Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Vùng quê quan họ

 

Vùng quê quan họ 


 Con bé Na chưa gọi là lớn nhưng có dáng đảm. Gái quê đa phần như vậy. Cái đảm do cuộc sống khó khăn vất vả tạo nên, nhưng chủ yếu cái đảm nhận được từ bà, từ mẹ, từ bản quán sinh ra, từ nguồn nước của vùng đó, nghĩa là từ sự ngàn đời tích tụ, chứ đâu phải ngày một ngày hai. Chúng có thể chậm hiểu cuộc sống hối hả, hiện đại nơi phố phường nhưng cuộc sống nơi làng quê với mối quan hệ rộng rãi, biết nhau về nhiều mặt, khiến chúng nó hiểu biết cuộc đời sớm hơn, sớm nhận biết nhiều vấn đề nhạy cảm, đặc biệt quan hệ nam nữ.
 Con bé đó có đôi mắt lúng liếng. Ba đã nghe khối người hát xa hát gần: “Yêu nhau đứng ở đàng xa, con mắt lúng liếng bằng ba đứng gần”. Thằng Ba thấy nó chẳng gần ai nhưng ai cũng muốn gần nó, bọn trai làng là thế. Con gái, những đứa như Na, luôn có ưu thế với bọn con trai. 
Bọn con trai như thằng Ba, trước mặt nó cấm khẩu luôn, chỉ biết cười trừ, mồm như ngậm hột thị. Lớn dần, thằng Ba cũng bạo hơn. Nó để ý con bé, nếu lớn lên chút nữa, các cụ bảo kiểu đó là phải lòng nhau.
 Thằng Ba không phải lòng như ý các cụ, nhưng nó thích. Ừ cái thời đó, thế mà xa lắm rồi. Con bé Na chưa bao giờ ngồi tựa mạn thuyền hay ngồi tựa song đào hát đối với thằng Ba, nhưng cũng đã đi hội Lim với cả lũ trai gái trong làng. Đi hội nghe hát và cũng hát. Chưa bao giờ hò hẹn cùng ai. 
Hình như có lần, chẳng hiểu cơn cớ, nó nói với Ba, liền anh, liền chị vướng một lời nguyền từ thăm thẳm xa, họ chỉ hát giao duyên, đối đáp nhau, lấy câu ca điệu hát ngọt ngào làm thân, kết bạn chứ không bao giờ nên duyên vợ chồng. Có ai đó trêu chọc chuyện chồng con, nó chỉ lấy chiếc nón Ba Tầm che mặt đã phớt nhẹ màu hồng và vén vạt áo tứ thân che đi cái sự ngượng ngùng, cười e thẹn như tất cả các cô gái ngày ấy, y như lời một câu hát quan họ vẫn hát. Những câu hát quan họ như “vận” vào nó. 
Chúng nó, bọn con gái ấy, có cái duyên. Duyên của chúng nó cái dáng mềm mại khi mang chiếc nón, cũng có cả cái duyên ở cái dáng đi uyển chuyển như múa, thanh thoát mảnh mai của tấm áo tứ thân hay mớ ba mớ bảy… Sau này, lão thi sĩ Hoàng Cầm còn tô thêm vẻ đẹp đó bằng “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” nữa, một câu thơ chỉ có thể ngầm hiểu, mỗi người hiểu theo suy nghĩ của mình, chứ giải thích nghe được cũng khó. Nói chung là chúng nó, bọn con gái ấy, có cái gì rất kín đáo và thêm tí phần bí hiểm. 
Bọn thằng Ba cứ vậy mà mê mẩn. Dù có hẹn, có hò “có ba bốn chờ, năm bảy đợi” cũng khó để đến với cái duyên, chẳng thấy người của lòng mình đâu, chỉ thấy mảnh trăng treo hờ hững, cứ lững thững vô tình trong ánh chim trời mỏi mòn về nơi xa tít. Ở cái nơi thăm thẳm đó thì làm sao thấy bóng em, chim trời cá nước mà. 
