Suy nghĩ về tính cách người Việt hôm nay
Lại một vấn
đề lớn. Dẫu rằng chỉ muốn viết về con người chung nhất và cũng muốn người đọc
những dòng này hiểu cho là mình chỉ nói về người mình, dân mình (tức là người
Việt) nhưng vì là vấn đề con người, do đó nó liên quan đến hết thảy, chẳng trừ
một ai. Cho nên tự cảm thấy vấn đề nó to lớn, to lớn đến mức nào, cũng không mường
tượng hết. Cũng biết chắc là những gì viết ra sẽ không đầy đủ và ai cũng có thể
góp, thậm chí ném đá. Thì xin mọi người cứ góp, cứ ném.
Tất cả chúng
ta, đã là con người, thì đều có những nhu cầu chung. Cái chung nhất là phải ăn
để sống. Sống tức là tồn tại trên cõi đời, cho dù cuộc sống có thể vô cùng chật
vật, khó khăn, khắc nghiệt mà nếu được chết, chắc chắn sẽ sướng hơn là sống.
Nhưng lạ, những con người mà mình nói đến một cách chung nhất không bao giờ tìm
đến cái chết để cho nó thoát nợ đời cả. Vì vậy phải ăn để mà sống.
Nhưng nói ăn
để mà sống thì nó phàm tục quá. Người đời hình như không muốn bàn đến cái ăn để
mà sống. Đó có phải là sự lừa dối nhau và giả dối với chính mình?
Nhắc để đừng
ai quên cái thời tem phiếu chưa xa đâu. Thời đó, chúng ta có phải đúng là “ăn để
sống” không? Tranh cướp, cãi vã, đánh lộn, chửi bới, lừa lọc… tất cả những sự
nhơ nhuốc, hèn hạ vì miếng ăn cho sự sống tồn tại đều có thể thấy diễn ra trước
các cửa hàng mậu dịch, nơi bán thực phẩm, hàng hoá… để cung cấp số ca-lo tối
thiểu cho con người duy trì sự sống.
Thời kỳ đó,
chúng ta là con người hay còn gọi được là con gì khác? Tôi vào nhà một người bà
con ở Sài Gòn, chung quanh căn phòng tiếp khách rộng chừng bốn chục mét vuông, lát
đá hoa xanh mát rượi, ông bà chủ dựng những bao tải nho nhỏ đựng gạo. Những chiếc
bao tải đựng gạo đó chính là những bao cát mà quân đội VNCH dùng để đựng cát
che chắn tạo thành công sự, tránh hoả lực đối phương. Ông chủ nói với tôi, giọng
nhẹ nhàng mai mỉa: “Những thứ này ngày trước giải phóng chỉ dùng để nuôi heo”.
Ông chủ còn không biết chúng tôi, dân ngoài Bắc, còn phải ăn những thứ gì khác khó gọi hơn, tồi tệ hơn cũng với
mục đích là để sống, để tồn tại.
Đa phần,
tính cách con người miền Bắc được hình thành và tồn tại đến hôm nay bắt đầu từ
những ngày khó khăn đó. Ai muốn ném đá về kết luận này của tôi không?
Những tính
cách gì của con người Việt được hình thành từ 1955 (đối với người miền Bắc) và
từ 1975 đối với cả nước?
1.Sợ hãi. Đất nước vừa trải qua một cuộc binh đao,
khói lửa, chết chóc kéo dài 9 năm và đang ở trong thời “long trời lở đất’ của
cuộc cách mạng cải cách ruộng đất. Cái sợ thứ nhất là sợ chiến tranh. Chiến
tranh là đáng ghét và cũng đáng sợ, coi như đã qua. Cái sợ thứ hai kinh khủng
hơn, sợ vì trên mặt đất này, không có chỗ cho pháp luật thực thi, nó thúc bách,
cào cấu suy nghĩ, vật vã tư tưởng của con người. Trong môi trường đó, thật giả
không thể phân biệt. Tất cả những quan niệm về truyền thống đạo đức, nhân cách
được tạo dựng từ thuở lập nước bị đảo lộn trơ trẽn, bẽ bàng. Ai và bất cứ lúc
nào cũng trở thành nạn nhân bởi một ý chí vô hình nhưng khủng khiếp nào đó từ cấp
trên cao, cũng vô hình và khủng khiếp không kém. Mọi người luôn sống trong nỗi
e dè, sợ sệt chờ đón một điều bất thường đến với mình hoặc với người thân của
mình.
Viết đến đây lại nhớ cái thời ở Liên Xô cũ, một ông
giáo già đã kinh qua chiến tranh vệ quốc, phó tiến sĩ lịch sử, nói với mình khi
đi xem phim “Bàu trời trong sáng-Tríctôe nhebô”: Chúng tôi đã phải sống một thời
thấy mà không dám nhìn kỹ, nghĩ mà không dám viết, viết rồi phải xé đi… Tất cả
sống trong nơm nớp chờ đợi một điều gì đó không hay sẽ đến với mình…” Lạ nhỉ? Lạ
vì sự trùng hợp hay lạ vì cái sự lạ lùng?
Còn ở đất Tàu? Mình ở đó đúng thời cao trào “Cách mạng
văn hoá”. Mình không dám nói là đã hiểu, nhưng tất cả tụi sinh viên thời ấy đều
thấy dân Tàu thật ngố và sao lại ngu muội, mù quáng một cách thậm tệ. Tại sao tụi
nó lại đi tin mù quáng vào những điều hết sức vớ vẩn về lãnh tụ chúng nó (Chuyện
cụ Mao bơi trên sông Trường Giang với tốc độ đi nhanh như đi xe đạp trên đường
nhựa, là một thí dụ). Rất nhiều điều cụ nói, tụi Tàu này nó thuộc làu làu. Sau
này mới biết, chúng nó sợ. Nếu không nói đúng những lời cụ Mao nói là chúng sẽ biến
hoặc thành “phái hữu, sẽ thành phản động” và sẽ bị đấu tố, sẽ bị giết chết hoặc
bị đầy đoạ ở một nơi heo hút bất cứ lúc nào.
Trong cái không khí như vậy, ai không nơm nớp thấp thỏm?
Bọn sinh viên du học bọn mình không ở trong trạng thái “tâm thần và tư tưởng”
đó nên không thông cảm với nỗi sợ “ngập ngụa” trong cuộc sống của dân Tàu lúc
đó. Cái sợ nó cứ ngấm dần, ngấm mòn là lẽ đương nhiên. Nó sẽ ăn sâu, ngấm vào
máu ta, thịt ta. Ta sẽ mất đi cái dũng khí hiếm hoi mà con người có được. Thay
thế dũng khí con người dễ dàng hơn cả là im lặng. Ta thành kẻ sợ hãi, nhút nhát
một cách từ từ và cũng đồng thời có sức đề kháng chống lại những ai quy cho ta
là kẻ sợ hãi. Chính ta đang sợ hãi và bảo vệ cho sự sợ hãi mà ta không biết.
Đáng thương thay chính chúng ta và cả thế hệ chúng ta!
2. Thói vô cảm. Những ngày hôm nay, mỗi người Việt
chúng ta tự nhiên mang thêm trong mình một thói hư mới của xã hội. Đó là sự vô
cảm với thời cuộc, với con người và với… tất cả. Người Việt bây giờ có triết lý
sống “bỏ qua tất cả, chẳng việc gì phải bận tâm, việc đó không phải của mình, có
người khác lo…. Tất cả chỉ là vụn vặt và đầy rãy trong cuộc sống, ở ngoài đời.
Nếu việc gọi là chướng tai gai mắt đó không liên quan đến cuộc sống của ta, đến
những người quen biết mà tình cờ ta gặp trên đường đời, chẳng việc gì phải bận
tâm.”
Sự vô cảm đó có nguồn từ đâu? Chính là từ cuộc sống thời
chiến mà người miền Bắc, một thời rất tự hào. Đó là hình ảnh “hạt gạo chia ba”:
phần nuôi ta, phần vì miền Nam, phần cho bạn. Sau đó là thời, tuy hoà bình rồi
nhưng đời sống quá khốn khó. Phải dùng từ kiệt quệ để chỉ cảnh sống người dân
miền Bắc thời đó. Khốn nạn hơn, cái khốn khó đó nó cứ càng ngày càng không thấy
điểm tận cùng. Người thời đó nói là không thấy “ánh sáng cuối đường hầm”.
Và chắc chắn chẳng ai biết, từ “đức tính vô cảm” đó
trong mỗi con người đang hình thành mầm mống cái ác. Cái đáng thương chính là
cái ta đang biến thành “kẻ ác” mà ta không biết. Ông nhà văn Nguyễn Minh Châu
viết: “Cái lỗi lớn nhất của chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu và cái ác.
Lâu dần, dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó – cuộc đời
không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận của con người,
coi như cuộc đời không có oan khiên, oan khuất”.
Nói cho rõ, không úp mở là thế này “đi với bụt mặc áo
cà sa, đi với ma mặc áo giấy; gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Chúng ta sống
trong cái bầu khí quyển được bủa vây bằng cái ác, ta cũng sẽ thành ác. Đó là lẽ
tất nhiên! Đau đớn lắm thay và mấy người trong chúng ta nhận biết được điều đó?
“Đức tính” vô cảm bắt nguồn từ đâu? Có
phải tự sinh ra, chúng ta đã tắm trong bầu khí quyển ô nhiễm đó?
Với lớp trẻ ra đời sau 1975, có thể nói là như vậy. Từ
khi sinh ra (chính xác là ngay từ trong bụng mẹ)chúng đã phải thở cái bầu không
khí đó. Còn lớp cha anh chúng hơi khác một chút. Đó là sự ngấm dần thói quen phục
tùng, nô lệ cho Đảng Cộng sản qua các đợt học tập, chỉnh quân, chỉnh huấn cải tạo
tư tưởng của giai cấp bóc lột, tự giác chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Nhất nhất mọi thứ đều hiểu đã có Đảng và Nhà nước lo. Làm thằng dân, chỉ việc
chấp hành và làm theo nghị quyết. Đã là nghị quyết thì phải dứt khoát đúng. Sau
dần, phải hiểu, Bộ chính trị , Trung ương Đảng tuyệt đối đúng. Đương nhiên phía
đuôi của nó, thấp dần, chị bộ Đảng, cấp uỷ “đã có ý kiến”, tức là cũng đúng.
Làm thằng dân chỉ có việc chấp hành, còn ông cấp uỷ, ông chi bộ gần dân đấy
nhưng nếu có vấn đề khúc mắc(rất hiếm) thì sẽ được giải thích “đó là chỉ thị từ
cấp cao”. Rất tù mù nhưng cũng “rất thiêng liêng”. Thằng dân nào biết được ông
cấp cao linh thiêng đó? Tất cả chỉ mờ mờ hiểu đó là ai. Lờ mờ nhưng lại chắc chắn
và đặt tất cả niềm tin vào cái lờ mờ đó. Cái lười suy nghĩ động não biến thành
cái “ngu lâu” của người miền Bắc là như vậy
Vậy là lớp người đó hình thành sẵn trong đầu ý thức có
“Đảng và Nhà nước” lo. Thói bàng quan với mọi điều xảy ra chung quanh cũng hình
thành. Tay cầm lá phiếu bầu cử, từ ông thấp đến ông cao đều không biết cái ông
mình bầu đó mặt ngang mũi dọc ra làm sao cơ mà. Nhưng bù lại, được đóng mác Yêu
nước, làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Tự ta hình thành trong ta một
điều giả dối và chỉ muốn nghe, thích nghe những điều giả dối mỹ miều đó. Nào ai
chứng minh được cho người dân thấy hành động bỏ phiếu đó là trách nhiệm và
nghĩa vụ cao cả? Thử nói cái trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả đó một tí đi, nếu
không nói đó chính là sự vô trách nhiệm khi ta đi bỏ phiếu. Phải nói đúng bản
chất của hành động bỏ phiếu đó: Vô trách nhiệm! Nhưng đáng buồn thay, rất nhiều
người trong chúng ta biết điều vô trách nhiệm đó, nhưng vì nỗi sợ hãi, một nỗi
sợ hãi vô hình, thần hồn nát thần tính, treo lơ lửng bên trên, chúng ta vẫn đi
đến thùng phiếu và bỏ phiếu bầu cho những người không hề có một chút nào ấn tượng
trong đầu của mình. Và cũng những con người chúng ta đó, chẳng bao giờ ân hận về
hành động “vô trách nhiệm” của mình hết.
Đó là một phần sự hình thành tính cách VÔ CẢM trong
con người Việt hiện đại hôm nay.
Hệ luỵ của nó? Chúng ta đã phá vỡ mối quan hệ “tối lửa
tắt đèn có nhau; bán anh em xa, mua láng giềng gần, nhiễu điều phủ lấy giá
gương, bầu ơi thương lấy bí cùng…” và thay vào đó là “cuộc sống chỉ biết “đèn
nhà ai, nhà nấy rạng; ta, vì ta, chẳng ai thương ta bằng ta, lợi cho ta thì
làm, hại cho ta thì phải “quyết chiến”…
Vì sao sự vô cảm lại hình thành và càng ngày càng có
nguy cơ lan rộng đến mọi tầng lớp. Tôi nghĩ nguyên nhân chính xuất phát từ xã hội
bất ổn. Ở một xã hội mà trẻ không kính trọng già, học trò hỗn láo với thầy, trí
thức cúi (quay) mặt bàng quan thế sự thì xã hội chất chứa bất ổn là đương
nhiên. Người ta vô cảm hoặc buộc phải vô cảm, quay đi vì sự bất an do chính xã
hội mang lại cho bản thân người ta; người ta cảm thấy cô độc trong cuộc đấu
tranh bảo vệ công lý. Thử hỏi liệu có bao nhiêu người đứng nhìn khi một việc bất
bình xảy ra giữa bàn dân thiên hạ, thí dụ như gặp kẻ cắp trên đường. Phong cách
sống ngày nay, nếu thấy cảnh chướng tai gai mắt là hãy lờ đi, bỏ qua đi và qua
đó, hãy rút kinh nghiệm cho bản thân đừng để việc đó xảy ra với mình. Tâm lý sợ
sẽ liên luỵ đến bản thân khiến người ta suy nghĩ và hành động như thế.
Cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất”, cuộc cải tạo
công thương nghiệp tư bản tư doanh, cuộc đấu tranh chống nhân văn giai phẩm, cuộc
đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, cuộc đấu tranh chống nhóm phản đảng… và trăm
ngàn các cuộc chỉnh quân, chính huấn, chỉnh đảng đã làm tư tưởng phản biện bị
tê liệt, không còn đất sống. Con người ngoài Bắc đã như biến thành một loại người
máy, nói hệt như những con vẹt, giống từng câu, từng chữ những điều nghị quyết
đảng viết. “Miền Bắc là những thằng điên/ trong túi có tiền nó bảo rằng không/
suốt ngày nó chạy lông nhông/ ăn tục nói phét làm không ra gì/ nhưng mà nó giỏi
cực kỳ/ triển khai nghị quyết việc gì cũng xong”.
3. Hèn. Từ
xưa, nước Việt mình, chưa khi nào là một nước mạnh về kinh tế nhưng đã có những
thời kỳ là một nước mạnh về quân sự (bé nhỏ nhưng không yếu). Đến nay, trên thực
tế, tuy không phải là một nước nhỏ nhưng lại là một nước yếu, rất yếu(có thời
gian cả dân tộc không nuôi nổi chính mình, phải trông chờ sự giúp đỡ của nước
ngoài, nhưng lại tự hào là điểm tựa của thế giới mà không thấy đó là sự nhục
nhã). Chúng ta đã ru ngủ mình và lừa lẫn nhau. Suốt nghìn năm Bắc thuộc còn là
một nước hèn. Hèn bởi chịu đô hộ của ngoại bang phương Bắc cả ngàn năm. Trong
ngàn năm đó, chỉ thi thoảng, mất cả trăm năm mới có một cuộc khởi nghĩa.
Từ khi Ngô Quyền dấy binh, đánh tan quân Nam
Hán bằng trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng đến Đinh Bộ Lĩnh dẹp được nạn cát
cứ của 12 sứ quân, tất cả các cuộc khởi nghĩa của các lãnh chúa hay nông dân, đều
nhanh chóng bị bọn thống trị đàn áp, tan rã. Trên thế giới có nước nào bị đô hộ,
bị mất nước dài như nước ta không? Đáng lý ra, phải biết, phải lấy điều đó là một
bài học nhục nhã cho dân tộc mà nhắc nhở các thế hệ mai sau không bao giờ nên
quên, không bao giờ được quên. Dẫu rằng thù bạn có thể thay đổi nhưng lịch sử
không thể thay đổi và phải luôn ghi nhớ, truyền đời những bài học lịch sử cho
các thế hệ sau.
Bây giờ
chúng ta đang ở đâu của thế giới? Với một nước mà dân số đông gần trăm triệu, đứng
ở vị trí thứ 13, thì nền kinh tế và sức mạnh của nước đó phải làm sao cho tương
xứng? Liệu có bao nhiêu người dân Việt biết ta đang thua kém các nước lân bang,
thua nó cả vài chục năm. Người Việt bây giờ chỉ mong chờ sự sung sướng và hạnh
phúc tự dưng đến. Thói lười biếng và sự tham lam có sẵn trong mỗi con người.
Có phải
chúng ta chỉ quen đi làm thuê? Ngày chiến tranh: “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho
Liên Xô, Trung Quốc” (đó là câu nói của Lê Duẩn hay Lê Đức Thọ mà bây giờ bị
dấu nhẹm?” Rồi thì ngửa tay xin viện
trợ của tất cả các nước để đến bây giờ, gần năm chục năm đã qua, dẫu có thằng bạn
gần đây nó đánh ta chí tử, làm tan hoang cả 6 tỉnh biên giới phía Bắc, chửi mắng
ta như con hầu con ở, vậy mà cứ xáp mặt nó là phải cám ơn. Vẫn phải cám ơn vì
sau gần năm chục năm đó, vẫn phải nhờ nó, cậy nó. Không có nó thì cái đất nước
này thay đổi, lệch quỹ đạo của một nhúm người. Sau chiến thắng, vinh quang chẳng
được mấy đỗi nhưng mà nỗi nhục thì đã kéo dài suốt cả mấy chục năm nay. Nhục
nào bằng khi bị người ta hỏi “sẽ còn phải xin ăn đến bao giờ?” Nhục nào bằng
khi đất nước hoà bình mà không nuôi nổi nhau. Còn gì nhục hơn khi đất nước trù
phú, ruộng đồng màu mỡ mà dân phải ăn gạo mốc, sắn khô, bo bo như những đồ ăn của
lợn, của chó, của gà? Đó mới chính là bơ thừa sữa cặn.
Còn đâu là độc
lập với sáng tạo, còn đâu là chuyên cần và nhẫn nại. Thói ăn xổi ở thì, thói chụp
giật chỉ biết mỗi bản thân đã làm hỏng nhân cách con người Việt. Người Việt đã
không coi trọng đồng loại, sẵn sàng đầu độc đồng loại chỉ để chăm lo cho cuộc sống
cá nhân mình. Nhân cách con người đã bị tê liệt và thành thứ hàng xa xỉ.
Chính
cái cơ chế đất nước này đã làm thay đổi tính cách con người Việt Nam! Ai biết?
Nhiều người biết nhưng vì với một con người chúng ta đã phí cả đời người, đối với
đông đảo, chúng ta đã phí nhiều thế hệ. Chúng ta , ngoài sự sợ hãi là cốt yếu,
đã quen thói lười nhác, giả dối.
Ý
chí vươn xa, bay cao của người Việt một thời đã bị chê bai là sản phẩm của bè
lũ phong kiến đế quốc. Người ta muốn cùng chết chìm trên một con thuyền. Một
người bỗng nhiên giàu có trong cái cộng đồng u mê sẽ bị đánh tơi tả. Hãy ăn gạo
mốc và bo bo như tất cả sẽ an toàn và không bị làm sao hết! Đó là cách sống tạo
ra sự lười biếng. Sự lười biếng thành nếp sống của cả dân tộc tù ý thức cào bằng,
không muốn cho ai vươn lên trên cái mặt bằng đó.
Hàng
năm hoặc nửa năm, lãnh đạo nhà nước đều đều dẫn bầu đoàn thê tử sang các nước
xin chi viện? Để rồi ta cứ phải chịu ơn, chịu ơn mãi chưa hết. Lần tiếp khách
“cũ”nào cũng nghe thấy câu “nhân dân Việt Nam biết ơn…”. Đúng, chúng ta không
quên ơn nhưng phải làm cho bạn bè hiểu, những ngày đó qua rồi và ta bây giờ
đang sống bằng chính sự lao động, sáng tạo của ta. Tiếc thay, điều đó chỉ thể
hiện trên lời nói.
4.Tính dối trá hay sự giả dối, háo danh đã thành một đặc
tính của người Việt. Chúng ta luôn lớn tiếng nói về mình bằng những lời to tát vượt
quá sự thật, quá cường điệu không đáng có. Ngày trước, chúng ta ba lần đánh đuổi
quân Nguyên bằng chính thực lực của ta, không nhờ vào ai giúp đỡ, là điều đáng
tự hào nhưng nếu cứ hô mãi “đánh đuổi được hai đế quốc to” thì lại không thật,
không biết người biết ta. Đó là sự dối trá. Đánh để làm khi gì mà người dân
trong nước kiệt quệ, điêu linh, trăm họ phải chịu cảnh tan đàn sẻ nghé trước những
cuộc tiễn đưa người thân yêu vào nơi tử địa, có đi mà không có về. Vậy mà tất cả
cứ phải giả vờ tươi cười, giả vờ tự hào vì được làm nghĩa vụ vinh quang
Sau bốn chục năm chiến tranh, đất nước đã thay đổi. Sự
thay đổi đó nếu có sự so sánh chính xác khách quan thì sẽ có sức thuyết phục.
Tiếc rằng sự háo danh, sĩ diện và thói giả dối đã không cho người dân biết được
thực chất của sự thay đổi.
Tại sao những bốn chục năm trôi qua, gần nửa thế kỷ chứ
đâu ít ỏi vài ba năm. Với đa phần, đó là cả quãng thời gian làm việc và cống hiến
của một đời người. Vậy chúng ta đã được hưởng gì trong suốt thời gian đó. Gần
đây, ông nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã đăng đàn giải thích về
cái so sánh ngang. Thú thực tôi không hiểu, cũng chẳng tìm được bài phát biểu
trọn vẹn của ông ấy để ngẫm nghĩ. Tôi thì cứ mộc mạc hiểu thế này:
Muốn biết có sự thay đổi thì phải có so sánh. So sánh
ta với ta trong khoảng thời gian nào đó, để biết sau thời gian đó, cuộc sống người
dân đã có thay đổi (theo chiều hướng đi lên) như thế nào.
Cách khác, phải biết so sánh ta và các nước lân bang,
kẻ cùng ngang hàng, kẻ hơn ta, kẻ từng thua kém ta, hiện nay ra sao. Ông nguyên
chủ tịch hình như bị rối trong cách giải thích, cái rối khiến người ta cảm thấy
ông lẩm cẩm, ông đang dùng mớ lý luận lòng vòng cố bênh vực và bào chữa cho một
sự vô lý vẫn đang diễn ra. Vì bằng cách so sánh này, người dân có thể đánh giá
mấy cái “T” của các nhà lãnh đạo nước nhà (tầm tài tâm). Đó chính là sự dối trá, thưa ông nguyên chủ tịch và
thưa cả các ông đang tại chức!
Sự dối trá đã biến thành bản chất của hệ thống các cấp
chính quyền hiện nay của đất nước ta. Đó là sự đi ngược trào lưu tiến hoá nhân
loại như một sự thật hiển nhiên. Nhưng nhà nước ta vẫn luôn tìm mọi cách lảng
tránh hoặc bao biện trước những vấn đề bức xúc người dân đòi hỏi. Chỉ có nhà nước
dối trá mới không dám minh bạch mọi vấn đề quốc kế dân sinh, vận mệnh đất nước(các
hiệp định ký kết của các nhà lãnh đạo với TQ, các chỉ thị về bảo vệ biên giới hải
đảo của các cấp chính quyền) . Chỉ nhà nước dối trá mới tô hồng, bịa ra những
câu chuyện hoang đường, những hình ảnh không có thật trong đời sống dân thường
và tuyên truyền nó là thành tựu của chính quyền. Ham muốn người khác ca ngợi
mình bằng cách tự “thoa son trát phấn”, ham muốn những lời khen ngợi giả tạo
mang tính ngoại giao và coi đó là lẽ tạo nên hình ảnh đẹp đẽ, che dấu những điều
xấu xa, nhức nhối đang tồn tại hàng ngày trong con mắt người dân (chỉ số hạnh
phúc thứ nhì thế giới, thủ tướng là người lãnh đạo (tài giỏi) của năm). Chỉ
có nhà nước giả dối mới che dấu sự chiếm đoạt công sức, bóc lột sức lao động, cuộc
sống đói khổ của người dân bằng những luật lệ, sắc thuế, sắc phí chồng chất,
ngăn cản, trù dập lòng mong mỏi của người dân, tạo điều kiện và hành lang pháp
lý để hợp pháp hoá chiếm hữu tư liệu sản xuất của người dân (luật về sở hữu ruộng
đất, quyết định thu hồi đất đai, cho thuê đất rừng, cảng biển, các loại phí,
thuế giao thông)…; chỉ có một nhà nước dối trá mới che đậy những bất cập trong
lãnh đạo, điều hành đất ước bằng những thành tích giả tạo và mơ hồ và nhai đi
nhai lại những điệp khúc “tự sướng” để mị dân, lừa dối người dân.
Và một sự thật đau lòng, sự dối trá này đã ăn sâu vào
mọi lớp người trong xã hội hiện tại. Trẻ con bé tí hai, ba tuổi đã thích những
điều phù phiếm. Chúng nhận biết được những điều phù phiếm đó mang lại “vinh
quang” gì đó mà chúng nó đang dần lờ mờ nhận ra, đang hình thành suy nghĩ và tạo
nên tính cách của chúng. (chẳng hạn chuyện hàng tuần được nhận một phiếu bé
ngoan, chẳng hạn những than vãn của các bà mẹ với nhau về những khoản đóng góp
của cha mẹ cho nhà trường được núp dưới muôn hình vạn trạng các tên gọi cả mĩ
miều lẫn quái gở mà vì con cái, bố mẹ chúng phải im lặng hoặc cắn răng chịu đựng
).Tính cách của người Việt chúng đã
và đang được hình thành bằng sự dối trá.
(Người Việt
còn xấu xa ở thói “hám ăn”. Ăn của dân không từ một cái gì-Nguyễn Thị Doan-Được
một chút lợi lộc nho nhỏ là bán thân ngay. Từ sau ngày 30/4/1975, những người
làm ăn của Sài Gòn có kinh nghiệm từ chế độ cũ từng nói “mua một ông cộng sản rẻ
hơn mua một ông nguỵ nhiều, ông cán bộ cộng sản chỉ hám lợi trước mắt mà thôi” (lấy
tiền, lấy gà, lấy dê của người nghèo được xã hội giúp đỡ, lợi dụng lòng từ thiện
ăn không những đồng tiền của người làm từ thiện mua dưa cứu trợ nông dân Quảng
Ngãi)
Tất cả những điều giả dối, man trá đó lãnh đạo các cấp
từ phường xã lên đến quận huyện, tỉnh thành có biết không? Xin thưa rằng đều biết.
Tất cả bọn họ đều biết. Biết nhưng họ không làm cho đất nước tốt hơn, để dân bớt
khổ hơn. Thậm chí còn nhiều chuyện được núp dưới chiêu bài vì “quyền lợi đất nước”
mà có những công trình, dự án cả chục năm, vài chục năm vẫn xói mòn vào tiền
thuế người dân (dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án bô-xít Tây
Nguyên, các dự án cho thuê rừng đầu nguồn, vô số các dự án chậm tiến độ và đội
vốn của ngành giao thông và điện lực… Đụng đến ngành nào, bộ phận nào cũng có
thể tìm ra những sai sót nghiêm trọng)
Ta thử đặt câu hỏi, bộ máy nội chính nhà nước ở đâu
trước những bất cập to lớn xảy ra hàng ngày trước mắt đó? Cũng một điều dễ trả
lời, dễ lắm: “tất cả những nhân viên công vụ đó đều đã biến chất. Từ ông lãnh đạo
tối cao cho đến ông nhân viên quèn gác cổng. Thằng lớn ăn lớn, thằng bé ăn bé…”
Tất cả đều đã mắc quai, rút ra khỏi ư, khó lắm! Càng dấn sâu càng khó rút ra khỏi
vũng sâu nhơ nhớp. Người dân chỉ biết được một số vụ việc mà báo chí được phép
phanh phui hoặc một nhúm các nhà báo dũng cảm trong cả đống bồi bút của gần
nghìn tờ báo các loại. Sự giả trá, gian dối đã làm mục ruỗng lương tâm con người.
Người ta sẵn sàng cướp trên tay kẻ đang chết đói nắm cơm cuối cùng, sẵn sàng
bán lương tâm mình để lấy những đồng tiền nhuốm máu và mồ hôi của người nghèo,
đẩy họ ra khỏi quê hương ngàn đời của họ
Sự giả trá đã mang tính dân tộc, khoác áo quốc gia rồi.
5. Tính bốc đồng-ngôn ngữ thời nay: thích chém gió (nói
những điều lớn lao). Tất cả những đức tính thể hiện sự oai hùng và vinh quang của
các dân tộc trên thế giới, người Việt đều có. Đánh thắng hai đế quốc to; ra ngõ
gặp anh hùng; điểm tựa của nhân loại; đỉnh cao trí tuệ; (sự kiện gì đó) xảy ra đầu
tiên ở khu vực hay thế giới... Mơ “sau một đêm ngủ biến thành người Việt” cho đến
những thứ ngày này người ta đua nhau thi thố: bánh chưng bánh dày lớn nhất, khu
chùa nhất Đông Nam Á, tháp truyền hình cao nhất thế giới…
Hơn bất cứ quốc gia nào, nước Việt ta có số lượng “học
giả” nhiều vào loại nhất thế giới. Cán bộ lãnh đạo các cấp cũng vậy, vào loại
có học vị cao nhất khu vực và đương nhiên đứng vào vị trí có “số má” trên thế
giới. (Hà
nội còn có một kế hoạch hoành tráng “tiến sĩ hoá” các cấp lãnh đạo chủ chốt của
các ban ngành, mà chẳng hiểu sự sống chết của kế hoạch đó cũng như cha đẻ của kế
hoạch đó nay ra sao(!). Điều này chứng tỏ
bằng cấp rất được coi trọng ở đất Việt. Những “hai lúa với chân đất” chỉ được
nêu ra để làm cảnh và phô diễn những khi cần thiết cho một mục đích nào đó, thậm
chí, nếu không nói còn bị cản trở)
Thuộc tính này đã có hệ luỵ từ lâu đời. Nói thời nay mới
có là oan. Dân Việt vốn tôn trọng những người có “chữ nghĩa” và những người đó
đều được gọi một cách rất kính trọng là “Thầy”. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
là vậy.
Nhưng qua đây cũng thấy bề trái của nó, nạn sính văn bằng
càng ngày càng cao. Nói cho rõ là người Việt rất trọng hư danh. Cứ có danh là
đã đứng trên thiên hạ một bậc. Vì vậy không lạ, trước một cái tên, phải kèm
theo những giáo sư, tiến sĩ, rồi đến chức vụ này khác, mới thể hiện và lột tả
được cái oai, vai trò quan trọng mà người mang tên đảm nhiệm. (Kể cả các vị
đã nguyện thoát khỏi thói đời xấu xa, nhơ bẩn vẫn rất coi trọng những chức danh
và bằng cấp này)
Cơ quan tác giả viết những dòng này có lưu truyền ngay
lập tức câu ca khi phong trào xin công nhận giáo sư, phó giáo sư nở rộ: “Cơ
quan có chuyện nực cười? chưa đỗ lớp mười đã là phó giáo sư”. Người ta tôn nhau
lên, đưa nhau lên để lấy oai cho nhau, vẻ vang cho gia đình và làng nước (!)
Cái danh đó với một số người chỉ là hư danh. Họ chẳng
cần để làm gì cả. Nếu có thêm được một vài đồng phụ cấp thì bổng lộc cũng chẳng
bõ bèn gì so với chức vụ họ đang giữ mang lại. (Thời đó, rất nhiều người, chức vụ họ
đang đảm trách đã ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời.)
Tất cả những chuyện này được một sự thật phũ phàng tổng
kết. Danh nghĩa nước Việt nhiều nhà “khoa học” nhất nhưng đóng góp cho nền văn
minh nhân loại lại vào loại kém nhất. Những ông bà mang cái tên của mình đầy những
chức danh đáng kính kia nghĩ sao?
Dân Việt được nghe đến nhàm tai, đến ngán ngẩm những
bài diễn văn của bất cứ ai có quyền đăng đàn, được đăng đàn. Đó luôn là những từ
ngữ sáo rỗng, cũ kỹ và được lặp đi lặp lại qua nhiều năm. Những từ như “dưới sự
lãnh đạo sáng suốt, dưới ánh sáng của nghị quyết, được sự chỉ đạo sát sao, sự cố
gắng không ngừng nghỉ, sự hi sinh vô bờ bến…” và những “kim chỉ nam, ý kiến chỉ
đạo sáng suốt của (ai đó) làm sáng ra nhiều vấn đề, là niềm vinh dự và tự hào
to lớn được tiếp đón (ai đó) đến thăm và cho ý kiến chỉ đạo…”. Nhưng chắc chắn
không nhiều người muốn nghĩ và bận tâm, sau những hào nhoáng lấp lánh và những
lời nói ca ngợi đến tận mây kia, cả người đọc, người nói, người nghe đều sẽ
quên ngay lập tức.
Nhưng có điều hài hước, người ta sẽ lại lặp lại những
câu nói đó, những ngôn từ sáo rỗng đó vào những buổi sau, nếu lại phải lên diễn
đàn nói chuyện.
Vậy nên mới có chuyện “trồng cây gì, nuôi con gì…” của
các vị lãnh đạo xứ này.
Vinh Anh 12/5/2015