Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2018

Việt Nam muốn làm bạn ...

Việt Nam muốn làm bạn với những người giỏi nhất

Khẩu khí của thủ tướng nhiệm kỳ này có cái khác với các vị tiền nhiệm, đó là chỉ ra những mục tiêu mà các địa phương, nơi ông đến công tác, cần tiến tới: Muốn Sài gòn thành Sing, muốn Hà Nội thành Pa-ri, muốn Việt Nam phải là thủ phủ tôm của thế giới… muốn nhiều lắm, nhiều lắm. Đã có rất nhiều blogger thống kê những ý muốn của thủ tướng. Tôi cho rằng những ý tưởng và mong muốn đó đều chẳng có gì sai, nhưng có một chút e ngại, liệu thủ tướng có quá nóng vội? Dục tốc bất đạt-Nhanh quá cũng chẳng được gì.
Mới đây, thủ tướng lại “muốn Việt Nam làm bạn với những người giỏi nhất”. Nói ra cái ý muốn đó cho dân tộc, chẳng có gì sai nhưng tôi thấy, nếu chỉ làm bạn với những người giỏi nhất, phát biểu đó có điều gì đó gờn gợn. Thử hỏi, còn các bạn khác, những bạn từng “nằm gai nếm mật, chia ngọt sẻ bùi, hạt gạo chia ba, cả các bạn chia nhau canh giữ 2 nửa thế giới nữa chứ” thì sao? Nếu cứ nói thẳng băng, câu nói đó thật chưa ổn.
Người xưa nói: “Tìm (chọn) bạn mà chơi”. Cũng có câu: “Cho tôi biết bạn chơi với ai, tôi sẽ cho bạn biết, bạn là người thế nào.” Về đa số trường hợp, theo tôi, hai câu nói đó đều đúng. Còn trong chừng mực nào đó, câu của thủ tướng, tôi thấy lộ ra cái khôn lỏi của Việt nam, mà (nếu) đã bị coi là khôn lỏi, không thể có được bạn, người ta có thể nghĩ, Việt Nam chỉ lợi dụng sự giỏi giang của họ mà thôi.
Đành rằng, mọi cuộc chơi trên thế gian này, ít nhiều ta đều nhận thấy có sự lợi dụng trong đó. Đặc biệt, với sự yếu kém nhiều mặt như nước ta, Việt Nam dễ rơi vào vị trí của một nước yếu thế để rồi trở thành quân cờ trên bàn cờ của các nước lớn. Điển hình là bài học lịch sử của cuộc chiến gần đây “Việt Nam đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”. Trong lúc này, nói lại lời ông thủ tướng Anh Sớc-sin để nhớ: Tình bạn chỉ là nhất thời, quyền lợi Quốc gia mới là vĩnh viễn. Mình có chọn họ để chơi đấy nhưng thấy lợi thì họ làm, không lợi thì thôi. Họ là những người giỏi, nên họ biết, phải không ạ.
Chúng ta từng đánh mất lý trí, thậm chí đã mê muội với chiến thắng 30/4. Ngay ngày đó (thậm chí trước ngày đó rất lâu, ngay từ năm 1954) chúng ta đã biết anh bạn phương Bắc không phải là bạn tốt của ta, vậy mà sao, ta vẫn cứ chui đầu để lệ thuộc vào anh bạn xấu tính này? Ở đây, có phải rõ ràng ta không biết chọn bạn mà chơi? Tại sao ta cứ cắm đầu đọc như con vẹt những là tinh thần quốc tế vô sản, những là tứ hải giai huynh đệ, những là môi với răng, những là sông núi liền nhau, những là tư tưởng giống nhau… còn những gì gì nữa, khi chúng ta biết rõ rành rành, anh bạn này muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng.
Không những thế, đất này còn gặp phải một tai họa khác, làm mất đi cơ hội đưa đất nước phát triển, đó là thái độ nghi ngờ những người từng đối xử tốt với mình. Sự cảnh giác khiến chúng ta nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Đó là sự cảnh giác thái quá dẫn đến tiêu cực bởi thái độ đa nghi. Thái độ đó không thể tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau. Hãy nhìn lại phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam trên thế giới những năm 1970, có phải Việt Nam khi đó là bạn bè với tất cả không? Đúng, ngày đó Việt Nam được thế giới ngợi ca và yêu quý lắm. Nhưng sau năm 1975 thì sao? Tình yêu Việt Nam nhạt dần. Có ai dám đặt câu hỏi vì sao lại thế không? Vì chúng ta giáo điều, vì chúng ta mê muội với vinh quang chiến thẳng, vì chúng ta nghi ngờ... Tai họa lớn nhất là mình đi nghi ngờ, làm mất đi niềm tin những người luôn muốn đối xử tốt với mình. Ta đã tự gây tai họa cho ta.
Đáng ra chúng ta phải biết bảo ban nhau, quên đi nỗi thù hằn, dốc sức dựng xây đất nước sau những ngày chiến tranh. Ồ, nếu làm được điều đó, đất nước đã chẳng như hôm nay. Bạn bè chúng ta rơi rụng từ những ngày đó.
Tìm được người bạn khó lắm. Càng lớn, càng khó tìm bạn. Những người bạn chân tình, gắn bó được với nhau, đa phần đều ở tuổi thiếu thời. Vì sao? Vì ở tuổi đó, người ta vô tư, trong sáng và đặc biệt, không biết vụ lợi. Thời đó, chúng ta đến với nhau bằng tấm lòng chân thành. Sự chân thành là đáng yêu và đáng quý nhất.
Vậy trong một thế giới phẳng, (trong trường hợp này, ý tôi là mọi người đều khôn như nhau) liệu chúng ta có thể là bạn của những người giỏi nhất, nếu chúng ta không chân thành? Lịch sử đã chứng minh rồi đấy, “bạn bốn tốt” của chúng ta như thế nào, hay ho gì mà sao ta cứ bám lấy. Đọc lại hai câu đã dẫn ở trên, thấy đúng quá. Đã chơi với anh Tàu thì khó chơi được với người khác lắm, thế giới đã dần sáng tỏ về anh bạn này.
Lý ra, Việt Nam ta, phải là người đầu tiên nêu cảnh báo cho thế giới, chẳng gì lịch sử Việt Nam, cũng đã hơn chục lần kháng chiến chống Tàu đó thôi, chẳng gì anh bạn này cũng đã chơi xỏ ta ít nhất 5 lần (thiếu tướng Lê Văn Cương: Việt Nam bị TQ bán đứng 5 lần), chứ đâu phải để thế giới người ta đã tổng kết, viết xong, in thành sách, đã truyền tay nhau đọc: “Chết bởi Trung Quốc”, ta mới ngã ngửa ra.
Vậy nhưng, tới tận lúc này, là người Việt, vẫn như cảm thấy mối lo, ta vẫn còn mò mẫm, vẫn thập thò, chưa dám tỏ thái độ rõ ràng. Điều gì đã khiến lãnh đạo đất nước này bị ràng buộc như thế?
Xem ra, muốn có bạn tốt, chỉ có thể bằng tấm lòng chân thành và tinh thần ham học hỏi. Muốn có bạn giỏi, càng phải chân thành hơn. Thái độ cầu thị chân thành ta sẽ thu phục được lòng người. Con người sinh ra, vốn sẵn lòng nhân ái. Hãy đứng lên để người ta nể phục chứ đừng để người ta thương hại.
Nếu tôi là thủ tướng, tôi sẽ nói: “Việt Nam muốn là người bạn chân thành, người bạn tốt và đáng tin cậy của các bạn”.


