Con người trong nhìn nhận sự việc
Định chia sẻ bài của
Ông Đỗ Trường qua fac. Trần Nhơn, nhưng bỗng thấy lý thú về câu đầu tiên trong
bài viết của Đỗ Trường: “Khi nhát dao chém ngang
hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai
thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn giai
phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái
tên gọi mơ hồ: Xét Lại. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi rất nhiều công thần,
và những nhà báo, văn nhân, một thời đã từng là bạn bè, đồng chí” trong cách nhìn nhận
con người và tác phẩm, nên viết cái này để “xả”.
1.Đọc Đỗ Trường để rồi bàn về Vũ Thư Hiên thì tôi ngại
lắm, không dám, bởi ngay Đỗ Trường tôi cũng chỉ mới đọc ông qua fac. Vũ Thư
Hiên, lại chính là bài ông viết về Vũ Thư Hiên. Còn Vũ Thư Hiên thì cũng chỉ biết
ông nhờ “Đêm giữa ban ngày”. Kết bạn với ông trên fac. cũng là để đọc ông và cũng
mong là để biết thêm một vài bí mật chốn thâm cung, mà ông có điều kiện biết
hơn nhiều người. Nhưng quan trọng là biết thêm về cách nhìn và lý lẽ của ông với
cuộc đời hôm nay. Cái đó tôi gọi là “cách nhìn của mỗi cá nhân vào cuộc sống”. Cách
nhìn đó tùy chỗ đứng của con người trong xã hội, tùy sự thành đạt của họ, sẽ có
cái nhìn khác nhau, thậm chí có thể đang là bạn lại trở thành đối địch với
nhau. Cũng không ngoại trừ, khi ở cương vị thấp, lý của ông thế này, đến khi ở
cương vị cao, lý của ông quay ngoắt. Cũng phải mở ngoặc ở đây một chút, ở mỗi
cương vị, lượng thông tin đến với ông khác nhau. Khác nhau về lượng thông tin
cũng tức là nắm bắt được sự thật cũng khác nhau. Người ta nói thông tin là quyền
lực cũng vì lẽ đó. Nhưng ở ta, cái ảnh hưởng nhiều hơn khi giữ chức vụ cao là bổng
lộc và quyền uy (quyền uy đã bao cả cái danh trong đó. “Danh” đối với người Việt
lớn lắm, dù ối người biết đó là danh hão). Lý lẽ về cuộc sống và cách đánh giá
con người của Vũ Thư Hiên trong “Đêm giữa ban ngày” nhiều vẻ lắm, phức tạp lắm,
nhưng đã hết các vẻ xảy ra ở cuộc đời chưa? Chắc là chưa. Các nhân vật của Vũ
Thư Hiên dù đó là bậc lãnh tụ hay kẻ ăn cơm tù, với cách dắt dẫn của ông, đều
có những điều khiến ta muốn đặt câu hỏi: Đó có phải là sự thật hay là ông vẽ vời
thêm, hư cấu văn học thêm. Quan trọng hơn cho cách đánh giá sự vô tư của thông
tin (ở đây là tác phẩm Đêm giữa ban ngày), liệu ông có mang nỗi hận thù vào đây?
Tôi rất thích hình ảnh “Nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng
chảy”. Còn tôi nghĩ, chẳng cứ văn học đâu, cái quái gì cũng chia đôi hết.
Chia đôi tức là chia phe đấy. “Nó” thế này thì “ta” phải thế kia, ta không thể
giống “nó” vì “nó” là thế lực xấu xa còn “ta” sáng ngời chính nghĩa. Suy nghĩ
như thế đã ngấm vào vô khối thế hệ trong bảy chục năm qua, ai có ghế ngồi càng
vững càng “ngấm”. Và cái chia đôi đó còn mãi cho đến hôm nay, lưu cữu trong đầu
vô khối người Việt.
