chưa bao giờ nó vui như vậy, nó làm tôi cũng vui lây, tôi cũng quên đi nỗi nhớ nhà, tôi cũng có một thằng em ở nhà như nó, nhưng thằng em tôi còn có một gia đình còn thằng cu Tú thì ngoài tôi chẳng có cả. Sau này tôi rất tự hào vì cái tết năm đó tôi đã có một trong những quyết định đúng đắn nhất cuộc đời của mình.

Giao thừa. Hồi ấy pháo nổ nhiều lắm. Tôi và thằng cu Tú còn lang thang trên đường phố ngợp sắc xuân. Phải là đã sang xuân? Trong tôi có cái gì nghèn nghẹn. Thằng cu Tú chẳng có cảm giác gì cả, nó vẫn hớn hở đi bên tôi. Mưa lay phay, cảm giác mua xuân ấm áp. Loang loáng những ánh đèn, chập chờn những màu xanh đỏ. Tôi ôm lấy thằng cu Tú, người nó ấm quá, một cảm xúc dòa dạt dâng lên trong lòng tôi. Mùa xuân, mùa xuân đến rồi. Tôi thầm mong một mùa xuân tốt đẹp đến với chúng tôi, tôi hi vọng một điều gì mới sẽ đến.

Hai đứa chúng tôi về nhà bóc bánh chưng ra ăn. Người ta bảo là “Dửng dưng như bánh chưng ngày tết”. Dửng dưng gì mà chúng tôi cảm thấy ngon thế! Ăn xong một cái mà vẫn như còn thòm thèm. Tôi hỏi thằng cu Tú có muốn ăn nữa không. Nó lắc đầu. Tôi nói: “Xả láng đi em…” Nó cười và chúng tôi đi ngủ trong tiếng pháo nổ đâu đó ngoài xa…

Sáng hôm sau anh em chúng tôi đi chơi xuân. Chúng tôi vẫn phải đi qua con đường heo hút, bẩn thỉu và lúc nào cũng ướt. Hình như mùa xuân không đến với cái lán nhỏ dột nát của chúng tôi. Tôi một thoáng chạnh lòng. Nhưng mà không sao cả. Ta đi theo con đường của ta. Ta ngửng mặt đón gió xuân. Một làn gió mới ùa vào hồn tôi. Tôi hít thật sâu vào lồng ngực. Ngọn gió tươi mát thổi bay hết cả mọi điều u uất.

Bước chân tự nhiên dẫn chúng tôi đến bến xe thành phố. Đường phố mấy ngày tết sạch lắm. Không có đống rác nào dành cho chúng tôi cả. Mà thực sự chúng tôi không có ý định hôm nay đi kiếm ăn. Hôm nay chúng tôi cũng phải ngẩng cao đầu như mọi người đi chơi xuân.

Một ông già khoảng trên bảy mươi như đang chờ ai ở bến xe. Thấy chúng tôi, ông già niềm nở gọi lại đứng bên cạnh bức tường chắn gió. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống và rút từ trong cái túi xách bên mình một bọc giấy được gói cẩn thận. Ông bảo chúng tôi ngồi ăn tết với ông. Tôi hỏi nhà ông ở đâu, ông chỉ cười và giục chúng tôi ăn nữa, ăn nhiều vào. Thằng cu Tú rất khoái trá. Cu cậu xơi rất tự nhiên. Có phải vì thái độ rất gần gũi của ông già hay vì bữa đón giao thừa vừa qua của chúng tôi chưa làm cu cậu thỏa mãn. Ông già đưa cho thằng cu Tú và tôi mỗi đứa một cái đùi gà rất to. Kể cả tôi huống gì thằng cu Tú, chúng tôi chưa bao giờ được ăn một bữa thỏa thuê như thế và cũng đặc biệt nữa. Một cái tết mà tôi nhớ đời. Tất nhiên mọi thứ mà ông già cho chúng tôi ăn không hết. Có lẽ ông không chỉ chuẩn bị cho riêng hai chúng tôi. Số còn lại mà ông đã có ý để riêng ra một khoang giấy báo vẫn còn nhiều, phải hai ba đứa nữa ăn mới hết. Chúng tôi ăn thịt gà với xôi, có cả bánh chưng nữa, một khoanh giò nạc và một khoanh giò mỡ rất dày. Một cái tết thượng thặng đối với những đứa trẻ lang thang, bơ vơ như bọn chúng tôi. Sau bữa ăn, tôi cứ nghĩ mãi về ông già. Chắc hẳn trong thẳm sâu lòng ông có điều gì không yên. Ông nhìn những số phận hẩm hiu như bọn tôi ở trên đời bằng cái nhìn như có điều gì canh cánh không an bên lòng. Ông muốn san sẻ với chúng tôi những gian nan của cuộc đời bất hạnh, ông muốn chia cho chúng tôi một chút lộc mà ông được con cháu biếu hoặc tự tay ông làm ra. Nhìn ánh mắt của ông, tôi như thấy ông muốn nói: “Ông muốn tất cả những nỗi đau ở trên đời này không còn để các cháu mãi được sung sướng, không còn chịu vất vả trên thế gian này nữa”. Nhưng ông không nói được gì cả, ông im lặng, tôi chỉ thấy mắt ông long lanh, cái long lanh của những giọt nước tinh khiết qua cặp kính trong suốt, dày cộp.

Một cơn gió nữa thổi qua, không phải là gió lạnh mà là một làn hơi ấm, làn hơi ấm tôi cảm nhận được từ mùa xuân mới. Gió bay bay, chúng tôi chào ông già không quen biết mà tự nhiên thấy vô cùng kính trọng. Có điều gì nhắc nhở tôi. Ô phải rồi, tôi phải có trách nhiệm hơn với thằng cu Tú. Nó mới ngần ấy tuổi đầu mà “bể dâu” hơn tôi nhiều lắm.

Sau cái tết đáng nhớ ấy thằng cu Tú lại ốm. Mới đầu tôi cứ nghĩ là bình thường. Bình thường như bao nhiêu cái hắt hơi sổ mũi của bọn chúng tôi. Sáng ra thấy nó nằm bất động trên sạp, tôi lay nó dậy. Trời ơi nó nóng quá! Sao vậy Tú ơi. Ba đứa quê ở Thanh Hóa chưa thấy đứa nào lên cả. Tôi lại nghĩ đến cái Hoa và cái Thương. Chúng nó ở đâu mà không đến với tôi lúc này. Thằng cu Tú ốm chúng mày có biết không? Tôi không biết làm gì hết cả. Sau một phút hoảng hốt, tôi trấn tĩnh lại và quyết định cõng nó ra ngoài đường đón xe ôm đưa đi bệnh viện. Tôi không quên mang theo số tiền mà tôi và nó kiếm được trong thời gian qua. Cái con đường heo hút, bẩn thỉu và luôn luôn ướt qua bãi đất hoang sao bây giờ dài thế. Thằng cu Tú nhẹ như bấc trên lưng tôi. Tôi vừa chạy, vừa khóc, vừa gọi tên nó. Sao tôi lại khóc, đến bây giờ tôi cũng không biết vì sao. Có lẽ từ bao giờ, lâu lắm rồi, thằng cu Tú đã trở nên thân thiết với tôi mà tôi không nhận ra. Tôi khóc vì thương nó, nó chẳng có ai ngoài tôi cả. sao đời lại oan nghiệt làm vậy. Một sinh linh bé nhỏ chẳng lẽ không đnág được che chở hay sao?

Chậm quá rồi! Người bác sĩ trực ở phòng cấp cứu nói với tôi. Em cậu bị sưng phổi, mà bố mẹ đâu? Sao chỉ có hai anh em? Tôi đờ người ra, choáng váng và không biết nói gì nữa.

Rồi mọi sự cũng qua. Nhờ sự giúp đỡ của bệnh viện, tôi là người thân duy nhất của thằng Tú đưa nó ra nghĩa trang. Cai huyệt đào sẵn người ta chôn nó cũng nhỏ nhoi như chính số phận của nó. Cái quan tài mà nó nằm trong đó cũng nhỏ nhoi như vậy. Tú ơi! Thế là kết thúc một số phận toàn là cay đắng, mày đã được hưởng một chút ngọt ngào nào đâu. Chẳng hiểu cái tết vừa rồi có an ủi mày được chút nào không? Tú ơi, Tú ơi…

Nghĩa trang vắng lặng. Chiếc xe của bệnh viện làm phúc cũng đã quay về. Tôi một mình ngồi bên mộ thằng cu Tú. Khói hương bay thoang thoảng. Mày cô đơn trên cõi đời, mày đi cũng đơn côi một mình anh đưa tiễn và bây giờ anh lại về đơn côi với cái lán trống hoác đó hay sao? Trống trải trong tôi ghe gớm. Lại một cơn gió ớn lạnh nơi đồng không mông quạnh. Tôi lủi thủi quay về. Bước chân vô định đưa tôi về bến xe chỗ ngày mồng một tết tôi và thằng cu tú và ông già tốt bụng ngồi ăn tết với nhau. Tôi ngồi đó, nhớ nó quá và cũng mệt quá sau một ngày đầy biến động, tôi ngủ lúc nào không biết. Trong giấc mơ, tôi lại thấy thằng cu Tú tung tẩy với cái bao tải lất phất và cái quen cời rác vung vung lên trời. Có phải hình ảnh trong suốt và tinh khiết của nó làm giấc ngủ của tôi rất say.

Từ đó tôi không về cái lán trống hoác của chúng tôi nữa. Cùng với sự lớn lên của thành phố, tôi bây giờ đã trở thành một đại lý thu mua các loại phế liệu. Cơ sở của tôi ở ngay bên đường quốc lộ được hình thành nhờ sự quản lý lỏng lẻo của mấy ông cán bộ địa phương, Chỗ này không xa nơi thằng cu Tú nằm là mấy. Chắc là vong hồn nó phù hộ cho tôi.

 

ảnh internet
                                                                                                            Vinh Anh

                                                                                                                                                     2005