Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

Nõi buồn nhỏ lửa

 

Nỗi buồn nhỏ lửa 

 Tình già là tình cũ, tình xưa, lâu rồi. Nhiều chuyện chẳng còn nhớ, giờ thì biết bao chuyện chỉ láng máng như thoáng cánh lá vàng bay, bay là là và rồi lặng lẽ nằm im cùng vô số cánh vàng khác, để rồi, sẽ lặng lẽ tan vào đất. Tất cả vậy đấy, nhoáng một cái, tất cả đã là xa xưa, tất cả đã là kỷ niệm. Cái thời khắc đó, người ta đã biết, chỉ có điều người ta vẫn thế, một lúc nào đó, nhìn về đâu đó xa xăm hay ngoảnh lại, thấy là đã rất lâu, đã rất xa. Cái lâu đó, cái xa đó, đổ vào lòng ta những tiếc nuối, rót vào gan ruột ta những xót xa, nghẹn ngào. Ta âm thầm buồn, ta thương nhớ, ta bồi hồi gom góp tìm lại những mảnh ký ức. Vẫn có những nỗi buồn như thế trong đời người. 
Ông nắm tay bà, nắm chặt, kiểu đan ngón này ngón kia vào nhau. Đã là cuối thu, không, đã là đông. Mùa đông của những khô héo, rét buốt, co ro. Những cái đó cho ta nhận ra sự héo hắt, úa tàn. Một cảm giác tàn phai. Mọi sự đều có thể tàn phai. Kỷ niệm cũng có thể tàn phai, tàn phai đó thể hiện ở sự mờ nhạt kỷ niệm. Tình yêu cũng có thể tàn phai, tàn phai đó thể hiện ở sự mãnh liệt đã không còn. Không còn sự mãnh liệt nhưng còn lại âm vang và sâu lắng. Cái sâu lắng là thể hiện sự âm ỉ. Có âm ỉ mới đượm. Cái đượm là cái lâu bền, dai dẳng, theo suốt kiếp người. 
 Và họ nhớ. 
Con đường này là con đường tình yêu ngày đó. Dân Hà thành đặt cho nó cái tên mãi trẻ. Cũng có một cái tên khác, ngoằn ngoèo lịch sử hơn mà Thụ thích, Thụ thích những gì đó xa xôi của hoài niệm một thuở, như gió nhẹ man mác thổi qua. Cái tên nó liên quan đến đê đập sóng nước xôn xao vỗ vào bờ. Yêu nhau là phải dắt nhau lên đây, sát cánh bên nhau, tay đan xen tay, đón ánh trăng và nghe cây lá thì thào. Đến lúc cạn đường đi thì ta quay lại, đến lúc mỏi chân thì ta ngồi xuống, vai kề vai. Những ngọn gió thích đùa thổi tung mái tóc của em cho rối tung lên. Hương bồ kết thuần khiết có lẫn hương vị quê kiểng thoang thoảng. Con đường vẫn tấp nập xe qua lại nhưng mà ta chẳng nhìn thấy ai. Chỉ thấy phía trước là con đường đang chìm trong hạnh phúc. Con đường xưa chúng ta đi là thế. Con đường cũng chở đầy những nỗi nhớ và kỷ niệm. Cội nguồn hơn, con đường đó chứng kiến những nụ hôn ngập ngừng, dút dát, sợ hãi đầu tiên. 
Người thanh niên ấy dáng hạc, gầy gò, mặc bộ đồ lính nhưng bỏ áo ngoài quần, dép cao su, không đội mũ. Kiểu cách ăn mặc đó, có thể gọi là xuềnh xoàng, một chút bụi bụi, phớt đời giống như lính về phép hay lính giải ngũ, có cái gì muốn chứng tỏ ta đã kinh qua. Bề ngoài đó như muốn thể hiện, ta đang hưởng những giây phút thư giãn. Chàng ta dắt xe đạp đi bên cạnh một cô gái, xinh đẹp, có phần chải chuốt trong khung cảnh thời chiến nhưng nhàn nhàn. Thời đó cảnh nhàn nhàn như vậy không nhiều nhưng không hiếm, đặc biệt với kiểu người thanh niên, cậu ta lãng đãng, có vẻ chẳng coi đời là gì hết. Có những con mắt nhìn theo với ánh nhìn bâng quơ, hờ hững. Cũng có thể có người nghĩ, hình như họ giận nhau. Và rồi bóng họ trôi đi, có gì khác lạ ở đời đâu, đời đâu để ý chuyện đó. 
Nhưng để đến được với chàng trai, sánh đôi cùng chàng trên phố như các cặp tình nhân, cô gái đã phải vượt qua nhiều cửa ải. Cửa ải với đúng nghĩa của nó, cô đang chiến đấu vì tình yêu. Tình yêu đầu đời chất đầy đam mê, cũng chất đầy ảo vọng. 
Thụ, chàng thanh niên, con gia đình trí thức xưa. Bố mẹ đều là dược sĩ, học Tây. Sau tiếp quản, ông chẳng có việc gì làm, cửa hàng thuốc vào công tư hợp doanh, nhà nước độc quyền về Tây y. Của nả cả nhà chỉ còn lại cái vỏ, của chìm không biết ông để đâu, chỉ biết cả gia đình bỗng chốc tụt hạng, vỉa hè là của “nhân dân anh hùng”. Thụ cũng không được học tiếp, vất vưởng vỉa hè và chơi những bản nhạc không hợp thời, cấm chẳng ra cấm. 
Duyên là con gái một cán bộ tổ chức nhàng nhàng. Nàng là con đầu. Bố mẹ nàng là dân nghèo tham gia cách mạng, bỏ thành phố ra vùng tự do, theo kháng chiến. Hoà bình về lại phố xưa nhưng ngôi nhà đã bị phá. Do là cán bộ tổ chức nên được phân chung với một cán bộ khác cũng từ kháng chiến trở về. Sau này thêm một hộ, rồi lại thêm một hộ nữa. Tổng cộng là bốn gia đình trong một căn hộ ngày xưa, người chủ đã bỏ đi miền Nam. Nhà không rộng nhưng đất lưu không rộng và với sự vá víu, cóp nhặt, thêm nếm… gia đình nào cũng hài lòng với hiện tại. Tư duy của những người lao động xưa nhờ cách mạng, vươn lên làm chủ lúc đầu đều có những tầm nhìn hạn chế. Cuộc sống và được học hành sẽ tạo cho họ những biến đổi. 
Thụ và Duyên cùng học chung một trường. Thụ giỏi tất cả các môn học. Ngoài học, còn chơi được nhiều loại nhạc cụ như băng giô, măng đô lin, ghi ta. Cậu thích nhất ghi ta. Một gia đình có xu thế Tây rõ nét của đô thành. Duyên có giọng hát thiên bẩm. Hai người đến với nhau một cách tự nhiên. Thụ dạy nhạc cho Duyên và để Duyên hát những bài hát xưa, lãng mạn, tình tứ của Văn Cao, Doãn Mẫn… Thụ bảo Duyên, giọng em chỉ hợp với nhạc xanh. Em đừng hát những bài hò hét, hỏng giọng đi. Duyên bảo, bố em không cho hát những bài mơ mộng… Thụ, những bài đó nói lên tiếng nói con tim và cuộc đời… Duyên, anh cứ lơ mơ giọng như phản động… Thụ, Em nói giọng bố em, bố em cấm cửa anh? Duyên, chẳng cấm… nhưng không mở… Thụ, còn em? Duyên, chẳng mở nhưng không cấm… Thụ, em ỡm ờ và đỏng đảnh… Duyên, anh mơ mộng và hão huyền. Thụ, em cần phải hiểu thêm một chút hoàn cảnh sáng tác của nghệ sĩ, tấm lòng họ, tâm hồn họ…. Duyên, em lo, với những gì như thế này, anh có thể sẽ mất những cái của anh. Cũng có thể anh có trái tim nhân hậu nhưng yếu đuối. Thụ, họ không thể lấy những cái trong đầu anh… Duyên, anh không thật hiểu rồi, người ta sẽ trói buộc những suy nghĩ của anh… đời không như mơ, đời có vị buồn, thậm chí cay đắng. 
Từ từ, từ từ, cứ vậy, đường đi khác hướng của hai người như đã lộ ra, ngã rẽ đã có. Nhưng tình cảm ban đầu luôn để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Người giữ được cái ban đầu tinh khôi là người có thể giữ được cái cốt lõi. Ông bố cô gái, người chuyên phụ trách nhân sự, tổ chức, những vấn đề của tầm quan trọng với quan điểm, tư tưởng con người, mà người đời luôn có quan niệm cho rằng, họ là cứng nhắc, cứng nhắc đến lạnh lẽo. Ông biết khó thay đổi được tình cảm con gái. Ông nghĩ cách tách họ ra. Như nhiều người thường làm, để những cặp đôi đang yêu cách xa nhau ra. Lửa gần rơm thì cháy, còn lửa xa rơm thì cháy thế nào được. Kế hoạch đưa con gái cách xa chàng trai được ông bí mật thực hiện. Ông cho con du học. 
 Điều bất ngờ là ông không nhận được sự ủng hộ của con gái, dù rằng cô biết, điều kiện như cô không có nhiều. Cô là trường hợp may mắn của số phận mà nhiều người mong muốn. 
Duyên nói với bố, giọng nói có phần phẫn uất: Con cảm thấy bất công đổ xuống đầu anh ấy, còn con thì ngược lại, được hưởng mọi điều may mắn. Có phải số phận chúng con bù trừ cho nhau? Một người tài giỏi như anh ấy thì bị quăng ra ngoài cuộc sống một cách phũ phàng. Bố không thấy sự bất công đó? Đoạn tiếp, Duyên hạ thấp, nhẹ hơn: “Người đáng được đi học là anh ấy chứ không phải con, bố ạ…”
 Ông cán bộ tổ chức dịu lại. Không phải ông không nhận ra trường hợp này, liên quan đến cuộc sống và hạnh phúc của cô con gái, ông không thể không chú ý. Nhưng những cán bộ như ông, thấm rất nhuyễn vai trò của cơ cấu thành phần. Ý thức về sức mạnh giai cấp và những mối quan hệ sống còn đó, được rót vào ông và những cộng sự của ông, để ông đủ nhận ra, thành phần giai cấp là quyết định, nó quyết định sự trung thành của con người và sự thành bại của sự nghiệp. Với kiến thức trường đời của ông, ông vẫn thuyết phục được cô con gái ra nước ngoài học. 
Một bước đi khó hơn nhưng cũng ác độc hơn, cậu thanh niên cũng phải đi. Tốt nhất là vào lính. Thời buổi này, chẳng ai có thể từ chối. Con đường vào lính là con đường có lẽ êm ả nhất cho một sự tống khứ. Với tất cả những hiểu biết trẻ trung, thơ ngây, chẳng ai có thể tin “đường ra trận mùa này đẹp lắm” cả. Một sự thật chẳng nhiều người dám nói, bởi chúng ta đã quen nói những lời không phải của mình từ lâu rồi. 
 Nhờ những mối quen biết, đề nghị của ông để chàng thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời vào lính được chấp nhận. Chiến tranh cần nhiều nhân lực và một người như Thụ, không thiếu chỗ làm việc. Thụ nhập ngũ theo diện mà địa phương chưa giao đủ quân số, nghĩa là thuộc diện A2. A2 là tình trạng quân nhân có vấn đề về sức khoẻ hoặc có những vướng mắc về gia đình, bởi những mối quan hệ xã hội như tôn giáo hoặc thành phần, hoặc cũng có thể có những mối liên quan với người thân bên kia chiến tuyến. Những con người này thường nói, tên mình đã bị ghi vào “sổ đen”.

 ***** Thụ về một đơn vị pháo binh. Trung đội Thụ đóng quân trên vùng đất miền Trung, nơi có những con sóng và những người dân chài quen ăn sóng nói gió, mỗi một âm tiết phát ra trong cổ họng cũng mang đậm đặc vị mặn mòi của muối, nghe thấy cả những âm thanh của biển, khi rì rầm thổn thức và cả khi giận giữ, ầm ào của sóng và giông bão. Họ là những người coi biển là báu vật của cuộc đời. “Những người coi quê hương mình là báu vật là những người có tâm hồn thanh cao”. Thụ đọc được ở đâu đó và nhớ mang máng trong đầu. Cậu thanh niên tự vấn lại mình, vậy mà sao mình hờ hững? Báu vật của mình nơi đâu? Có vẻ như mình bị xua đuổi. Có phải đấy là sự phân rẽ mà người ta gọi nó là giai cấp? Cứ như Duyên nói với mình hôm nào “anh không hiểu rồi, người ta sẽ trói buộc những suy nghĩ của anh…”. 
Đơn vị của Thụ phục kích đánh biển. Bàu trời khu bốn và hầu như toàn bộ mặt biển, đều bị máy bay tàu chiến Mỹ phong toả. Tàu Hồng Kỳ của Trung Quốc sang tiếp gạo cho ta không thể cập cảng. Không một chiếc xuồng, chiếc thuyền nào có thể cặp mạn tàu Hồng Kỳ để nhận gạo từ trên tàu thả xuống. Người Trung Quốc đành phải bọc kín bao gạo bằng hai ba lớp túi ni-lon và thả xuống biển. Trong những con sóng biển ồn ào ầm ĩ kia, may ra có vài con lạc lõng, đưa được vài bao gạo vào bờ. Lấy được gạo từ bờ biển cũng là xương máu. Máy bay trực thăng từ hạm đội cứ đôi một, cái truước cái sau, quây thành vòng tròn, quan sát hết biển của ta. Một chiếc thuyền nhỏ như chiếc lá tre cũng bị phát hiện. 
Vậy nhưng vẫn đánh. Pháo nòng dài đánh du kích. Đánh để cho chúng không yên, không dám vào sát bờ, nếu rơi vào tầm bắn của pháo, sẽ bị đánh. Thụ và đồng đội tốn nhiều công sức vào việc che giấu pháo và làm những trận địa giả trên bờ. 
Ngày này sang ngày khác như vậy, lặp lại đơn điệu như vậy và có người con gái đã để ý đến chàng trai Hà Nội, lúc nào cũng có cây đàn bên cạnh. Cô nhận ra khi rỗi rãi, chàng chỉ ôm cây đàn và chỉ hát những bài hát nói lên nỗi lòng con người. Cô gái nhiều khi nghe trộm, cô ngạc nhiên, những tưởng chàng hát ra những điều chàng vừa nghĩ, âm điệu của nó làm xao xuyến lòng cô và cô cũng buồn theo “Tôi sống đời trai giữa núi đồi, đêm đêm nằm nghe tiếng vọng của em từ một miền xa…” là đúng nói về chàng rồi còn gì; “đêm nằm, anh gối đầu trên cát, nghe rì rào gió hát, anh hỏi gió, em ở phương nào… em?” đúng là chàng đang thì thầm với ai đó; “rặng dương xanh đứng kia, em đang tựa vào cây, anh muốn làm cánh tay, nâng em lên và nói, anh vô cùng yêu em… Hình như cô cảm thấy, người mà chàng yêu đang chờ chàng ở rặng phi lao trên bãi cát… Cô gái yêu đơn phương thầm lặng và cũng như thầm ghen với người con gái phương xa nào đó được chàng yêu. Cô yêu chàng trai, đã vụng trộm ngắm chàng đến si mê, mà chàng không hay biết. Cô cũng tan nát cõi lòng như sóng xô vào bờ cát để bờ cát nuốt chửng. Cô những muốn hoá thành các con sóng biển, xô mãi vào bờ, ngấm đẫm bờ cát, nơi chàng trai từng gối đầu đêm đêm. Ngấm hết, ngấm hết những con nước mặn mòi vào trong lòng như bãi cát kia ngấm từng con sóng biển.
 ***** Duyên đến phương Bắc xa xôi, lạnh lẽo nhưng lại là xứ sở của rất nhiều mơ ước. Người cha của nàng cũng mơ ước được đến. Những người được đảo qua đất nước này đều lấy điều đó làm hãnh diện. Đúng vậy. Trong sinh viên còn truyền nhau câu vè “muốn nhiều tiền thì đi Đức, muốn kiến thức thì sang Nga”. Sang Nga là học tập và mang kiến thức về phụng sự đất nước. Những người trẻ ngày đó đều hiểu như vậy. Nước Nga của họ là một nơi hấp dẫn và có thể thực hiện các giấc mơ. 
Duyên có nhiều người đeo đuổi khi sang đây. Có cả người mà bố cô gửi gắm. Người đó năm đầu săn sóc chăm nom cô rất chu đáo. Nhưng rồi nhận ra, mình không có trong mắt cô, sự quan tâm nhạt dần. Duyên thoát khỏi sự đeo bám, cô cảm thấy được tự do hơn. Tự do luôn là điều quý giá. Từ sự việc đó, cô liên tưởng tới người mình yêu. Một sự thương cảm trào dâng, anh đang bị ràng buộc và thiệt thòi quá nhiều bởi những điều kiện khắt khe đến mức hết đường đi lối lại của cuộc sống. Cô được biết anh đã nhập ngũ.
 Cô theo học văn học Nga. Những tác phẩm của nền văn học Nga ngày trước đã đọc ở Việt Nam qua các bản dịch thì nay được đọc nguyên bản. Cô yêu người Nga qua văn học, đặc biệt là những người phụ nữ đôn hậu, hiền lành, xởi lởi. Nhưng cô vẫn để một góc lòng mình cho những điệu dân ca và cô cũng nổi tiếng với bạn bè bởi giọng hát dân ca của người quan họ. Người ta nói, tiếng hát của cô cũng rất hợp với giọng dân ca Nga dịu dàng, buồn buồn, dìu dặt, mềm mại như lá non, tựa như tâm hồn trinh nguyên cô gái Nga đang yêu hoặc muốn được yêu. Cô đã hát “Tuổi mười tám” và đã khóc trong một cánh rừng bên suối trong veo mọc đầy những bông hoa tím đung đưa theo gió, tinh khiết, thơm ngát như tấm lòng cô. Cô ghen với người con gái ngồi bên bậc thềm, có chàng trai tóc xoăn rủ vào rừng. Cô lắng nghe tiếng nước chảy, cô hái và nâng niu trên tay những bông hoa tím nhạt, mỏng mảnh, mọc rải rác bên suối, trong những cánh rừng vàng lá. Cô nhớ người đã nhiều lần đệm đàn cho cô bên “Suối mơ”. Suối mơ là địa điểm tình yêu mà người ấy và cô đã nhìn thấy nhau trong mắt. Cô đã lim dim hát theo tiếng ghi ta của người ấy:
 Suối mơ 
Bên rừng thu vắng 
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng 
Ngày chưa đi sao gió vương
 Bờ xanh bóng mát đôi cây thuỳ dương
 Cô nhớ cô đã chêm vào câu hỏi khi anh hát nhè nhẹ “chỉ đôi cây thôi anh nhỉ, cây anh và cây em, đúng không?” Em thật đáng yêu. Tự dưng anh nghĩ Thuỳ dương là em. Anh cũng nghĩ là chúng chỉ có đôi. Có đôi là không cô đơn. Vậy đấy và chúng ta không xa nhau. Anh cứ như ở xứ nào lạ lắm, ghé thăm trái đất. Bồng bềnh bồng bềnh, chơi vơi chơi vơi… 

 Giờ thì ông bố giục cô lấy chồng. Lấy chồng để ông yên tâm nhắm mắt. Mẹ cô đã đi xa gần chục năm nay. Bà biết điều mong mỏi của cô, bà van xin ông, tìm lại cậu thanh niên ngày xưa cho cô: “Ông ơi, chúng ta đã làm điều ác nghiệt, chúng ta đã hại con của mình… Tôi không làm được nhưng ông phải làm … Ông hãy làm thêm một điều tốt cho con chúng ta…Làm để sửa lỗi lầm ông ạ…” Bà đã nói với ông những lời cuối cùng như thế. 
Chao ôi, mò kim dưới biển. Ông đã lặn lội theo từng dấu vết của chàng trai. Người công an khu vực ông nhờ cậy ngày xưa đã giúp ông tìm ra đơn vị đầu tiên mà chàng trai phục vụ. Từ đây, ông tìm ra dấu vết những ngày nhập ngũ đầu tiên của Thụ. 

 Hai người đàn bà, một quê mùa, một trí thức, ngồi bên thềm hồi tưởng về một người đàn ông. Ngoài xa kia là biển cả mênh mông, nơi mà con người chỉ là hạt cát. Biển cả, nơi chôn giấu tất cả bí mật của thế gian. Nhưng con sóng xô bồ kia chỉ thi thoảng chia sẻ cho con người một vài điều bí mật của nó mà thôi.
 “Em chẳng biết gì về anh ấy cả. Cái em biết thì ai cũng biết. Đấy là anh hay chơi đàn, hay hát những bài hát chẳng ai hay ai biết. Anh bảo đó là tâm hồn con người, nói lên những điều con người mong mỏi. Cây đàn của anh thiếu dây. Anh nói khó tìm lắm. Có lúc anh ấy phải lấy dây phanh xe đạp làm dây đàn. Có lần thấy anh đứng trên đồi, anh ngắm những bông sim tím, mắt thẫn thờ. Em đến và hỏi chuyện anh. Anh bảo có một chuyện tình về hoa sim, buồn lắm. Buồn nên anh không kể cho em… em phải vui, con gái phải vui… 
“Anh ấy là người chịu nhiều thiệt thòi. Ai đâu có quyền chọn bố mẹ ông bà tổ tiên mà người đời cứ moi móc mối liên quan, mối liên quan đó cứ nhằng nhợ không dứt? Đó là thời ấu trĩ của loài người. Ngày đó, chị cũng từng nói với anh, anh sẽ bị người ta trói buộc mọi suy nghĩ. Anh không tin. Anh nhìn cuộc đời lãng mạn lắm. Anh chỉ thấy tiếng hát trong mỗi con người, những suối mơ róc rách nước, thấy những cây thuỳ dương toả bóng mát che cho hai người… mà anh ấy không biết cây thuỳ dương là cây gì đâu. Ôi, tình yêu của tôi…”
 “Vậy a, em cũng thấy anh nói về cây đó. Hôm đó em vào rừng lấy củi. Khi về thấy anh nằm trên võng ngay bìa rừng. Ngoài xa kia là biển. Anh hát cái gì đó về trái tim người lính, về nỗi nhớ thương, về sự mất mát, chia ly. Đôi khi cũng nghe được những câu nói của tình yêu. Em nghĩ, anh toàn tự mình sáng tác… chẳng bài nào em biết. Chỗ anh mắc võng có hai cây dương, mọc thẳng, em hỏi anh biết cây gì đây không. Anh trả lời, cây thuỳ dương đấy. Em cười, nỏ phải, cây dương đó, nhưng anh không nghe… Anh đang nghĩ về cây thuỳ dương nào đó. Hỏi anh, anh chỉ cười, nụ cười lành hiền lắm. “Nó là loài cây có đôi, chỉ mọc từng đôi thôi…” 
Nhưng cây thùy dương là cây gì? Nó là cây mềm mại, dìu dặt, chỉ đón những ngọn gió xuân, khi hoa nở thì bừng lên rạng rỡ… Duyên đã “mang” cây thuỳ dương sang Nga, hỏi người Nga, họ cười. Cây thuỳ dương của họ được coi như một thiếu nữ, người thiếu nữ ở tuổi đẹp nhất… Duyên kể lại cho người đàn bà đất biển nghe. Có thể không phải. Thuỳ dương chỉ là một loài cây mềm yếu, như một loại dương xỉ, mọc thành bụi, không có thân vững chãi để có thể mắc võng. Anh ấy đã quá yêu bài hát với chuyện của chị, anh ấy phải lòng cái cây chỉ vì anh nhớ chị, Thùy dương như tên một người con gái, người con gái dịu dàng, thuỳ mị. 

 Và họ đang ngồi bên nhau, những nửa thế kỷ đã qua mới lại được bên nhau. Thời gian phũ phàng quá, không còn con mắt đắm say nhưng vẫn còn đó bàn tay dịu dàng đan xen nhau. Bàn tay con gái mềm mại, bàn tay người chơi đàn ghi ta cũng mềm mại, tay họ mềm mại quyện vào nhau, truyền cho nhau tiếng thở, nhịp đập và cả sự nồng nàn. “Hôm nay mà ngỡ hôm qua… Bóng câu qua cửa mà… Em vẫn là thuỳ dương… Anh thèm nghe quan họ… Nhớ rất nhiều suối mơ… Cả hoa đồi sim tím… Chuyện tình chưa tĩnh lặng…” 
Anh biết không, có một cô gái thương thầm anh, yêu anh, chỉ trộm nghe anh đàn hát. Cô gái đó, bố em sau những ân hận bởi những cạnh tranh cuộc đời, tìm được và em đã gặp cô ta. Chúng em như hai chị em. Hai chị em ở với nhau chỉ để nhớ một người. Số phận không cho anh nhiều may mắn như những gì người đời nghĩ về sự may mắn, nhưng số phận cho anh hai người phụ nữ, lúc nào cũng nghĩ về anh. Chẳng hiểu những người sống vương giả, quyền quý có hạnh phúc bằng anh? Nhưng chắc chắn, cuối đời, anh sẽ sống thoải mái, không bị những dằn vặt bởi những cuộc đua chen danh vọng, quyền lực của cuộc đời. Em đã từng nghĩ, nếu mình có mười chàng hoàng tử cầu hôn, em cũng chỉ chọn anh. 

Ông già nhìn vào mắt người đối diện, người con gái của ông ngày xưa. Thụ bây giờ đã già, một cây cổ thụ, một chứng nhân của bao đổi thay, cả ở con đường yêu đương ngày xưa và những giáo lý ngày xưa. Ông ôm Duyên, Thuỳ dương của ông ngày xưa đã đốt lại ngọn lửa tình yêu trong ông. Ngọn lửa không bùng cháy mà âm ỉ, chỉ liu riu đủ ấm thôi. Sống ở cuộc đời mọi sự cần thiết chỉ cần vừa đủ. Ngọn lửa đang ngấm vào tình cảm của ông. Con mắt ông cười, ánh mắt cười hiu hắt vẫn như có một nỗi buồn nho nhỏ, nhưng nó đã qua. 

*****
 Wikipedia: Cây thanh lương trà đã đi vào thơ ca, nhạc họa, đã được coi như một phần không thể thiếu của thiên nhiên, văn hoá, đời sống dân tộc Xla-vơ nói chung và người dân Nga nói riêng. Cây thanh lương trà (tên chữ Nga: рябина / riabina) là đối tượng chính được chỉ đến trong bài hát tiếng Nga "Уральская рябинушка" (nghĩa là Cây thanh lương trà vùng U-ran) mà đa số khán thính giả Việt Nam vẫn quen gọi với cái tên cảm tính là bài hát "Cây thuỳ dương". 

 Vinh Anh-27/4/22

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Vùng quê quan họ

 

Vùng quê quan họ 


 Con bé Na chưa gọi là lớn nhưng có dáng đảm. Gái quê đa phần như vậy. Cái đảm do cuộc sống khó khăn vất vả tạo nên, nhưng chủ yếu cái đảm nhận được từ bà, từ mẹ, từ bản quán sinh ra, từ nguồn nước của vùng đó, nghĩa là từ sự ngàn đời tích tụ, chứ đâu phải ngày một ngày hai. Chúng có thể chậm hiểu cuộc sống hối hả, hiện đại nơi phố phường nhưng cuộc sống nơi làng quê với mối quan hệ rộng rãi, biết nhau về nhiều mặt, khiến chúng nó hiểu biết cuộc đời sớm hơn, sớm nhận biết nhiều vấn đề nhạy cảm, đặc biệt quan hệ nam nữ.
 Con bé đó có đôi mắt lúng liếng. Ba đã nghe khối người hát xa hát gần: “Yêu nhau đứng ở đàng xa, con mắt lúng liếng bằng ba đứng gần”. Thằng Ba thấy nó chẳng gần ai nhưng ai cũng muốn gần nó, bọn trai làng là thế. Con gái, những đứa như Na, luôn có ưu thế với bọn con trai. 
Bọn con trai như thằng Ba, trước mặt nó cấm khẩu luôn, chỉ biết cười trừ, mồm như ngậm hột thị. Lớn dần, thằng Ba cũng bạo hơn. Nó để ý con bé, nếu lớn lên chút nữa, các cụ bảo kiểu đó là phải lòng nhau.
 Thằng Ba không phải lòng như ý các cụ, nhưng nó thích. Ừ cái thời đó, thế mà xa lắm rồi. Con bé Na chưa bao giờ ngồi tựa mạn thuyền hay ngồi tựa song đào hát đối với thằng Ba, nhưng cũng đã đi hội Lim với cả lũ trai gái trong làng. Đi hội nghe hát và cũng hát. Chưa bao giờ hò hẹn cùng ai. 
Hình như có lần, chẳng hiểu cơn cớ, nó nói với Ba, liền anh, liền chị vướng một lời nguyền từ thăm thẳm xa, họ chỉ hát giao duyên, đối đáp nhau, lấy câu ca điệu hát ngọt ngào làm thân, kết bạn chứ không bao giờ nên duyên vợ chồng. Có ai đó trêu chọc chuyện chồng con, nó chỉ lấy chiếc nón Ba Tầm che mặt đã phớt nhẹ màu hồng và vén vạt áo tứ thân che đi cái sự ngượng ngùng, cười e thẹn như tất cả các cô gái ngày ấy, y như lời một câu hát quan họ vẫn hát. Những câu hát quan họ như “vận” vào nó. 
Chúng nó, bọn con gái ấy, có cái duyên. Duyên của chúng nó cái dáng mềm mại khi mang chiếc nón, cũng có cả cái duyên ở cái dáng đi uyển chuyển như múa, thanh thoát mảnh mai của tấm áo tứ thân hay mớ ba mớ bảy… Sau này, lão thi sĩ Hoàng Cầm còn tô thêm vẻ đẹp đó bằng “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” nữa, một câu thơ chỉ có thể ngầm hiểu, mỗi người hiểu theo suy nghĩ của mình, chứ giải thích nghe được cũng khó. Nói chung là chúng nó, bọn con gái ấy, có cái gì rất kín đáo và thêm tí phần bí hiểm. 
Bọn thằng Ba cứ vậy mà mê mẩn. Dù có hẹn, có hò “có ba bốn chờ, năm bảy đợi” cũng khó để đến với cái duyên, chẳng thấy người của lòng mình đâu, chỉ thấy mảnh trăng treo hờ hững, cứ lững thững vô tình trong ánh chim trời mỏi mòn về nơi xa tít. Ở cái nơi thăm thẳm đó thì làm sao thấy bóng em, chim trời cá nước mà. 
Thằng Ba mê mẩn vì cái áo mớ ba mớ bảy mà hôm trên trường, con Na mặc. Nó hát đồng ca, trong cái điệu quan họ mà đứa nào cũng biết: “người ơi người ở đừng về” khi biểu diễn tiết mục cuối cùng. Hôm ấy thằng Ba không về thật. Nó chờ cái Na, còn cái Na thì cứ đủng đỉnh chẳng chịu “giã bạn” cho, nó cứ dùng dằng y hệt cái câu nó ngân “người về i i ii…” Rồi thì Na cũng “giã bạn”, “giã bạn” trong cái điệu dùng dằng rất con gái.
 Nghe đâu, đám bạn đó phía bên kia sông, con sông mà khi sang, khi về thì con gái “ngồi tựa mạn thuyền”, ngồi để hưởng những dư âm ngọt ngào lưu đọng, còn con trai đứng che ô cho con gái. Thằng Ba cảm nghĩ như vậy… Gì mà chẳng… Nó ngắm Na và ra vẻ như bất chợt nhô ra từ hẻm tối: “Đợi với, Na…” Hai đứa đi về. Cái Na hình như không hề biết thằng Ba đợi nó, hay là nó giả như không biết, chứ thằng Ba đã có ý đợi từ lúc “người ơi, người ở đừng về…”. Nó hỏi bâng quơ “Sao, vẫn chưa về…?” mà như đang nghĩ về nơi nào đó. Nó nói, chẳng ra nói với thằng Ba “Đêm đẹp thế, vậy mà đã phải giã bạn…”. Thằng Ba thấy nó lửng lơ cũng giả ngất ngơ, sao bảo “người ơi, người đừng về…” Cái Na, cười “Thế mà cũng tin… ngốc… các câu hát có mấy câu thật… chỉ có ngốc mới tin… nếu ai cũng như mấy bài quan họ quê chúng mình thì đời chỉ toàn đợi với chờ, hò với hẹn, yêu với thương…” Này “có thương thì lại đi tìm… mai có nhớ người thì í í a à lại sang chơi...” Ừ, nhưng nhớ “chỉ ngồi mạn thuyền buông câu hát đợi chờ, nhìn dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ và đừng ngồi… đừng ngồi với ai nhé…” 
Chiến tranh làm tất cả lớn nhanh hơn, hiểu đời sớm hơn, nhưng tâm hồn dễ bị chai sạn, tổn thương, cái trong sáng tinh khôi học trò bị phủ che bởi những lớp màng, với chúng còn chưa rõ tên gọi. 
Hết cấp ba, thằng Ba đi nhập ngũ. Thâm tâm nó cũng chẳng thích vì đi chắc chắn khổ và thêm một điều khó nói ra, chắc chắn khó trở về, nghĩa là bỏ xác nơi rừng rậm ngút ngàn nào đó. Nhưng đây là thời chiến, gia đình cũng không cơ bản, không đi lính cũng chẳng đi được đâu. Ba cũng biết, có nhiều người chọn việc cầm súng để xua đi những mặc cảm mà xã hội gắn cho, muốn tìm lối ra cho mình bằng cuộc đời chinh chiến. Muốn có một sự thay đổi cho bản thân, phải chọn nơi khó khăn. Cuộc đời đâu có phải chỉ hò với hẹn, yêu với thương… 
Vậy là Na nói đúng về cái kết của những liền anh liền chị quan họ, một cái kết rất nhiều người không muốn, không cổ tích, không công chúa hiền dịu, không bà tiên phúc hậu và đương nhiên là không đoàn tụ, gặp gỡ, nghe những lời ấm nồng của nhau, sống bên nhau suốt đời. Bao nhiêu liền anh liền chị đã phải bỏ lạị những hò hẹn đợi chờ, bỏ bao thương vụng nhớ trộm, bỏ bao nhiêu bèo dạt mây trôi, bao nhiêu nước chảy qua con sông Cầu, dát ánh vàng những đêm trăng lung liêng. Những liền anh liền chị cũng đến thời phải đi, mỗi người một số phận, tứ tán hết, chỉ để lại nỗi nhớ thương trong câu quan họ ỡm ờ, lơ lửng, chơi vơi, lặng lờ với dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, không chỉ có đôi ta mà là sẽ cô đơn một người. Sông Cầu nhận gửi giữ những mối tình đẹp, những đôi mắt lúng liếng hẹn hò như câu hát buông rơi giữa đường, lảng bảng bay trên dòng sông. Sông Cầu giữ hết. 
Trai làng đi hết. Chiến tranh để lại những làng quê tiêu điều xơ xác và cảnh vắng lặng. Làng quê rặt đàn bà và trẻ con. Phụ nữ thời nào cũng khổ. Hội Lim không tổ chức hàng năm được nhưng vẫn có hát, vẫn có gặp nhau, vẫn hẹn hò nhưng chẳng còn thương nhau cởi áo cho nhau để đổ trăm tội cho qua cầu gió bay. Các liền anh liền chị, ít thôi, cũng se chỉ luồn kim hay áo anh sứt chỉ đường tà đấy nhưng chỉ còn trong giấc mơ, trong tiếng nấc nghẹn ngào, ướt đẫm vạt áo tứ thân. Đến hẹn lại lên nhưng không vui. Đất nước chiến tranh vui sao được, người đi người ở vui sao được, người sống người chết vui sao được. 
Na và Ba và nhiều liền anh liền chị đã ra đi theo tiếng gọi cứu nhà, cứu nước với những ảo vọng đẹp tuyệt vời, như cô gái áo đỏ ngồi vườn hoa, nói với chàng trai hào hoa là nhà thơ nào đó. Vâng, chính xác là ảo vọng đẹp. Hỏi có ai nói được cụ thể cái ngày mai nhưng ai cũng tin chắc là cái ngày đó đẹp. Cái ngày mai là cái rất mơ hồ, rất trìu tượng mà người ta cố hình dung ra sự đẹp đẽ, tạo vẻ hoành tráng cho nó. Nó là ảo vọng nhưng cũng là ước vọng của muôn người. Mong đến với cái đẹp là một điều tất nhiên.
 Ba đi bộ đội. Ngày nhập ngũ dân làng tổ chức tiễn đưa rầm rộ, ồn ào để che đi cái buồn chia ly, thậm chí để cho quên đi cái sống cái chết chờ đón những đứa trai làng. Ngày đó “ba lô con cóc, anh đi em khóc” nhiều lắm rồi, khăn trắng làng nào cũng có. Khổ! Các bà, các chị là những người mẫn cảm nhất chuyện đi ở, sống chết nhưng luôn phải tỏ ra cứng rắn cho người ra đi biết là hậu phương đáng tin cậy. Liệu mấy người ra đi biết hàng đêm, người hậu phương ôm gối khóc thầm. Khóc và nước mắt ướt hết tà áo tứ thân. 
 Ba vào bộ đội không lên miền Tây hay miền Đông Bắc như thời “Em vẫn đùa anh sao khéo thế/núi chồng núi vợ đứng song đôi” mà là hướng về phía Nam, sau ba tháng huấn luyện. Ba thành lính công binh, chuyên vá đường, mở đường, lấp hố bom. Ba cũng tự học thêm lái xe, lái máy... Nhưng nghề của Ba được đào tạo nguy hiểm lắm, đó là nghệ thuật dùng bộc phá, phá đi những vật cản trên đường. Phải biết tính toán, làm sao mất ít thuốc nổ nhất mà hiện trường lại gọn gàng. 
 Cậu học sinh cấp ba được học và làm được việc này, Cậu thành một chiến sĩ xuất sắc. Cấp trên muốn cậu đứng trong hàng ngũ Đảng, nhưng cái gọi là “gia đình không cơ bản” không muốn, cậu vẫn đánh bộc phá và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của chi bộ. 
Luôn có cái sự oái oăm trong cuộc sống, nhiều lúc oái oăm đến tức cười và bỗng nhận ra cuộc đời là như thế, cuộc đời luôn có những con người như thế. Cứ như là có Lý Thông thì phải có Thạch Sanh. 
Oái oăm và tức cười rơi vào Ba. Ba sinh ra trong một gia đình mà một thời gọi là không cơ bản, nghĩa là có thành phần không được tốt. Nó có được chọn gia đình có thành phần tốt để rơi vào đâu. Lỗi này của ai thì của, dứt khoát không phải lỗi của Ba. Nó cứ vậy vô tư, chẳng đoàn, chẳng đảng cũng chẳng sao. Đấy là năm nó mười lăm hai mươi tuổi. Thời thanh xuân đẹp là vậy, đáng yêu là vậy. 
Muốn đào tạo nó thành tấm gương phải cho nó vào đoàn và vào đảng, đấy là đường đi đã được vạch sẵn. Ngày đó ai chẳng biết đường đó. Tiểu đội phá đá mở đường của Ba có chục thằng lính, chỉ có tiểu đội trưởng là đảng viên, tất cả còn lại là đoàn viên, duy nhất Ba, chẳng đảng đoàn gì hết nhưng lại là thằng xuất sắc nhất. Cấp trên bảo như vậy không được. Ba phải được đứng trong hàng ngũ những người ưu tú. Ưu tú phải là đảng viên. Oái oăm là thế! 
Khổ cái, Ba như đã bị ngấm cái đòn “thành phần không cơ bản”, Ba không thích nữa, nó thờ ơ. Thực ra nó là đứa có cá tính, suy rộng ra, nó biết trọng danh dự của nó và gia đình. Vết xước đầu tiên vào tâm hồn khiến hắn nhớ lâu. Tiểu đội trưởng là đảng viên, rất quý Ba, nhưng trình độ chuyên môn và tiếp thụ công việc kém, gia đình khó khăn, tiểu đội trưởng mới học lớp bốn trường làng, ngoài những chỉ thị nhận trực tiếp từ B, C đưa xuống, A trưởng nhờ Ba làm hộ nhiều thứ, cái gì cũng Ba, chỉ có sinh hoạt đảng, đi họp chi bộ là không nhờ được thôi. 
Việc vào đoàn đơn giản. Ban chấp hành chi đoàn đại đội công binh xét và thông qua nhanh chóng việc chuẩn y kết nạp Ba vào đoàn. Có điều Ba không chịu viết lý lịch. Nó nói với tiểu đội trưởng “Em biết phận em rồi, em không vào được đâu… Anh đừng bắt em viết nữa, em cũng không ở bộ đội lâu dài đâu, hết chiến tranh, nếu còn sống, là em về quê, lấy vợ luôn…” Vậy là tắc và cấp nào cũng có lý do xác đáng để thanh minh trường hợp Ba, một con người với những ưu thế nhiều hơn người khác. Duy khi nói đến thành phần, ai cũng thấy khó. 
Trận bom vào đúng đội hình, tiểu đội trưởng dính mảnh, Ba ga-rô vết thương ở đùi cho tiểu đội trưởng và phải đưa anh về hậu cứ. Lúc nằm trên cáng, bàn tay A trưởng không buông tay Ba. Đơn vị thiếu người, Ba là nhân vật sáng giá nhất. Đại đội trưởng hội ý với chính trị viên, quyết định để Ba làm tiểu đội trưởng, một quyết định miệng, không giấy tờ nhưng lính tráng thấy rất hợp lý. Vết thương của tiểu đội trưởng không nhẹ chút nào. Bác sĩ sau khi xem vết thương nói cho tiểu đội trưởng đủ nghe “Cái cậu lính ga-rô cho anh có bàn tay nghệ sĩ…”A trưởng đáp, “Cậu ấy chỉ biết hát quan họ”. “À, đây là một liền anh tài hoa”. 
Vết thương nặng của A trưởng được mổ kịp thời và sinh mạng người lính được cứu. Sức khoẻ yếu, người tong teo, xanh rớt vì mất nhiều máu, tiểu đội trưởng theo giao liên ra Bắc điều trị tiếp. Trạm điều dưỡng cuối cùng dừng là trên vùng quê quan họ, hỏi ra mới biết, gần quê của Ba. Nhiều buổi liên hoan, thường có các liền chị liền anh của các thôn quanh vùng đến hát cho thương binh nghe. Hát cho các anh nghe để các anh vơi đi những mất mát, quên đi những đau đớn và bù đắp cho những ngày gian nan. Lần nào tiểu đội trưởng cũng hỏi về người thôn Đoài, và đã gặp được Na. 
Tiểu đội trưởng nói với Na: “Thảo nào thằng Ba chỉ đòi về quê, dứt khoát không chịu làm đơn xin vào đoàn…” “Thì quê có ai cho anh ấy vào đâu. Chẳng hiểu sao người ta ăn phải bả gì mà ghẻ lạnh như vậy với gia đình anh ấy… Thành phần là cái gì mà hành người ta đến chết thế… các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người… Hành như vậy là có tội đấy…” 
Chẳng hiểu ông đảng viên mới học lớp bốn trường làng hiểu và nghĩ những gì… nhưng Na thấy mặt anh ta nhăn nhúm như vết thương mới mổ lại toé máu. 
Cái câu “các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người…” lúc xoáy sâu, lúc văng vẳng bên tai tiểu đội trưởng. Cái vô lý của chủ nghĩa thành phần lại rơi vào người mà tiểu đội trưởng quý mến. Tiểu đội trưởng thấy quá rõ: Ba năng lực, trẻ trung, xông xáo, sáng tạo và Ba chịu thiệt thòi, bị cầm hãm bởi cái thành phần chết tiệt mà chính tiểu đội trưởng là người được lợi, cũng không hiểu cái thành phần đó ghê gớm như thế nào, mà để cô bé kia phát uất lên, vì muốn bảo vệ bạn mình. 
Cái thời đó, thời mà con trai nắm tay con gái là như đã thề thốt yêu nhau trọn đời đó, Na được người được cả nết, khối anh muốn chết mà không được. Trong khi đó, Ba nghĩ, Na chỉ coi nó là bạn. Có biết đâu, nó thông cảm và hiểu hoàn cảnh của Ba, phải thông cảm lắm mới nói ra được những lời gan ruột, đau đớn của nó với tiểu đội trưởng. Cách nói đó, điệu bộ đó, tất cả hình ảnh còn lưu lại ở người tiểu đội trưởng. Khi nhìn thấy nó phát khóc, mới thấy sự thấu hiểu của nó với hoàn cảnh của Ba. Không thấu hiểu, không thể thốt ra những lời buốt nhói tâm can như vậy. Tiểu đội trưởng nghe và chính anh cũng sa xót. 
 Lúc nào tiểu đội trưởng cũng như nghe thấy lời nói thống thiết của Na “Đừng làm tội một con người…” Phải, câu đó hàm chứa đau đớn cùng cực của sự oan ức. Tội tình gì mà bắt nó, một con người tốt đẹp, mà cũng có thể ngày mai, sẽ ngã xuống vì đạn thù một cách anh hùng. Tiểu đội trưởng còn thấy cái gì đó trong veo, cao quý trong tình cảm của Na dành cho Ba nữa. Đâu có phải trình độ lớp bốn trường làng không phân biệt được đúng sai, phải trái. Giờ chỉ là, điều oan uổng chậm được sửa, kéo theo nhiều nỗi đau, để đến nỗi, người ta tin đó là số phận đeo bám, thậm chí, giết chết nhiều tâm hồn, mà đâu đó, người ta cứ ngoảnh mặt làm ngơ. 
Anh lính trình độ lớp bốn trường làng không muốn thấy điều đó, anh muốn che chở, bênh vực một con người, đấy là lương tâm thuần khiết không phải lúc nào cũng xuất hiện, chỉ đôi khi, con người trong một thời khắc, tâm hồn bỗng trong suốt, sạch sẽ, loé sáng 
 Tiểu đội trưởng ra viện và về Hà Nội, tìm đến phòng quân lực Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh, nói rõ những uẩn khúc ngang trái về thân phận và hoàn cảnh éo le con người đã góp phần cứu sống anh, nói về thành tích cùng sự dũng cảm của người đó trong thời gian cùng công tác và đề nghị giúp Ba giải thoát khỏi vòng kim cô lý lịch, một thứ gông cùm suốt đời cho một con người. Tiểu đội trưởng cũng không quên nói về cô bạn của người lính cùng quê và giọng nói đẫm nước mắt uất ức của cô. Tiểu đội trưởng lặp lại câu nói của cô gái với người phụ trách quân lực binh chủng, nhưng anh đã thay một từ, làm tăng lên sự ác độc của sự phi lý vẫn được người đời chấp nhận một cách cứng nhắc, cứng nhắc đến mù quáng: “đừng giết chết một con người…”. 
Ông phụ trách quân lực lau đôi mắt, chăm chú nhìn tiểu đội trưởng. Ông chưa biết Ba, chưa biết Na. Trước mắt ông chỉ là anh lính quê mùa, trình độ lớp bốn trường làng, diễn đạt câu chuyện chưa được thoát ý, nhưng ông hình dung ra, trước mắt mình một mối tình đẹp sinh ra trong gió bão, đang dần bị mưa gió quật đổ, cần nâng niu, bảo vệ, cứu giúp và đây nữa, trước mắt ông, một con người bình dị hiếm có, đầy nét quê của những “đồng nghèo cuống rạ”, của những lam lũ chắt chiu, cam chịu đựng khổ đau không hề than trách, nhưng trong hoang hẻo tồi tàn đó, lại dám bật dậy, bật dậy, toả sáng nhưng lại không biết mình toả sáng. 
Một tình cảm kính trọng, ngưỡng mộ dâng tràn, khiến ông nao nao, ông thấy cần có trách nhiệm về những con người này. Ông đã vào tận nơi Ba công tác, nơi cuộc sống cái chết diễn ra hàng ngày, quan sát trực tiếp và nghe ngóng mọi chuyện về Ba, không bỏ sót. Cái nghề của ông và vô số những lý thuyết cứng nhắc, lỗi thời ngày đó, đòi hỏi ông phải làm một bản tường trình rõ ràng về một con người. Ông cảm thấy như chính ông, đã bị mối tình như hư ảo, nhưng trắng trong của tuổi trăng rằm quyến rũ, si mê. Vâng, đó cũng là một điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc sống, bắt nguồn từ người này, truyền sang người khác. Con người vẫn có những ràng buộc lẫn nhau, dẫu chẳng có một chút thân thích, máu mủ. Cái tốt đẹp vẫn tự lan truyền theo cách của nó.
Từ khi biết tiểu đội trưởng của Ba, Na nảy ra ý định mang tiếng hát người quan họ vào chiến trường, sát cánh với người bạn cùng quê. Được như vậy thì thật là đẹp, tình cảm thời học trò trong sáng đáng yêu làm sao. Na đâu biết cụ thể cái mà mọi người gọi là chiến trường. Với sự ủng hộ của ông phụ trách quân lực, Na dễ dàng tiếp cận các đơn vị của binh chủng trong chiến trường bằng những lời ca quan họ của một đoàn văn nghệ phục vụ tiền tuyến. 
 Chuyện lãng mạn đuổi bắt một tình yêu được bắt đầu từ ý thức quá đỗi nhân văn của người tiểu đội trưởng, trình độ lớp bốn trường làng, anh ta đâu có những lý luận uyên bác trìu tượng về lẽ sống. Anh ta chỉ có sự đồng cảm, tình yêu chất phác của con người quê mùa. Vậy mà con người đó đã cho người đời hình dung ra rõ ràng và ấn tượng lời câu ca dao “yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.” Đố ai giải thích hay hơn tiểu đội trưởng của Ba. 
 Hành động của Na, người đời thường nói là: “Đùng một cái”. Đùng một cái, Na nói ra mọi ấm ức bị đè nén, đùng một cái Na tham gia đoàn hát quan họ phục vụ thương binh, đùng một cái Na muốn phục vụ ở chiến trường, đùng một cái Na thành chiến sĩ, đồng đội của người bạn quê… 
Na tưởng tượng ra những bước chân hành quân trong đội ngũ những người lính áo thẫm màu cây rừng. Chỉ đắm trong tình yêu, mới có những tượng tượng đó. Tình yêu vì thế mãi là thơ, mãi là quan họ, mãi là dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, mãi là êm đềm ngồi tựa mạn thuyền lặng chờ con gió, mãi mãi vẫn là còn duyên để kẻ đón người đưa… để rồi, để rồi sẵn sàng dâng hiến, yêu nhau cởi áo cho nhau và cũng chuẩn bị sẵn để “dối rằng cha dối mẹ qua cầu gió bay”. Lời nói dối đáng yêu thế, ai tin mà vẫn cứ dối.
 Cuộc đời éo le vẫn dành sẵn chỗ cho một số người. Có người khi cùng cực, vẫn nhận ra rằng, mình vẫn may, có thể còn may hơn người này, người nọ ở một vài điểm nào đó, thí dụ nó là cái may trong lằn ranh giới của sự sống và cái chết. Giữa sống và chết, vứt bỏ đi những lí do loè loẹt trang điểm cho cái lý tưởng cao siêu, trìu tượng, cái sống vẫn hơn. Ba cảm thấy mình là con người có cái may mắn đó. 
Na được ghép theo một đoàn tuyên văn xung kích gồm bảy người. Tất cả chung tay làm mọi việc của một đoàn văn công, nhưng thêm súng tiểu liên và nhạc cụ, là một chiếc ghi ta, một chiếc đàn ác-coóc. Na được phát bộ quần áo lính thẫm mầu cây rừng và phải mang thêm bộ áo tứ thân quan họ, cũng thêm một chiếc khăn mỏ quạ, chiếc quần lụa đen, cả nón Ba Tầm cũng phải mang, nhưng vì đường xá cũng như phương tiện không thuận, chiếc nón phải bỏ lại. Thiếu uý đoàn trưởng được ông phụ trách quân lực giao nhiệm vụ thêm về Na, đến đâu có bộ đội, phải liên lạc tìm được đồng chí Nguyễn Văn Ba, người quan họ xứ Đoài. 
Cuối mùa vận chuyển của năm bảy hai, Ba dính bom. Sự ác liệt của chiến tranh chẳng ngoại trừ ai. Ba trúng bom từ trường mà anh vừa phá. Bom nổ, đất đá dội xuống đè lấp Ba. Đồng đội bới được Ba trong hơi thở thoi thóp và một cái chân tê dại, không còn cảm giác. Vết thương của Ba giống hệt vết thương của tiểu đội trưởng bị hồi nào, Ba được sơ cứu và tức tốc được chuyển về hậu cứ. Người bác sĩ lần trước sau khi thăm khám, nhìn vết thương mà máu chảy ra đang đọng ướt đẫm bông băng còn chưa khô: “Không kịp rồi…” Ba không sống được vì thiếu bàn tay người nghệ sĩ vùng quan họ ngày nào. Đồng đội đi theo nghe bác sĩ nói về người nghệ sĩ quan họ, nói, cậu ấy hát bài “qua cầu gió bay” hay lắm.Dân quan họ chính hiệu đấy ạ. 
Lúc này, tiếng hát của Na đã bay đến các cung đường đầy lửa khói, bom đạn và cô bé nổi tiếng với “qua cầu gió bay” và điệu “lí ới là lí ơi” rất quan họ. Nhiều anh lính gọi thân mật Na là “lí ới là lí ơi”. Họ còn đặt tên cho Na là chim vàng anh. Tiếng hát vàng anh làm đời lính thêm ngọt ngào, ru đời lính bằng ấm nồng tình chị, tình em, nhắc nhở, che chở cho lính vì đã rót thêm hương vị quê vào nỗi nhớ da diết, hằng ngày của họ. Hình ảnh quê hương và cánh đồng với con cò lặn lội và dáng tần tào của mẹ xuất hiện, khi lời ca vàng anh bay lên. Có anh lính sâu sắc hơn, gọi vàng anh là tiếng hát quê hương. 
Na và nhóm tuyên văn bảy người, một hình thứ phục vụ chiến sĩ tối tinh giản đi khắp cung đường bến bãi, nơi có lính công binh trao tặng họ tiếng đàn, lời ca, điệu múa. Đến bất kỳ nơi nào, hễ gặp bộ đội, thiếu uý đội trưởng đoàn tuyên văn luôn nhớ nhiệm vụ thăm dò của mình, tìm cho cô bé quan họ người yêu. Không hiểu sao, chuyện tình cảm của Sa được đồng cảm thế và lan ra. Cứ vậy, tình yêu người quan họ được lan truyền, con bé Sa, thành liền chị. Lính ngưỡng mộ lắm. Lính vẫn thế mà. 
 Chiến trường biền biệt những u hoài, hoang hoải và cả mịt mù bất tận nữa, đâu có là chỗ cho tình yêu trai gái. Vậy mà có người con gái dám dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn, thành chuyện để lính ca ngợi, lính ngưỡng mộ, lính mơ tưởng. Ngay cả chuyện đi phục vụ tiền tuyến của đoàn quan họ cũng được gọi lại thành đoàn văn công xung kích, vào tận nơi khó khăn ác liệt, trên những cung đường không tên, tên người con gái cũng như tự nhiên biến đổi, Kim Sa, phù hợp hơn cho một diễn viên, người ta gọi Na như vậy vì nghe truyền miệng hay nghe không rõ hay là vì người đời mong muốn, chẳng biết. Na trở thành hạt cát vàng của lính. 
Chỉ một tuần sau ngày Ba dính bom, đoàn văn nghệ xung kích của Na đến trọng điểm. Khỏi phải nói niềm vui của lính chiến bảo vệ mặt đường khi nghe tin có tên vàng anh Kim Sa. Khi nghe trong đoàn có nữ, chiến sĩ đã chuẩn bị riêng chỗ ở cho vị khách đặc biệt. Họ xúm xít bao quanh cô. Và cứ vậy “Kim Sa, Kim Sa”. Na đỏ mặt ngượng ngùng “em là Na, quả Na, các anh gọi sai rồi.” 
Thiếu uý đoàn trưởng chết lặng khi nghe tin Ba đã hy sinh. Tưởng như sẽ được chứng kiến một cuộc gặp gỡ kỳ diệu như mơ, một sự kiện vô cùng lãng mạn của chiến tranh, một tình yêu đầy những trắc trở, nức nở, uẩn khúc, ai oán và sắp có hậu. Bao người có lương tâm, biết chuyện, chờ mong cuộc gặp đó xảy ra với những nụ cười xen lẫn nước mắt hạnh phúc. Vậy mà nó sẽ chẳng bao giờ đến. 
Đêm đó, nhận tin của Ba, tiếng hát của Na vẫn bay trên cánh rừng và lan khắp các cung đường thời chiến đã san lấp đi những loang lổ chiến tranh, cất lên tiếng gọi tình yêu. Cô đã chứng tỏ sự mạnh mẽ của mình với đoàn trưởng và đề nghị không làm ảnh hưởng đêm diễn. 
 Họ vẫn chưa nói được lời yêu và tiếng yêu với nhau. Lời nguyền xa xưa thăm thẳm của các liền anh, liền chị vẫn đeo bám. Người lính trẻ măng, chưa một lần cầm tay con gái. Ôi, tình yêu mạnh mẽ, can trường đến mức nào. Trên sân khấu không ánh đèn, chỉ có ánh trăng rừng mờ ảo, nhàn nhạt, khi đang ngân bài hát thứ ba, bài hát cô dành cho người lính ngã xuống “yêu nhau cởi áo cho nhau về nhà dối rằng cha dối mẹ …”thì cô ngã xuống sàn xe bất tỉnh... câu hát cuối cùng “qua cầu gió bay…” thoảng nhẹ như hơi thở yếu ớt của cô. Một đám mây che lấp vầng trăng. 
Mặt trận vào sâu phía Nam. Những con đường xuyên rừng do các chiến sĩ công binh mở cứ dài mãi. Những người lính đồn nhau về mối tình của Na-nàng Kim Sa của lính: Mãi sau, họ vẫn bắt gặp ở cổng trời, sau những trận bom, quầng lửa và khói bụi tan, trên cao xa thẳm xanh ngắt, nơi mây núi và mây trời hoà làm một, xuất hiện một vầng đỏ, đám mây thấp thoáng hình con gái trong tà áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ. 
Vào những ngày đẹp trời, chỉ những người lính chốt ở cổng trời mới nghe thấy văng vẳng câu hát “yêu nhau cởi áo cho nhau…” Họ như đã và đang dâng hiến cuộc đời cho nhau. 

 Vinh Anh-17/4/22

Vùng quê quan họ

 

Vùng quê quan họ 
 Con bé Na chưa gọi là lớn nhưng có dáng đảm. Gái quê đa phần như vậy. Cái đảm do cuộc sống khó khăn vất vả tạo nên, nhưng chủ yếu cái đảm nhận được từ bà, từ mẹ, từ bản quán sinh ra, từ nguồn nước của vùng đó, nghĩa là từ sự ngàn đời tích tụ, chứ đâu phải ngày một ngày hai. Chúng có thể chậm hiểu cuộc sống hối hả, hiện đại nơi phố phường nhưng cuộc sống nơi làng quê với mối quan hệ rộng rãi, biết nhau về nhiều mặt, khiến chúng nó hiểu biết cuộc đời sớm hơn, sớm nhận biết nhiều vấn đề nhạy cảm, đặc biệt quan hệ nam nữ. 

Con bé đó có đôi mắt lúng liếng. Ba đã nghe khối người hát xa hát gần: “Yêu nhau đứng ở đàng xa, con mắt lúng liếng bằng ba đứng gần”. Thằng Ba thấy nó chẳng gần ai nhưng ai cũng muốn gần nó, bọn trai làng là thế. Con gái, những đứa như Na, luôn có ưu thế với bọn con trai. Bọn con trai như thằng Ba, trước mặt nó cấm khẩu luôn, chỉ biết cười trừ, mồm như ngậm hột thị. 
Lớn dần, thằng Ba cũng bạo hơn. Nó để ý con bé, nếu lớn lên chút nữa, các cụ bảo kiểu đó là phải lòng nhau. Thằng Ba không phải lòng như ý các cụ, nhưng nó thích. Ừ cái thời đó, thế mà xa lắm rồi. Con bé Na chưa bao giờ ngồi tựa mạn thuyền hay ngồi tựa song đào hát đối với thằng Ba, nhưng cũng đã đi hội Lim với cả lũ trai gái trong làng. Đi hội nghe hát và cũng hát. Chưa bao giờ hò hẹn cùng ai. Hình như có lần, chẳng hiểu cơn cớ, nó nói với Ba, liền anh, liền chị vướng một lời nguyền từ thăm thẳm xa, họ chỉ hát giao duyên, đối đáp nhau, lấy câu ca điệu hát ngọt ngào làm thân, kết bạn chứ không bao giờ nên duyên vợ chồng. Có ai đó trêu chọc chuyện chồng con, nó chỉ lấy chiếc nón Ba Tầm che mặt đã phớt nhẹ màu hồng và vén vạt áo tứ thân che đi cái sự ngượng ngùng, cười e thẹn như tất cả các cô gái ngày ấy, y như lời một câu hát quan họ vẫn hát. Những câu hát quan họ như “vận” vào nó. 
Chúng nó, bọn con gái ấy, có cái duyên. Duyên của chúng nó cái dáng mềm mại khi mang chiếc nón, cũng có cả cái duyên ở cái dáng đi uyển chuyển như múa, thanh thoát mảnh mai của tấm áo tứ thân hay mớ ba mớ bảy… Sau này, lão thi sĩ Hoàng Cầm còn tô thêm vẻ đẹp đó bằng “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” nữa, một câu thơ chỉ có thể ngầm hiểu, mỗi người hiểu theo suy nghĩ của mình, chứ giải thích nghe được cũng khó. 
Nói chung là chúng nó, bọn con gái ấy, có cái gì rất kín đáo và thêm tí phần bí hiểm. Bọn thằng Ba cứ vậy mà mê mẩn. Dù có hẹn, có hò “có ba bốn chờ, năm bảy đợi” cũng khó để đến với cái duyên, chẳng thấy người của lòng mình đâu, chỉ thấy mảnh trăng treo hờ hững, cứ lững thững vô tình trong ánh chim trời mỏi mòn về nơi xa tít. Ở cái nơi thăm thẳm đó thì làm sao thấy bóng em, chim trời cá nước mà.
 Thằng Ba mê mẩn vì cái áo mớ ba mớ bảy mà hôm trên trường, con Na mặc. Nó hát đồng ca, trong cái điệu quan họ mà đứa nào cũng biết: “người ơi người ở đừng về” khi biểu diễn tiết mục cuối cùng. Hôm ấy thằng Ba không về thật. Nó chờ cái Na, còn cái Na thì cứ đủng đỉnh chẳng chịu “giã bạn” cho, nó cứ dùng dằng y hệt cái câu nó ngân “người về i i ii…” Rồi thì Na cũng “giã bạn”, “giã bạn” trong cái điệu dùng dằng rất con gái. 
Nghe đâu, đám bạn đó phía bên kia sông, con sông mà khi sang, khi về thì con gái “ngồi tựa mạn thuyền”, ngồi để hưởng những dư âm ngọt ngào lưu đọng, còn con trai đứng che ô cho con gái. Thằng Ba cảm nghĩ như vậy… Gì mà chẳng… Nó ngắm Na và ra vẻ như bất chợt nhô ra từ hẻm tối: “Đợi với, Na…” Hai đứa đi về. Cái Na hình như không hề biết thằng Ba đợi nó, hay là nó giả như không biết, chứ thằng Ba đã có ý đợi từ lúc “người ơi, người ở đừng về…”. Nó hỏi bâng quơ “Sao, vẫn chưa về…?” mà như đang nghĩ về nơi nào đó. Nó nói, chẳng ra nói với thằng Ba “Đêm đẹp thế, vậy mà đã phải giã bạn…”. Thằng Ba thấy nó lửng lơ cũng giả ngất ngơ, sao bảo “người ơi, người đừng về…” Cái Na, cười “Thế mà cũng tin… ngốc… các câu hát có mấy câu thật… chỉ có ngốc mới tin… nếu ai cũng như mấy bài quan họ quê chúng mình thì đời chỉ toàn đợi với chờ, hò với hẹn, yêu với thương…” Này “có thương thì lại đi tìm… mai có nhớ người thì í í a à lại sang chơi...” Ừ, nhưng nhớ “chỉ ngồi mạn thuyền buông câu hát đợi chờ, nhìn dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ và đừng ngồi… đừng ngồi với ai nhé…” 
Chiến tranh làm tất cả lớn nhanh hơn, hiểu đời sớm hơn, nhưng tâm hồn dễ bị chai sạn, tổn thương, cái trong sáng tinh khôi học trò bị phủ che bởi những lớp màng, với chúng còn chưa rõ tên gọi.
 Hết cấp ba, thằng Ba đi nhập ngũ. Thâm tâm nó cũng chẳng thích vì đi chắc chắn khổ và thêm một điều khó nói ra, chắc chắn khó trở về, nghĩa là bỏ xác nơi rừng rậm ngút ngàn nào đó. Nhưng đây là thời chiến, gia đình cũng không cơ bản, không đi lính cũng chẳng đi được đâu. Ba cũng biết, có nhiều người chọn việc cầm súng để xua đi những mặc cảm mà xã hội gắn cho, muốn tìm lối ra cho mình bằng cuộc đời chinh chiến. 
Muốn có một sự thay đổi cho bản thân, phải chọn nơi khó khăn. Cuộc đời đâu có phải chỉ hò với hẹn, yêu với thương… Vậy là Na nói đúng về cái kết của những liền anh liền chị quan họ, một cái kết rất nhiều người không muốn, không cổ tích, không công chúa hiền dịu, không bà tiên phúc hậu và đương nhiên là không đoàn tụ, gặp gỡ, nghe những lời ấm nồng của nhau, sống bên nhau suốt đời. 
Bao nhiêu liền anh liền chị đã phải bỏ lạị những hò hẹn đợi chờ, bỏ bao thương vụng nhớ trộm, bỏ bao nhiêu bèo dạt mây trôi, bao nhiêu nước chảy qua con sông Cầu, dát ánh vàng những đêm trăng lung liêng. Những liền anh liền chị cũng đến thời phải đi, mỗi người một số phận, tứ tán hết, chỉ để lại nỗi nhớ thương trong câu quan họ ỡm ờ, lơ lửng, chơi vơi, lặng lờ với dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, không chỉ có đôi ta mà là sẽ cô đơn một người. Sông Cầu nhận gửi giữ những mối tình đẹp, những đôi mắt lúng liếng hẹn hò như câu hát buông rơi giữa đường, lảng bảng bay trên dòng sông. Sông Cầu giữ hết. 
Trai làng đi hết. Chiến tranh để lại những làng quê tiêu điều xơ xác và cảnh vắng lặng. Làng quê rặt đàn bà và trẻ con. Phụ nữ thời nào cũng khổ. Hội Lim không tổ chức hàng năm được nhưng vẫn có hát, vẫn có gặp nhau, vẫn hẹn hò nhưng chẳng còn thương nhau cởi áo cho nhau để đổ trăm tội cho qua cầu gió bay. Các liền anh liền chị, ít thôi, cũng se chỉ luồn kim hay áo anh sứt chỉ đường tà đấy nhưng chỉ còn trong giấc mơ, trong tiếng nấc nghẹn ngào, ướt đẫm vạt áo tứ thân.
 Đến hẹn lại lên nhưng không vui. Đất nước chiến tranh vui sao được, người đi người ở vui sao được, người sống người chết vui sao được. Na và Ba và nhiều liền anh liền chị đã ra đi theo tiếng gọi cứu nhà, cứu nước với những ảo vọng đẹp tuyệt vời, như cô gái áo đỏ ngồi vườn hoa, nói với chàng trai hào hoa là nhà thơ nào đó. Vâng, chính xác là ảo vọng đẹp. Hỏi có ai nói được cụ thể cái ngày mai nhưng ai cũng tin chắc là cái ngày đó đẹp. Cái ngày mai là cái rất mơ hồ, rất trìu tượng mà người ta cố hình dung ra sự đẹp đẽ, tạo vẻ hoành tráng cho nó. Nó là ảo vọng nhưng cũng là ước vọng của muôn người. Mong đến với cái đẹp là một điều tất nhiên. 
Ba đi bộ đội. Ngày nhập ngũ dân làng tổ chức tiễn đưa rầm rộ, ồn ào để che đi cái buồn chia ly, thậm chí để cho quên đi cái sống cái chết chờ đón những đứa trai làng. Ngày đó “ba lô con cóc, anh đi em khóc” nhiều lắm rồi, khăn trắng làng nào cũng có. Khổ! Các bà, các chị là những người mẫn cảm nhất chuyện đi ở, sống chết nhưng luôn phải tỏ ra cứng rắn cho người ra đi biết là hậu phương đáng tin cậy. Liệu mấy người ra đi biết hàng đêm, người hậu phương ôm gối khóc thầm. Khóc và nước mắt ướt hết tà áo tứ thân. 
 Ba vào bộ đội không lên miền Tây hay miền Đông Bắc như thời “Em vẫn đùa anh sao khéo thế/núi chồng núi vợ đứng song đôi” mà là hướng về phía Nam, sau ba tháng huấn luyện. Ba thành lính công binh, chuyên vá đường, mở đường, lấp hố bom. Ba cũng tự học thêm lái xe, lái máy... Nhưng nghề của Ba được đào tạo nguy hiểm lắm, đó là nghệ thuật dùng bộc phá, phá đi những vật cản trên đường. Phải biết tính toán, làm sao mất ít thuốc nổ nhất mà hiện trường lại gọn gàng. 
 Cậu học sinh cấp ba được học và làm được việc này, Cậu thành một chiến sĩ xuất sắc. Cấp trên muốn cậu đứng trong hàng ngũ Đảng, nhưng cái gọi là “gia đình không cơ bản” không muốn, cậu vẫn đánh bộc phá và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của chi bộ. 
Luôn có cái sự oái oăm trong cuộc sống, nhiều lúc oái oăm đến tức cười và bỗng nhận ra cuộc đời là như thế, cuộc đời luôn có những con người như thế. Cứ như là có Lý Thông thì phải có Thạch Sanh. Oái oăm và tức cười rơi vào Ba. 
Ba sinh ra trong một gia đình mà một thời gọi là không cơ bản, nghĩa là có thành phần không được tốt. Nó có được chọn gia đình có thành phần tốt để rơi vào đâu. Lỗi này của ai thì của, dứt khoát không phải lỗi của Ba. Nó cứ vậy vô tư, chẳng đoàn, chẳng đảng cũng chẳng sao. Đấy là năm nó mười lăm hai mươi tuổi. Thời thanh xuân đẹp là vậy, đáng yêu là vậy. 
Muốn đào tạo nó thành tấm gương phải cho nó vào đoàn và vào đảng, đấy là đường đi đã được vạch sẵn. Ngày đó ai chẳng biết đường đó. Tiểu đội phá đá mở đường của Ba có chục thằng lính, chỉ có tiểu đội trưởng là đảng viên, tất cả còn lại là đoàn viên, duy nhất Ba, chẳng đảng đoàn gì hết nhưng lại là thằng xuất sắc nhất. Cấp trên bảo như vậy không được. Ba phải được đứng trong hàng ngũ những người ưu tú. Ưu tú phải là đảng viên. Oái oăm là thế! 
Khổ cái, Ba như đã bị ngấm cái đòn “thành phần không cơ bản”, Ba không thích nữa, nó thờ ơ. Thực ra nó là đứa có cá tính, suy rộng ra, nó biết trọng danh dự của nó và gia đình. Vết xước đầu tiên vào tâm hồn khiến hắn nhớ lâu. Tiểu đội trưởng là đảng viên, rất quý Ba, nhưng trình độ chuyên môn và tiếp thụ công việc kém, gia đình khó khăn, tiểu đội trưởng mới học lớp bốn trường làng, ngoài những chỉ thị nhận trực tiếp từ B, C đưa xuống, A trưởng nhờ Ba làm hộ nhiều thứ, cái gì cũng Ba, chỉ có sinh hoạt đảng, đi họp chi bộ là không nhờ được thôi. 
Việc vào đoàn đơn giản. Ban chấp hành chi đoàn đại đội công binh xét và thông qua nhanh chóng việc chuẩn y kết nạp Ba vào đoàn. Có điều Ba không chịu viết lý lịch. Nó nói với tiểu đội trưởng “Em biết phận em rồi, em không vào được đâu… Anh đừng bắt em viết nữa, em cũng không ở bộ đội lâu dài đâu, hết chiến tranh, nếu còn sống, là em về quê, lấy vợ luôn…” Vậy là tắc và cấp nào cũng có lý do xác đáng để thanh minh trường hợp Ba, một con người với những ưu thế nhiều hơn người khác. Duy khi nói đến thành phần, ai cũng thấy khó. 
Trận bom vào đúng đội hình, tiểu đội trưởng dính mảnh, Ba ga-rô vết thương ở đùi cho tiểu đội trưởng và phải đưa anh về hậu cứ. Lúc nằm trên cáng, bàn tay A trưởng không buông tay Ba. Đơn vị thiếu người, Ba là nhân vật sáng giá nhất. Đại đội trưởng hội ý với chính trị viên, quyết định để Ba làm tiểu đội trưởng, một quyết định miệng, không giấy tờ nhưng lính tráng thấy rất hợp lý. Vết thương của tiểu đội trưởng không nhẹ chút nào. Bác sĩ sau khi xem vết thương nói cho tiểu đội trưởng đủ nghe “Cái cậu lính ga-rô cho anh có bàn tay nghệ sĩ…”A trưởng đáp, “Cậu ấy chỉ biết hát quan họ”. “À, đây là một liền anh tài hoa”. Vết thương nặng của A trưởng được mổ kịp thời và sinh mạng người lính được cứu. Sức khoẻ yếu, người tong teo, xanh rớt vì mất nhiều máu, tiểu đội trưởng theo giao liên ra Bắc điều trị tiếp. Trạm điều dưỡng cuối cùng dừng là trên vùng quê quan họ, hỏi ra mới biết, gần quê của Ba. 
Nhiều buổi liên hoan, thường có các liền chị liền anh của các thôn quanh vùng đến hát cho thương binh nghe. Hát cho các anh nghe để các anh vơi đi những mất mát, quên đi những đau đớn và bù đắp cho những ngày gian nan. Lần nào tiểu đội trưởng cũng hỏi về người thôn Đoài, và đã gặp được Na. Tiểu đội trưởng nói với Na: “Thảo nào thằng Ba chỉ đòi về quê, dứt khoát không chịu làm đơn xin vào đoàn…” “Thì quê có ai cho anh ấy vào đâu. Chẳng hiểu sao người ta ăn phải bả gì mà ghẻ lạnh như vậy với gia đình anh ấy… Thành phần là cái gì mà hành người ta đến chết thế… các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người… Hành như vậy là có tội đấy…” 
Chẳng hiểu ông đảng viên mới học lớp bốn trường làng hiểu và nghĩ những gì… nhưng Na thấy mặt anh ta nhăn nhúm như vết thương mới mổ lại toé máu. 
Cái câu “các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người…” lúc xoáy sâu, lúc văng vẳng bên tai tiểu đội trưởng. Cái vô lý của chủ nghĩa thành phần lại rơi vào người mà tiểu đội trưởng quý mến. Tiểu đội trưởng thấy quá rõ: Ba năng lực, trẻ trung, xông xáo, sáng tạo và Ba chịu thiệt thòi, bị cầm hãm bởi cái thành phần chết tiệt mà chính tiểu đội trưởng là người được lợi, cũng không hiểu cái thành phần đó ghê gớm như thế nào, mà để cô bé kia phát uất lên, vì muốn bảo vệ bạn mình. 
Cái thời đó, thời mà con trai nắm tay con gái là như đã thề thốt yêu nhau trọn đời đó, Na được người được cả nết, khối anh muốn chết mà không được. Trong khi đó, Ba nghĩ, Na chỉ coi nó là bạn. Có biết đâu, nó thông cảm và hiểu hoàn cảnh của Ba, phải thông cảm lắm mới nói ra được những lời gan ruột, đau đớn của nó với tiểu đội trưởng. Cách nói đó, điệu bộ đó, tất cả hình ảnh còn lưu lại ở người tiểu đội trưởng. Khi nhìn thấy nó phát khóc, mới thấy sự thấu hiểu của nó với hoàn cảnh của Ba. Không thấu hiểu, không thể thốt ra những lời buốt nhói tâm can như vậy. Tiểu đội trưởng nghe và chính anh cũng sa xót. 
 Lúc nào tiểu đội trưởng cũng như nghe thấy lời nói thống thiết của Na “Đừng làm tội một con người…” Phải, câu đó hàm chứa đau đớn cùng cực của sự oan ức. Tội tình gì mà bắt nó, một con người tốt đẹp, mà cũng có thể ngày mai, sẽ ngã xuống vì đạn thù một cách anh hùng. Tiểu đội trưởng còn thấy cái gì đó trong veo, cao quý trong tình cảm của Na dành cho Ba nữa. Đâu có phải trình độ lớp bốn trường làng không phân biệt được đúng sai, phải trái. Giờ chỉ là, điều oan uổng chậm được sửa, kéo theo nhiều nỗi đau, để đến nỗi, người ta tin đó là số phận đeo bám, thậm chí, giết chết nhiều tâm hồn, mà đâu đó, người ta cứ ngoảnh mặt làm ngơ. 
Anh lính trình độ lớp bốn trường làng không muốn thấy điều đó, anh muốn che chở, bênh vực một con người, đấy là lương tâm thuần khiết không phải lúc nào cũng xuất hiện, chỉ đôi khi, con người trong một thời khắc, tâm hồn bỗng trong suốt, sạch sẽ, loé sáng Tiểu đội trưởng ra viện và về Hà Nội, tìm đến phòng quân lực Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh, nói rõ những uẩn khúc ngang trái về thân phận và hoàn cảnh éo le con người đã góp phần cứu sống anh, nói về thành tích cùng sự dũng cảm của người đó trong thời gian cùng công tác và đề nghị giúp Ba giải thoát khỏi vòng kim cô lý lịch, một thứ gông cùm suốt đời cho một con người. Tiểu đội trưởng cũng không quên nói về cô bạn của người lính cùng quê và giọng nói đẫm nước mắt uất ức của cô. Tiểu đội trưởng lặp lại câu nói của cô gái với người phụ trách quân lực binh chủng, nhưng anh đã thay một từ, làm tăng lên sự ác độc của sự phi lý vẫn được người đời chấp nhận một cách cứng nhắc, cứng nhắc đến mù quáng: “đừng giết chết một con người…”. 
Ông phụ trách quân lực lau đôi mắt, chăm chú nhìn tiểu đội trưởng. Ông chưa biết Ba, chưa biết Na. Trước mắt ông chỉ là anh lính quê mùa, trình độ lớp bốn trường làng, diễn đạt câu chuyện chưa được thoát ý, nhưng ông hình dung ra, trước mắt mình một mối tình đẹp sinh ra trong gió bão, đang dần bị mưa gió quật đổ, cần nâng niu, bảo vệ, cứu giúp và đây nữa, trước mắt ông, một con người bình dị hiếm có, đầy nét quê của những “đồng nghèo cuống rạ”, của những lam lũ chắt chiu, cam chịu đựng khổ đau không hề than trách, nhưng trong hoang hẻo tồi tàn đó, lại dám bật dậy, bật dậy, toả sáng nhưng lại không biết mình toả sáng. 
Một tình cảm kính trọng, ngưỡng mộ dâng tràn, khiến ông nao nao, ông thấy cần có trách nhiệm về những con người này. Ông đã vào tận nơi Ba công tác, nơi cuộc sống cái chết diễn ra hàng ngày, quan sát trực tiếp và nghe ngóng mọi chuyện về Ba, không bỏ sót. Cái nghề của ông và vô số những lý thuyết cứng nhắc, lỗi thời ngày đó, đòi hỏi ông phải làm một bản tường trình rõ ràng về một con người. Ông cảm thấy như chính ông, đã bị mối tình như hư ảo, nhưng trắng trong của tuổi trăng rằm quyến rũ, si mê. Vâng, đó cũng là một điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc sống, bắt nguồn từ người này, truyền sang người khác. Con người vẫn có những ràng buộc lẫn nhau, dẫu chẳng có một chút thân thích, máu mủ. Cái tốt đẹp vẫn tự lan truyền theo cách của nó. 
Từ khi biết tiểu đội trưởng của Ba, Na nảy ra ý định mang tiếng hát người quan họ vào chiến trường, sát cánh với người bạn cùng quê. Được như vậy thì thật là đẹp, tình cảm thời học trò trong sáng đáng yêu làm sao. Na đâu biết cụ thể cái mà mọi người gọi là chiến trường. Với sự ủng hộ của ông phụ trách quân lực, Na dễ dàng tiếp cận các đơn vị của binh chủng trong chiến trường bằng những lời ca quan họ của một đoàn văn nghệ phục vụ tiền tuyến. 
 Chuyện lãng mạn đuổi bắt một tình yêu được bắt đầu từ ý thức quá đỗi nhân văn của người tiểu đội trưởng, trình độ lớp bốn trường làng, anh ta đâu có những lý luận uyên bác trìu tượng về lẽ sống. Anh ta chỉ có sự đồng cảm, tình yêu chất phác của con người quê mùa. Vậy mà con người đó đã cho người đời hình dung ra rõ ràng và ấn tượng lời câu ca dao “yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.” Đố ai giải thích hay hơn tiểu đội trưởng của Ba. 
 Hành động của Na, người đời thường nói là: “Đùng một cái”. Đùng một cái, Na nói ra mọi ấm ức bị đè nén, đùng một cái Na tham gia đoàn hát quan họ phục vụ thương binh, đùng một cái Na muốn phục vụ ở chiến trường, đùng một cái Na thành chiến sĩ, đồng đội của người bạn quê… Na tưởng tượng ra những bước chân hành quân trong đội ngũ những người lính áo thẫm màu cây rừng. Chỉ đắm trong tình yêu, mới có những tượng tượng đó. Tình yêu vì thế mãi là thơ, mãi là quan họ, mãi là dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, mãi là êm đềm ngồi tựa mạn thuyền lặng chờ con gió, mãi mãi vẫn là còn duyên để kẻ đón người đưa… để rồi, để rồi sẵn sàng dâng hiến, yêu nhau cởi áo cho nhau và cũng chuẩn bị sẵn để “dối rằng cha dối mẹ qua cầu gió bay”. Lời nói dối đáng yêu thế, ai tin mà vẫn cứ dối. 
Cuộc đời éo le vẫn dành sẵn chỗ cho một số người. Có người khi cùng cực, vẫn nhận ra rằng, mình vẫn may, có thể còn may hơn người này, người nọ ở một vài điểm nào đó, thí dụ nó là cái may trong lằn ranh giới của sự sống và cái chết. Giữa sống và chết, vứt bỏ đi những lí do loè loẹt trang điểm cho cái lý tưởng cao siêu, trìu tượng, cái sống vẫn hơn. Ba cảm thấy mình là con người có cái may mắn đó. 
Na được ghép theo một đoàn tuyên văn xung kích gồm bảy người. Tất cả chung tay làm mọi việc của một đoàn văn công, nhưng thêm súng tiểu liên và nhạc cụ, là một chiếc ghi ta, một chiếc đàn ác coóc. Na được phát bộ quần áo lính thẫm mầu cây rừng và phải mang thêm bộ áo tứ thân quan họ, cũng thêm một chiếc khăn mỏ quạ, chiếc quần lụa đen, cả nón Ba Tầm cũng phải mang, nhưng vì đường xá cũng như phương tiện không thuận, chiếc nón phải bỏ lại. Thiếu uý đoàn trưởng được ông phụ trách quân lực giao nhiệm vụ thêm về Na, đến đâu có bộ đội, phải liên lạc tìm được đồng chí Nguyễn Văn Ba, người quan họ xứ Đoài. 
Cuối mùa vận chuyển của năm bảy hai, Ba dính bom. Sự ác liệt của chiến tranh chẳng ngoại trừ ai. Ba trúng bom từ trường mà anh vừa phá. Bom nổ, đất đá dội xuống đè lấp Ba. Đồng đội bới được Ba trong hơi thở thoi thóp và một cái chân tê dại, không còn cảm giác. Vết thương của Ba giống hệt vết thương của tiểu đội trưởng bị hồi nào, Ba được sơ cứu và tức tốc được chuyển về hậu cứ. Người bác sĩ lần trước sau khi thăm khám, nhìn vết thương máu vẫn đang đọng ướt thẫm bắp chân: “Không kịp rồi…” Ba không sống được vì thiếu bàn tay người nghệ sĩ vùng quan họ ngày nào. 
 Lúc này, tiếng hát của Na đã bay đến các cung đường đầy lửa khói, bom đạn và cô bé nổi tiếng với điệu “lí ới là lí ơi” quan họ. Nhiều anh lính gọi thân mật Na là lí ới là lí ơi. Họ còn đặt tên cho Na là chim vàng anh. Tiếng hát vàng anh làm đời lính thêm ngọt ngào, ru đời lính bằng ấm nồng tình chị, tình em, nhắc nhở, che chở cho lính vì đã rót thêm hương vị quê vào nỗi nhớ da diết, hằng ngày của họ. Hình ảnh quê hương và cánh đồng, con cò lặn lội, dáng tần tào của mẹ xuất hiện, khi lời ca vàng anh bay lên. Có anh lính sâu sắc hơn, gọi vàng anh là tiếng hát quê hương. 
Na và nhóm tuyên văn bảy người, một hình thứ phục vụ chiến sĩ tối tinh giản đi khắp cung đường bến bãi, nơi có lính công binh trao tặng họ tiếng đàn, lời ca, điệu múa. Đến bất kỳ nơi nào, hễ gặp bộ đội, thiếu uý đội trưởng đoàn tuyên văn luôn nhớ nhiệm vụ thăm dò của mình, tìm cho cô bé quan họ người yêu. 
Không hiểu sao, chuyện tình cảm của Sa được đồng cảm thế và lan ra. Cứ vậy, tình yêu người quan họ được lan truyền, con bé Sa, thành liền chị. Lính ngưỡng mộ lắm. Lính vẫn thế mà. Chiến trường biền biệt những u hoài, hoang hoải và cả mịt mù bất tận nữa, đâu có là chỗ cho tình yêu trai gái. Vậy mà có người con gái dám dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn, thành chuyện để lính ca ngợi, lính ngưỡng mộ, lính mơ tưởng. Ngay cả chuyện đi phục vụ tiền tuyến của đoàn quan họ cũng được gọi lại thành đoàn văn công xung kích, vào tận nơi khó khăn ác liệt, trên những cung đường không tên, tên người con gái cũng như tự nhiên biến đổi, Kim Sa, phù hợp hơn cho một diễn viên, người ta gọi Na như vậy vì nghe truyền miệng hay nghe không rõ hay là vì người đời mong muốn, chẳng biết. Na trở thành hạt cát vàng của lính.
 Chỉ một tuần sau ngày Ba dính bom, đoàn văn nghệ xung kích của Na đến trọng điểm. Khỏi phải nói niềm vui của lính chiến bảo vệ mặt đường khi nghe tin có tên vàng anh Kim Sa. Khi nghe trong đoàn có nữ, chiến sĩ đã chuẩn bị riêng chỗ ở cho vị khách đặc biệt. Họ xúm xít bao quanh cô. Và cứ vậy “Kim Sa, Kim Sa”. Na đỏ mặt ngượng ngùng “em là Na, quả Na, các anh gọi sai rồi.”
 Thiếu uý đoàn trưởng chết lặng khi nghe tin Ba đã hy sinh. Tưởng như sẽ được chứng kiến một cuộc gặp gỡ kỳ diệu như mơ, một sự kiện vô cùng lãng mạn của chiến tranh, một tình yêu đầy những trắc trở, nức nở, uẩn khúc, ai oán và sắp có hậu. Bao người có lương tâm, biết chuyện, chờ mong cuộc gặp đó xảy ra với những nụ cười xen lẫn nước mắt hạnh phúc. 
Vậy mà nó sẽ chẳng bao giờ đến. Đêm đó, tiếng hát của Na vẫn bay trên cánh rừng và cung đường thời chiến được lấp vội vàng, cất lên tiếng gọi tình yêu. Cô chứng tỏ sự mạnh mẽ của mình với đoàn trưởng và đề nghị không làm ảnh hưởng đêm diễn. Họ vẫn chưa nói được lời yêu và tiếng yêu với nhau. Người lính trẻ măng, chưa một lần cầm tay con gái. Ôi, tình yêu mạnh mẽ, can trường đến mức nào. Trên sân khấu không ánh đèn, chỉ có ánh trăng rừng mờ ảo, nhàn nhạt, khi đang ngân bài hát thứ ba, bài hát cô dành cho người lính ngã xuống “yêu nhau cởi áo cho nhau về nhà dối rằng cha dối mẹ …”thì cô ngã xuống sàn xe bất tỉnh... câu hát cuối cùng “qua cầu gió bay…” thoảng nhẹ như hơi thở yếu ớt của cô. Một đám mây che lấp vầng trăng. 
Mặt trận vào sâu phía Nam. Những con đường xuyên rừng do các chiến sĩ công binh mở cứ dài mãi. Những người lính đồn nhau về mối tình của Na-nàng Kim Sa của lính: Mãi sau, họ vẫn bắt gặp ở cổng trời, sau những trận bom, quầng lửa và khói bụi tan, trên cao xa thẳm xanh ngắt, nơi mây núi và mây trời hoà làm một, xuất hiện một vầng đỏ, thấy đám mây thấp thoáng hình con gái, người con gái mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ. 
Vào những ngày đẹp trời, chỉ những người lính chốt ở cổng trời mới nghe thấy văng vẳng câu hát “yêu nhau cởi áo cho nhau…” Họ như đã và đang dâng hiến cuộc đời cho nhau. 
 Vinh Anh-17/4/22

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

 

Nghĩ gì? Nghĩ thế này: 
Cuộc chiến Nga-U đẩy hai dân tộc và lôi kéo thêm nhiều dân tộc nữa vào thế thù hận sâu thêm, moi móc quá khứ nhau ra chửi bới, nguyền rủa. Dân Nga hứng chịu nhiều hơn cả. Cái giá phải trả cho sự im lặng khuất phục trước độc tàì. 
Nhưng mình không phải người Nga, mình cũng chỉ nghe hơi nồi chõ. Am hiểu gì về lịch sử của họ? Có sống những ngày bị o ép vì cấm vận đâu, có nhìn thấy nó ném bom đồng minh, bạn cũ đâu mà nói. 
Đọc lại ông cựu thủ tướng Anh, thấy vô cùng chí lý: “bạn bè là nhất thời, quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn”. Nga-U đúng là anh em, anh em theo nghĩa rất sát của từ “anh em”, thân thiết hơn “môi với răng và núi liền núi, sông liền sông” nhiều nhiều lần, đã về sống chung một mái nhà gọi là Liên Xô, kề vai sát cánh nhau trong gian nan, mà bây giờ ục nhau chí tử. Vì đâu nên nỗi? Thế cờ thật phức tạp, trả lời cũng chẳng thể toàn vẹn. Tôi đoan chắc không thể toàn vẹn, phải nhún nhau thôi. 
Hồi 30/4/75, nghe đồn và tôi tin đó là sự thật, ông Dương Văn Minh, tổng thống VNCH, đồng ý và ra lời kêu gọi đến quân sĩ thuộc chính quyền Sài Gòn, yêu cầu hạ súng, chịu thua. Đường đường là một đại tướng chiến trận, là một tổng thống, ông nghĩ về cái gì trong giờ phút đó? Người ta cũng đã nói nhiều về ông thời khắc đó. Với tôi hôm nay, ông là nhân vật lịch sử có những phút giây quyết định sáng suốt và vì thế, trở thành vĩ đại. Có người bảo ông là bại tướng, là hèn nhát. Có người bên thắng cuộc hân hoan gọi ông là thằng này thặng nọ, nhưng với tôi, ông vĩ đại. Ông vĩ đại vì tầm nhìn xa của một chính khách, vì đã chấm dứt được cảnh đầu rơi máu chảy cho cả ngàn sinh mệnh, cho thêm bao nụ cười sau chiến tranh được trọn vẹn. Ông Dương Văn Minh đã hoàn thành sứ mệnh của người con đất Việt trong thời khắc khó khăn. Giờ đây, nhắc đến ông, một ông bại tướng chỉ còn đường nét lờ mờ, một người cứu sinh mệnh cả ngàn người thì chưa bao giờ được nhắc đến, vì điều đó không xảy ra, nhưng thâm tâm một số người biết suy nghĩ, ông là người cứu được nhiều sinh mạng dân Việt. Nhà Phật có câu “cứu một người phúc đẳng hà sa”. 
Tôi cũng gọi là biết và trải qua những ngày chiến tranh đó, những ngày đó luôn mong ngóng chờ tin hoà bình, chấm dứt cảnh bom rơi đạn nổ lắm lắm. Lúc đó tôi nghĩ gì ư? Đơn thuần nghĩ, mong được sống để về nhà với mẹ, chẳng cần gì hết, chẳng hề quan tâm đến chiến công, chẳng thiết gì được ngợi ca và được đỏ ngực. 
 Từ ngày chiến cuộc Nga-U nổ ra, chuyện Pu-tin bị chửi thậm tệ và vô cùng ác khẩu một cách dễ dàng, thấy có điều gì đó không công bằng. Khắp nơi trên thế giới đều yêu cầu Nga và Pu-tin chấm dứt chiến tranh. Vâng, nhưng chấm dứt bằng cách nào? Phải chăng cuộc chiến thức sự không phải là Nga và U, cuộc chiến của Nga đã có đối tượng mới, đó là Nga với NATO và nếu cụ thể hơn, với các cường quốc Mỹ Anh Đức Pháp. 
Lại nghĩ đến cuộc chiến tranh 65-75 của Việt Nam. Nếu không có súng đạn của Mỹ, Nga, Trung, liệu cuộc chiến có dằng dai, ác liệt như đã diễn ra, liệu có không cảnh “ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ”. Người mẹ nào muốn? 
Cuộc chiến Việt Nam, ông Minh là người gánh mọi nỗi nhục lúc đầu hàng vì là phe thua cuộc. Làm tướng đánh nhau mà chịu thua thì đương nhiên nhục nhã. Nhưng khi đó, lương tâm ông có thanh thản? Ngoài ông, không ai có thể trả lời. Nhưng chắc chắn, sau này nghĩ lại, ông hài lòng với quyết định của mình. Lực lượng quân đội của ông ở phía sau Sài Gòn, vẫn đâu đã tan rã, chắc chắn vẫn có những người lính còn trung thành với chính quyền VNCH và họ vẫn có thể tập hợp thành một lực lượng chống phá lâu dài.
 Người U không thể xử lý vấn đề lập lại chiến tranh như ông Minh, quân Nga cũng không thể tiếp tục chiến tranh như Bắc VN vì tình thế Nga-U không giống với VNCH-Bắc Việt. Khác nhau ở chỗ: 
1.VNCH ở thế thua và chắc chắn sẽ thua Bắc VN nếu tiếp tục chiến tranh 
2.VNCH hết nguồn viện trợ 
3.Thế giới khi đó lệch về bên Bắc VN nhiều hơn dù Bắc VN có vi phạm hiệp định Pa-ri (chẳng hiểu điều này có đúng không, vì người viết là người chỉ biết thông tin của Bắc VN) 
Còn dân U hiện nay không ở trong tình trạng như VNCH năm 1975. Dân U có nhiều lợi thế: 
1.Thế giới ủng hộ 
2. Nga không thể thắng bằng cách đánh dằng dai với vũ khí như đang dùng và thực sự Nga đã rút quân ở một số vùng gần thủ đô Kiiv 
3.Thế giới viện trợ cho U về vũ khí và nhân đạo. 
Vậy thì tại sao U như đang có lợi nhiều mặt như vậy, vẫn không nên tiếp tục chiến tranh với Nga? Lý do là: 
1.Thiệt hại về người và của của U sẽ tăng, nếu gia tăng cường độ chiến tranh. 
2.Người dân (cả người U và những tình nguyện viên quốc tế, người dân nước sở tại mà người U đến tị nạn) mệt mỏi vì cuộc chiến. 
3 Các cơ sở kinh tế, quân sự cũng sẽ bị phá hoại hết. Điều này làm ảnh hưởng lâu dài cho kinh tế của U.
 4. Cuộc chiến càng lâu, người U sẽ càng đơn độc chống chọi với Nga. EU và Mỹ đã tuyên bố không để bị liên quan nhiều đến Nga (vùng cấm bay, tiếp vũ khí cho U sẽ bị đe doạ, nên phải cân nhắc, đời sống người dân cũng bị ảnh hưởng vì sẽ bị cấm vận ngược lại từ Nga). 
Cho nên, phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Đau khổ chỉ người dân chịu. Tất cả phải bằng đàm phán. Cả Nga và U đều có yêu cầu cao trước đàm phán và bây giờ phải cùng giảm mục tiêu. Chắc chắn Nga sẽ đòi bỏ cấm vận. Vậy đó là thế mạnh của U và liên minh. Nga sẽ đòi hỏi về an ninh và công bằng, phe liên minh phải xem xét thoả đáng. Nếu cứ o ép Nga như thời gian vừa qua, Nga sẽ không đời nào chịu. Nga không giống thời Liên Xô tan rã. Nên nhớ Nga đã chịu lép vế từ 1991 với sự mở rộng NATO về phía Nga. Đây là phản ứng mà người dân Nga chấp nhận để đất nước của họ không bị coi thường, qua mặt dễ dàng. Chẳng hiểu số liệu dân Nga ủng hộ Pu-tin tăng lên là thật hay giả, nhưng chắc chắn, người Nga không muốn bị coi thường. 
Tôi chẳng nói dân U nên hạ vũ khí, khuyên thế dân Việt ta nó ném cho vỡ đầu. Nhưng chiến tranh thì không nhiều người trải qua. Có chăng cũng chỉ lả lướt gọi là, cũng đã bị bom, bị đạn, rồi thì qua, người thực sự chịu dằng dai, nơm nớp, đằng đẵng không nhiều. Chỉ lính tráng biết cái đau, cái khổ này rõ nhất. Phải những phút sống chết kề cận kia mới thấm. 
Hãy giúp dân U đủ sức chiến đấu chống xâm lược. Nhưng cứ tiếp tế súng đạn thế này thì có khác gì ý của Mao đồng chí “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Khuyên người U nhưng cũng xót thương xương máu người U. Bốn triệu rưởi người U đang còn bơ vơ kia kìa. 

Vinh Anh-11/4/22