Chẳng hiểu sao, cái bảo thủ, cái trì trệ cũ kỹ nó ăn
sâu thế. Ngẫm mãi để tìm thủ phạm. Ở đây, có ai dám gọi đích danh thủ phạm ra
chưa? Có rồi, nhưng rồi tiếng nói đó cứ lặng lẽ chìm vào sâu thẳm, để rồi khi hồi
tưởng, lại gặp vô số những lời nuối tiếc được dành cho kẻ “bạc phận”. Thì đấy,
đời Trần Độ, đời Trần Xuân Bách… chẳng gọi là bạc phận ư? Ai hiểu biết cũng thấy,
người có chức có quyền cũng thấy, nhưng sao lại im lặng để “mặc mẹ nó”(thực ra
là hèn), cứ để cho nó chìm, (vì biết làm sao(!) bây giờ). Rồi cất tiếng, thời
buổi nó thế, phải “thông cảm”. Cái sự vô cảm hay cái hèn con người Việt hôm nay
hình thành từ những sự “thông cảm hẹp hòi” là thế. Hỏi trên đời, có ai dám giữa
đường thấy sự bất bình, phải có trách nhiệm ra tay cứu giúp kẻ yếu thế không?
Lại nhớ “Đêm giữa ban ngày”. Vũ Thư Hiên có kể về
chuyện gặp Nguyên Hồng khi gia đình đang có chuyện. Nguyên Hồng đang từ bên này
đường chuyển hướng đột ngột sang bên kia đường để tránh mặt Vũ Thư Hiên. Buột
cười, ở xứ này quá nhiều Nguyên Hồng. Cái đó là gì? Là hèn chứ còn là gì nữa! Ngoài
cái hèn còn cái gì khác, khiến con người ta hèn mọn như thế? Chắc còn chứ,
nhưng tôi nghĩ mãi và tôi cho cái đó lại chính là sự hèn nhát cộng sản. Thật
quá phản động! Người cộng sản anh dũng, kiên cường với kẻ thù bao nhiêu thì lại
hèn kém, yếu đuối trước đồng chí của mình bấy nhiêu. Ồ, sao lại thế? Sự thống
nhất và đoàn kết yêu thương lẽ nào như vậy. Không, đây chính là điểm cốt tử:
các đồng chí cộng sản thời nay không thật lòng trong đối xử với nhau. Những cuộc
kiểm điểm, phê phán nếu nhẹ thì nó hời hợt, làm cho phải lẽ, đúng yêu cầu của
trên, nếu nặng thì sẽ biến thành những cuộc đấu tố. Sau kiểm điểm là một sự
trơn trụi, nhạt nhẽo và luôn có những vấn đề, những con người cần phải đề phòng.
Cuộc sống với những nơm nớp lo âu, bất an như vậy tất nhiên chẳng thoải mái
chút nào. Chúng có thể tạo ra không khí thân mật, đoàn kết, thông cảm đấy nhưng
hãy đề phòng có thể ở đó hàm chứa đầy sự giả dối.
Trong “Đêm giữa
ban ngày” còn nói về cụ Nguyễn Lương Bằng. Cụ Bằng thì quá lớn rồi còn gì. Vậy
mà dù đã ăn mòn đũa bát ở nhà cụ Vũ Đình Huỳnh thời cách mạng còn nằm trong
nôi, khi ông Huỳnh bị bắt, bà Huỳnh nhờ cậy, cụ Bằng có dám thưa thốt câu nào
đâu. Cái này cho ta thấy sự bạc bẽo, bạc bẽo cộng sản, khi chẳng may trong cuộc
đời, gặp phải gian nguy, hoạn nạn. Tương tự như cụ Bằng, cụ Hồ cũng vậy. Cụ Hồ
thì phải sợ ai (!) nhưng vì cái gì mà cụ lại không nói một tiếng? Để rồi sau
đó, cụ ở thế nhẫn nhục, khiến cách dư luận hôm nay hiểu là cụ chỉ “ngồi chơi
xơi nước”. Ta cũng có thể dẫn giải thêm thí dụ về nhiều con người khác nữa.
Cuộc đời luôn có thể gặp bất trắc, chuyện gì với con
người cũng có thể xảy ra. Cách đối xử (xử lý) của con người với sự việc xảy ra chắc
cũng không thể một nhát cưa đúc đục suốt được mà nó phức tạp lắm và rất khó.
Cái sự vòng vèo của tư tưởng con người cũng căn cứ vào sự vòng vèo của cuộc sống
mà người đó gặp trên đường đi. Trên đời, chẳng có con đường nào mãi bằng phẳng.
2.Đất Việt không có con người nhìn xa trông rộng. Hãy
nhìn sang nước Mỹ đi và thấy họ đối xử với nhau quân tử và đàng hoàng biết bao
để xem lại bản thân, dẫu rằng đến hôm nay, hơn hai thế kỷ đã trôi, trôi rồi,
nhưng nếu làm vẫn còn hơn không. Quả thật, càng thấy họ quân tử, thì càng thấy
ta hèn, ta tiểu nhân. Ngượng ngùng và bẽ bàng quá! Đấy là tôi đang muốn nói về cách
giải quyết, hậu họa của cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ, thời ông Lin-côn làm tổng
thống ấy. Ngày đó lâu lắm rồi nên tất cả mọi chuyện chẳng liên quan gì đến bây
giờ, tôi ca ngợi cách xử sự của họ, đề cao họ và tôi biết, tôi chẳng thuộc “thế
lực thù địch” nào hết.
Có thể
dẫn thêm, tôi đưa lại ý kiến chưa chính thống về sự kiện tướng Dương Văn Minh đầu
hàng Quân Giải phóng hồi 4/1975. Có phải ông Minh vì không muốn kéo dài chiến
tranh và chết chóc vô lý nữa, nên có sự kiện đầu hàng của ông? Sự kiện đó cứu
được vô số sinh mạng và cứu được Sài Gòn khỏi biến thành Bá Linh đổ nát năm
1945? Những điều đó, để tôn trọng tầm nhìn xa của một con người, cách ứng xử với
con người được gọi là nhân dân, thể hiện sự tôn trọng lịch sử, chúng ta cần
minh bạch.
Nhưng buồn hơn, một thời gian quá dài, dài đến
tận hôm nay, chúng ta cứ lấn cấn đi tìm hết thế lực thù địch này đến thế lực
thù địch khác ngay trong lòng cộng đồng người Việt chúng ta. Tôi tự hỏi, lẽ nào
người Việt không biết cách xóa bỏ quá khứ đau thương làm tổn hại dân tộc bởi mối
hận chia cắt đất nước và sự thắng thua năm 1975, vẫn mãi lởn vởn trong đầu người
Việt. Tại sao kẻ thù truyền kiếp, hại dân lù lù ngay trước mặt đấy, cứ “nhất
quyết” không tìm, lại đi tìm đâu đó trong nội bộ nhân dân. Thử hỏi xem, ai muốn
đất nước này chia tán, không ngóc đầu lên được và ai hưởng lợi khi bày đặt nỗi
nghi ngờ này vào chính những người dân nghèo
chịu thiệt hại, những người phải tự đứng lên đòi sự minh bạch, đòi quyền lợi của
mình. Thiết tưởng câu trả lời chẳng cần phải trình độ cao siêu gì hết, đa phần
người dân đã nhìn thấy, lẽ nào các vị lãnh đạo, những người luôn tự cho mình
thông minh, giỏi giang hơn thiên hạ, không biết.
Xin đừng lầm tưởng và đừng mơ hồ nữa, kẻ thù
chúng ta ở ngay bên kia biên giới phía bắc mà thôi. Họ đã từ lâu, âm mưu phá
chúng ta không chừa một thủ đoạn nào. Hãy nhớ lại và nhìn cây cầu Thăng Long
qua sông Hồng, tòa nhà Bưu điện Bờ Hồ, tọa giữa trung tâm Hà Nội, khiến ta nhớ
ngay đến sóng gió của “tình hữu nghị Việt Trung”. Và hôm nay, dự án hệ thống đường
sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông vẫn nằm chình ình lù lù ra đó. Một công trình vượt
vốn gần gấp đôi, mà từ ông bí thư thành ủy đến ông thủ tướng phải lặn lội sang
Tàu, cất tiếng “xin xỏ” nhưng họ đều chẳng kiêng nể gì hết. Tiền của họ, họ cho
xong lúc nào thì xong. Biết bao bài học rồi mà sao chúng ta vẫn im, chúng ta cứ
trằn mình chịu mọi tổn thất do tình hữu nghị “bốn tốt” gây ra? Lại nhớ câu nói
của Nã-phá-luân: “Thế giới đã phải chịu tổn
thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà là vì sự im lặng của
những người tốt”. Tại sao người tốt lại im? Sao mà số người im lặng nhiều
thế?