Thằng Ba mê mẩn vì cái áo mớ ba mớ bảy mà hôm trên trường, con Na mặc. Nó hát đồng ca, trong cái điệu quan họ mà đứa nào cũng biết: “người ơi người ở đừng về” khi biểu diễn tiết mục cuối cùng. Hôm ấy thằng Ba không về thật. Nó chờ cái Na, còn cái Na thì cứ đủng đỉnh chẳng chịu “giã bạn” cho, nó cứ dùng dằng y hệt cái câu nó ngân “người về i i ii…” Rồi thì Na cũng “giã bạn”, “giã bạn” trong cái điệu dùng dằng rất con gái.
 Nghe đâu, đám bạn đó phía bên kia sông, con sông mà khi sang, khi về thì con gái “ngồi tựa mạn thuyền”, ngồi để hưởng những dư âm ngọt ngào lưu đọng, còn con trai đứng che ô cho con gái. Thằng Ba cảm nghĩ như vậy… Gì mà chẳng… Nó ngắm Na và ra vẻ như bất chợt nhô ra từ hẻm tối: “Đợi với, Na…” Hai đứa đi về. Cái Na hình như không hề biết thằng Ba đợi nó, hay là nó giả như không biết, chứ thằng Ba đã có ý đợi từ lúc “người ơi, người ở đừng về…”. Nó hỏi bâng quơ “Sao, vẫn chưa về…?” mà như đang nghĩ về nơi nào đó. Nó nói, chẳng ra nói với thằng Ba “Đêm đẹp thế, vậy mà đã phải giã bạn…”. Thằng Ba thấy nó lửng lơ cũng giả ngất ngơ, sao bảo “người ơi, người đừng về…” Cái Na, cười “Thế mà cũng tin… ngốc… các câu hát có mấy câu thật… chỉ có ngốc mới tin… nếu ai cũng như mấy bài quan họ quê chúng mình thì đời chỉ toàn đợi với chờ, hò với hẹn, yêu với thương…” Này “có thương thì lại đi tìm… mai có nhớ người thì í í a à lại sang chơi...” Ừ, nhưng nhớ “chỉ ngồi mạn thuyền buông câu hát đợi chờ, nhìn dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ và đừng ngồi… đừng ngồi với ai nhé…” 
Chiến tranh làm tất cả lớn nhanh hơn, hiểu đời sớm hơn, nhưng tâm hồn dễ bị chai sạn, tổn thương, cái trong sáng tinh khôi học trò bị phủ che bởi những lớp màng, với chúng còn chưa rõ tên gọi. 
Hết cấp ba, thằng Ba đi nhập ngũ. Thâm tâm nó cũng chẳng thích vì đi chắc chắn khổ và thêm một điều khó nói ra, chắc chắn khó trở về, nghĩa là bỏ xác nơi rừng rậm ngút ngàn nào đó. Nhưng đây là thời chiến, gia đình cũng không cơ bản, không đi lính cũng chẳng đi được đâu. Ba cũng biết, có nhiều người chọn việc cầm súng để xua đi những mặc cảm mà xã hội gắn cho, muốn tìm lối ra cho mình bằng cuộc đời chinh chiến. Muốn có một sự thay đổi cho bản thân, phải chọn nơi khó khăn. Cuộc đời đâu có phải chỉ hò với hẹn, yêu với thương… 
Vậy là Na nói đúng về cái kết của những liền anh liền chị quan họ, một cái kết rất nhiều người không muốn, không cổ tích, không công chúa hiền dịu, không bà tiên phúc hậu và đương nhiên là không đoàn tụ, gặp gỡ, nghe những lời ấm nồng của nhau, sống bên nhau suốt đời. Bao nhiêu liền anh liền chị đã phải bỏ lạị những hò hẹn đợi chờ, bỏ bao thương vụng nhớ trộm, bỏ bao nhiêu bèo dạt mây trôi, bao nhiêu nước chảy qua con sông Cầu, dát ánh vàng những đêm trăng lung liêng. Những liền anh liền chị cũng đến thời phải đi, mỗi người một số phận, tứ tán hết, chỉ để lại nỗi nhớ thương trong câu quan họ ỡm ờ, lơ lửng, chơi vơi, lặng lờ với dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, không chỉ có đôi ta mà là sẽ cô đơn một người. Sông Cầu nhận gửi giữ những mối tình đẹp, những đôi mắt lúng liếng hẹn hò như câu hát buông rơi giữa đường, lảng bảng bay trên dòng sông. Sông Cầu giữ hết. 