Vinh Anh-25/9/2018

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Ngẫm về cái chết

Ngẫm về cái chết

Ở tuổi tôi, cái chết không còn xa, nên suy ngẫm về nó cũng là chuyện chẳng có gì ngạc nhiên hay sợ xui sẻo gì hết. Hai hôm nay, đi đâu, gặp ai cũng thấy nói về cái chết của ông chủ tịch nước. Cũng là chuyện thường tình vì ngay ở Liên hợp quốc xa xôi, người ta cũng có một phút mặc niệm ông cơ mà. Ồ, cái chuyện nghi lễ ngoại giao cũng chẳng có gì phải nói, người ta mặc niệm và người ta cũng quên ngay tên tuổi ông thôi, có chăng, họ chỉ nhớ hai tiếng Việt Nam. Cái đáng nói là cái chết đó có để lại gì cho đời? Để lại với cả hai nghĩa, tốt và xấu.
Cuộc đời tôi đã chứng kiến nhiều cái chết, có cái chết tức tưởi và vô lý vô cùng, đó là cái chết của Sáu, thằng lính cùng đơn vị, nó dính mìn vướng, mấy sợi giây nhỏ như sợi chỉ nối với quả bom bằng quả ổi, vướng vào nó. Mộ nó được chôn ngay trên đường 16B, đoạn đường nhánh của chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Trong một tháng chiến dịch đó, tôi rất nhiều lần đi qua mộ nó và mỗi lần lại thấy vô lý thêm, hà cớ gì mà mày lại nằm lại nơi đây, cô đơn, lạnh lẽo và rồi chẳng bao lâu nữa, sau một mùa mưa, cây rừng Trường Sơn sẽ phủ kín mộ mày. Liệu có ai nhớ và mang mày về quê? Ôi, thậm vô lý. Vô lý vì mày trẻ quá, vô lý vì mày chết. Cái chết của nó ám ảnh tôi suốt chiến dịch, có lẽ tôi chỉ quên khi đã chìm vào giấc ngủ.

Thời chiến tranh, tôi có hai kỷ niệm về bom đạn, khi biết bom đạn những lần đó chắc chắn sẽ mang theo một vài sinh mệnh. Một lần tôi đứng trên một quả đồi, nhìn pháo ta nã vào trận địa của đối phương, vị trí tôi đứng, rất thuận lợi cho quan sát. Sau vài phát bắn để hiệu chỉnh phần tử, hàng loạt vầng lửa nối tiếp nhau bùng lên, tạo thành một chuỗi dài vành đai lửa bao lấy trận địa đối phương. Chính lúc này tôi lại nghĩ đến những cái chết của những người không quen phía bên kia và con tim chùng lại, nao nao một chút. Nỗi niềm sự đời là đây. Lần khác, cũng ở trên đỉnh đồi, nơi đại tá Nguyễn Văn Thọ bị quân giải phóng bắt. Tiếng B-52 ầm ì như tiếng xay lúa và rầm rầm tiếng bom chát chúa vọng lại. Cùng lúc là những cột lửa bốc cao. Một khoảng rừng rộng bên dòng suối phía dưới kia, cách chỗ tôi đứng phải đến cả nghìn mét đường chim bay, ngập trong biển lửa. Tôi nhớ con suối đó, mới hôm nào rất gần thôi, tôi và đồng đội còn lội xuống rửa mặt, nấu ăn bằng dòng nước con suối đó. Chẳng hiểu loạt B-52 này có bao nhiêu đứa chết. Tôi lại bâng khuâng, nao nao, nếu loạt bom hôm nay, mình trong vùng bom đó thì sao? Chắc là chết! Ồ, cái chết đến nhanh và nhẹ nhàng thế sao? Cái đầu tiên tôi nghĩ đến là ai sẽ báo tin mình chết cho mẹ tôi. Ý nghĩ chỉ thoáng qua thôi và tôi lại nghĩ về cái chết của thằng Sáu, rồi cây rừng sẽ phủ quên, chỉ còn hồn nó lảng vảng với rừng.
Tôi có anh bạn vong niên cùng đơn vị, người cùng nhóm được giải thưởng Nhà nước cho giải pháp phá bom từ trường trong chiến tranh và anh ấy cũng được truy tặng “Danh hiệu anh hùng”. Anh ấy có hành động tuyệt vời, đứng bên hút bom, làm điểm tựa niềm tin cho đồng đội nhanh chóng vượt qua vùng nguy hiểm. Bom nổ, anh chết mất xác. Mộ anh được gia đình xây bên hố bom như một dấu ấn cho hành động của anh. Chúng tôi, bạn học của anh, sau hơn ba chục năm đến viếng hương hồn anh tại nơi anh hy sinh, thấy rõ sự bào mòn bạc bẽo của cả con người và thời gian. Chẳng có gì là tồn tại mãi cả. Và tôi nghĩ, cái chết nào rồi cũng sẽ bị ngấm bởi sự lãng quên. Rồi bụi thời gian sẽ phủ mờ, dù đó là cái chết “bất đắc kỳ tử” khiến lòng ta tức tưởi bởi sự vô lý hay là sự hy sinh thấm đẫm tính nhân văn lãng mạn anh hùng được ca ngợi một thời.
Về cái chết của vị nguyên thủ hôm nay, tôi cũng có đôi điều suy ngẫm.
Điều đầu tiên, hình như đó là sự thờ ơ mà không hẳn thờ ơ, bởi đấy là vị nguyên thủ. Chính thái độ “thờ ơ không hẳn thờ ơ” đó khiến tôi chẳng một chút cảm xúc, tôi đón nhận tin như một điều dĩ nhiên, cái chết hình như đã được xác định quá lâu và bây giờ nó đến như là một sự “phải nhẽ”. Cái “phải nhẽ” hàm ý cho sự hợp lý.
Tôi để ý đến bộ mặt vị sĩ quan công an này từ lâu. Nói xấu là điều không nên. Tôi nhận ra ông giống vị nguyên thủ bên nước Nga ở nụ cười. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận ra nụ cười thật sự nơi ông. Nghề nghiệp cho ông sự kín đáo, cái đó chẳng trách được. “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính”. Tôi thấy cái “lành lạnh” của nụ cười ở cả hai người.
Chúng ta có cái lẽ, thường không nói về những điều không hay của người đã khuất. Tôi cũng vậy. Bởi vậy bài này tôi sẽ đưa lên cộng đồng muộn hơn. Nhưng những ngày còn đang trong lễ tang này, tôi muốn nói về “cái nhẽ”.
“Cái nhẽ” với tôi là quyền chức càng cao, càng phải có trách nhiệm trước cộng đồng. Tôi đang nói về “quyền cao, chức trọng” của ông Quang. Ở vị thế đó, người ta có thể làm nhiều điều lợi cho dân và cũng có thể làm nhiều điều hại cho dân. Đó không còn  là “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính”. Đó là bản lĩnh nguyên thủ, đó là phép trị quốc.
Tôi nhớ lại về ông và vẫn nghe phảng phất đâu đây tiếng ai oán của hàng nghìn linh hồn người dân Tây Nguyên chết trong những năm 2000 đến 2004, cho cái gọi là Nhà nước “Ê-ga” ở Tây Nguyên. Viết lên con số người chết mà tôi rất đắn đo, liệu có chính xác? Nếu là con số đó thì quả là một sự dã man, khác gì Thiên An môn? Chúng ta chẳng từng lên án vụ Sơn Mỹ đó sao? Vụ Sơn Mỹ chỉ có 600 người chết mà còn vang vọng đến tận hôm nay. Tiếng vĩ cầm của người lính Mỹ năm nào cũng vang lên van xin, cầu khẩn, như một lời tạ lỗi với người dân Sơn Mỹ đó sao?
Còn gần đây, tôi muốn hỏi, vì lẽ gì mà những người dân xuống đường chống sự bành trướng và xâm lược của Trung Quốc, bị công an, dưới quyền ông, đàn áp? Tôi muốn hỏi hàng trăm cái chết của những công dân bị bắt lên đồn công an. Ông từng là chỉ huy của họ, ông phải biết và phải trả lời. Những cái chết này còn tức tưởi hơn trăm lần cái chết của thằng Sáu, lính đơn vị tôi ngày xưa, khi vô ý vướng chân vào “sợi chỉ.”
Ở cương vị phụ trách phần tư pháp, xây dựng pháp luật nước nhà, có bao giờ ông nghĩ công lý phải thuộc về phía người dân? Đã bao giờ ông thật sự nghĩ mình “thà chết bảo vệ công lý” và phải trừng trị những kẻ thủ ác gây ra tội lỗi là lẽ sống ở đời. Đó cũng là đòi hỏi của công lý. Không, ông chưa từng nghĩ đến những điều trên, ông vẫn khăng khăng giữ nguyên những việc làm của ông ở cả hai cương vị Bộ trưởng Công an và nguyên thủ quốc gia
Do những hạn chế về hệ tư tưởng và cách nhìn thiếu công minh, ông không hề muốn người dân được hưởng nền pháp lý văn minh và vì thế ông không ngăn được cái ác càng ngày càng nảy nở trong một xã hội càng ngày càng hỗn loạn. Nhiều người dân hôm nay phải sống trong sự tuyệt vọng của nền pháp lý độc tài, phải chịu nỗi oan mà thể chế độc tài sản sinh. Trong một xã hội khi cái ác quá nhiều thì cái thiện sẽ ít và người cầm chịch phải nhanh chóng rút ra bài học trị quốc. Nhưng ông không làm như vậy. Bằng chứng là dân chúng bị kiểm soát hà khắc hơn (luật An ninh mạng là một thí dụ), dân oan mỗi ngày mỗi nhiều hơn (biểu tình cả nghìn người là một thí dụ). Để xảy ra những hiện tượng đó, tên tuổi ông nằm ở trang sách đen tối của lịch sử nước nhà.
Nhìn cách dân chúng đón tiếp tổng thống Hoa kỳ, lẽ nào ông không thấy trạnh lòng. Đó là ý dân. Ông và đồng chí của ông vẫn nói “Ý dân là ý Trời” đó thôi và qua những hành vi cư xử của các ông với người dân, người dân chúng tôi hiểu đó chỉ là những lời giả dối.
Qua cách phản ứng của dân với cái chết của một nguyên thủ, những bạn bè đồng chí còn sống của ông, những người sẽ thay thế ông đảm nhận trọng trách, hãy nhìn tấm gương ông để học phép trị quốc.
Để “An dân” thật khó làm sao!

Vinh Anh-23/9/2018








Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

Sách Gạc Ma và thông tin

Sách Gạc Ma và thông tin

Sau những thập thò, câu nhử thu hồi rồi được phép, sáng nay (12/8) đọc tin trên mạng có vẻ như số phận đã được quyết, chính thức là thu hồi rồi, bởi cái tít rất hấp dẫn (“Chiến công” đầu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng) đập vào mắt. Tôi “vẫn không tin dù đó là sự thật”. Chẳng muốn tin tẹo nao vì thấy lại hụt hẫng thêm khi đang rất mong mỏi tình hình “cởi mở” của nước nhà.
Cuốn Gạc Ma có tội tình gì mà số kiếp nó lênh đênh bèo dạt như vậy? Tìm hiểu mãi, hóa ra chỉ có mỗi từ “TRƯỚC” làm số phận nó thành “ba chìm bảy nổi với chín cái long đong”. Cái chữ “trước” đó, chắc chắn không có tội với phe này thì sẽ có tội với phe khác. Qua nó, nghe được thêm thời tiết chính trị, phe ủng hộ có vẻ yếu thế, phe thân Tàu muốn bảo lưu bí mật cung đình có vẻ thắng thế. Cái bí mật này liên quan đến những người đang sống, từng nắm nhiều chức vụ quan trọng mà theo cách nói của Nhà nước ta, họ được nhân dân tin tưởng, gửi gắm…”

Trăm sự “rắc rối” là do ông Lanh còn sống sót trong cuộc chiến Gạc Ma gây ra. Ông lính 19 tuổi ngày đó, sau khi bị thương trên đảo, bị Tàu cộng bắt giam mấy năm, lúc được ra khỏi nhà tù của Tàu cộng, được đi trả lời phỏng vấn. Tôi nghĩ, chắc ông cũng chẳng hề nghĩ đến cái từ “trước” gây bão và bao nhiêu “rắc rối’ cho hôm nay. Cái từ đơn giản đó được gắn với hoàn cảnh Gạc Ma năm 1988, một ông binh bét nghe lệnh cấp trên chỉ huy cũng là “hạng bét” truyền lại và tôi cũng thuộc dân hạng bét suy ra thế này “lúc nào các ông bảo bắn là bắn, vậy thôi, trước sau cái gì. Giáp mặt kẻ thù mà còn “trước sau” rõ rách việc!”
 Nhưng bỗng nhiên cái từ đó trở thành một từ nhạy cảm, vì qua đó, nó thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến, giữ gìn đất đai của tổ tiên. Cũng có thể gỡ gạc cho các cấp chỉ huy ngồi trong bờ đưa ra các phương án tác chiến với quân Tàu, những “sẵn sàng, sẵn sàng nâng cao, sẵn sàng quyết chiến” gì đó. Tôi đồ rằng quân ta lại khen quân mình thôi, ngày đó, chẳng có phương án giữ đảo hay đánh quân Tàu nào cả. Vì thế cái từ “trước” đó nó thành nhạy cảm. Nhạy cảm đến nỗi bây giờ, bao nhiêu người ngày đó chức cao vọng trọng còn sống, không biết ăn nói làm sao cho phải đạo với dân nước Việt anh hùng. Nên cái im lặng đáng sợ cứ kéo dài mãi. Ông Lanh trả lời phóng viên báo chí từ lâu lắm rồi, có lẽ từ ngày chưa xuất hiện “tình yêu bốn tốt”. Ngày đó người ta giữ bí mật vì phần sợ, phần lo, phần coi thường dân đen, phần muốn bảo vệ danh dự, phần muốn che dấu cái sai, phần muốn củng cố “ngai vàng” nên thông tin không lọt ra, còn nếu đã lọt ra thì huy động “bộ máy chính trị” làm cho im, cho nhẹ đi, cho quên đi, cho chìm đi.
Khốn nỗi nước mình còn có ông tướng* làm lịch sử và dám trung thành với lịch sử (đây là suy nghĩ chủ quan của người viết), đã phát biểu cái chuyện liên quan đến từ “trước sau” này trong một buổi hội thảo ở viện Minh triết* (nghe tên viện rất oách). Chuyện ông tướng khẳng định cũng hao hao giống hồi ký của ông Bộ trưởng* đập bàn quát, hỏi “Ai ra lệnh?” ấy mà. Nhưng sốt dẻo hơn có lẽ là khẳng định của một ông chuyên gia kinh tế*, ngày đó làm thư ký giúp việc cho Tổng bí thư Linh, ngồi ngay đằng sau ông Linh, xác nhận chuyện ông Bộ trưởng nọ* hỏi “Ai ra lệnh?” là có thật. Cái hay của lịch sử về chuyện “trước sau” này là rất nhiều người còn sống, đang sống sờ sờ ra đó, nghĩa là còn nhiều nhân chứng lắm và muốn xác định “nó” thì dễ ợt ấy mà.
Vậy là từ đó, chuyện mới được lan truyền trên mạng xã hội. Đã lan trên mạng xã hội thì khó bịt lại lắm.. Mọi chuyện đã nói, đã viết, đã cho xuất bản, thì dù có cấm đoán, nó vẫn cứ tồn tại đâu đó trên các “đám mây”, lúc cần người ta lại kéo “đám mây” xuống để xem. Mây mưa là chuyện của trời, có mà cấm!
Nhưng mà sự việc ồn ĩ là sao? Ai muốn cái sự ồn ĩ đó? Tôi thì cho là chẳng có thế lực thù địch gì ở đây hết. Đây là cuộc đấu một bên là những người bảo vệ giang sơn Tổ quốc, một bên là những kẻ muốn bảo vệ cái mà mình đã có (cái đã có đó hơi lớn, cứ nhìn nhà tướng Kiền thì hình dung ra các tướng khác), đang được hưởng, lại hưởng lớn, hưởng nhiều. Mặt khác, nặng nề hơn, cuốn sách tuy chưa nói được cụ thể trách nhiệm thuộc về ai trong cái vụ “trước, sau” kia, nhưng nó lại gián tiếp lên án việc để mất đảo và nhắc cho dân tộc này phải luôn cảnh giác với anh bạn láng giềng nữa chứ. Vậy là nó gián tiếp quy trách nhiệm rồi còn gì. Những kẻ muốn cuốn sách không được lưu thông, đều có liên quan đến chuyện để mất đảo vào tay Trung Quốc, còn những anh hô hoán theo, như tướng Kiền, thực ra hồi 1988, có biết gì đâu.
Vậy nói cho nhanh, cấm lưu thông cuốn sách là vẫn giữ nguyên tư duy cũ, tư duy im lặng để thông tin trong bóng tối. Rất đúng với phương châm “Ai nắm được thông tin là người đó nắm quyền lực”. Người độc quyền nắm thông tin hiện nay là Nhà nước, chỉ Nhà nước độc tài mới lưu giữ thông tin kiểu bất chấp nhu cầu biết sự thật lịch sử của người dân như thế mà thôi.

Ghi chú (theo thứ tự)
*Tướng Lê Mã Lương
*Viện Minh triết do cụ Nguyễn Khắc Mai làm viện trưởng
*Hồi ký của Bộ trưởng Trần Quang Cơ
* Chuyên gia Lê Đăng Doanh
*Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch


Vinh Anh-14/9/2018

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

Con người trong nhìn nhận sự việc

 Con người trong nhìn nhận sự việc

Định chia sẻ bài của Ông Đỗ Trường qua fac. Trần Nhơn, nhưng bỗng thấy lý thú về câu đầu tiên trong bài viết của Đỗ Trường: Khi nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn giai phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái tên gọi mơ hồ: Xét Lại. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi rất nhiều công thần, và những nhà báo, văn nhân, một thời đã từng là bạn bè, đồng chí”  trong cách nhìn nhận con người và tác phẩm, nên viết cái này để “xả”.


1.Đọc Đỗ Trường để rồi bàn về Vũ Thư Hiên thì tôi ngại lắm, không dám, bởi ngay Đỗ Trường tôi cũng chỉ mới đọc ông qua fac. Vũ Thư Hiên, lại chính là bài ông viết về Vũ Thư Hiên. Còn Vũ Thư Hiên thì cũng chỉ biết ông nhờ “Đêm giữa ban ngày”. Kết bạn với ông trên fac. cũng là để đọc ông và cũng mong là để biết thêm một vài bí mật chốn thâm cung, mà ông có điều kiện biết hơn nhiều người. Nhưng quan trọng là biết thêm về cách nhìn và lý lẽ của ông với cuộc đời hôm nay. Cái đó tôi gọi là “cách nhìn của mỗi cá nhân vào cuộc sống”. Cách nhìn đó tùy chỗ đứng của con người trong xã hội, tùy sự thành đạt của họ, sẽ có cái nhìn khác nhau, thậm chí có thể đang là bạn lại trở thành đối địch với nhau. Cũng không ngoại trừ, khi ở cương vị thấp, lý của ông thế này, đến khi ở cương vị cao, lý của ông quay ngoắt. Cũng phải mở ngoặc ở đây một chút, ở mỗi cương vị, lượng thông tin đến với ông khác nhau. Khác nhau về lượng thông tin cũng tức là nắm bắt được sự thật cũng khác nhau. Người ta nói thông tin là quyền lực cũng vì lẽ đó. Nhưng ở ta, cái ảnh hưởng nhiều hơn khi giữ chức vụ cao là bổng lộc và quyền uy (quyền uy đã bao cả cái danh trong đó. “Danh” đối với người Việt lớn lắm, dù ối người biết đó là danh hão). Lý lẽ về cuộc sống và cách đánh giá con người của Vũ Thư Hiên trong “Đêm giữa ban ngày” nhiều vẻ lắm, phức tạp lắm, nhưng đã hết các vẻ xảy ra ở cuộc đời chưa? Chắc là chưa. Các nhân vật của Vũ Thư Hiên dù đó là bậc lãnh tụ hay kẻ ăn cơm tù, với cách dắt dẫn của ông, đều có những điều khiến ta muốn đặt câu hỏi: Đó có phải là sự thật hay là ông vẽ vời thêm, hư cấu văn học thêm. Quan trọng hơn cho cách đánh giá sự vô tư của thông tin (ở đây là tác phẩm Đêm giữa ban ngày), liệu ông có mang nỗi hận thù vào đây?
Tôi rất thích hình ảnh “Nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy”. Còn tôi nghĩ, chẳng cứ văn học đâu, cái quái gì cũng chia đôi hết. Chia đôi tức là chia phe đấy. “Nó” thế này thì “ta” phải thế kia, ta không thể giống “nó” vì “nó” là thế lực xấu xa còn “ta” sáng ngời chính nghĩa. Suy nghĩ như thế đã ngấm vào vô khối thế hệ trong bảy chục năm qua, ai có ghế ngồi càng vững càng “ngấm”. Và cái chia đôi đó còn mãi cho đến hôm nay, lưu cữu trong đầu vô khối người Việt.
Chẳng hiểu sao, cái bảo thủ, cái trì trệ cũ kỹ nó ăn sâu thế. Ngẫm mãi để tìm thủ phạm. Ở đây, có ai dám gọi đích danh thủ phạm ra chưa? Có rồi, nhưng rồi tiếng nói đó cứ lặng lẽ chìm vào sâu thẳm, để rồi khi hồi tưởng, lại gặp vô số những lời nuối tiếc được dành cho kẻ “bạc phận”. Thì đấy, đời Trần Độ, đời Trần Xuân Bách… chẳng gọi là bạc phận ư? Ai hiểu biết cũng thấy, người có chức có quyền cũng thấy, nhưng sao lại im lặng để “mặc mẹ nó”(thực ra là hèn), cứ để cho nó chìm, (vì biết làm sao(!) bây giờ). Rồi cất tiếng, thời buổi nó thế, phải “thông cảm”. Cái sự vô cảm hay cái hèn con người Việt hôm nay hình thành từ những sự “thông cảm hẹp hòi” là thế. Hỏi trên đời, có ai dám giữa đường thấy sự bất bình, phải có trách nhiệm ra tay cứu giúp kẻ yếu thế không?
Lại nhớ “Đêm giữa ban ngày”. Vũ Thư Hiên có kể về chuyện gặp Nguyên Hồng khi gia đình đang có chuyện. Nguyên Hồng đang từ bên này đường chuyển hướng đột ngột sang bên kia đường để tránh mặt Vũ Thư Hiên. Buột cười, ở xứ này quá nhiều Nguyên Hồng. Cái đó là gì? Là hèn chứ còn là gì nữa! Ngoài cái hèn còn cái gì khác, khiến con người ta hèn mọn như thế? Chắc còn chứ, nhưng tôi nghĩ mãi và tôi cho cái đó lại chính là sự hèn nhát cộng sản. Thật quá phản động! Người cộng sản anh dũng, kiên cường với kẻ thù bao nhiêu thì lại hèn kém, yếu đuối trước đồng chí của mình bấy nhiêu. Ồ, sao lại thế? Sự thống nhất và đoàn kết yêu thương lẽ nào như vậy. Không, đây chính là điểm cốt tử: các đồng chí cộng sản thời nay không thật lòng trong đối xử với nhau. Những cuộc kiểm điểm, phê phán nếu nhẹ thì nó hời hợt, làm cho phải lẽ, đúng yêu cầu của trên, nếu nặng thì sẽ biến thành những cuộc đấu tố. Sau kiểm điểm là một sự trơn trụi, nhạt nhẽo và luôn có những vấn đề, những con người cần phải đề phòng. Cuộc sống với những nơm nớp lo âu, bất an như vậy tất nhiên chẳng thoải mái chút nào. Chúng có thể tạo ra không khí thân mật, đoàn kết, thông cảm đấy nhưng hãy đề phòng có thể ở đó hàm chứa đầy sự giả dối.
 Trong “Đêm giữa ban ngày” còn nói về cụ Nguyễn Lương Bằng. Cụ Bằng thì quá lớn rồi còn gì. Vậy mà dù đã ăn mòn đũa bát ở nhà cụ Vũ Đình Huỳnh thời cách mạng còn nằm trong nôi, khi ông Huỳnh bị bắt, bà Huỳnh nhờ cậy, cụ Bằng có dám thưa thốt câu nào đâu. Cái này cho ta thấy sự bạc bẽo, bạc bẽo cộng sản, khi chẳng may trong cuộc đời, gặp phải gian nguy, hoạn nạn. Tương tự như cụ Bằng, cụ Hồ cũng vậy. Cụ Hồ thì phải sợ ai (!) nhưng vì cái gì mà cụ lại không nói một tiếng? Để rồi sau đó, cụ ở thế nhẫn nhục, khiến cách dư luận hôm nay hiểu là cụ chỉ “ngồi chơi xơi nước”. Ta cũng có thể dẫn giải thêm thí dụ về nhiều con người khác nữa.
Cuộc đời luôn có thể gặp bất trắc, chuyện gì với con người cũng có thể xảy ra. Cách đối xử (xử lý) của con người với sự việc xảy ra chắc cũng không thể một nhát cưa đúc đục suốt được mà nó phức tạp lắm và rất khó. Cái sự vòng vèo của tư tưởng con người cũng căn cứ vào sự vòng vèo của cuộc sống mà người đó gặp trên đường đi. Trên đời, chẳng có con đường nào mãi bằng phẳng.

2.Đất Việt không có con người nhìn xa trông rộng. Hãy nhìn sang nước Mỹ đi và thấy họ đối xử với nhau quân tử và đàng hoàng biết bao để xem lại bản thân, dẫu rằng đến hôm nay, hơn hai thế kỷ đã trôi, trôi rồi, nhưng nếu làm vẫn còn hơn không. Quả thật, càng thấy họ quân tử, thì càng thấy ta hèn, ta tiểu nhân. Ngượng ngùng và bẽ bàng quá! Đấy là tôi đang muốn nói về cách giải quyết, hậu họa của cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ, thời ông Lin-côn làm tổng thống ấy. Ngày đó lâu lắm rồi nên tất cả mọi chuyện chẳng liên quan gì đến bây giờ, tôi ca ngợi cách xử sự của họ, đề cao họ và tôi biết, tôi chẳng thuộc “thế lực thù địch” nào hết.
Có thể dẫn thêm, tôi đưa lại ý kiến chưa chính thống về sự kiện tướng Dương Văn Minh đầu hàng Quân Giải phóng hồi 4/1975. Có phải ông Minh vì không muốn kéo dài chiến tranh và chết chóc vô lý nữa, nên có sự kiện đầu hàng của ông? Sự kiện đó cứu được vô số sinh mạng và cứu được Sài Gòn khỏi biến thành Bá Linh đổ nát năm 1945? Những điều đó, để tôn trọng tầm nhìn xa của một con người, cách ứng xử với con người được gọi là nhân dân, thể hiện sự tôn trọng lịch sử, chúng ta cần minh bạch.
Nhưng buồn hơn, một thời gian quá dài, dài đến tận hôm nay, chúng ta cứ lấn cấn đi tìm hết thế lực thù địch này đến thế lực thù địch khác ngay trong lòng cộng đồng người Việt chúng ta. Tôi tự hỏi, lẽ nào người Việt không biết cách xóa bỏ quá khứ đau thương làm tổn hại dân tộc bởi mối hận chia cắt đất nước và sự thắng thua năm 1975, vẫn mãi lởn vởn trong đầu người Việt. Tại sao kẻ thù truyền kiếp, hại dân lù lù ngay trước mặt đấy, cứ “nhất quyết” không tìm, lại đi tìm đâu đó trong nội bộ nhân dân. Thử hỏi xem, ai muốn đất nước này chia tán, không ngóc đầu lên được và ai hưởng lợi khi bày đặt nỗi nghi ngờ này vào chính những người  dân nghèo chịu thiệt hại, những người phải tự đứng lên đòi sự minh bạch, đòi quyền lợi của mình. Thiết tưởng câu trả lời chẳng cần phải trình độ cao siêu gì hết, đa phần người dân đã nhìn thấy, lẽ nào các vị lãnh đạo, những người luôn tự cho mình thông minh, giỏi giang hơn thiên hạ, không biết.
Xin đừng lầm tưởng và đừng mơ hồ nữa, kẻ thù chúng ta ở ngay bên kia biên giới phía bắc mà thôi. Họ đã từ lâu, âm mưu phá chúng ta không chừa một thủ đoạn nào. Hãy nhớ lại và nhìn cây cầu Thăng Long qua sông Hồng, tòa nhà Bưu điện Bờ Hồ, tọa giữa trung tâm Hà Nội, khiến ta nhớ ngay đến sóng gió của “tình hữu nghị Việt Trung”. Và hôm nay, dự án hệ thống đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông vẫn nằm chình ình lù lù ra đó. Một công trình vượt vốn gần gấp đôi, mà từ ông bí thư thành ủy đến ông thủ tướng phải lặn lội sang Tàu, cất tiếng “xin xỏ” nhưng họ đều chẳng kiêng nể gì hết. Tiền của họ, họ cho xong lúc nào thì xong. Biết bao bài học rồi mà sao chúng ta vẫn im, chúng ta cứ trằn mình chịu mọi tổn thất do tình hữu nghị “bốn tốt” gây ra? Lại nhớ câu nói của Nã-phá-luân: “Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà là vì sự im lặng của những người tốt”. Tại sao người tốt lại im? Sao mà số người im lặng nhiều thế?
Có thật là người tốt im lặng không? Lại phải đặt câu hỏi: Đã là người tốt thì sao lại im lặng trước những bất công. Không, như vậy không thể gọi là tốt được nữa. Thậm chí nếu đồng lõa, họ còn là kẻ xấu. Nhiều khi không thể rạch ròi im lặng là đồng lõa, nhưng, đời luôn có cái nhưng, gặp điều xấu mà không dám lên tiếng thì cũng không thể là tốt. Vậy thì hôm nay, dân Việt ta đa số đều im lặng trước những bất công, dối trá… thế thì dân Việt có còn là một dân tộc tốt nữa không? Nếu ngay cả với đồng bào mình, thấy họ chịu đau khổ, bị áp bức, bị cùng cực mà không dám bênh vực, thì với “người dưng” ngoài thế gian, liệu có dám mở miệng bênh vực? Câu trả lời không thể là người dân xứ Việt hiện nay không tốt. Có câu “ Muốn biết một dân tộc có hèn nhát hay không, hãy nhìn Chính phủ của họ”. Vậy thì với điều dẫn dụ đó, dân Việt chính là một dân tộc hèn nhát.
Vẫn biết trong số những kẻ im lặng kia, biết bao nhiêu người còn đang phải vục mặt cho cuộc mưu sinh, cái họ quan tâm nhất vẫn là miếng cơm manh áo. Đất nước yêu quý của ta còn rất nhiều những con người như vậy. Vậy nên, con người đáng phê phán ở đây chính là con người có hiểu biết nhưng lại im lặng trước các vấn đề bức bách của xã hội. Thương thay, những kẻ hiểu biết im lặng đó lại đang chịu sự “đàn áp mềm”, đang chịu đàn áp bằng “bạo lực hòa bình”. Điều này mấy ai nhận ra?
Nhưng có mấy người hiểu biết mà dám phê phán cái xấu? Thực ra, người bình thường nào cũng hiểu, dám bênh vực kẻ yếu thế, phê phán cái xấu là đức tính của kẻ trượng phu, là danh dự và niềm kiêu hãnh của con người, là Lục Vân Tiên thời hiện đại. Còn nếu im lặng chịu nhục trước những hành vi xấu xa, không thể là kẻ biết trọng danh dự và càng không thể là đấng trượng phu. Với những người này, chỉ một bước lệch nữa thôi, họ sẽ thành kẻ phản bội, biến thành kẻ ác, kẻ xấu. Vâng, việc họ biến thành người xấu trong trường hợp này dễ hơn thành kẻ trượng phu nhiều.
Viết như vậy là tôi muốn nói đến sự cao thượng trong mỗi con người. Con người ai cũng trọng danh dự. Danh dự và tình thương (lòng nhân nghĩa hay tính nhân văn) cũng như sự cao thượng của con người sẽ dần mất đi một khi nó không được chăm lo, vun xới. Hãy chấm dứt những lời sáo rỗng và giả dối. Xã hội ta đang phải sống trong muôn vàn điều dối trá, lịch sử đã luôn bị uốn theo ý chí của nhà cầm quyền, phải trái trắng đen luôn ở trong tình trạng mập mờ, mơ hồ. Nói như vậy để có thể lý giải sự tha hóa của một con người, nhiều con người và rồi sẽ là cả một dân tộc. Cộng thêm, nếu cứ giải quyết sự việc một cách bất công, bất cần đạo lý, chúng ta sẽ đào tạo ra lũ sát nhân.

3. Ngoài ra, cách đối xử của con người với con người, rất cần một thái độ ứng xử nhân văn với chiều sâu văn hóa. Nhưng những sự việc xảy ra trong giai đoạn qua, ta thấy cách cư xử mang đậm dấu ấn của cái “tinh thần vô sản”. Dấu ấn đó, có điều gì đó không phải là cách cử xử của con người có giáo dục, không thật mang tính “nhân sinh tính bản thiện” của con người. Cách đối xử với đồng bào, đồng loại, đồng chí đó chỉ tạo ra hố sâu ngăn cách, gợi thêm hận thù, tạo ra hận thù mới, không thể rửa sạch những thâm thù cũ đã đẫm nhiều máu. Chuyện bắt cải tạo tư bản, bắt cả chục ngàn người “bên bại trận” đi cải tạo tư tưởng và cầm tù, dẫn đến tình trạng vượt biên những năm sau 1975 là một điểm nhấn của thời kỳ đen tối, in trong lịch sử nước nhà.
Đấy chính là hình ảnh thể hiện một đất nước thiếu những kẻ có văn hóa và tầm nhìn xa!
Nhưng thật ra, theo tôi, nỗi đau lớn nhất của dân tộc này là lòng thù hận cứ theo mãi cuộc đời mỗi chúng ta và nếu nói rộng ra, nó cứ đằng đẵng theo suốt dòng chảy dân tộc Việt. Tôi muốn nói đến mối hận thù rất “vô duyên” với kẻ thù trong tưởng tượng mà chẳng ai muốn, luôn được “nuôi dưỡng” và cổ súy trong tâm hồn dân Việt ta. Mối hận thù giai cấp được tồn tại cứ như lẽ đương nhiên song hành cùng với cuộc sống hàng ngày và tôi nhận ra, đó là mối hận của cường quyền, của chế độ, của sự trì trệ tiểu nông, thiếu tầm nhìn phóng khoáng, cởi mở, thiếu hẳn vốn hiểu biết có văn hóa của một con người.
Rồi tôi nhận ra sự vô lý. Rất vô lý là chúng ta, người Việt không nói chuyện được với người Việt mà còn tự gây thù chuốc oán cho nhau. Chúng ta thiếu đạo lý làm người, thiếu lý lẽ phân tích để hiểu nỗi đau cuộc đời, thiếu điều kiện học hành để trở thành một người lương thiện. Chúng ta đi cóp nhặt những thứ không thuộc về chúng ta làm cái của chúng ta. Dường như người Việt cam chịu và chấp nhận những bất công xảy ra trong cuộc đời mình, nỗi bất công rơi vào ai, kẻ đó phải chịu. Ý thức đùm bọc, chia sẻ đã kém đi rất nhiều, khi khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng.
Cách đối nhân xử thế của người Việt ở đâu đó (cho dù là ở cấp cao xa vời hay với thường dân dốt nát) vẫn thấy tính chất mông muội, mang theo cách xử lý vấn đề nặng nề với bộ óc của thể chế quân chủ, vua tôi, phong kiến. Ta nhận ra nó trong nhiều bản án, mà kết quả của nó là phụ thuộc ý chí một vài cá nhân, mang nặng ý thức của kẻ độc tài, thiếu hẳn tính người và tính tôn nghiêm của pháp luật, lẽ công bằng cho mọi công dân, mà có tổ chức quốc tế đã gọi các phiên tòa đó là những phiên tòa nhạo báng công lý. Dẫn đến kết cục, kẻ yếu thế vẫn luôn là kẻ chịu thiệt thòi.
Đánh giá con người vào trong từng sự việc cụ thể không khó lắm. Nắm bắt được suy nghĩ và tư tưởng người ta trong dòng đời biến đổi do tác động của cuộc sống bên ngoài, mới là điều khó. Ngay cả khi được cùng sống một thời gian dài bên nhau, tưởng như đã hiểu nhau lắm, mà rồi vẫn có thể mỗi người một hướng. Trong bối cảnh đất nước những ngày này, tôi đã chứng kiến và biết một số người như vậy. Con người luôn có những cách nhìn khác nhau về cùng một sự việc. Điều này rất đúng như một ông thủ tướng của một nước tư bản đã nói: “Nếu hai người giống nhau về tư tưởng thì thừa một người”. Vậy nên, sự đa dạng của cuộc sống đòi hỏi con người phải được tự do trong suy nghĩ, được tiếp cận sự thật thì mới có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng được. Đừng thống nhất trong giả dối nữa.

Vinh Anh

2-9/9/2018