Có thật là người tốt im lặng không? Lại phải
đặt câu hỏi: Đã là người tốt thì sao lại im lặng trước những bất công. Không,
như vậy không thể gọi là tốt được nữa. Thậm chí nếu đồng lõa, họ còn là kẻ xấu.
Nhiều khi không thể rạch ròi im lặng là đồng lõa, nhưng, đời luôn có cái nhưng,
gặp điều xấu mà không dám lên tiếng thì cũng không thể là tốt. Vậy thì hôm nay,
dân Việt ta đa số đều im lặng trước những bất công, dối trá… thế thì dân Việt
có còn là một dân tộc tốt nữa không? Nếu ngay cả với đồng bào mình, thấy họ chịu
đau khổ, bị áp bức, bị cùng cực mà không dám bênh vực, thì với “người dưng”
ngoài thế gian, liệu có dám mở miệng bênh vực? Câu trả lời không thể là người
dân xứ Việt hiện nay không tốt. Có câu “
Muốn biết một dân tộc có hèn nhát hay không, hãy nhìn Chính phủ của họ”. Vậy
thì với điều dẫn dụ đó, dân Việt chính là một dân tộc hèn nhát.
Vẫn biết trong số những kẻ im lặng kia, biết
bao nhiêu người còn đang phải vục mặt cho cuộc mưu sinh, cái họ quan tâm nhất vẫn
là miếng cơm manh áo. Đất nước yêu quý của ta còn rất nhiều những con người như
vậy. Vậy nên, con người đáng phê phán ở đây chính là con người có hiểu biết
nhưng lại im lặng trước các vấn đề bức bách của xã hội. Thương thay, những kẻ
hiểu biết im lặng đó lại đang chịu sự “đàn áp mềm”, đang chịu đàn áp bằng “bạo
lực hòa bình”. Điều này mấy ai nhận ra?
Nhưng
có mấy người hiểu biết mà dám phê phán cái xấu? Thực ra, người bình thường nào
cũng hiểu, dám bênh vực kẻ yếu thế, phê phán cái xấu là đức tính của kẻ trượng
phu, là danh dự và niềm kiêu hãnh của con người, là Lục Vân Tiên thời hiện đại.
Còn nếu im lặng chịu nhục trước những hành vi xấu xa, không thể là kẻ biết trọng
danh dự và càng không thể là đấng trượng phu. Với những người này, chỉ một bước
lệch nữa thôi, họ sẽ thành kẻ phản bội, biến thành kẻ ác, kẻ xấu. Vâng, việc họ
biến thành người xấu trong trường hợp này dễ hơn thành kẻ trượng phu nhiều.
Viết
như vậy là tôi muốn nói đến sự cao thượng trong mỗi con người. Con người ai cũng trọng danh dự. Danh dự và
tình thương (lòng nhân nghĩa hay tính nhân văn) cũng như sự cao thượng của con
người sẽ dần mất đi một khi nó không được chăm lo, vun xới. Hãy chấm dứt những
lời sáo rỗng và giả dối. Xã hội ta đang phải sống trong muôn vàn điều dối trá,
lịch sử đã luôn bị uốn theo ý chí của nhà cầm quyền, phải trái trắng đen luôn ở
trong tình trạng mập mờ, mơ hồ. Nói như vậy để có thể lý giải sự tha hóa của một
con người, nhiều con người và rồi sẽ là cả một dân tộc. Cộng thêm, nếu cứ giải
quyết sự việc một cách bất công, bất cần đạo lý, chúng ta sẽ đào tạo ra lũ sát
nhân.
3. Ngoài
ra, cách đối xử của con người với con người, rất cần một thái độ ứng xử nhân
văn với chiều sâu văn hóa. Nhưng những sự việc xảy ra trong giai đoạn qua, ta
thấy cách cư xử mang đậm dấu ấn của cái “tinh thần vô sản”. Dấu ấn đó, có điều
gì đó không phải là cách cử xử của con người có giáo dục, không thật mang tính
“nhân sinh tính bản thiện” của con người. Cách đối xử với đồng bào, đồng loại,
đồng chí đó chỉ tạo ra hố sâu ngăn cách, gợi thêm hận thù, tạo ra hận thù mới,
không thể rửa sạch những thâm thù cũ đã đẫm nhiều máu. Chuyện bắt cải tạo tư bản,
bắt cả chục ngàn người “bên bại trận” đi cải tạo tư tưởng và cầm tù, dẫn đến
tình trạng vượt biên những năm sau 1975 là một điểm nhấn của thời kỳ đen tối,
in trong lịch sử nước nhà.