Trai làng đi hết. Chiến tranh để lại những làng quê tiêu điều xơ xác và cảnh vắng lặng. Làng quê rặt đàn bà và trẻ con. Phụ nữ thời nào cũng khổ. Hội Lim không tổ chức hàng năm được nhưng vẫn có hát, vẫn có gặp nhau, vẫn hẹn hò nhưng chẳng còn thương nhau cởi áo cho nhau để đổ trăm tội cho qua cầu gió bay. Các liền anh liền chị, ít thôi, cũng se chỉ luồn kim hay áo anh sứt chỉ đường tà đấy nhưng chỉ còn trong giấc mơ, trong tiếng nấc nghẹn ngào, ướt đẫm vạt áo tứ thân. Đến hẹn lại lên nhưng không vui. Đất nước chiến tranh vui sao được, người đi người ở vui sao được, người sống người chết vui sao được. 
Na và Ba và nhiều liền anh liền chị đã ra đi theo tiếng gọi cứu nhà, cứu nước với những ảo vọng đẹp tuyệt vời, như cô gái áo đỏ ngồi vườn hoa, nói với chàng trai hào hoa là nhà thơ nào đó. Vâng, chính xác là ảo vọng đẹp. Hỏi có ai nói được cụ thể cái ngày mai nhưng ai cũng tin chắc là cái ngày đó đẹp. Cái ngày mai là cái rất mơ hồ, rất trìu tượng mà người ta cố hình dung ra sự đẹp đẽ, tạo vẻ hoành tráng cho nó. Nó là ảo vọng nhưng cũng là ước vọng của muôn người. Mong đến với cái đẹp là một điều tất nhiên.
 Ba đi bộ đội. Ngày nhập ngũ dân làng tổ chức tiễn đưa rầm rộ, ồn ào để che đi cái buồn chia ly, thậm chí để cho quên đi cái sống cái chết chờ đón những đứa trai làng. Ngày đó “ba lô con cóc, anh đi em khóc” nhiều lắm rồi, khăn trắng làng nào cũng có. Khổ! Các bà, các chị là những người mẫn cảm nhất chuyện đi ở, sống chết nhưng luôn phải tỏ ra cứng rắn cho người ra đi biết là hậu phương đáng tin cậy. Liệu mấy người ra đi biết hàng đêm, người hậu phương ôm gối khóc thầm. Khóc và nước mắt ướt hết tà áo tứ thân. 
 Ba vào bộ đội không lên miền Tây hay miền Đông Bắc như thời “Em vẫn đùa anh sao khéo thế/núi chồng núi vợ đứng song đôi” mà là hướng về phía Nam, sau ba tháng huấn luyện. Ba thành lính công binh, chuyên vá đường, mở đường, lấp hố bom. Ba cũng tự học thêm lái xe, lái máy... Nhưng nghề của Ba được đào tạo nguy hiểm lắm, đó là nghệ thuật dùng bộc phá, phá đi những vật cản trên đường. Phải biết tính toán, làm sao mất ít thuốc nổ nhất mà hiện trường lại gọn gàng. 
 Cậu học sinh cấp ba được học và làm được việc này, Cậu thành một chiến sĩ xuất sắc. Cấp trên muốn cậu đứng trong hàng ngũ Đảng, nhưng cái gọi là “gia đình không cơ bản” không muốn, cậu vẫn đánh bộc phá và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của chi bộ. 
Luôn có cái sự oái oăm trong cuộc sống, nhiều lúc oái oăm đến tức cười và bỗng nhận ra cuộc đời là như thế, cuộc đời luôn có những con người như thế. Cứ như là có Lý Thông thì phải có Thạch Sanh. 
Oái oăm và tức cười rơi vào Ba. Ba sinh ra trong một gia đình mà một thời gọi là không cơ bản, nghĩa là có thành phần không được tốt. Nó có được chọn gia đình có thành phần tốt để rơi vào đâu. Lỗi này của ai thì của, dứt khoát không phải lỗi của Ba. Nó cứ vậy vô tư, chẳng đoàn, chẳng đảng cũng chẳng sao. Đấy là năm nó mười lăm hai mươi tuổi. Thời thanh xuân đẹp là vậy, đáng yêu là vậy. 
Muốn đào tạo nó thành tấm gương phải cho nó vào đoàn và vào đảng, đấy là đường đi đã được vạch sẵn. Ngày đó ai chẳng biết đường đó. Tiểu đội phá đá mở đường của Ba có chục thằng lính, chỉ có tiểu đội trưởng là đảng viên, tất cả còn lại là đoàn viên, duy nhất Ba, chẳng đảng đoàn gì hết nhưng lại là thằng xuất sắc nhất. Cấp trên bảo như vậy không được. Ba phải được đứng trong hàng ngũ những người ưu tú. Ưu tú phải là đảng viên. Oái oăm là thế! 
Khổ cái, Ba như đã bị ngấm cái đòn “thành phần không cơ bản”, Ba không thích nữa, nó thờ ơ. Thực ra nó là đứa có cá tính, suy rộng ra, nó biết trọng danh dự của nó và gia đình. Vết xước đầu tiên vào tâm hồn khiến hắn nhớ lâu. Tiểu đội trưởng là đảng viên, rất quý Ba, nhưng trình độ chuyên môn và tiếp thụ công việc kém, gia đình khó khăn, tiểu đội trưởng mới học lớp bốn trường làng, ngoài những chỉ thị nhận trực tiếp từ B, C đưa xuống, A trưởng nhờ Ba làm hộ nhiều thứ, cái gì cũng Ba, chỉ có sinh hoạt đảng, đi họp chi bộ là không nhờ được thôi. 
Việc vào đoàn đơn giản. Ban chấp hành chi đoàn đại đội công binh xét và thông qua nhanh chóng việc chuẩn y kết nạp Ba vào đoàn. Có điều Ba không chịu viết lý lịch. Nó nói với tiểu đội trưởng “Em biết phận em rồi, em không vào được đâu… Anh đừng bắt em viết nữa, em cũng không ở bộ đội lâu dài đâu, hết chiến tranh, nếu còn sống, là em về quê, lấy vợ luôn…” Vậy là tắc và cấp nào cũng có lý do xác đáng để thanh minh trường hợp Ba, một con người với những ưu thế nhiều hơn người khác. Duy khi nói đến thành phần, ai cũng thấy khó. 
Trận bom vào đúng đội hình, tiểu đội trưởng dính mảnh, Ba ga-rô vết thương ở đùi cho tiểu đội trưởng và phải đưa anh về hậu cứ. Lúc nằm trên cáng, bàn tay A trưởng không buông tay Ba. Đơn vị thiếu người, Ba là nhân vật sáng giá nhất. Đại đội trưởng hội ý với chính trị viên, quyết định để Ba làm tiểu đội trưởng, một quyết định miệng, không giấy tờ nhưng lính tráng thấy rất hợp lý. Vết thương của tiểu đội trưởng không nhẹ chút nào. Bác sĩ sau khi xem vết thương nói cho tiểu đội trưởng đủ nghe “Cái cậu lính ga-rô cho anh có bàn tay nghệ sĩ…”A trưởng đáp, “Cậu ấy chỉ biết hát quan họ”. “À, đây là một liền anh tài hoa”. 
Vết thương nặng của A trưởng được mổ kịp thời và sinh mạng người lính được cứu. Sức khoẻ yếu, người tong teo, xanh rớt vì mất nhiều máu, tiểu đội trưởng theo giao liên ra Bắc điều trị tiếp. Trạm điều dưỡng cuối cùng dừng là trên vùng quê quan họ, hỏi ra mới biết, gần quê của Ba. Nhiều buổi liên hoan, thường có các liền chị liền anh của các thôn quanh vùng đến hát cho thương binh nghe. Hát cho các anh nghe để các anh vơi đi những mất mát, quên đi những đau đớn và bù đắp cho những ngày gian nan. Lần nào tiểu đội trưởng cũng hỏi về người thôn Đoài, và đã gặp được Na. 
Tiểu đội trưởng nói với Na: “Thảo nào thằng Ba chỉ đòi về quê, dứt khoát không chịu làm đơn xin vào đoàn…” “Thì quê có ai cho anh ấy vào đâu. Chẳng hiểu sao người ta ăn phải bả gì mà ghẻ lạnh như vậy với gia đình anh ấy… Thành phần là cái gì mà hành người ta đến chết thế… các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người… Hành như vậy là có tội đấy…” 
Chẳng hiểu ông đảng viên mới học lớp bốn trường làng hiểu và nghĩ những gì… nhưng Na thấy mặt anh ta nhăn nhúm như vết thương mới mổ lại toé máu. 
Cái câu “các anh phải làm gì chứ… đừng làm tội một con người…” lúc xoáy sâu, lúc văng vẳng bên tai tiểu đội trưởng. Cái vô lý của chủ nghĩa thành phần lại rơi vào người mà tiểu đội trưởng quý mến. Tiểu đội trưởng thấy quá rõ: Ba năng lực, trẻ trung, xông xáo, sáng tạo và Ba chịu thiệt thòi, bị cầm hãm bởi cái thành phần chết tiệt mà chính tiểu đội trưởng là người được lợi, cũng không hiểu cái thành phần đó ghê gớm như thế nào, mà để cô bé kia phát uất lên, vì muốn bảo vệ bạn mình. 
Cái thời đó, thời mà con trai nắm tay con gái là như đã thề thốt yêu nhau trọn đời đó, Na được người được cả nết, khối anh muốn chết mà không được. Trong khi đó, Ba nghĩ, Na chỉ coi nó là bạn. Có biết đâu, nó thông cảm và hiểu hoàn cảnh của Ba, phải thông cảm lắm mới nói ra được những lời gan ruột, đau đớn của nó với tiểu đội trưởng. Cách nói đó, điệu bộ đó, tất cả hình ảnh còn lưu lại ở người tiểu đội trưởng. Khi nhìn thấy nó phát khóc, mới thấy sự thấu hiểu của nó với hoàn cảnh của Ba. Không thấu hiểu, không thể thốt ra những lời buốt nhói tâm can như vậy. Tiểu đội trưởng nghe và chính anh cũng sa xót. 
 Lúc nào tiểu đội trưởng cũng như nghe thấy lời nói thống thiết của Na “Đừng làm tội một con người…” Phải, câu đó hàm chứa đau đớn cùng cực của sự oan ức. Tội tình gì mà bắt nó, một con người tốt đẹp, mà cũng có thể ngày mai, sẽ ngã xuống vì đạn thù một cách anh hùng. Tiểu đội trưởng còn thấy cái gì đó trong veo, cao quý trong tình cảm của Na dành cho Ba nữa. Đâu có phải trình độ lớp bốn trường làng không phân biệt được đúng sai, phải trái. Giờ chỉ là, điều oan uổng chậm được sửa, kéo theo nhiều nỗi đau, để đến nỗi, người ta tin đó là số phận đeo bám, thậm chí, giết chết nhiều tâm hồn, mà đâu đó, người ta cứ ngoảnh mặt làm ngơ. 
Anh lính trình độ lớp bốn trường làng không muốn thấy điều đó, anh muốn che chở, bênh vực một con người, đấy là lương tâm thuần khiết không phải lúc nào cũng xuất hiện, chỉ đôi khi, con người trong một thời khắc, tâm hồn bỗng trong suốt, sạch sẽ, loé sáng 
 Tiểu đội trưởng ra viện và về Hà Nội, tìm đến phòng quân lực Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh, nói rõ những uẩn khúc ngang trái về thân phận và hoàn cảnh éo le con người đã góp phần cứu sống anh, nói về thành tích cùng sự dũng cảm của người đó trong thời gian cùng công tác và đề nghị giúp Ba giải thoát khỏi vòng kim cô lý lịch, một thứ gông cùm suốt đời cho một con người. Tiểu đội trưởng cũng không quên nói về cô bạn của người lính cùng quê và giọng nói đẫm nước mắt uất ức của cô. Tiểu đội trưởng lặp lại câu nói của cô gái với người phụ trách quân lực binh chủng, nhưng anh đã thay một từ, làm tăng lên sự ác độc của sự phi lý vẫn được người đời chấp nhận một cách cứng nhắc, cứng nhắc đến mù quáng: “đừng giết chết một con người…”. 
Ông phụ trách quân lực lau đôi mắt, chăm chú nhìn tiểu đội trưởng. Ông chưa biết Ba, chưa biết Na. Trước mắt ông chỉ là anh lính quê mùa, trình độ lớp bốn trường làng, diễn đạt câu chuyện chưa được thoát ý, nhưng ông hình dung ra, trước mắt mình một mối tình đẹp sinh ra trong gió bão, đang dần bị mưa gió quật đổ, cần nâng niu, bảo vệ, cứu giúp và đây nữa, trước mắt ông, một con người bình dị hiếm có, đầy nét quê của những “đồng nghèo cuống rạ”, của những lam lũ chắt chiu, cam chịu đựng khổ đau không hề than trách, nhưng trong hoang hẻo tồi tàn đó, lại dám bật dậy, bật dậy, toả sáng nhưng lại không biết mình toả sáng. 
Một tình cảm kính trọng, ngưỡng mộ dâng tràn, khiến ông nao nao, ông thấy cần có trách nhiệm về những con người này. Ông đã vào tận nơi Ba công tác, nơi cuộc sống cái chết diễn ra hàng ngày, quan sát trực tiếp và nghe ngóng mọi chuyện về Ba, không bỏ sót. Cái nghề của ông và vô số những lý thuyết cứng nhắc, lỗi thời ngày đó, đòi hỏi ông phải làm một bản tường trình rõ ràng về một con người. Ông cảm thấy như chính ông, đã bị mối tình như hư ảo, nhưng trắng trong của tuổi trăng rằm quyến rũ, si mê. Vâng, đó cũng là một điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc sống, bắt nguồn từ người này, truyền sang người khác. Con người vẫn có những ràng buộc lẫn nhau, dẫu chẳng có một chút thân thích, máu mủ. Cái tốt đẹp vẫn tự lan truyền theo cách của nó.
Từ khi biết tiểu đội trưởng của Ba, Na nảy ra ý định mang tiếng hát người quan họ vào chiến trường, sát cánh với người bạn cùng quê. Được như vậy thì thật là đẹp, tình cảm thời học trò trong sáng đáng yêu làm sao. Na đâu biết cụ thể cái mà mọi người gọi là chiến trường. Với sự ủng hộ của ông phụ trách quân lực, Na dễ dàng tiếp cận các đơn vị của binh chủng trong chiến trường bằng những lời ca quan họ của một đoàn văn nghệ phục vụ tiền tuyến. 
 Chuyện lãng mạn đuổi bắt một tình yêu được bắt đầu từ ý thức quá đỗi nhân văn của người tiểu đội trưởng, trình độ lớp bốn trường làng, anh ta đâu có những lý luận uyên bác trìu tượng về lẽ sống. Anh ta chỉ có sự đồng cảm, tình yêu chất phác của con người quê mùa. Vậy mà con người đó đã cho người đời hình dung ra rõ ràng và ấn tượng lời câu ca dao “yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.” Đố ai giải thích hay hơn tiểu đội trưởng của Ba. 
 Hành động của Na, người đời thường nói là: “Đùng một cái”. Đùng một cái, Na nói ra mọi ấm ức bị đè nén, đùng một cái Na tham gia đoàn hát quan họ phục vụ thương binh, đùng một cái Na muốn phục vụ ở chiến trường, đùng một cái Na thành chiến sĩ, đồng đội của người bạn quê… 
Na tưởng tượng ra những bước chân hành quân trong đội ngũ những người lính áo thẫm màu cây rừng. Chỉ đắm trong tình yêu, mới có những tượng tượng đó. Tình yêu vì thế mãi là thơ, mãi là quan họ, mãi là dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, mãi là êm đềm ngồi tựa mạn thuyền lặng chờ con gió, mãi mãi vẫn là còn duyên để kẻ đón người đưa… để rồi, để rồi sẵn sàng dâng hiến, yêu nhau cởi áo cho nhau và cũng chuẩn bị sẵn để “dối rằng cha dối mẹ qua cầu gió bay”. Lời nói dối đáng yêu thế, ai tin mà vẫn cứ dối.
 Cuộc đời éo le vẫn dành sẵn chỗ cho một số người. Có người khi cùng cực, vẫn nhận ra rằng, mình vẫn may, có thể còn may hơn người này, người nọ ở một vài điểm nào đó, thí dụ nó là cái may trong lằn ranh giới của sự sống và cái chết. Giữa sống và chết, vứt bỏ đi những lí do loè loẹt trang điểm cho cái lý tưởng cao siêu, trìu tượng, cái sống vẫn hơn. Ba cảm thấy mình là con người có cái may mắn đó. 
Na được ghép theo một đoàn tuyên văn xung kích gồm bảy người. Tất cả chung tay làm mọi việc của một đoàn văn công, nhưng thêm súng tiểu liên và nhạc cụ, là một chiếc ghi ta, một chiếc đàn ác-coóc. Na được phát bộ quần áo lính thẫm mầu cây rừng và phải mang thêm bộ áo tứ thân quan họ, cũng thêm một chiếc khăn mỏ quạ, chiếc quần lụa đen, cả nón Ba Tầm cũng phải mang, nhưng vì đường xá cũng như phương tiện không thuận, chiếc nón phải bỏ lại. Thiếu uý đoàn trưởng được ông phụ trách quân lực giao nhiệm vụ thêm về Na, đến đâu có bộ đội, phải liên lạc tìm được đồng chí Nguyễn Văn Ba, người quan họ xứ Đoài. 
Cuối mùa vận chuyển của năm bảy hai, Ba dính bom. Sự ác liệt của chiến tranh chẳng ngoại trừ ai. Ba trúng bom từ trường mà anh vừa phá. Bom nổ, đất đá dội xuống đè lấp Ba. Đồng đội bới được Ba trong hơi thở thoi thóp và một cái chân tê dại, không còn cảm giác. Vết thương của Ba giống hệt vết thương của tiểu đội trưởng bị hồi nào, Ba được sơ cứu và tức tốc được chuyển về hậu cứ. Người bác sĩ lần trước sau khi thăm khám, nhìn vết thương mà máu chảy ra đang đọng ướt đẫm bông băng còn chưa khô: “Không kịp rồi…” Ba không sống được vì thiếu bàn tay người nghệ sĩ vùng quan họ ngày nào. Đồng đội đi theo nghe bác sĩ nói về người nghệ sĩ quan họ, nói, cậu ấy hát bài “qua cầu gió bay” hay lắm.Dân quan họ chính hiệu đấy ạ. 
Lúc này, tiếng hát của Na đã bay đến các cung đường đầy lửa khói, bom đạn và cô bé nổi tiếng với “qua cầu gió bay” và điệu “lí ới là lí ơi” rất quan họ. Nhiều anh lính gọi thân mật Na là “lí ới là lí ơi”. Họ còn đặt tên cho Na là chim vàng anh. Tiếng hát vàng anh làm đời lính thêm ngọt ngào, ru đời lính bằng ấm nồng tình chị, tình em, nhắc nhở, che chở cho lính vì đã rót thêm hương vị quê vào nỗi nhớ da diết, hằng ngày của họ. Hình ảnh quê hương và cánh đồng với con cò lặn lội và dáng tần tào của mẹ xuất hiện, khi lời ca vàng anh bay lên. Có anh lính sâu sắc hơn, gọi vàng anh là tiếng hát quê hương. 
Na và nhóm tuyên văn bảy người, một hình thứ phục vụ chiến sĩ tối tinh giản đi khắp cung đường bến bãi, nơi có lính công binh trao tặng họ tiếng đàn, lời ca, điệu múa. Đến bất kỳ nơi nào, hễ gặp bộ đội, thiếu uý đội trưởng đoàn tuyên văn luôn nhớ nhiệm vụ thăm dò của mình, tìm cho cô bé quan họ người yêu. Không hiểu sao, chuyện tình cảm của Sa được đồng cảm thế và lan ra. Cứ vậy, tình yêu người quan họ được lan truyền, con bé Sa, thành liền chị. Lính ngưỡng mộ lắm. Lính vẫn thế mà. 
 Chiến trường biền biệt những u hoài, hoang hoải và cả mịt mù bất tận nữa, đâu có là chỗ cho tình yêu trai gái. Vậy mà có người con gái dám dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn, thành chuyện để lính ca ngợi, lính ngưỡng mộ, lính mơ tưởng. Ngay cả chuyện đi phục vụ tiền tuyến của đoàn quan họ cũng được gọi lại thành đoàn văn công xung kích, vào tận nơi khó khăn ác liệt, trên những cung đường không tên, tên người con gái cũng như tự nhiên biến đổi, Kim Sa, phù hợp hơn cho một diễn viên, người ta gọi Na như vậy vì nghe truyền miệng hay nghe không rõ hay là vì người đời mong muốn, chẳng biết. Na trở thành hạt cát vàng của lính. 
Chỉ một tuần sau ngày Ba dính bom, đoàn văn nghệ xung kích của Na đến trọng điểm. Khỏi phải nói niềm vui của lính chiến bảo vệ mặt đường khi nghe tin có tên vàng anh Kim Sa. Khi nghe trong đoàn có nữ, chiến sĩ đã chuẩn bị riêng chỗ ở cho vị khách đặc biệt. Họ xúm xít bao quanh cô. Và cứ vậy “Kim Sa, Kim Sa”. Na đỏ mặt ngượng ngùng “em là Na, quả Na, các anh gọi sai rồi.” 
Thiếu uý đoàn trưởng chết lặng khi nghe tin Ba đã hy sinh. Tưởng như sẽ được chứng kiến một cuộc gặp gỡ kỳ diệu như mơ, một sự kiện vô cùng lãng mạn của chiến tranh, một tình yêu đầy những trắc trở, nức nở, uẩn khúc, ai oán và sắp có hậu. Bao người có lương tâm, biết chuyện, chờ mong cuộc gặp đó xảy ra với những nụ cười xen lẫn nước mắt hạnh phúc. Vậy mà nó sẽ chẳng bao giờ đến. 
Đêm đó, nhận tin của Ba, tiếng hát của Na vẫn bay trên cánh rừng và lan khắp các cung đường thời chiến đã san lấp đi những loang lổ chiến tranh, cất lên tiếng gọi tình yêu. Cô đã chứng tỏ sự mạnh mẽ của mình với đoàn trưởng và đề nghị không làm ảnh hưởng đêm diễn. 
 Họ vẫn chưa nói được lời yêu và tiếng yêu với nhau. Lời nguyền xa xưa thăm thẳm của các liền anh, liền chị vẫn đeo bám. Người lính trẻ măng, chưa một lần cầm tay con gái. Ôi, tình yêu mạnh mẽ, can trường đến mức nào. Trên sân khấu không ánh đèn, chỉ có ánh trăng rừng mờ ảo, nhàn nhạt, khi đang ngân bài hát thứ ba, bài hát cô dành cho người lính ngã xuống “yêu nhau cởi áo cho nhau về nhà dối rằng cha dối mẹ …”thì cô ngã xuống sàn xe bất tỉnh... câu hát cuối cùng “qua cầu gió bay…” thoảng nhẹ như hơi thở yếu ớt của cô. Một đám mây che lấp vầng trăng. 
Mặt trận vào sâu phía Nam. Những con đường xuyên rừng do các chiến sĩ công binh mở cứ dài mãi. Những người lính đồn nhau về mối tình của Na-nàng Kim Sa của lính: Mãi sau, họ vẫn bắt gặp ở cổng trời, sau những trận bom, quầng lửa và khói bụi tan, trên cao xa thẳm xanh ngắt, nơi mây núi và mây trời hoà làm một, xuất hiện một vầng đỏ, đám mây thấp thoáng hình con gái trong tà áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ. 
Vào những ngày đẹp trời, chỉ những người lính chốt ở cổng trời mới nghe thấy văng vẳng câu hát “yêu nhau cởi áo cho nhau…” Họ như đã và đang dâng hiến cuộc đời cho nhau. 

 Vinh Anh-17/4/22

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét