Tìm kiếm Blog này
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013
NẾU NÓ RƠI VÀO NHÀ TÔI (t. ngắn)
Truyện ngắn
Bà vợ ông phải đi cấp cứu kể lại với một bà hàng xóm:
“Ông
nhà tôi vẫn đang yên đang khoẻ là thế…Sáng nào cũng dậy từ lúc mặt trời chưa
ló, bất kể mùa đông hay mùa hè, chỉ với cái áo sơ mi bạc phếch và chiếc quần
lửng thời hiện đại, diễu lượn không ra diễu lượn, thể dục chẳng ra thể dục.
Trưa chỉ ngủ chừng mươi phút, lại trở dậy, mó máy cái này, đụng đậy cái kia.
Chiều trong khi ông này ông nọ giày tất quần áo thể thao hoặc tào lao hóng
chuyện, ông nhà tôi vẫn chỉ lượn lờ, tập không ra tập, chơi không ra chơi,
chẳng chính trị chính em cái gì ráo. Tối thì chưa hết chương trình thời sự trên
TV đã lăn ra ngáy o o trong buồng. Ông ấy có biết ốm đau là gì… Ấy vậy mà đùng
một cái, đau bụng, cấp cứu, chảy máu dạ dày. Thật chẳng ai ngờ… Thì đấy, gia
đình còn không biết huống chi hàng xóm…”
Ông bạn
hàng xóm, bạn già với nhau, từng là giám đốc, từng đã hai lần vào cấp cứu ở
bệnh viện vì cái bệnh tuổi già: xuất huyết não, di chứng còn lại của hai lần
cấp cứu là cái chân cứ cà nhắc cà nhắc, tay cứ vung vảy vung vẩy, thêm vào: “ Hôm qua, ông ấy còn ngồi đây, nói
với tôi về cái bệnh H1N1 gì đó: nó lây đến ta rồi đấy, nguy hiểm rồi đấy. Tôi
cười: còn xa lắm ông ạ. Ông ta lại bảo: đừng chủ quan. Vậy mà đã cấp cứu…” Bà
hàng xóm rùng mình nghĩ đến chuyện phải đi bệnh viện, phải đến cái nơi đầy rẫy
những loại vi trùng, cả loại nhìn thấy và loại không nhìn thấy.
-“Phải
đến bệnh viện, điều bà sợ nhất, bà nói với sự chua chát, là sự ghẻ lạnh của
nhân viên y tế thời xuống cấp. Mình là con người, mà không nơi nào họ lại phớt
mình như cái nơi này. Nghĩa là tôi muốn nói đến thời hiện tại đấy. Cái nơi
quyết định sự sống hay cái chết ấy. Tôi nói đấy là nói thật. Mà đã thật là hay
mất lòng. Có người khuyên nên chuẩn bị sẵn áo giáp để hứng các làn đạn nhắm vào.
Về lý thuyết người ta nói là nên sống thành thật với nhau và nhiều cái điều lý
thuyết dài dài nữa. Ấy vậy mà không phải vậy đâu. Nói như mấy anh hai Nam Bộ
“Nói zdậy mà không phải zdậy”. Tốt nhất là cứ phải tuỳ cơ ứng biến.”
Lý ra, đến cái nơi đó, đến cái bệnh viện ấy, khi
mà con người ta, sống hay chết không còn biết bấu víu vào đâu nữa, thì nơi đây, nơi
mà người ta phó thác sinh mệnh, người bệnh chỉ mong được lời an ủi, được nhận
nụ cười, được một lời chỉ dẫn để vơi đi cái lo ngay ngáy cháy ruột đang đè nặng
bên mình. Cái lo ấy nặng lắm, vì nó là tính mạng con người chứ có phải cái xe
cái cộ gì đâu. Trên đời này còn gì quí hơn cuộc sống. Bởi suy cho cùng, nguời
ta làm nọ làm kia, chung qui cũng chỉ vì cuộc sống. Thế mà, thật chưa bao giờ
thấy cái nụ cười vô tư, hiền lành, có chất con người ở những “Từ mẫu” áo trắng.
Đừng cho tôi là cực đoan. Tôi viết những dòng này đang lúc tâm tính tôi thoải
mái và yêu đời nhất đấy.
Ông
hàng xóm phải vào bệnh viện. Tất nhiên cũng đã ối người đến bệnh viện, nhưng
toàn đến thăm hỏi người ốm vài câu qua loa, hoặc đưa tiễn một con người nào đó
về bên kia thế giới. Tôi biết bệnh viện từ cái ngày tôi còn bé, theo mẹ vào
chăm bố tôi ốm, nhưng ngày đó cách đây đã gần nửa thế kỷ. Cũng phải thú nhận,
qua nửa thế kỷ sống thêm ở kỷ nguyên của mình, cái chất bao cấp xã hội của tôi
nặng lắm, nghĩa là tôi muốn nói cái sự dớ dẩn của tôi. Nửa thế kỷ trước, cũng
tại cái bệnh viện này, nơi bây giờ ông bố trung tướng của tôi đang điều trị,
khác nhau quá.
Thế giới thì cứ đi lên vùn vụt. Cái gì
chứ, xem phim Hàn quốc hay Mỹ quốc hay quốc quốc gì đó, nhìn thấy bệnh viện của
họ mà choáng ngợp. Mỗi một bệnh nhân theo xe cứu thương hụ còi đến cổng là cả
một guồng máy ào ào chạy. Tất cả mọi hành động của con người bằng xương bằng thịt
mà hành động diễn ra cứ như là những chú rô-bốt. Tất cả vì sự sống của bệnh
nhân. Sướng quá! Nghĩ đến cái thân mình lại ước, giá mà…chết được như vậy cũng
sướng!
Ông bạn
già của ông hàng xóm, một cựu giám đốc thời đã mở cửa. Thời mà cách đây khoảng
hai chục năm, nhiều cái nước ta còn lạc hậu lắm. Tuy vậy, chất giám đốc thời đó
và thời nay cũng không khác nhau là mấy nếu như cơ quan chủ quản của nó là ông
lớn Nhà nước. Nghiêm chỉnh mà nói, ông lớn Nhà nước vẫn quyết định mọi điều. Từ
phê chuẩn bổ nhiệm đến phương hướng hành động của công ty hay xí nghiệp gì đó.
Ông làm giám đốc ư, có ngọ nguậy hay véo von gì đi nữa cũng ngọ nguậy hay véo
von trong cái lồng đó thôi. Cái lồng đó hình thù thế nào thì mỗi người giám đốc
phải có cách hiểu của mình để mà vùng vẫy trong đó cho hợp đạo, hợp cách. Cuộc
sống muôn hình vạn trạng, cái lồng giám đốc sống cũng muôn hình muôn vẻ. Giám
đốc vươn lên và bứt phá được, nghĩa là ăn nên làm ra, cơ ngơi phát triển, cũng
phải tuỳ… Tất nhiên là phải hội đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi nhân hoà.
Thiếu một cái nào đó cũng không thể được. Nhắc lại, đó là lẽ tất nhiên!
Ông
giám đốc về hưu đã được chục năm nay. Chất giám đốc vẫn còn chảy trong máu của
ông. Nghe ông bạn già của mình phải đi cấp cứu, ông vận dụng vào ngay cái bản
thân chưa xa xôi của ông, phải thế này, thế này… Ông vừa nói, vừa cười, vừa làm
động tác đếm đếm bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa xoa xít vào
nhau. Động tác của ông mềm mại nhuần nhị lắm, trông rất đẹp và hiểu ngay. Tôi
ngồi nghe ngóng hóng chuyện. Nhà tôi vào loại bình dân. Nếu như vào hồi cải
cách ruộng đất, nhà tôi có thể được xếp vào lớp “dân nghèo thành thị”. Thuộc
thành phần cơ bản, lãnh đạo cách mạng đấy. Nhưng bây giờ nhà tôi lép vế so với
mọi nhà khác lắm. Cứ nhìn vào cái vỏ nhà thì biết. Xung quanh, hàng xóm nhà tôi,
nhà cao tầng ngất nghểu. Bét ra cũng ba tầng. Còn như ông hàng xóm phải cấp cứu
kia, nhà mới dựng lên trên nền cái ba tầng cũ đã bị đập đi, bây giờ là những
năm tầng óng ả và hoành tráng. Mà ông ấy với vợ tôi cùng làm một chỗ, cùng về
hưu một ngày đấy. Cũng chỉ là nhân viên nhì nhằng, bỏ cũng được mà không bỏ
cũng chẳng sao.
Nhân có chỉ thị gì đó, thế là, ông ta và
vợ tôi rủ nhau cùng về vườn với đầy đủ chế độ kèm theo, có ngồi nữa người ta
cũng khinh. Vậy ra cũng còn ối người biết tự trọng đấy a! Theo sau đó cũng còn
ối ông bà khác, nối tiếp nhau. Về thì cùng về một thể cho vui. Mọi người nói
vui với nhau thế thôi, chứ có ai trong thời buổi này muốn về. Nhất là với gia đình
tôi, bởi vốn vợ tôi là nhân vật quan trọng trong gia đình. Tôi thì đã đành. Bà
ấy về là bao nhiêu chế độ bao cấp mà tôi và thằng cu ăn theo đều hết. Vậy là từ
đó, nhà tôi chấm hết những ngày vui. Cũng tiếc thật đấy, quyền lợi của mình bị
mất, sao không tiếc? Vợ tôi là nhân viên phòng tài vụ. Hàng tháng, hàng quí rồi
thì tổng kết cuối năm, sổ sách của mụ ta tôi làm hộ hết. Mọi người đều biết. Vì
nắm trong tay “quyền sinh quyền sát” nên phòng tài vụ cũng có được ưu tiên hơn
các phòng ban khác. “Mạnh về gạo, bạo về tiền” mà. Mọi năm nhà tôi ba người vẫn
ung dung nghỉ mát. Năm nay Đồ Sơn thì sang năm Sầm Sơn. Cũng có khi lên núi,
Tam Đảo hay Ba Vì gì đó. Cũng có khi rồng rắn lên mây, vào tận miền Trung xa
xôi. Tôi và thằng cu luôn được hưởng xuất ăn theo. Vì vậy, tôi cúng cả Sơn Thần
và Thuỷ Thần, nếu có Thần Phật nào khác, chắc tôi cũng đều cúng hết. Được cái
tôi lòng thành. Tôi lại về mất sức lâu rồi, hoàn toàn không dính dáng dến
chuyện chính trường, cho nên tôi sạch sẽ. Thần Phật chẳng bao giờ hại người
lành.
Ông hàng xóm được người nhà đưa vào bệnh
viện cấp cứu. Đây là bệnh viện hạng sang của thủ đô, được nước ngoài tài trợ
hay bỏ vốn liên doanh gì đó. Tôi chắc thế vì có cái tên Tây kèm theo. Cứ nghe
đến cái tên bệnh viện loại đó, tôi đã thấy những đồng đô la kêu xủng xoẻng. Dân
nghèo thành thị như tôi chỉ có mà ngẩng đầu lên…mơ ước. Cái ngữ như tôi, đi
khám bệnh cũng còn không dám, nói dại, tôi sợ tốn tiền hơn khám bệnh. Có lẽ
cũng chỉ khi nào phải cấp cứu, tôi mới dám vào bệnh viện. Ai lại, nhận cái
phiếu là coi như mất béng hai chục ngàn. Chẳng hiểu khám cái gì, mấy câu sơ sơ
mà tôi cũng có thể hỏi, vậy là xong. Đấy là loại bác sĩ “bình dân” khám bệnh
đấy. Chứ để mấy ông tiến sĩ hay giáo sư đụng vào thì dân nghèo có mà chết trước
khi đổ bệnh. Khoảng năm, bảy phút sau, không hiểu có được ngần ấy thời gian không,
mời quí bác đi tiếp phòng bên (nghe cứ thoang thoảng cái câu ở triển lãm hay
bảo tàng cách mạng ấy). Sang phòng bên, nếu khám nữa, lại “vi tính”. Chỉ tiền
đồng thôi, chứ không phải đô la, nhưng mà tôi xót lắm. Đi hết mấy cái phòng
khám này có mà mất nửa tháng lương hưu non như bỡn.
Vậy mà ông hàng xóm của tôi tiêu tiền
như rác. Bà vợ ông ta nói: “Cháu nó làm việc hết rồi. Một ngày hai lần thay ga,
gặp người nhà bệnh nhân, y tá bác sĩ cười như hoa…” Tôi tủi thân quá. Tôi đã
bao giờ dám nói chuyện với bác sĩ đâu. Có lần chưa nói hết câu, mấy ông đã phủ
đầu cho rồi, tôi nhớ mãi. Vậy mà bây giờ nghe bà hàng xóm nói, tôi cứ như mơ,
không hiểu mình đang đứng ở chỗ nào đây.
Ông cựu giám đốc chẳng lạ chuyện đó. Ông
cười thoải mái: “Đâu chẳng thế!” Rồi ông quay sang tôi đang “phát sốt” lên vì
thấy họ nói toàn động đến tiền với tiền.
“Vào nằm ở đó có mà tiền tấn. Tôi như ông ấy sang quách bên Sing. Đại gia phải
thế chứ”. Tôi ngán bệnh viện cũng bởi vì tôi không có tiền, chứ thật ra, nói nó
có nhiều vi trùng, tôi cũng có nhìn thấy đâu.
Lạ thật, ông hàng xóm của tôi cũng chỉ
nhì nhằng như bà vợ tôi. Vậy mà dăm năm nay “phát” thế. Ngôi nhà ba tầng của
ông ta mình mong chẳng được, lão đập đi và đến chuyện cấp cứu này mới lòi cái
mặt lão. Nhưng mà ông ta thì sống vẫn bình dân, bình dân đến nỗi không thể tin
ông ta ốm dám vào nằm điều trị nơi đó. Bằng chứng ư, đấy, bà vợ ông ấy nói đó
thôi, ông ấy suốt ngày đánh cái sơ mi bạc phếch và chiếc quần lửng thời hiện
đại, thể thao chẳng ra thể thao dạo mát chẳng ra dạo mát là gì.
Điều chắc chắn là mới đây thôi, lâu la
gì đâu, ông hàng xóm của tôi còn bòn vét từng đồng cơ mà. Nói vậy cũng hơi quá.
Ông thu góp tích luỹ từng đồng. Nghèo như tôi cũng chẳng thiết. Tỉ như, ông vẩy
cái mái trước nhà cho rộng thêm ra một chút, cũng có lấn ra ngoài đường vài
chục xăng ti, làm một cái nhà tạm cho mấy chị đồng nát, mấy bà bán rong thuê,
mỗi tháng phụ thêm cho gia đình trăm hơn trăm kém. Hay như, cái thời mà cả khu
phố nhao lên vì không có nước ăn, nhà lão có cái giếng khoan, lão vốn vẫn nuôi
lợn mà, chẳng biết tốt xấu thế nào, cứ bơm của lão một tiếng là lão lấy năm
nghìn. Lão có tiền tiêu mà bà con có nước dùng. Đấy, hoàn cảnh lão như vậy, thế
mà bây giờ, lão nằm bệnh viện Tây, nghe cứ như chuyện lạ.
Ông cựu giám đốc cứ rềnh rang rềnh rang
nói chuyện, hệt như kiểu cái chân của ông, mỗi bước lại hất ra ngoài một cái
rồi mới thu gọn vào trong: “Nằm ở cái bệnh viện của ta, chỗ dịch vụ theo yêu
cầu í, mỗi ngày hai trăm, nằm ở cái bệnh viện Tây này, mỗi ngày chí ít cũng mất
một triệu, mất một triệu thì có nụ cười ngay. Gặp đâu cười đấy ngay ấy mà! Ông
cứ hay khó tính, ai mà chả vậy!”
-Thế sao mà mấy cha đó lúc nào cũng bài
ca “lương thấp, đời sống khó khăn” nhỉ?
-Kêu là một chuyện. Đời thực là một
chuyện. Có người quần quật cả ngày, mồ hôi chảy như tắm kia kìa, may ra một giờ
lao động được một hai chục ngàn, cả ngày trăm bạc. Có thấy họ kêu không, kêu
chứ, nhưng ai đoái hoài tiếng kêu ấy, may ra, năm thì mười hoạ, có một bài báo
nhân đạo như của ông nói hộ. Lạc lõng và nhỏ nhoi! Tình thương con người và tội
ác con người chênh nhau nhiều lắm! Trăm bạc một ngày là giấc mơ của người nhà
quê đấy ông ạ. Công của người lao động giành lại sinh mạng ông từ tay tử thần,
đương nhiên nó phải cao. Cao bao nhiêu mà không được. Đố ông có một lời nào nói
lại đấy. Cho nên, bác sĩ ti toe loại “bình dân” khám bệnh thì tám chục, tiến sĩ
thì trăm rưởi, giáo sư thì hai trăm là đúng. Ông thắc mắc à, có dám mang sinh
mệnh của ông ra mặc cả không? Ông phải biết vá một cái săm xe đạp và vá một
khúc ruột trong bụng ông khác nhau nhiều lắm đấy.
Giám đốc nói có khác, đâu vào đấy, tôi
chịu. Nhưng mà vẫn ấm ức. Mình vào bệnh viện có bảo hiểm hẳn hoi, nó coi mình
ra cái quái gì đâu. Ra Quốc hội nó cứ kêu đời sống công nhân viên chức ngành y
tế thấp. Vậy mà còn kêu thấp a? Còn vào bệnh viện, ngoài cái khoản chính thức
ký vào sổ sách mình phải lo cho đủ, còn phải lo lót bao nhiêu khoản khác nữa
chứ. Lo từ dưới lên trên. Đấy, cái ga giường đấy, cũng phải lót tay. Lạ nhỉ?
-Thì cái gì bây giờ mà không tiền. Các
cụ chẳng đã nói “có tiền mua Tiên cũng được” đấy thôi. Chẳng lẽ mấy ông áo
trắng đó là Tiên chắc. Còn lâu nhé…
-Vâng, nghe bác nói thì nhà em biết vậy.
Dưng mà cái hoàn cảnh nhà em nó không cho phép như vậy. Em có muốn cũng không
được. Em đào đâu ra ngần ấy tiền cơ chứ…Cái này mà nó rơi vào nhà em là em
chết. Em chết là chắc…
-Thế chẳng lẽ lại bỏ đó…mà bỏ cho ai…Thiếu
gì trường hợp như ông. Thiếu tiền a, không có tiền a? Cũng có cách cho ông kiếm
tiền đấy, này nhé, đi mà bán máu, đi mà bán thận… có khi phải bán cả nhà ấy
chứ, bán cả vợ cả con ấy chứ… Nghe dã man quá phải không? Dã man quá đi còn gì.
Người với người là sói mà. Ông cứ vùi đầu vào mấy cái bài viết nhân đạo, rõ là
trò hề, chỉ là trò hề…Ông viết theo đơn hàng, đúng không? Có ai người ta thèm
đọc các bài đó đâu. Dân người ta thừa biết đó là tuyên truyền, nghe mãi rồi, sự
thật trong đó ít lắm, chán lắm. Người đọc bây giờ chỉ đọc để thoả mãn cái hiếu
kì thôi. Ông hãy viết về đĩ điếm, chụp giật, chém giết…cái tít đề hoặc thật
rùng rợn hoặc thật lâm li, có người đọc ngay, có tiền ngay…
Khiếp, nghe cái lão này nói ghê răng
quá. Quả thật tôi cũng biết cái sự đời nó gai góc như vậy nhưng lại không thể
nghĩ những lời nói “lạnh lùng và vô tư như vô cảm” này lại từ miệng một cựu
giám đốc nói ra. Chính cái sự nói ra những điều lành hay ác cũng phải xuất phát
từ tâm tính con người chứ nhỉ. Cũng phải “quen” nói lắm thì mới nói ra được
những điều như thế chứ. Tôi nghĩ nhiều ông nói “thương” người bệnh lắm. Nhưng
người bệnh mình cũng nhiều “hoàn cảnh” lắm. Các ông nói thương chắc cũng là do
quen nói, trong bụng có nghĩ như vậy được mấy phần.
Cứ ngẫm cái giọng của lão giám đốc về
hưu, lão từng trải, lão bôn ba, lão va đập nhiều, chắc biết nhiều, va mãi cũng
thành chai lì, nhờn thuốc. Tôi cứ nghĩ lão “vô cảm”, nhưng càng ngẫm càng thấy
lão nói đúng. Đó là sự thật! Bởi là sự thật nên nó chua chát. Cả người nói và
nghe đều thấy chua chát. Chấp nhận nó mới dám nhìn trực diện và mới có thể tìm
ra phương sách đối phó. Tôi chưa có cái gan chấp nhận sự thật hay bởi tôi hèn
không dám nhìn thẳng vào cái sự đời chua chát. Tôi quen viết tụng ca, tôi quen
tô mầu hồng. Bảo lão “vô cảm”oan cho lão. Nếu cái “hoàn cảnh” nó rơi vào tôi,
chắc tôi chấp nhận cái chết.
Vinh Anh
14/08/09
..
Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
TUỔI THƠ VỚI QUÊ HƯƠNG (tản văn)
Thằng cháu ngoại đi chơi về vùng quê với bố mẹ nó.
Lại bỗng nhớ về tuổi thơ của các con mình,
thấy mình chưa chăm sóc con đúng như ý muốn.
Liệu có góp được chút nào cho nó yêu quê nó hơn không?
Tuổi thơ với quê hương
Lại bỗng nhớ về tuổi thơ của các con mình,
thấy mình chưa chăm sóc con đúng như ý muốn.
Liệu có góp được chút nào cho nó yêu quê nó hơn không?
Chẳng hiểu sao
cứ mỗi độ gió heo may về, tôi lại hay nghĩ đến mùa xuân, mặc dù ở cái tuổi của
mình, tôi cảm nhận được tôi đang sống trong mùa đẹp nhất của chu kì vòng quay
trái đất quanh mặt trời. Nó là mùa của năm, mùa của tâm hồn - Mùa thu.
Có phải là vào
mùa có gió heo may - mùa thu, tôi hay suy nghĩ về quãng đường đã đi của mình
trong cuộc đời. Với mỗi người, cái quãng đó dài ngắn khác nhau, mà sao lạ, tôi
cứ thấy cái quãng đã qua của tôi dài lắm. Tôi chỉ hay nhớ tới cái quãng đã qua,
ít nghĩ tới cái quãng còn lại. Quãng còn lại của tôi, tôi như biết được trước,
chẳng có gì để nói.
Thế rồi cái mùa
của mơ mộng và suy nghĩ và chiêm nghiệm đó cũng qua đi, kèm theo đó là những
chiếc lá vàng cuối cùng thưa thớt. Những ngọn gió tê lạnh từ phương Bắc thỉnh
thoảng tràn về. Khoảng không gian quanh ta như rộng ra hay mọi vật quanh ta như
co lại. Mùa đông đến cho ta thắc thỏm nỗi nhớ. Nỗi nhớ khi bâng quơ, khi trĩu nặng
nhưng đều buồn da diết. Có phải nỗi buồn được nhận ra từ hàng cây dâu da đã trút
hết lá, chỉ còn lại những cành khẳng khiu, khô héo. Có phải nỗi buồn bởi bắt gặp
cánh chim trong bầu trời xám xịt, chim cũng đơn lẻ bay về nơi nào xa thẳm. Có
phải cái buồn chợt đến, bởi bỗng nghe những tiếng rít buốt nhói qua khe cửa của
ngọn gió đêm, lẫn trong đó, văng vẳng thấy tiếng rao đêm, khô khốc và lạnh tanh
đang như tan ra trong mỏng mảnh. Nỗi buồn
vô cơ xâm lấn tâm hồn nhiều lắm... Cảm giác trong ta là sự tiếc nuối, ta như
mất đi một điều gì đó mờ hồ mà lại lan trải mênh mang.
Tôi có ông bạn
vong niên đang sống với đứa cháu gái nội mười hai tuổi. Một ở độ mùa xuân, một ở
độ mùa đông. Cả hai ông cháu đều ít nói. Con bé như già trước tuổi, cách chăm ông
và lo việc nhà như bà cụ non. Ngoài giờ học, đứa cháu chỉ thích ngồi bên ông, nghe
ông tâm sự, nghe ông kể về cái thời đã qua, nghe ông kể về người bố mà nó chẳng
tài nào hình dung được nét mặt, nghe ông kể về mẹ với nỗi đau phải chia tay nó để
ông nội nuôi. Còn ông, ngoài ba buổi bận bịu cho cháu ăn, những lúc cháu vắng
nhà ông toàn trầm ngâm. Lúc nào tôi sang nhà ông cũng đều thấy như vậy. Số phận
cuộc đời không chiều chuộng ông. Bà vợ mất sớm, cậu con duy nhất những mong làm
giàu đã bỏ mình nơi đất khách, cô con dâu đi bước nữa. Đời ông còn bây giờ là sự
chăm chút cho đứa cháu. Đứa cháu tội nghiệp của ông.
“Con bé không
có được sự vô tư của tuổi thơ” Ông nói với tôi mà như lại trách bản thân mình.
Câu nói của ông không hết ý và buông trong sự vắng lặng của những nỗi cô đơn. Cũng
chẳng phải lần đầu tôi nghe. Mỗi một lần nghe lại là một lần tôi như hiểu và thông
cảm với ông thêm. Lúc đó tốt nhất là chúng tôi ngồi im cho mọi sự nguôi ngoai,
cho không gian tan loãng ra, có lẽ thế, nỗi buồn sẽ trôi đi, kí ức cũng sẽ trôi
đi, để cái nỗi buồn tôi lây từ ông sang cũng không vướng lại trong tôi nữa.
“Ông ơi...” Tiếng con bé từ đầu ngõ. Nó muốn ông
nó không buồn nữa. Hôm nào cũng vậy, tan học là nó về nhà ngay với ông nó. Nó
biết khi có mặt nó ở nhà, ông nó vui hơn. Nó ập vào nhà như một tia nắng, sưởi ấm
tâm hồn đang cô quạnh của ông nó. “Cháu chào chú ạ - Lúc này nó mới nhìn thấy tôi
- Ông ơi, ông có khách, để cháu nấu cơm cho ông. Tôi thấy nó thể hiện tình cảm
mới nhí nhảnh và đáng yêu làm sao. Một con chim non. Người ta hay ví tuổi thơ
như vậy. “Cháu nhớ ông quá”. Nó níu tà áo ông nó, nũng nịu - Ông để cháu nấu cơm
nhé!” Con bé cho tôi cảm giác quá đỗi ngọt ngào, trong sáng và thơ ngây. Bất
chợt tôi nghĩ: không có con bé, ông bạn vong niên của tôi sẽ sống thế nào.
Dấu ấn tuổi thơ
tôi chỉ luôn là những tiếng nói ấm áp, nâng niu của mẹ... và một tuổi thơ khác
khi tôi được nghe những truyện cổ tích. Tôi thường tự tưởng tượng: Đó là tiếng
chim hót buổi sớm véo von, trong veo và tinh khiết; đó là tiếng róc rách dòng
suối trong mát trưa hè, là tiếng thủ thỉ bên bếp lửa đêm đông khi được ngồi nghe
chuyện của bà và lim dim ngủ. Tôi không có những phút giây đó, nhưng lại được
nghe và đọc được trong sách, nhiều chuyện nói về tuổi thơ như vậy, nên tôi cứ tự
mình tưởng tượng và tự cho là cũng có những chuyện đó trong tuổi thơ của tôi. Bởi
tôi thấy chính cái đó mới là cái đẹp.
Tôi có một tuổi thơ êm ấm luôn trong vòng tay
của mẹ mà tôi chưa từng nói được lời cám ơn với mẹ tôi, người luôn dành cho tôi
những hương vị ngọt ngào và sự dịu dàng, người luôn đoán biết được những sở thích
của tôi và chiều tôi hết mực, người chiều tôi và không hề đòi hỏi ở tôi điều gì.
Tuổi thơ của tôi, theo lối suy nghĩ của nhiều người, quá sung sướng so với con
bé.
Ở bên cạnh nó với ông nội nó, tôi mới nhận ra
cái ích kỉ của tôi ngày xưa với mẹ của mình. Mẹ tôi qua đời khi tôi đã vững vàng
với cuộc sống. Tôi cứ cho là những điều tôi được hưởng là sự tất nhiên, ai với
con cái mà chả như vậy! Những góc đời cay cực của cha mẹ tôi, tôi đâu có biết.
Thậm chí tôi cũng không tìm hiểu sâu hơn về những “ngày xưa” của bố mẹ tôi. Tôi
chỉ nghe láng máng qua những câu chuyện “ôn nghèo kể khổ” của họ mà thôi. Cha mẹ
tôi đã chuẩn bị sẵn một cuộc sống ổn định cho tôi, không hề có một lời kêu ca
phàn nàn.
Nhưng thật sự,
tôi vẫn cảm thấy tuổi thơ của anh em chúng tôi thiêu thiếu một cái gì. Ngày còn
bé, nhiều lần tôi hỏi mẹ, sao mình không có quê. Bởi tôi thấy các bạn cùng lớp
thường bàn tán chuyện về quê với ông bà. Tôi thoáng thấy mẹ tôi tần ngần, cả một
nét đăm chiêu.
Rồi mùa tựu trường đầu tiên đến, cái nắng chói
chang của mùa hè không còn nữa, trời trong veo chứa đầy gió và những ước mơ. Chúng
tôi từ rất xa lạ, bắt đầu tập trung cho một quá trình học tập để làm người có ích.
Cứ mỗi lần vào hè là lúc bọn bạn tôi kể những chuyện về quê, chuyện chăn trâu,
nhảy cầu, tắm sông... Tôi chỉ ngồi nghe, thèm muốn. Tôi thấy chúng nó nhanh nhẹn
hoạt bát quá, còn tôi, tôi cứ ù lì chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì để nói. Lại
nói cái chuyện chúng tôi được lên rừng hay xuống biển ư? Nghe lạc lõng thế nào ấy,
bọn bạn tôi nó không hiểu hoặc nếu chúng nghe, chúng cũng chẳng bình luận gì hết.
Hình như tôi đang xa rời chúng nó. Tôi và chúng nó khác nhau. Tôi lờ mờ hiểu được
điều đó. Lúc này, tôi lại có phần oán bố mẹ tôi. Tôi nghĩ nhiều đến cái “giá như”
mà bố mẹ tôi nếu làm như thế này thế khác.
Bởi với anh em
chúng tôi, mùa hè rất ngắn. Sau khi cho anh em chúng tôi nghỉ ngơi một tuần hay
mươi ngày gì đó ở dưới biển hoặc trên núi là lại bắt đầu cái mùa mà bố mẹ tôi tập
trung nâng cao và củng cố kiến thức cho bọn tôi: Các lớp học thêm được tổ chức
vào mùa hè. Chúng tôi được bố mẹ trang bị kiến thức đến “tận răng” để chuẩn bị
bước vào cuộc đời.
Lớn dần, một năm cũng đôi lần tôi được về quê,
nếu chúng tôi không bận học. Đó là những ngày lễ tết, những ngày đưa các ông bà
già, có lẽ là già lắm ra ngoài đồng. Các ông bà đó có họ gần với nhà tôi, tôi
thường phải gọi là cụ, mà thật sự với các vị đó, tôi cũng không nhớ rõ mặt. Cũng
đôi ba lần tôi được về dự đám cưới. Cảnh ồn ào đám cưới, đám giỗ, đám ma ở nhà
quê, tôi không thích. Ở đó toàn những người lạ mặt. Mẹ tôi dẫn chúng tôi đi chào
mọi người và bảo: “Các con ở thành phố nhiều, không hiểu được cái khổ của người
nhà quê, phải năng về để cho các con còn biết và cả nhận mặt người thân, hàng xóm
nữa. Nhưng cái chính là mẹ tôi muốn chúng tôi không được quên quê. Có lẽ mẹ tôi
đã nhận ra những cái cần thiết phải có ở chúng tôi từ ngày tôi hỏi người :“Sao
nhà mình không có quê?”. Nhưng tôi lại không hiểu ngay ra điều đó.
Người ta thường nói về dòng sông mỗi khi nói về
quê. Ngày nhỏ, tôi cũng đôi lần được tắm trên dòng sông quê. Nhưng thực sự cái
vị nước con sông quê với tôi rất mờ nhạt. Mẹ tôi sợ. Bù lại, tôi biết nhiều về
những cánh đồng quê tôi. Những ngày xa quê, đi đây đi đó, tôi thường tưởng tượng ra cánh đồng quê làng tôi. Đây là cánh đồng Bắc, cánh đồng Nam . Thực ra, tôi cũng chẳng nhớ được
mấy những địa danh chỉ đồng đất quê tôi mà vừa mới nghe đã thấy cái âm hưởng chất
phác, thật thà, quê kiểng như đầm bà Đồi, vụng Chổi, khe Binh, đồi cây “các cụ”
hay nghe kinh kinh, hãi hãi hơn “cánh đồng mả vối”, gò ông Tào... Tôi cứ nghĩ ở
những cánh đồng đó, những nơi đó thường mọc đầy cỏ dại với lấp xấp các bụi hoa
mua, hoa sim, đôi khi có một cây gì đó cao cao lẻ loi đơn độc. Bọn trẻ thường
thả trâu cho chúng tha thẩn gặm cỏ và ngồi túm lại với nhau hoặc nằm lăn trên thảm cỏ dưới
các tán cây, tán mọi chuyện trên trời dưới biển. Mà thực ra, những thứ tôi kể ra có ở quê nhà tôi đâu. Mẹ tôi bảo, quê
mình đồng ruộng thẳng cánh cò bay, những thứ đó chỉ có ở vùng trung du, vùng gò
đồi. Nhưng với tôi, quê phải là như vậy. Quê là những gì đẹp nhất mà tôi đọc được
từ trong sách. Vừa thẳng cánh cò bay, vừa đồi chè cây cọ, vừa nhãn lồng vải thiều.
Thậm chí tôi cứ nghĩ nước vối bà tôi uống hàng ngày cũng là cây vối ở quê, quê
tôi cái gì cũng có. Tôi hình dung cây vối là một cây xù xì, rất lâu đời và lại
tỏa nhiều bóng mát. Nó phải như vậy vì nó luôn mang lại cho con người niềm vui
sướng. Bạn cứ thử hình dung xem, trời đang trưa, nắng gắt, được đứng dưới bóng
mát của cái cây mọc giữa cánh đồng, uống một bát nước vối và hóng một con gió đồng,
sung sướng và thỏa mãn biết nhường nào, ngất ngây biết chừng nào... Tôi cứ nghĩ
quê tôi là như thế!
Thế rồi chỉ với những chi tiết nho nhỏ vụn vặt,
cũng chẳng biết từ bao giờ, tôi không sinh ra ở nhà quê, không lam lũ lớn lên cùng
với lũ bạn chăn trâu, cắt cỏ, không có những buổi nằm dưới thảm cỏ ven đê nhìn
trời xanh và nghe tiếng sáo diều vi vu, không có những trưa hè vùng vẫy trên dòng
sông, vậy mà cái tình quê với tôi cứ nặng dần, cái cảnh quê cứ thấm đậm và tình
người nhà quê cứ quyến luyến tôi mãi.
Con bé con,
cháu ông bạn vong niên của tôi, không có tuổi thơ giống tôi và các bạn ngày xưa
của tôi. Tôi, tuổi ấu thơ được cưng chiều, được bao bọc. Nhưng dù sao thì với cái
tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” cũng đã gọi là trải qua nhiều cái đoạn trường trên đời,
thấy ở nó có cái gì đó vừa cao lại vừa sợ. Con bé con mới mười hai tuổi! Tôi sợ
vì tôi nghĩ, nếu ngày xưa, tôi cũng rơi vào hoàn cảnh của nó bây giờ, không hiểu
cuộc đời của tôi sẽ ra sao. Tôi thấy nó cao vì so với tôi ngày đó và ngay cả mấy
đứa con tôi tộc ngộc hiện nay, đều thua xa nó, thua cái sức chịu đựng và cả lòng
tự tin của nó. Vậy mà nó vẫn trong trắng thế, hồn nhiên thế. Nó lại là điểm dựa
của ông nó, là niềm hi vọng và sự sống của ông nó. Chắc nó không biết vị trí của
nó với ông nó quan trọng đến mức nào đâu. Cái cao của nó là vậy và cái tôi sợ cũng
là vậy.
Một lần vào ngày
nghỉ cuối tuần, tôi rủ ông bạn vong niên của tôi ra ngoại thành chơi. Tôi, vẫn
thấy lòng trải rộng và nhuần lại mỗi khi ra ngoại thành. Với tầm mắt khoáng đãng,
với mầu xanh và cả với những cảnh lam lũ của những người hai sương một nắng. Từ
mùi rơm rạ ngái ngái, mùi phân bón từ cánh đồng thoang thoảng bất chợt đến theo
từng con gió lạc chiều; từ cánh đồng chiều hoàng hôn đến một cánh chim lạc vội
vã bay về tổ; từ tiếng lóc cóc của chiếc xe trâu đến tiếng nghé ọ lạc giọng tìm
mẹ của chú nghé con... Nhiều cảnh quê bình yên và lặng lẽ lắm. Tôi đem cái suy
nghĩ này nói với ông bạn vong niên. Ông trầm ngâm nhiều hơn.
Ông nhìn ra phía con cháu. Nó đang thơ thẩn một mình
bên những cánh hoa dại mọc trên triền đê. Con gái có khác, nhẹ nhàng, dịu êm và
cả yếu đuối nữa. Tất cả những cái đó làm thành cái đáng yêu, làm ta muốn che chở,
muốn được bảo vệ và hơn nữa, làm tâm hồn ta trở nên mát lành. Ông bạn già của tôi
mềm lòng trước cảnh cô cháu gái đang chơi đùa với hương đồng gió nội. Tôi thấy ông
cười đôn hậu mà khóe mắt ông nhòe ướt. Chắc ông đang nghĩ về tuổi thơ của ông
ngày xa xưa hay ông đang suy nghĩ về tương lai cô cháu. Tôi im lặng để thời
gian trôi, để chiều buông, để nỗi lòng tự do vẩn vơ bay lượn. Tôi cũng đang nghĩ
về ngày bé thơ của tôi xa xưa. Ấm êm và có mẹ. Người đã lo lắng trọn đời cho chúng
tôi. Người đã từ từ gieo vào lòng tôi cái hồn quê chân chất.
Mùa hè đó, ông bạn vong niên sang nhà tôi, nhờ tôi
trông nhà giúp. Ông nói ông đưa cháu gái về quê: ‘‘Phải để cho nó biết quê
hương nhiều hơn cha mẹ nó... Nó ngây thơ quá, trong sáng quá... tình yêu với quê
hương cần được chắp nối, hun đúc từ những ngày thơ bé... Nếu tôi hiểu được sớm
như vậy, tôi đã không mất đứa con... ’’
28/11/08
ảnh internet
Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013
NẺO ĐỜI (tiếp-tiểu thuyết)
VINH ANH
NẺO ĐỜI
tiểu thuyết
23. Ngọc không thể “dứt” công việc để về với Hà trong những ngày chuẩn bị. Hà chợt nghĩ, cái lãng mạn của tình yêu mà mẹ Ngọc kể bên nồi bánh chưng ngày nào không lặp lại với Ngọc. Ngày cuối cùng Ngọc đạp xe về thì hai chị em Hà và Sen cũng đã chuẩn bị xong mọi thứ. Nhân đang ở nước ngoài và cũng chưa biết đích xác tin Hà sẽ đi vào tuyến lửa.
ảnh internet
NẺO ĐỜI
tiểu thuyết
23. Ngọc không thể “dứt” công việc để về với Hà trong những ngày chuẩn bị. Hà chợt nghĩ, cái lãng mạn của tình yêu mà mẹ Ngọc kể bên nồi bánh chưng ngày nào không lặp lại với Ngọc. Ngày cuối cùng Ngọc đạp xe về thì hai chị em Hà và Sen cũng đã chuẩn bị xong mọi thứ. Nhân đang ở nước ngoài và cũng chưa biết đích xác tin Hà sẽ đi vào tuyến lửa.
Ngọc tỏ ra rất ân hận vì những ngày này không được gần
Hà. Anh cám ơn Sen rất chân thành: “Có em, chị Hà bớt cô đơn nhiều. Dẫu rằng
cha mẹ ở gần nhưng tâm tình thì cần những người bạn. Em đã làm được điều tuyệt
vời đó, thiên thần ạ”.
Cả Ngọc và Nhân đều coi Sen như cô em bé, vẫn rất
chiều cô em. Nhiều lúc Sen ức muốn khóc: “Các anh còn cho em bé đến khi nào. Ở
quê, bạn em con bồng con bế rồi đấy…”. Sen nói làm mọi người cười bò. “Phải từ
từ cho Sen nó lớn…” Càng tức.
Ngọc mang đến cho Hà một bọc thuốc. Kinh nghiệm những
người lính nhắc nhở: “ Đi xa, vào nơi ác liệt, em phải tự chăm sóc mình…” Anh
có mang một số loại vi-ta-min. Có cả chục ống B 12 đấy, anh gói kỹ rồi. Một số
thuốc cá nhân từ thuốc đi chiến trường của bộ đội cấp, số thuốc bổ phải nhờ mua
ngoài của những người đi Tây mang về. Bây giờ hiếm lắm…” Đúng là chuyện thuốc
thang, cả gia đình và hai chị em đều chưa nghĩ đến. Ngọc còn mang cho Hà một
chiếc đèn pin Trung Quốc mới tinh cùng hai cặp pin “con thỏ” mà anh vừa được
phân phối.
Xách thử chiếc ba lô: “Ôi, thế này thì em làm sao đi
xa được…” Bỏ mọi thứ ra ngoài, Ngọc xem từng thứ Hà mang đi. “Sách vở em phải
bỏ lại. Vừa nặng vừa rất ít dùng. Mấy quyển truyện này nữa, bỏ lại hết. Nếu cần
em chỉ mang theo bút, mang hai cái, em có chưa, lấy bút của anh đây. Một quyển
sổ ghi chép, một ít giấy viết thư, cả tem nữa, anh cũng chuẩn bị cho em rồi. Em
làm phóng viên, cần giấy trắng và khai thác sự kiện, chỉ cần giấy trắng thôi…”
Sen xếp lại đồ cùng với Ngọc: “Anh Ngọc nhiều kinh
nghiệm thế!” Đúng rồi, nặng lắm chị ạ, lại còn một túi xách bên ngoài nữa cơ.
- Được rồi, túi xách để những vật cần dùng thường
xuyên. Phụ nữ đi mới dùng túi xách. Lính tráng ai dùng. Sữa, đường để ở ba lô,
vì nếu ăn thì đến nơi nghỉ ngơi mới ăn. Mấy thứ ăn thêm như ruốc, mì chính để ở
ngoài. Ngày nào mà chẳng phải hai bữa. Bát, đũa, bi đông nước cũng để ở đấy.
Nhẹ đấy nhưng đường xa sẽ thành nặng, mỏi tay lắm đấy. Nếu mỏi, buộc chặt lên
trên ba lô, đi tay không cho thoải mái. Các anh lính cũ bảo, hành quân chỉ đeo
cái bòng, khẩu AK thôi cũng mệt. Đây là toàn bộ gia tài. Để cơ động được, còn
phải bỏ lại hậu cứ nhiều thứ nữa.
Hà im lặng trong khi Ngọc với Sen sắp xếp lại. Những ý
nghĩ về Ngọc, về Ngân mà tối qua nói với Sen quay trở lại. Ngọc vậy là quá chu
đáo và tận tình với mình rồi vậy mà sao mình vẫn trăn trở nhỉ? Điều gì khiến
mình có suy nghĩ đó. Ổ, nếu được như cái Sen có phải hay bao nhiêu. Vậy là nó
cũng nói rõ với mình về Nhân rồi đấy chứ. Nó trong sáng, thánh thiện nên Nhân
khó nghĩ… Hay Nhân kiềm chế. Chắc thế. Nhiều điều có thể biểu lộ nhưng con
người vẫn có những khoảng riêng phải kín đáo, không chia sẻ. Ai ai cũng có
khoảng không gian đó. Chỉ có điều là ai dám không dối mình và dám công nhận mà
thôi. Tình cảm với Sen của Nhân chân thật là thế. Còn mình và Ngọc, bên ngoài
ai cũng cho là mọi sự đã rõ. Cái chưa yên cũng là khoảng riêng chỉ mình biết
riêng với mình. Ai đó bảo là ta biết rõ về nhau… Sách vở thôi. Thực tế luôn là
một ẩn số. Con người ứng phó được là giải được ẩn số đó. Tình cảm của mình với
Ngọc cũng đang là một ẩn số. Đây cũng là bài toán riêng mà mình phải giải. Suy
nghĩ của con người sao mà phức tạp thế. Đòi hỏi của con người sao cũng đa dạng
thế. Mình cần gì ở Ngọc nhỉ? Cứ nói chuyện riêng với nhau là nảy sinh những bất
đồng. Mà sao nó lại gắn bó với thời cuộc nhiều vậy. Ai chẳng muốn có cuộc sống
gia đình yên ấm? Muốn có một vị trí xã hội? Muốn vợ đẹp con khôn? Và chắc sẽ
còn nhiều thứ nữa mà xã hội ta đang vô cùng thiếu. Cái sự muốn đó sẽ tới vô
cùng, chẳng có điểm dừng. Sự muốn đó cũng theo diễn biến của thời cuộc và tư
duy con người cũng thay đổi theo dòng thời cuộc đó.
Vậy thì mình yêu cái gì ở Ngọc? Ngày đầu nó là cái gì?
Có phải là giọng đọc thơ truyền cảm, cái bài viết về mùa thu ấy, và sau đó lại
là những lời tâm sự về cách nhìn, cách ngẫm về tình yêu. Hồi đó Ngọc trong
trắng và ngây thơ khi nói đến cô bạn gái, cô em người dân tộc. Cô ấy không
vương bụi trần cũng như Ngọc và các bạn của anh đều ngây thơ và ngốc nghếch.
Chính những điều đó làm nên giá trị tình yêu. Vậy ra chính mình, cô gái tiểu tư
sản Hà thành, yêu cái sự ngốc nghếch ấy. Sự ngốc nghếch ấy, mỗi người chỉ có
một lần trong đời. Tình yêu thuở tinh khôi là như thế. Những buổi pic-nic hiếm
hoi để lại rung động và nỗi khắc khoải là thế.
*****
“Một con cáo thay lông nhưng không thay đổi tâm tính”.
Hà bỗng giật mình khi nhớ đã đọc ở đâu đó. Cô bỗng thấy ngờ ngợ nhận ra một sự
giả tạo nào đó ở Ngọc. Nhưng tình cảm bắt Hà xua đi cái ngờ ngợ đó. Mình quá
khắt khe? Thì chẳng mình cũng thừa nhận mình thay đổi tính khí đấy thôi. Hồi đó
mình nhìn nhận cuộc đời nhẹ bỗng và mang theo cả sự vô cảm nữa. Ai đó có muốn
gì cũng mặc và vì vậy mình mới khuyên Ngọc nên giữ mồm giữ miệng. Ai sốt sắng,
ai quyết tâm, ai xung phong… mặc ai, riêng ta, ta chỉ cần một cuộc sống bình
lặng. Sự bình lặng trong hàm ý phải đầy đủ, đời có gì ta cũng phải có cái đó.
Đời có gì ta cũng phải có cái đó dẫn đến một sự đua
chen ngấm ngầm quyết không chịu thua kém anh hàng xóm và bạn đồng nghiệp. Hà
thấy Ngọc ki cóp từng thứ, từng thứ cho cuộc sống gia đình. Trong khi đa phần
đàn bà có được người chồng như vậy lấy làm hãnh diện thì Hà lại ngượng ngùng.
Ai lại thế. Phải như Từ Hải ấy chứ: “Râu hùm, hàm én, mày ngài/Vai năm tấc
rộng, thân mười thước cao”, hét lên một tiếng kẻ địch hồn xiêu phách lạc.
Làm thế nào hiểu được cái thực của con người Ngọc? “Biết được điều mong muốn của nhân loại còn
dễ hơn biết tâm tính từng người”. Để hiểu con người mà mình đặt vào đó trọn
đời càng khó và càng phải đắn đo. Đúng là “sông sâu còn có kẻ dò…” Hà cho rằng
chuyến đi xa này của mình có rất nhiều cái lợi, nhiều vấn đề có thể giải quyết
được. Những phân vân về tình cảm và là một dịp thể hiện được con người của
mình. Người đời đã nói, phải biết đứng cách xa ra để nhìn lại những gì mà mình
vừa trải qua. Chuyến đi này chính là dịp Hà tìm cách đứng xa ra đó. “Lại còn
đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sự thật xã hội, chứng minh một quan niệm với đời
sống. Nghe có vẻ rất “đao to búa lớn” mà lại đáp ứng được sự mong mỏi. Đó thực
chất cũng là một đề tài gai góc, ảnh hưởng nhiều đến việc xác định lại giá trị
và tâm hồn con người trong giai đoạn hiện tại. Một vấn đề lớn đáng nghiên cứu.”
Nhân đã nói với Hà như vậy khi hai người nói chuyện với nhau. “Nhưng dù sao với
Ngọc, Hà không nên quá khắt khe. “Nhân vô thập toàn” mà. Chúng ta có thể, mỗi người
phải biết nhịn nhau, lùi một bước. Mình không bênh Ngọc, nhưng theo sự biến đổi của đời sống, mình
đồng ý với những thay đổi của tâm tính con người theo thời gian. Con người luôn
bị tác động mạnh bởi ảnh hưởng từ bên ngoài.”
“Hôm chia tay Ngân, bố Ngọc đã nói về vấn đề con người
rất hay. Mình suy nghĩ và cảm thụ được như thế này: Chúng ta chỉ như những bèo
bọt nổi chìm trong cuộc đời mà thôi. Chúng ta không tham vọng đóng vai trò quan
trọng có ảnh hưởng đến xã hội. Nói một cách dễ hiểu, cụ thể, chúng ta bị phụ
thuộc, bị lãnh đạo và phải nghe theo. Nếu có lập luận phản bác, phải làm đúng
theo quy định của tổ chức và chuyện đó, từ trước đến nay dường như chưa xảy ra.
Nếu có xảy ra, thì mọi sự cũng được xử lý nội bộ. Không công khai nên không mấy
người biết. Mà Hà biết không, người ta nói “công khai thì lại là linh hồn của
công lý”. Chân lý chỉ có một, nhưng đường đến tới chân lý thì nhiều và đều rất
gian nan. Thời buổi nào cũng vậy, chế độ nào cũng vậy. Mấy người đến được với
nó? Vì thế, phát biểu của con người đôi khi nó không bộc lộ cái suy nghĩ của
người ta. Con người có vô số sự ràng buộc. Giải tỏa được những ràng buộc đó đòi
hỏi phải là con người tự do. Có tự do mới giải tỏa được những vướng víu trong
tư tưởng con người. Ngọc là một chi tiết trong cỗ máy đó, Ngọc không thể làm
khác. Làm khác thì sẽ bị loại bỏ, là phế phẩm. Còn con đường nào khác cho Ngọc
và cho cả chúng ta nữa?”
Ôi, tự do hai tiếng ngọt ngào! Ai nói câu đó đấy nhỉ?
Chắc chắn chúng ta sẽ phải tranh cãi nhau rất nhiều mới tìm ra chân lý của tự
do. Nhưng muốn có tự do trước hết phải có dân chủ. Bác Hồ đặt tên nước mình là
“Dân chủ Cộng hòa” từ năm bốn nhăm. Nhưng để đến với dân chủ thực sự, chắc con
đường còn dài lắm. Chúng ta nói chuyện với nhau ở đây có khác gì ếch ngồi đáy
giếng. Chúng ta đâu hiểu hết những ý nghĩa của các từ “tự do, dân chủ”. Chính
bởi vì chưa hiểu nên chúng ta chưa phát huy được hết và trong mỗi chúng ta, dù
là làm việc hay phát ngôn đều còn rón rén, sợ bị sai, bị lố. Em cứ thử ngẫm mà
xem, rất nhiều điều chúng ta rón rén sợ sệt.
*****
Vào đến Quảng Bình, sau khi trình diện cơ quan và một
tuần nắm tình hình, chủ yếu là học hỏi các anh chị đi trước để biết cách ứng
phó với mọi tình huống xảy ra trong chiến tranh đối với các phóng viên, đặc
biệt những cách thức tự chăm lo bản thân, từ chuyện cơm nước, ăn ngủ đến các
cách sơ cứu nếu chẳng may bị dính bom đạn, Hà xin đi xuống đơn vị trọng điểm mà
cô đã được nghe nhiều, đọc nhiều về con đường nổi tiếng của tuổi trẻ, đó là
đường 20 Quyết thắng. Con đường của những người tuổi hai mươi trẻ trung, phơi
phới. Một sự trùng lặp ngẫu nhiên hay là một sự cố ý không biết.
Đơn vị đã rất ưu ái cô sinh viên mới ra trường, bố trí
người đưa Hà ra tận đơn vị công binh
cùng phụ trách bảo vệ tuyến đường, chờ có xe để lên tuyến.
Dù có tìm hiểu
bao nhiêu, học tập kinh nghiệm bao nhiêu cũng không bằng một ngày trên
mặt đường với anh chị em thanh niên xung phong. Những người bạn mới thấy cô
phóng viên trẻ măng, từ Hà Nội vào, lại lặn lội đến nơi ác liệt bom đạn này đều
tỏ ra ưu ái đặc biệt, như những người chủ có trách nhiệm với sự an toàn của
khách, tiểu đội đã bố trí người cùng kèm cặp làm việc với Hà. Hà rất biết ơn sự
chăm sóc của mọi người và ngay ngày đầu tiên, cô cũng đã vác xẻng, tham gia làm
việc cùng một tiểu đội toàn nữ, với nhiệm vụ lấp hố bom. Bộ quân phục Hà mặc
vẫn đậm chất nữ sinh Hà thành, khiến nhiều cặp mắt chú ý.
Qua nhiều câu chuyện, Hà biết đường 559 của bộ đội
Trường Sơn bị ngập nặng mỗi khi mùa mưa đến, có lúc hàng trăm xe bị ách tắc ở
Xiêng phan, địa danh được mệnh danh là túi nước, đổ xuống làm ngập, có đoạn tới
sáu mét sâu. Đường 20 được mở là để tránh túi nước này.
Được thi công từ cả hai phía trong bảy mươi bảy ngày,
chương trình xuyên thủng “Trường Sơn” hoàn thành vào ngày 14-4-1966. Hai mũi
gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn ở km 65 và chính thức thông tuyến vào ngày 31
tháng 5 năm 1966. Con đường dài 125 km được mang tên “Đường 20 Quyết thắng” từ
ngày đó.
Biết được tầm quan trọng đặc biệt của đường Quyết
thắng 20, địch tập trung bom đạn dội xuống hòng ngăn cản chi viện của miền Bắc.
Quân ta tiếp tục mở các đường 20B, 20C, 20D chạy ban ngày dưới các tán cây rừng
già Trường Sơn. Đường chi viện của miền Bắc vẫn không ngừng chảy suốt ngày đêm.
Binh trạm 14 cùng Tổng đội Thanh niên xung phong được
giao trách nhiệm quản lý khai thác con đường. Mùa vận chuyển 67-68, khối lượng
tăng lên 14 lần, và đã chi viện đắc lực cho chiến dich Khe Sanh 1968.
Đường 20 có tám trọng điểm mà nếu ai vượt qua thì đều
được mệnh danh là thép đặc biệt. Trong đó ATP(cua chữ A, ngầm Tà Lê và đèo Phu-la-nhích”
là ác liệt nhất. Báo chí đã gọi tám trọng điểm đó là “tọa độ lửa”, nơi thử
thách ý chí của những người trẻ tuổi, nơi thể hiện sự quyết tâm, lòng kiên định
và hơn hết đó là nơi thể hiện sự hiến dâng của tuổi trẻ khi Tổ quốc cần đến.
Hà đã hòa mình vào cuộc chiến với tư cách một công dân
yêu nước- một chiến sĩ- một người trẻ tuổi như vậy. Chỉ sau một trận bom với
mịt mù khói và đất phủ kín mình, cô đã quên hẳn mình là một sinh viên vừa ra
trường. Sau tiếng bom là tiếng đồng đội gọi điểm danh nhau, sau tiếng bom là
tiếng cuốc xẻng xúc đất, san và lấp đi những vết lở loét mà bom đạn vừa gây ra
và đẹp hơn, kỳ diệu hơn, nếu không có tổn thất, sau tiếng bom lại là tiếng cười
trong trẻo của những cô gái tuổi hai mươi đẹp nõn nà, quyến rũ vang lên giữa đêm
tối của rừng già Trường Sơn.
Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013
QUÁN NƯỚC CỦA NGÀI SĨ QUAN (t. ngắn)
Quán nước của
ngài sĩ quan
Hồi
đó cả đất nước đều khó, cả dân tộc đều khó. Muốn giúp đỡ nhau một chút gì đó
gọi là cũng khó. Thà cứ ở xa, ít gặp nhau thì hơn. Gặp nhau lại mất vài ngày
cảm thấy có điều gì cân cấn, không yên. Nhưng ở gần gặp nhau hàng ngay, quen
nhẵn mặt rồi thì cũng chẳng sao. Cứ coi như đó là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Cụ
thể thêm nữa, gia cảnh của ngài sĩ quan còn “hoàn cảnh”hơn cái phác hoạ trên
nhiều. Tỉ như, vợ đau yếu quanh năm, bởi cái bệnh ung thư vú, không hiểu sao
kéo dài được trên ba chục năm nay. Để đến bây giờ, tôi cứ bán tín, bán nghi “đã
chắc gì mấy ông Từ Mẫu áo trắng ngày xưa đó chẩn đoán đúng. Chỉ khổ thân bà vợ
bị cắt đi cái cơ quan nuôi con và những đứa con đẻ ra thì toàn húp nước cháo;
hay như hai cậu con trai đang vào cái tuổi tập làm người lớn, vẫn cứ suốt ngày
lông bông, học hành chẳng đâu vào đâu, lúc nào cũng sợ chúng nó rơi vào cái cạm
bẫy xã hội, tệ nạn xã hội. Nói đến gia đình là người ta nói đến vợ, đến con.
Ông sĩ quan này cứ mỗi lần nói đến vợ con là trên mặt thường trực nụ cười nhạt
hơn nước ốc.
Cứ
nghe câu ca về anh bộ đội lừng lẫy một thời mà xót “ đầu đường đại tá bơm xe,
giữa đường trung tá bán chè đỗ đen , cuối đường thiếu tá bán kem”. Ngài thiếu
tá hàng xóm của tôi không có chỗ ngồi bán chè đỗ đen, nên ông ta phải ngồi bán
nước chè chén. Cái quán nước được mở ngay dưới chân cầu thang của khu tập thể.
Cũng bởi vì bí nên phải liều, chứ có ai cho phép. Mở ra rồi còn họp lên họp
xuống, phân tích, mổ xẻ. Thói đời là như vậy. Để nguyên đó thì không sao, đụng
đến là y như có chuyện. Cái tính xấu, cái tật xấu của người mình là như thế.
Quán nước mà bán nước chỉ là phụ, mấy cái lọ đựng kẹo lạc, kẹo cao su, mấy gói
bim bim treo lủng lẳng, mấy chai nước ngọt bụi bặm có ma nào cầm đến bao giờ.
Chỉ mấy ông già, ông trẻ rỗi việc ra đánh cờ là chính. Mỗi ván dăm mười nghìn.
Ngài sĩ quan về hưu chỉ thu được tiền bán thuốc, bán nước. Thực ra, quán của
ngài sống được là do ghi số đề là chính. Mỗi ngày cũng kiếm vài chục nghìn hoa
hồng từ nhà cái. Đủ hai bữa rau dưa.
Những
khi rỗi rãi, tôi hay ngồi quán nước của “ngài sĩ quan”, xem đánh cờ, xem cách
ghi số đề, lật giở bảng thống kê những con số trúng giải, tính toán xem hôm nay
về số nào. Đôi khi hứng chí, cũng xỉa ra mấy nghìn nhờ ngài sĩ quan ghi cho hai
ba con số. Chẳng bao giờ tôi trúng. Thảo nào “đánh đề ra đê mà ở”.
Nhưng
cũng không yên. Chẳng gì thì công việc của ngài sĩ quan, danh chính ngôn thuận,
cũng không chính đáng. Không phù hợp với luật pháp. Mà đã không phù hợp thì
chính quyền có thể dỡ bỏ bất cứ lúc nào. Tôi đã “mục sở thị”, cái cửa kéo sắt
xếp, để bảo vệ cái quán bán nước bị dỡ bỏ. Lí lẽ hợp pháp thuộc về chính quyền.
Cửa kéo được cho lên ôtô mang lên đồn công an chờ xử lí. Ngài sĩ quan ngán
ngẩm, cười như khóc, nhăn nhúm cả mặt mày, buông xuôi: “Thôi thì các ông ấy
muốn xử thế nào thì xử…” Mấy ngày sau, nghe tình hình đã bớt căng thẳng, mới
lần mò vào cửa quan. Đồng chí công an cỡ tuổi em út đang thực thi công vụ, mặt
lạnh như tiền: “Việc của Bác chưa giải quyết, Bác cứ về đi…” Thế là đúng như dự
kiến. Phải đi “cửa sau” mới xong. Các
ông già, ông trẻ ngồi đánh cờ, uống nước đã mách nước rồi. “Cựu chiến binh, cựu
sĩ quan” ư? Hãy đợi đấy! Pháp luật là bình đẳng với mọi người. Đúng quá!
Một
buổi trưa, tôi đang ngồi xem những trang vở ghi đầy kịt những kết quả sổ xố và
nhâm nhi li nước trà đặc biệt thượng
hạng mà ngài sĩ quan ưu ái, thấy một ông khách lạ dừng chiếc xe máy cũ rích và
đầy bụi đỏ trên hè. Ông ta ngó ngược, ngó xuôi ra cái vẻ đang tìm một địa chỉ
nào đó. Ngài sĩ quan thì đang lim dim mơ màng và suy ngẫm cái lí của sự đời.
Ông khách cúi đầu chui vào quán, ông cúi chưa đủ độ nên bị va vào bức tường.
Tiếng kêu: “Ôi” làm tỉnh giấc mơ màng của ngài sĩ quan. Hai người nhận ra nhau
ngay lập tức. Nụ cười tươi, thật tươi nở trên mặt của ngài sĩ quan. Từ ngày về
làm hàng xóm với ông, tôi chưa bao giờ thấy ông cười tươi như thế. Tôi ngạc
nhiên chăm chú nhìn ông khách lạ và vì thái độ rất chi là thiện chí của ngài sĩ
quan, tôi bỗng thấy có cảm tình với ông ngay. Ngài sĩ quan giới thiệu với tôi
về ông khách. Họ cùng ở với nhau ngày xưa trong chiến trường B5 ác liệt. Ông
khách vẫn đang tại ngũ, làm đến cái chức to nhất rồi, nghĩa là hết gạch hết sao
rồi đó.
Ngài
sĩ quan vồn vã mời ông bạn ngồi xuống cái ghế cạnh ông. Vồn vã lắm, nghĩa là
tôi muốn nói, tôi chưa bao giờ thấy ngài sĩ quan sởi lởi đến cái mức lăng xăng
như thế. Bụng thầm nghĩ, tri kỉ và sâu sắc lắm đây.
Ông
khách không ngồi bên cạnh mà ngồi đối diện với ngài sĩ quan. Hai người nhìn
nhau, ông khách thì trông còn rất trẻ,
vậy mà đã chinh phục hết gạch và sao rồi cơ à. Tôi phục lắm. Ngài sĩ quan của
tôi thì đầu đã bạc gần nửa, tóc lại lưa thưa, chỗ có chỗ không. Thoáng nhìn cảm
thấy như là lính cũ đến thăm thủ trưởng cũ, cái sự chênh ít ra cũng cách nhau
cả thế hệ.
Họ nói chuyện với nhau không để ý đến tôi. Tôi lủi ra ngoài xem đánh cờ để họ tự nhiên hơn. Thỉnh thoảng thấy họ cười, còn đa phần là im lặng. Lạ thật, lại có chuyện gì không vui sao. Tôi ngồi xem đánh cờ mà tai lại nghe lỏm chuyện của họ. Thỉnh thoảng tôi ngoái đầu lại và thấy cái vui vẻ, hồ hởi ban đầu của ngài sĩ quan không còn nữa, cả ông khách cũng đăm chiêu, nghiêm nghị hơn. Họ đang vướng vào một vấn đề nhức nhối? Cái đầu luôn cảnh giác của tôi trước những bê bối thời cuộc làm tôi nảy ý nghi ngờ. Chỉ có những phi vụ làm ăn bất chính mới có cái vẻ mặt đó. Ông khách theo lời giới thiệu mà sao và vạch đã không còn chỗ đeo thì tôi không rõ, chứ ngài sĩ quan thì làm sao mà có thể dính đến các phi vụ “nổi đình đám” được. Hôm đi lấy lại cái cửa sắt tôi đã biết tài “ngoại giao” của ngài rồi, ngài có biết ăn nói, xin xỏ gì đâu. Đến khi lấy được cái cửa về, đáng lẽ phải có một lời cám ơn, thì ngài lại nói: “Chó cắn áo rách”. Khối nhân viên đang thi hành công vụ nghe được câu nói đó, nhưng mà có cáí lạ, tất cả đều làm ngơ. Bây giờ tôi nghĩ lại, ngài sĩ quan chắc cũng phải có thế của mình mới nói được câu “trời giáng” đó chứ. Thì đâu chả vậy, có người mạnh là phải có kẻ yếu!
Tôi
định bụng sẽ hỏi thăm ngài sĩ quan câu chuyên về ông khách chi tiết hơn. Mặc dù
thấy ông ta bàn chuyện có vẻ bí mật và nghiêm trọng, nhưng nhìn bề ngoài tôi
vẫn có cảm tình, tôi thích tìm hiểu cuộc đời chinh chiến của ông. Khi hai người
chia tay nhau, tôi chỉ còn nghe được câu nói của ông khách: “Cứ vậy nhé, ra
quân chiến dịch này phải thắng. Nhất định thắng”. Cứ như hô khẩu hiệu, tôi nghĩ
bụng, đúng là lính, lại suốt đời lăn lộn vất vả thôi. Đang định hỏi ngài sĩ
quan thì ông ta đã nói: “Chú mày ở dưới trông quán hàng hộ anh” Rồi ông leo lên
tổ chim của ông trên tầng năm ngôi nhà chung cư được xây dựng từ những năm đầu
hoà bình, niềm kiêu hãnh và hi vọng khó thực hiện của nhiều đời công chức.
Mấy
ngày sau không thấy mặt ông ở quán nước, mà cũng lạ, hễ bà vợ ốm yếu xuống trông
hàng thì quán nước vắng hoe, còn nếu mà ông ấy ngồi thì bán thì có đến ba bốn
bàn cờ rải ra chiếm hết cả lối đi trên hè. Ngài sĩ quan của tôi có duyên phận
với vỉa hè đường phố ghê thế đấy.
Rồi ông đi vắng cả tháng trời. Bà vợ ốm yếu lại than thở với tôi: “ Cả chục năm trong chiến trường, vất vả, đạn bom rồi, bây giờ lại vào đó làm nốt cái nghĩa vụ cuối cùng cho bạn bè đồng đội đấy”. Thì ra ông là một trong những nhân chứng còn sống trong một cuộc chiến mà ta bị tổn thất về người khá nhiều. Sau cuộc chiến đấu đó, ông và đồng đội đã chôn xác các bạn mình trên một cao điểm bên đất Lào xa xôi.Thôi thì các bạn nằm lại đây, rừng già sẽ mãi ru các bạn. Bạn bè ngày đó người còn người mất, nhưng ông là người tham gia từ đầu đến cuối chiến dịch năm đó. Đích thân chỉ huy đơn vị đã về nhà và mời ông tham gia đoàn đi tìm đồng đội của đơn vị. Cái phút hai ông đăm chiêu, nghiêm nghị mà tôi “bấm máy”được là lúc các ông đang nhớ về các bạn đã ngã xuống trên cánh rừng Lào năm đó, nhắc lại cái giờ phút mà các bạn chiến đấu hi sinh. Cái ngày đó đã xa rồi, lớp chúng tôi hậu sinh, chẳng thèm để ý. Một năm đôi lần, những cuộc viếng thẳm kèm theo quà cáp mà ông luôn cảm thấy gò bó, những bài hát, câu chuyện ca ngợi truyền thống quang vinh có vang lên trên đài, có bài viết trên báo, nhưng mà có mấy ai xem, mấy ai đọc và mấy ai nghe. Tôi cũng ở trong số những con người “vô ơn” đó. Ngay ở gần kề với ngài sĩ quan, tôi đâu có biết được các chiến tích của ngài, những con người đã hi sinh, chịu thiệt thòi để đất nước có bộ mặt hôm nay. Ôi câu ca: “Đầu đường đại tá bơm xe…”nghe mà đau xót quá, cũng có cả cái gì tức tưởi nữa.
Tôi
ngẫm lại, tại sao mình lại có vẻ như coi thường ngài sĩ quan thế nhỉ. Ngay cả
câu cửa miệng “Ngài sĩ quan” cũng đã có vẻ coi thường rồi, mặc dù trong lòng
tôi không nghĩ như vậy. Tôi chỉ thấy ông là người rất đời thường, rất bình dân
trong cuộc sống nên gọi như vậy cho thân mật thôi. Tôi phải thay cách xưng hô
với “ngài”. Tôi nghĩ mãi, vẫn phải có gì mang chất lính một thời xa xưa, lại
phải có cả cái nghĩa tình thời nay và cả sự hi sinh mà ông và bao người không
hề nghĩ đến. Phải như vậy mới nói được đầy đủ con người ông. Tôi nghĩ mãi, và
buột miệng: “Ngài sĩ quan với nghĩa tình đồng đội”. Vâng nó hơi dài. Thì đấy, cuộc đời con người đâu
có ngắn!
20/06/07ảnh internet
20/06/07
Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013
UỐNG RƯỢU TRONG ĐÊM MƯA SA PA (thơ)
Mấy ngày nay rét đậm, có tuyết rơi.Chắc là đẹp!
Nhớ Sa pa. Nhớ cả rượu San lùng và nồi thắng cố
Uống rượu trong
đêm mưa Sa pa
ảnh internet
Nhớ Sa pa. Nhớ cả rượu San lùng và nồi thắng cố
đêm mưa Sa pa
Tôi lắng nghe
những giọt buồn trong đêm mưa Sa pa
Rả rích băm vào
rả rích
Bỗng nhận thấy
một chân mây trong não nề cô tịch
Khói sương
thoang thoảng ảo mờ…
Cô gái Hmông đơn
sơ
Hát thánh ca
trước nhà thờ đá
Lại như thấy đức
tin bị mang ra mặc cả
Để nhịp sống
trên mây mất đi cái thủa nào
Nhiều bản xa
hoang vu xôn xao
Sống bằng du
lịch nghèo đói
Cô gái Hmông nói
tiếng Anh nhoi nhói
“Cô gái ơi, nói
gì về bản mình?”
Mà chẳng hiểu
sao tôi cứ đinh ninh
Cô đang phô ra
cái ta cần đậy lại!
Tôi lập dị trong
cơn mưa mê mải
Muốn xua đi
những ý nghĩ mù mờ
Ta đang làm giàu
hay đang nằm mơ
Thiên đường trên
Cầu Mây đánh võng
Sóng sánh li
rượu bên nồi thắng cố
Nhạt phai quá
đỗi nhiều rồi
Ông bạn thổ công
một chút bồi hồi:
“Cứ tưởng tượng
Ta là chàng trai
Hmông
Nâng bát rượu
ngô
mời bạn uống thật say
quên
chiều xuống
Tôi, khách đường
xa
Chai Sanlùng cạn
dần đêm không ngủ
Để mơ về thời
lãng mạn Sa pa
4/5/08
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









.jpg)




