Đấy
chính là hình ảnh thể hiện một đất nước thiếu những kẻ có văn hóa và tầm nhìn
xa!
Nhưng
thật ra, theo tôi, nỗi đau lớn nhất của dân tộc này là lòng thù hận cứ theo mãi
cuộc đời mỗi chúng ta và nếu nói rộng ra, nó cứ đằng đẵng theo suốt dòng chảy
dân tộc Việt. Tôi muốn nói đến mối hận thù rất “vô duyên” với kẻ thù trong tưởng
tượng mà chẳng ai muốn, luôn được “nuôi dưỡng” và cổ súy trong tâm hồn dân Việt
ta. Mối hận thù giai cấp được tồn tại cứ như lẽ đương nhiên song hành cùng với
cuộc sống hàng ngày và tôi nhận ra, đó là mối hận của cường quyền, của chế độ,
của sự trì trệ tiểu nông, thiếu tầm nhìn phóng khoáng, cởi mở, thiếu hẳn vốn hiểu
biết có văn hóa của một con người.
Rồi tôi
nhận ra sự vô lý. Rất vô lý là chúng ta, người Việt không nói chuyện được với
người Việt mà còn tự gây thù chuốc oán cho nhau. Chúng ta thiếu đạo lý làm người,
thiếu lý lẽ phân tích để hiểu nỗi đau cuộc đời, thiếu điều kiện học hành để trở
thành một người lương thiện. Chúng ta đi cóp nhặt những thứ không thuộc về
chúng ta làm cái của chúng ta. Dường như người Việt cam chịu và chấp nhận những
bất công xảy ra trong cuộc đời mình, nỗi bất công rơi vào ai, kẻ đó phải chịu.
Ý thức đùm bọc, chia sẻ đã kém đi rất nhiều, khi khoảng cách giàu nghèo ngày
càng tăng.
Cách đối
nhân xử thế của người Việt ở đâu đó (cho dù là ở cấp cao xa vời hay với thường
dân dốt nát) vẫn thấy tính chất mông muội, mang theo cách xử lý vấn đề nặng nề
với bộ óc của thể chế quân chủ, vua tôi, phong kiến. Ta nhận ra nó trong nhiều
bản án, mà kết quả của nó là phụ thuộc ý chí một vài cá nhân, mang nặng ý thức
của kẻ độc tài, thiếu hẳn tính người và tính tôn nghiêm của pháp luật, lẽ công
bằng cho mọi công dân, mà có tổ chức quốc tế đã gọi các phiên tòa đó là những
phiên tòa nhạo báng công lý.
Dẫn đến kết cục, kẻ yếu thế vẫn luôn là kẻ chịu thiệt thòi.
Đánh
giá con người vào trong từng sự việc cụ thể không khó lắm. Nắm bắt được suy
nghĩ và tư tưởng người ta trong dòng đời biến đổi do tác động của cuộc sống bên
ngoài, mới là điều khó. Ngay cả khi được cùng sống một thời gian dài bên nhau,
tưởng như đã hiểu nhau lắm, mà rồi vẫn có thể mỗi người một hướng. Trong bối cảnh
đất nước những ngày này, tôi đã chứng kiến và biết một số người như vậy. Con
người luôn có những cách nhìn khác nhau về cùng một sự việc. Điều này rất đúng
như một ông thủ tướng của một nước tư bản đã nói: “Nếu hai người giống nhau về tư tưởng thì thừa một người”. Vậy nên,
sự đa dạng của cuộc sống đòi hỏi con người phải được tự do trong suy nghĩ, được
tiếp cận sự thật thì mới có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng được. Đừng
thống nhất trong giả dối nữa.
Vinh
Anh
2-9/9/2018
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét