Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Tuổi nào em trở thành thiếu nữ

Tuổi nào em trở thành thiếu nữ?
Bất ngờ lục tìm được cái ảnh cưới cũ, phịa chuyện tặng em.
Bởi nhớ câu “tình chỉ đẹp khi còn dang dở… Hồ Zếnh

Vẳng vẳng nghe được câu hát từ bài “Mối tình đầu”trong sớm thu. Chợt nhớ và tự hỏi mình “Tuổi nào em trở thành thiếu nữ”?
Một thời gian quá đẹp của chúng mình. Ngày đó, em còn rất trẻ con, còn tôi, tôi đương nhiên, đương nhiên người lớn hơn em. Người lớn như tôi không chơi với trẻ con. Nhớ có lần, tôi còn đưa cho em cuốn sách thiếu nhi và nói, em đọc đi, phải đọc hết đấy nhé.
Chẳng biết từ khi nào tôi để ý đến em. Có thể là từ buổi chiều tắm sông hôm đó, tôi cùng bạn bè nhảy từ lưng trâu xuống, bắt gặp bọn con gái cũng tắm, thấy đứa nào cũng kéo quần cao trên ngực, như thể muốn che cái gì đó. Sau này tôi cố nhìn mà không thấy gì cả. Chắc chỉ làm bộ, muốn chứng tỏ mình là con gái mà thôi. Con gái có nhiều điều ý nhị lắm.
Rồi tự dưng, bỗng nhận ra em đã lớn. Có lẽ là do gặp ánh mắt em. Chẳng hiểu sao tôi nghĩ, cái nhìn đó là để cho tôi.
Tôi nhớ hôm đó, tựu trường chưa được bao lâu, chắc độ tháng 10. Bọn tôi lớp lớn và đa số là con trai, chơi ở sân trường. Bọn con gái ngày đó chỉ ngồi ba dãy bàn, hơn chục đứa, còn ít lắm, túm tụm ngồi trong lớp.
Thế rồi mưa. Mưa ào xuống rất nhanh. Bọn con trai chạy nháo nhào. Tôi chạy vào lớp của em và hôm đó, bỗng thấy em khác thế, lớn nhanh thế, thay đổi nhiều thế.
Tôi như bị thôi miên, nhìn em không chớp, sau đó mới thấy ngượng. Còn em, em làm ngơ, coi như chẳng quen biết gì hết. Tôi thấy một phút xao động, đâu đó trong lồng ngực phập phồng. Giả vờ lơ láo để quay lại nhìn về phía em, chỉ thấy bím tóc đuôi sam ngúng nguẩy. Có lẽ hôm đó, trong mắt tôi, em trở thành thiếu nữ. Có cái gì đó hấp dẫn khiến người ta cứ phải đưa mắt tìm, kiểu nhìn đó người đời bảo là nhìn trộm. Nhìn mà không dám nhìn lâu, lại đánh mắt đi chỗ khác ngay. Bâng quơ một cái nhìn là thế! Bâng quơ một ánh mắt là thế! Bâng quơ một nỗi lòng là thế!
Tan trường. Tôi nhìn về phía lớp em. Sao vẫn chưa thấy bọn học trò nhốn nháo khi trống báo tan học. Bọn bạn gọi tôi. Tôi nấn ná muốn làm cái gì đó. Chúng nó lại gọi. Ừ, đợi tớ tí, về thì về. Về mà vẫn như muốn chờ, muốn đợi, muốn biết xem có thật thờ ơ hay không.
Từ hôm đó, tôi nhận ra, em thờ ơ thật, không quan tâm đến tôi, lảng tránh tôi. Chẳng hiểu có phải cố tình làm cao không. Còn tôi, tôi luôn nghĩ về ánh mắt, muốn tìm lại ánh mắt hôm đó, muốn tìm lại dáng vẻ hôm đó của em. Ánh mắt lạ lắm. Khó nói. Nó xuất hiện nhanh lắm, như tia chớp, như ánh sao. Tôi nghĩ hay là mình tưởng tượng ra, rằng như, em muốn nói gì đó với tôi. Có thể, một lời nói thể hiện sự quan tâm: “Này, lau cái đầu đi, ốm đấy!” cũng có thể là: “Sao lại chạy vào đây, nhầm lớp rồi… dơ chưa…” Nhưng chẳng có gì xảy ra. Chưa hết mưa, nhưng đã vào tiết mới, phải chạy về lớp mình. Vẫn nhớ quay lại nhìn mấy bàn con gái. Gặp ánh nhìn của em. Lại xôn xao.
Từ hôm đó tôi bắt đầu để ý mọi thứ, người đời gọi là làm dáng. Sạch sẽ, chau chuốt hơn. Cái chau chuốt học trò rất đáng yêu. Này nhé, lướt qua gương, cầm cái lược hay đưa tay vuốt vuốt mái đầu… Ồ, chỉ thế thôi. Cũng cốt để làm em chú ý. Buồn cười nhỉ? Em thì lúc nào trông cũng sạch sẽ, mái tóc rất gọn gàng, đuôi sam vẫn ngoe nguẩy, lắc đều rất nhẹ sau lưng. Tôi cảm thấy em tết một cái đuôi sam, nó dày dặn, thiếu nữ hơn, hai cái trông trẻ con nhí nhảnh, chưa lớn. Thật đấy. Tuổi nào em trở thành thiếu nữ, tôi không biết.
Cái xôn xao trong tôi được nuôi dưỡng bằng sách chứ không phải đi tìm ánh nhìn nữa. Nhớ lần đầu tiên thấy em đọc sách, hôm sau đưa cho em cuốn sách thiếu nhi, bảo đọc đi. Lần này khác, thấy cuốn sách dày dặn, tôi hỏi em đọc gì? Em chìa bìa sách cho tôi xem. Ôi, em đã đọc sách loại này cơ à? Thì sao? Em vặn lại tôi. Tôi hỏi em đọc đến đâu rồi, em thấy hai cô gái Katia và Đa-sa thế nào?(nhân vật trong cuốn hai chị em của A. Tôn-xtôi). Rồi tôi lấy giọng đọc câu kết của cuốn sách, cố thật truyền cảm: “Năm tháng trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét và chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…” Tôi kéo dài câu cuối “chan chứa tình yêu thương”. Em sững người, ngạc nhiên, hỏi như để hỏi, anh đọc rồi à? Tôi vênh: đọc hơi nhiều đấy. Em bĩu môi không nói, quay mặt về phía khác. Tôi không ngờ sách lại có tác dụng như vậy. Giờ thì quan hệ giữa tôi và em không gọi là xôn xao ban đầu nữa mà là thân mật, cái thân mật rất khó gọi tên chính xác. Tôi thích, tôi nhớ hay tôi yêu em… Chịu, không thể trả lời. Ngày nào tôi và em cũng có thể gặp nhau. Sách là cầu nối tri thức của nhân loại, sách cũng là cầu nối tình yêu. Tôi cứ mạnh miệng bảo đấy là tình yêu.
Nhưng ngoài sách, còn có một thứ khác, vô cùng quan trọng nối tôi và em. Đó là những bức của tôi viết cho em, thư viết tay, bằng cách nào đó để em đọc được. Tôi viết hàng ngày, kiểu nhật ký, nói về những chuyện xảy ra trong ngày. Cũng có những bức thư qua bưu điện. Tôi viết đủ thứ chuyện, chẳng hạn như chuyện tập bơi, tôi bắt chuồn chuồn thế nào, cho chuồn chuồn cắn rốn ra sao. Gặp tôi, em cười nắc nẻ, đòi xem chỗ bị chuồn chuồn cắn. Lạ thế, em rất tự nhiên kéo áo tôi lên, tôi đẩy tay em ra, không ngượng à, em như mới chợt nhớ.
Có một lần, tôi cao hứng bàn về tuổi thanh xuân, tuổi trẻ, sự cống hiến và hy sinh. Cũng nhân cái cao hứng đó, tôi trích dẫn Ô-xtrôi-côp-xki “Đời người chỉ sống có một lần…”. Lần đó em trả lời bằng thư “Có phải là anh không? Đừng triết lý, ông cụ non… của em” Tôi thích thú cái “của em” nhưng bất ngờ vì sự sâu lắng và cũng cảnh giác hơn, không dám “ra cái vẻ” nữa.
Thời gian trôi nhanh như thế nào, tôi không nhận ra nữa. Tôi không bao giờ nghĩ là tôi sẽ xa em. Nhưng số phận là vậy. Tôi và em xa nhau trong cái lý do mờ ảo, trong cái bâng khuâng gió thu và mùi hương dạ lan, trong cái “ví dầu” chúng mình không nên duyên thì cũng có cái “ví dầu” vậy  chúng mình vẫn còn nỗi nhớ.
Tôi không gửi những trang ghi chép như nhật ký, như những bức thư của tôi cho em (mà có lần em nói anh viết hay thế). Tôi giữ cho riêng tôi. Tôi cũng không đọc lại. Tôi biết là tôi nhớ hết. Chỉ có duy nhất một điều “không ai hiểu vì sao tình yêu tan vỡ như hoa thơm đầu mùa, tàn theo gió mùa thu…” Nếu đấy được gọi là “tình yêu”.
Hình như đến tận hôm nay, chúng tôi chưa bao giờ được tay trong tay của nhau.

         Vinh Anh-3/11/19







Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

Nhớ làng

Nhớ làng  
Ăn cơm mẻ bát xứ người,
vẫn còn canh cánh góc trời chân quê.

Đó là ý nghĩ đột nhiên, bột phát đến lúc đang xem cái ảnh về Hà Nội xưa, Hà Nội cách đây cả trăm năm. Mải mê nhìn những rêu phong cổ xưa, lan man và bỗng nghĩ về làng, cái làng không phải là nơi tôi sinh ra, cũng không nhiều gắn bó, nhưng là nơi quê cha đất tổ, về nơi đó, tôi vẫn được đón tiếp như những người thân. Thực ra, tôi đâu có sống nhiều ở làng, nghĩa là ở quê ấy, ở quê mình ấy. Cái làng quê đó của tôi, bình thường, nó chỉ  tồn tại trong đầu như một dấu chấm bé xíu thôi. Làng ở đây là những làng quê, nơi tôi đã được sống trong suốt mấy chục năm rong ruổi. Những nơi đó cũng là những dấu chấm bé xíu, đã tồn tại trong đầu tôi cho đến hôm nay.

Hóa ra, cái Hà Nội hào hoa cách đây cả trăm năm cũng là cái làng, mà khi nghĩ về nó, nó cũng chỉ như một cái chấm nhỏ xíu. Nhìn cái ảnh xưa, thấy Hà Nội rất “làng” và vì thế thấy yêu, yêu vì lẽ thấy nó đơn sơ, vì đơn sơ nên thấy thân thiết, gần gũi. Bởi vì lẽ, cái hào nhoáng hôm nay nó dễ trở nên xa cách. Cứ ngẫm mà xem, gặp người đơn giản, mộc mạc, chất phác, chân quê sẽ dễ nói chuyện hơn ông com-lê, kính trắng, cà vạt, cổ cồn. Đúng vậy không?
Cái nhớ làng hóa ra cũng thật giản dị, đó chính là nỗi nhớ về cái thanh bình, cái yên ả, cái ngày xưa của một miền quê yên tĩnh mà ngày còn bé tí teo, tôi được hưởng. Cái ảnh ngày xưa cho tôi nỗi nhớ đó. Đó là con đường làng bằng đất quanh co đầy cỏ dại, qua một con sông nhỏ bằng một chiếc cầu tre đơn sơ, ẽo ợt. Có thể từ đó nối dài thêm con đường, vươn ra ngoài tầm lũy tre, mắt người quê nhìn được xa hơn.
Bóng những người đàn bà váy chùng thâm, bạc màu và hình ảnh các cô gái làng chiều chiều gánh nước ngoài bến sông cho tôi nhận ra sự an phận nhưng thanh bình của người quê bên bến quê. Tôi nhớ về cái nghèo, cái nghèo cứ lộ ra từ đống rạ, đống rơm đến cái chum cái vại; từ cái chõng tre đến mái gianh tiều tụy hay vài con gà túc tắc, lẫm chẫm bới đất kiếm ăn… Cái nghèo nhìn thấy từ vài cây cau gầy guộc trơ trọi vươn lên trời như đòi sự sống, đòi ánh sáng… Cái nghèo từ mấy đứa trẻ đang nghịch đất trước sân… Cái nghèo từ bến sông với con thuyền nan cũ kỹ, nằm im ắng, nghe ngóng mặt nước lặng lờ… Ôi, nhớ thế… làng ơi… Tất cả đều toát ra cái quê mùa, cũ kỹ từ ngàn đời, nó hòa vào thân thể ta, ngấm đẫm vào máu thịt ta từ khi nào thế nhỉ? Không biết!
Nhớ về làng ngày thơ bé thì những đêm trăng sáng chơi trận giả, là không thể quên. Tổ chức được buổi chơi công phu lắm, công phu là phải chia bên địch-ta cho công bằng. Bọn trẻ choai choai đủ các loại tuổi, đứa bé nhất chỉ mới lên bốn, lên năm, đứa lớn đã gộc ghệch mười ba, mười bốn. Đứa nào cũng có công việc. Bọn nhỏ cho ở nhà làm chân lon ton, vặt vãnh như liên lạc, thằng lớn là chỉ huy, hò hét ra lệnh oai phết. Sẩm tối lò dò, lom khom đi tìm chỗ mai phục trên thảm cỏ để bắt quân địch làm tù binh, đứa nào cũng được trang bị súng bằng sống là chuối, mỗi lần cho nổ phải vuốt tay trên sống lá, phát ra tiếng kêu rốp rốp, đứa khéo tay thì tạo ra súng có tiếng kêu to và giòn. Nhiều đứa bị muỗi đốt không dám kêu, bí mật mà. Trận đánh cuối cùng là trận xung phong, hai bên địch ta ào lên, gào thét. Lá ngụy trang rung rinh, rùng rùng, roàn roạt, tiếng hô xung phong ầm cả góc trời. Rồi vật nhau, rồi bắt tù binh và hò hét. Kết quả chẳng thắng chẳng thua, chỉ có tiếng gào thét, tranh cãi của mấy thằng lớn gộc ghệch, bọn bé có đứa còn khóc vì bị ngã đau. Bây giờ nghĩ lại, thấy sao mà yêu thời trẻ thơ thế.
Ngoài ra còn nhiều trò chơi lắm. Đánh khăng, chơi đáo cũng là những trò chơi mà tôi thích. Nhưng thích hơn là bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi. Chẳng hiểu sao, tất cả bọn trẻ chúng tôi đều tin như vậy. Tôi đã dùng nhựa mít gắn vào đầu gậy, bắt được con chuồn chuồn ngô to tướng. Bắt được rồi vén áo lên, cứ dập dờn cho nó cắn rốn mà lại sợ đau. Cũng có lúc liều cho nó cắn, thấy ngưa ngứa, nhoi nhói lại vội giật ra, có lẽ vì chưa bị chuồn chuồn cắn thật đau, nên tôi không biết bơi. Sau này học bơi, cứ bì bụp, đập nước tung tóe mãi mới nhích được một chút dưới nước, cũng gọi là biết bơi.
Sau những năm tháng ngắn ngủi đó, tôi rời làng ra phố. Bọn trẻ ở phố cũng có đánh đáo, chơi khăng. Đánh đáo thì bọn phố thiện nghệ hơn, chơi khăng thì bọn quê ăn đứt bọn phố. Mấy trò đó bây giờ không còn nữa. Bọn trẻ bận học và nhiều trò tân tiến chứ không quê mùa, dân dã như bọn tôi ngày xưa. Các trò xưa của tôi đã mất theo cái làng xưa nghèo khổ rồi. Cái bến sông cũng mất, cái đồi đánh trận giả cũng mất. Người ta bảo làng quê đi lên, còn tôi thì nghĩ đến bến sông xưa, cứ thấy tiếc, tôi chỉ nghĩ đến cái đã mất. Tôi nhìn lại, chẳng thấy làng tôi nữa. Cái lũy tre làng cũng chỉ còn vài cụm thưa thớt, không ken dày đặc, râm mát cho mọi ngõ ngách bụi bặm và lổn nhổn sỏi đá, mà những đúa trẻ chân trần như tụi chúng tôi chẳng hề sợ. Nếu chẳng may đạp phải gai thì nhảy nhảy mấy bước rồi cắn răng rút ra, tuyệt không như mấy đứa thành phố, mỗi lần về cứ nhún chân, chăm chăm nhìn xuống đất vì sợ. Có thể vì thế mà tầm nhìn người làng tôi đã xa hơn?
Với tôi, nói về làng là nói về cái xưa, ẩn dấu trong tôi “làng” là cổ tích, như chuyện về công chúa và hoàng tử, như chuyện kể về phù thủy độc ác và bụt hiền hòa chuyên hiện ra giúp người khó. Làng với tôi là kho tư liệu về gia đình và hàng xóm, những cô dì chú bác và bất cứ ai, bất cứ điều gì xảy ra với người làng, cứ về hỏi “làng” là biết mọi sự. Mọi chuyện xảy ra, tôi đều có thể liên hệ với cái xưa, dẫu tôi sống ở làng không lâu, mọi người đã coi tôi là cư dân của phố thị, của những cái gì mà người ta (hay là tôi nghĩ nhỉ) nghĩ là sang hơn, giàu có hơn, văn minh hơn. Nhưng mà tôi vẫn nhớ làng, lạ là thế. Có lẽ chính vì những lý do đó mà tôi nghĩ, làng là phải cũ kỹ, cổ kính rêu phong và phải chứa đựng vô cùng tận những câu chuyện bí ẩn.
Làng với tôi cũng luôn là nơi chốn đi về, là chỗ dựa và luôn tỏa bóng mát, che chở cho cư dân của làng. Như bao làng khác ở xứ này, làng tôi có một cây đa rất to, lâu lắm rồi, các cụ ai cũng nói, từ khi sinh ra, đã có và nó cũng đã rất to. Tôi và mọi người đều rất thích ngồi nghỉ ở cây đa xum xuê, đầy những chuyện linh thiêng, sừng sững đứng ở đầu làng, nơi có bà Còng với cái chõng tre, mấy cái bát xam xám màu gio, ngồi bán nước vối.
Tôi rất nhớ bà, bà hay cho tôi những quả táo đã héo, xâu trên một cái que dài hơn gang tay hay những quả dâu da xoan cũng héo hắt, nhăn nhúm và chua loét, chẳng ai mua. Vậy mà thích lắm. Tôi ngồi ăn và nghe bà nói chuyện xửa xừa xưa, những chuyện ngày nay nhưng nghe như cổ tích và cả những chuyện chả liên quan gì đến tôi, vậy mà bà cứ kể, bà có trí nhớ tuyệt vời về mọi sự xảy ra trong làng. Bà hay liên hệ cách hành xử của người trong chuyện với những lý lẽ của chuyện cổ tích và rút ra cái điều đáng phải làm. Bà nói và tôi nghe, bà cứ nhỏ nhẹ,êm êm rót vào tai tôi. Vậy nên tôi biết rất nhiều chuyện của làng. Bà và cây đa là chứng nhân của làng tôi đấy.
Tôi nhớ nhất, sau mỗi khi bà kể chuyện cho tôi, bà lại chép miệng: kiếp người khổ lắm cháu ạ! Tôi chưa hiểu hết ý của bà, nhưng tôi thấy bà nghèo khổ mà lại tốt bụng và tôi thương bà. Bà và tôi chỉ quan hệ có thế nhưng sau này, mà mỗi khi về đến làng là tôi bồi hồi, nhớ bà rơm rớm mắt.
Thời bé, tôi có nhiều ước mơ mỗi khi nghe bà Còng kể xong một câu chuyện, tôi ước mình sẽ giống như nhân vật đáng yêu trong chuyện bà kể. Toàn ước mơ đẹp. Bà Còng có cô cháu gái sống chung, ngang tuổi tôi, tôi không mấy khi giáp mặt nó, nó lúc nào cũng bận rộn với công việc. Đất bãi ven sông và rất nhiều đất ruộng khác, là của ông nội tôi, ông cho người cùng quê cấy rẽ, có người trong họ làm quản lý, đến kỳ thu hoạch nộp tô cho ông, nó cùng người làng làm việc ở đó. Bà nhặt nó về từ gốc đa trong một đêm rét buốt, còn đỏ hỏn. Người làng bảo nó xinh mà số phận khốn khó. Và tôi từng ước, sau này lớn lên, tôi sẽ lấy vợ siêng năng và xinh như nó. Cái quan niệm “xinh” của tôi ngày đó là sự chăm ngoan, nghèo khổ và tốt bụng, như cô Tấm ấy.
Con bé tên là Mơ. Bà Còng đặt tên cho nó với ước mong nó sẽ là nguồn vui, ước vọng và mãi là giấc mơ của bà. Bà vui vì có người quấn quít bên cạnh, có người để săn sóc. Tôi sau này mới biết, nhiều chuyện bà kể cho tôi chỉ là những giấc mơ của bà, những chuyện như cổ tích mà bà “tích cóp, chắt chiu” lại từ cuộc sống. Bà cứ âm thầm như vậy sống với cái Mơ, giấc mơ của bà.
Nhưng nhớ về làng thì không thể không nhớ về những ngày mùa. Những ngày đó, làng rộn ràng, tất bật nhưng chan hòa không khí đầm ấm, vui vẻ. Những nụ cười rạng rỡ của những người chủ gia đình, những ánh mắt long lanh của các cô gái, những cặp má hây hây, đôi môi đỏ trong nhớp nháp mồ hôi mà cứ rạng ngời. Có phải những lời hẹn ước của tình yêu sau ngày mùa sẽ thành hiện thực? Nhưng đậm hơn, lan tỏa hơn là mùi thơm rơm rạ ngập tràn mọi ngóc ngách, cái mùi thơm no ấm. Lẫn với mùi rơm là mùi cơm mới bên bếp lửa, mái tranh. Mùi cơm mới có ý nghĩa đặc biệt với những người làm ra hạt lúa. Từ lâu, tôi đã nhận ra vẻ mặt hạnh phúc, tự hào, sung sướng của những người nông dân chất phác khi bưng bát cơm mới ngày mùa lên miệng. Tôi cũng còn nhận ra mùi cơm mới có mùi khác lạ, cái khác lạ của niềm hạnh phúc, dẫu chẳng bền lâu, chỉ vui chớp nhoáng trong mấy ngày mùa.
Con bé Mơ cũng tất bật trong đám trẻ đi mót lúa ngoài ruộng. Phần mót này là của riêng nó, nó nuôi gà. Đàn gà ngày mùa cũng no đủ hơn, con nào con đấy trông đều đẹp mã, béo tốt, rất ngon mắt. Cái Mơ nó đã tính bán đàn gà để may cho bà Còng cái áo bông, cái áo rất cần cho bà nó trong những ngày đông tháng giá sắp tới. Có điều buồn xảy ra với nó và cả với tôi, bà Còng mất trước khi có được chiếc áo bông mới mà nó dự định mua tặng bà. Cũng là một kiếp người, tôi nhớ lại câu nói của bà. Số bà cứ vậy lận đận đến tận khi chết. Chẳng rõ bà vui được mấy năm, từ ngày nào con bé Mơ có ý thức được về cuộc sống chung, cần có nhau, của hai bà cháu.
Sau đó, tôi ít về làng. Cuộc đời đưa tôi đi nhiều nơi. Tôi được sống trong rất nhiều làng xóm khác nhau của đất này. Tôi thấy mọi nơi đều có nét nhang nhác giống nhau. Hay là tôi đã hòa cuộc sống từ cái làng của tôi vào mọi cái làng của cả nước. Nhưng chỉ biết, mỗi khi nhớ về làng, không bao giờ tôi quên được bà Còng và cái Mơ. Tôi mong những câu chuyện như cổ tích của bà sẽ được thực hiện ở cuộc đời cái Mơ. Bà vẫn nói với tôi: “ Ở hiền gặp lành cháu ạ”.

Vinh Anh-1/11/19