Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2020

Tình người

Tình người


Những ngày đầu xuân, nói chuyện về tình người có vẻ không tế nhị, có vẻ như dạy đời, kẻ cả. Cũng tự an ủi, tự bào chữa: chẳng gì mình cũng đã U80, đôi chỗ, cũng có thể cao giọng.
Nhưng quả thật, theo dõi bạn bè trên mạng, thấy đa phần những người thuộc lớp người như mình, có tư tưởng mới, không giáo điều hoặc khiêm tốn hơn, ít bảo thủ, sao ít thế, vắng vẻ thế. Số còn lại là những người quen, bạn bè một thuở xa xưa gắn bó, chẳng hiểu sao (mà thật thì cũng dễ hiểu thôi), chẳng muốn gặp mặt. Vì gặp có nói được gì đâu, mở miệng ra đã không cùng một hướng thì còn nói gì đến tâm sự với giãi bày. Đối với riêng mình, không có tri âm, cũng chẳng tìm ra tri kỷ. Có được một người gọi là bạn, khó lắm!
Mùa xuân này, tâm trạng mình u u mê mê. Ngạc nhiên hơn vì trước giao thừa, ông trời vần vũ, sấm chớp đùng đoàng, lại còn có cả mưa đá. Điềm gì sẽ tới với đất nước này, dân tộc này? Nghe các cụ nói “đầu năm mưa đá, giữa năm giặc phá, cuối năm hòa bình”, liệu có vận vào năm nay? Cái hòa bình, hòa hợp, ý đảng-lòng dân cứ thấy xa hút, càng ngày càng xa. Còn đâu nữa “lòng dân yêu đảng như là yêu con” nhỉ, cụ Tố Hữu?
Phải nói rõ thêm, tâm trạng u ám, nó dính đến mình từ nửa tháng trước tết, trước khi mùa xuân về, lại đúng rằm tháng chạp. Thiêng thế! Mình muốn nói về vụ Đồng Tâm, để đến hôm nay sau gần cả tháng xảy ra sự việc, nhìn rõ vấn đề hơn, thấy rõ hơn sự vô nhân tính và vô cảm của người đời hơn. Muốn hỏi, tại sao người ta có thể bàng quan trước tội ác, phải nói là tội ác vô cùng dã man đó? Họ không quan tâm, họ không biết. Đấy là với đa số. Trách họ ư? Có thể và cũng không thể. Cuộc đời còn nhiều cái khác đáng quan tâm lắm. Một vụ việc chấn động thế giới, đụng chạm đến lương tâm, đạo đức, chỉ đâu khoảng nghìn người ký tên.
Muốn hỏi, người nhân danh mang sức mạnh để trừng phạt, liệu có chính danh? Nhân danh nhà nước, nhân danh chế độ, nhân danh sự bình yên… liệu có đúng pháp luật? Rồi hình ảnh cụ Kình hiện ra… Lẽ nào những kẻ chủ trương quyết thắng dân lại có thể hành động như vậy? Nói thật tâm, tâm trạng rất nặng nề, nỗi đau uất đè nén và rồi muốn chửi “sao chúng nó khốn nạn thế, chúng còn tính người không?”
Và rồi ngẫm nghĩ, từ xưa học trò đều được học, dân tộc này vẫn tự hào bảo nhau, mình đều từ trăm trứng sinh ra, vẫn tự hào tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn, vẫn tự hào nhiễu điều phủ lấy giá gương… mà sao lại có kẻ đang tâm làm những điều thất đức, trái luân thường đạo lý, táng tận lương tâm, gây cảnh nồi da xáo thịt như vậy?
Rồi hỏi, từ bao giờ người Việt lại độc ác với nhau, chém giết nhau, vu oan giá họa cho nhau? Lại thấy cái tình người dẫu trăm năm, nghìn năm hun đúc, vẫn có thể tan thành mây khói vì sự ích kỷ, hẹp hòi… Quyền lợi lẫn danh vọng lấn chỗ. Rồi những sai lầm của kẻ cầm quyền, rồi thì hèn nhát, bạc nhược… Những thứ đó có thể làm cho bất cứ ai, dù đó là ông vua hay dân đen, đều có thể trở nên mù quáng, ngu xuẩn.
Tình người có còn là lẽ sống, có còn là lương tri, có còn là thương ngươi như thể thương thân được nữa. Không khó lắm có thể nhận biết được, chữ tình nhiều lúc cũng rất mong manh, người với người sống để yêu nhau cũng rất xa vời, khi con người cứ chìm đắm trong thù hận, trong háo danh háo thắng, mê muội trong đấu tranh địch ta, nhìn đâu cũng là phản động, phản nghịch thì cái ác vẫn có chốn dựa dẫm, mầm ác vẫn có nơi dung dưỡng. Trong điều kiện đó, cái ác đương nhiên tồn tại. Nhận ra, cách sống của người Việt còn rất thiếu chủ động, người Việt chưa tới độ tự chọn được tương lai cho mình, còn trông chờ ở bên ngoài nhiều, tâm lý muốn dựa dẫm.
Tôi muốn hỏi các vị hay nói trên bục giảng đạo đức, các vị có trách nhiệm trả lời, các vị có bao giờ tự hỏi, vì sao người Việt ngày càng vô cảm trước nỗi đau của những người yếm thế, người Việt bàng quan trước cái ác, và nhiều hơn, người Việt không tự phân biệt được sự giả dối, thói đời lừa lọc, lẫn lộn phải trái đểu giả. Tại sao người Việt lại dễ dàng chấp nhận những điều dối trá, nói ra rả hàng ngày trên các phương tiện truyền thông?
Xin mạo muội thưa, đó là đã từ lâu, phàm là lãnh đạo thì luôn coi mình đúng và có quyền đứng trên cao, phán xét người khác, không có thói quen nghe phản biện, những điều trái tai, nghịch nhĩ. Thực ra, các vị vì quá tự tin, luôn cho mình đúng, các vị dần nhiễm thói quen lừa dối, biết bao người đứng đằng sau các vị có đầu óc sáng suốt hơn lẽ nào các vị không biết. Các vị tạo dựng niềm tin bằng sự dối trá, “ta luôn thắng và địch luôn thua, ta chính nghĩa, địch phi nghĩa” là điều người Việt được gieo cấy vào đầu. Người bị ta tiêu diệt, ta giết chết, ta đè bẹp đương nhiên là kẻ thù. Đã bị coi là kẻ thù thì kẻ đó là xấu xa, là ác độc, là khủng bố.
Người Đồng Tâm hiền lành như vậy vì chống tham nhũng nên thành phản động, thành kẻ thù và thành khủng bố là thế.
Mặt khác, đảng cộng sản ngày càng không thu phục được nhân tâm vì không tạo dựng được niềm tin. Niềm tin là cái phải trả phí bằng thời gian, thậm chí bằng sinh mạng. Hơn bảy chục năm cầm quyền, đảng cộng sản đã làm giảm mất lòng tin từ mọi thành phần dân chúng, mất dần lòng tin cho những người quá mê muội, đặt kỳ vọng vào đảng cộng sản qua nhiều sai lầm chết người. Thậm chí cả cụ Kình, dẫu biết rõ và đối mặt với cái sai của nhà cầm quyền, trước lúc bị sát hại, vẫn còn tin vào đảng cơ mà, vẫn còn tin vào ông Nguyễn Phú Trọng cơ mà. (Nếu lời nói của bà Dư Thị Thành, vợ cụ Kình, là có thật)
Tại sao hiện nay, những lời kêu gọi, động viên của đảng cộng sản và của những người có trách nhiệm với đông đảo quần chúng đã mất thiêng, thậm chí còn là trò cười, thành sự đàm tiếu của các đám đông? Đó là sự không đồng nhất mà ngược lại, là sự ngược đời tréo ngoe. Liệu có ai tin khi kinh tế thế giới được coi là ảm đạm thì Việt Nam ta lại là điểm sáng; liệu ai có thể tin Việt Nam là trung tâm hòa giải thế giới; liệu ai có thể tin được khi 5 ngày có ba người phát ngôn của Bộ Công an, giải thích cái chết của ba chiến sĩ sảnh sát khác nhau… liệu những ai có chút hiểu biết và phân tích khi những ấn tượng, dấu ấn, điểm đến là Việt Nam… và vô số dẫn chứng khác có thể dẫn ra cho thấy sự giả dối của việc đưa tin của những người có trách nhiệm.
Là người Việt Nam, ai cũng có quyền tự hào với những thành quả mà nhân dân, bằng sự nỗ lực vượt bậc của mình, đạt được. Những cách nói thái quá không đáng có, làm người hiểu biết xấu hổ. Trước mắt hãy quản lý những đồng tiền mà nhân dân đóng thuế cho tốt, đừng để thất thoát một đồng xu của dân, đừng để có những xác chết trong xe đông lạnh, hãy bớt đi cảnh cả làng kéo nhau đi làm thuê… Những điều đó tạo nên sự bất tín trong nhân dân và làm uy tín của đảng trong dân giảm bớt.
Những gì tôi đã viết ở trên cho thấy một điều, cuộc sống trong xã hội hôm nay rất thiếu tình người, rất thiếu lòng trắc ẩn, rất thiếu lòng vị tha. Cái đó chứng tỏ, lớp người trẻ không được chuẩn bị cho sự thông cảm, hòa nhập với cộng đồng mà trong đó đa phần là những người lao khổ. Nhà cầm quyền phải chịu trách nhiệm vì đã tạo ra lớp người trẻ có thái độ tiêu cực như vậy với cuộc đời.  


Vinh Anh-30/01/20-Ảnh st trên internet

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

Bên ngoại

Bên ngoại

Đã sắp tết. Với người Việt và tầm tuổi của tôi, nó còn là thiêng liêng, là sự sum vầy, là tiếng gọi của thăm thẳm kỳ diệu đất trời, của nhiều điều nữa nữa. Vậy mà, (hôm nay mới 26 âm) chưa có cái tết nào mình thấy trống vắng như thế này. Phần vì cái thế sự mà mình quan tâm nó cứ âm âm u u, đượm ám khí, tạo ra, cái sự quan tâm đầy nỗi cô đơn, không thể chia sẻ, chính xác hơn, không có người chia sẻ. Phần khác, (riêng tư) nhà thiếu trẻ con, không có sự ầm ĩ của trẻ, bọn con cháu tức là bọn trẻ, chúng nó cần có không gian riêng. Thay vào đó là cái già nua, cái già nua theo sự xoay vần con tạo mà chẳng ai tránh được.
Cái buồn vắng lặng đưa mình ra phố để hít thở một chút xuân sắp về. Đi và không chủ định gì, đi lang thang với cái đầu rỗng không. Phải nhắc lại, chưa có cái tết nào mình thấy buồn trống như năm nay.
Chẳng trách ai cả, đấy là cuộc đời. Quả thật, tôi không dám hình dung cuộc sống ở Đồng Tâm, quê cụ Kình, vì mỗi khi nhớ đến là nặng nỗi buồn, thậm chí còn muốn xua nó đi. Đừng nghĩ về Đồng Tâm nữa. Nhưng vẫn lởn vởn, Đồng Tâm liệu rồi có như Quỳnh Phụ hồi nào? Lại trách mình, sao không bỏ qua, nghĩ ngợi cũng chẳng được gì lúc này… Bỗng thấy mình muốn buông bỏ thế giới này… Rõ như cái Đồng Tâm mà chẳng thổi được chút “động lòng” nào đến đây.

Đến đầu Ô chợ Dừa thì nhớ thằng bạn học đã chết và nhà nó ở gần đây. Kiếm chai rượu vào thắp hương cho nó. Cũng lâu rồi, cứ đổ vào nỗi bận cuộc đời, cũng là để thanh minh vì ít nhớ đến nó. Bước vào căn nhà vẫn uống rượu và thường to tiếng cười, ôn lại những điều vớ vẩn ngày xưa cùng học. Lạnh vắng! Lại thấy bóng đàn bà cô đơn, vợ nó, trong căn nhà hẹp lòng sâu hun hút trên đường La Thành. Vậy là cái “ bên ngoại” hình thành.
Nói về nhà ngoại, người ta thường nói về người bà, người mẹ. Bà và mẹ là đằng ngoại. Cái ngoại đó nhiều khi sâu lắng hơn nhà nội. Cái sâu lắng nó đậm hương sắc quê, mùi vị quê. Nó dân dã, nó nghèo và nó rất đàn bà về lối cư xử con người. Cũng tùy từng thân phận, với tôi, bên ngoại nó chỉ bảng lảng, không thật sâu đậm, không ấn tượng và vì thế ít kỷ niệm.
Ông ngoại mất từ xửa xừa xưa, nên tôi không có chút kỷ niệm nào về ông, mối liên quan chỉ là máu mủ. Nhưng có điều, ông lại để lại cái danh giá cho dòng họ. Nhắc đến ông là người quê chỉ nhớ mỗi kỷ niệm, ông rất chăm chút và nhận đỡ đầu cho ngôi trường ở quê. Dấu ấn còn lại để con cái nở mặt nở mày là tấm bia ghi công ơn của học trò. Tấm bia đơn sơ đã bảy chục năm trời. Tôi vẫn tự hào về sự đơn sơ của tấm bia, cái mộc mạc, đơn giản của nó được đặt trang trọng hàng đầu trong hàng bia công đức mà quê hương ghi nhận. Còn với bà ngoại, chỉ cỡ đâu một tháng, bà về ở với mẹ, sau cả cuộc kháng chiến trường kỳ, gặp lại cô gái út, tại Hà Nội. Ngày đó, quân ta mới vào tiếp quản thành phố chưa đầy một tháng. Hình ảnh mà tôi nhớ đến hôm nay, mấy phố quanh Bờ Hồ, nhuộm đỏ màu cờ và rầm rập sắc lính. Ấn tượng người lính là mũ vải bọc lưới, áo vải chằng chịt “36 đường gian khổ” và hầu như trên ngực áo, ai cũng có tấm huy hiệu “chiến sĩ Điện Biên phủ”.
Nhớ câu thơ mới đọc của cô bạn thi sĩ “Áo nâu mẹ vắt ngang trời”. Cô bạn kiên trì làm thơ về thân phận đàn bà về những day dứt rất đàn bà và cô ấy thành đạt, cô ấy rủ tết đến chơi. Hôm nay thì chưa gọi là tết, vậy là chưa thể đến, vậy là vẫn cô đơn đi trên đường của mình…
Nhưng đọc “áo nâu mẹ vắt ngang trời” thì lại thấy tồi tội, tui tủi như thấy sự tiếc thương để thêm nhớ cái lầm lũi, cặm cụi của áo nâu. Đó là dáng mẹ, dáng chị, dáng đàn bà, phụ nữ quê ta. Quê ngoại ta chắc không thiếu hình dáng đó. Không hiểu sao, khi tôi nghĩ về những con người đó, luôn thấy ở họ vẻ chịu đựng, tâm hồn rất nhạy cảm lại dễ tổn thương. Nhưng cái “vắt ngang trời” là qua rồi, thời quá khứ rồi, nỗi buồn cũng đã nguôi ngoai rồi.
Tầm tuổi tôi hay nói về quá khứ. Bây giờ làm gì còn tương lai, tương lai chỉ còn một đoạn ngắn, nên nếu có chuyện thì cũng chỉ nói về cái đã qua. Về quê là để nói chuyện với quá khứ, đối thoại với những ngày xưa cũng là đối diện với tương lai không xa. Với tôi, quê ngoại mờ ảo lắm, nhưng đã về đây thì chủ yếu thời gian cũng chỉ để hoài niệm với ngày xa đó thôi. Ở nơi nghĩa trang lạnh lẽo này trong ngày đông gió bấc, như tìm lại được những ngày xưa thơ bé và có dịp nhớ về những khuôn mặt chỉ còn là mờ ảo sương khói.
Người có công tìm lại nơi quê cha đất tổ ấy là mẹ tôi, mẹ tôi là gái út. Ngày về quê cùng mẹ, tôi nhớ câu đố mà mẹ tôi đọc cho tôi hồi bé: Cô kia má đỏ hồng hồng/đến khi lấy chồng cô bỏ quê cha/tới khi tuổi tác về già/quê chồng cô bỏ, quê cha cô về”. Tôi nghĩ đúng là về già, mẹ tôi mới có cơ hội tìm về quê.
Tôi vào làng. Cái làng chỉ còn lại duy nhất một người trông coi nghĩa trang, biết mặt ông ngoại tôi, tôi gọi bằng anh. Cũng có một anh họ khác, nhưng quan hệ họ hàng xa lắc. Rồi một ngày đẹp trời, bỗng có người tìm về quê, hỏi thăm làng xóm về người này, người khác. Vậy là nhận ra họ hàng. Nhưng họ hàng nhận nhau theo kiểu đó, như không bền. Hỏi thăm nhau mà cứ như là muốn thăm dò nhau, nhờ vả nhau và thậm chí lợi dụng nhau. Ôi, họ hàng! Ôi, một giọt máu đào hơn ao nước lã… cái tình này vận vào từng người khác nhau và để lại những cảm giác khác nhau trong mỗi con người.
Cũng còn họ hàng bên ngoại gần hơn, đó là những ông anh bà chị của tôi ở trời Tây hoặc thoảng cũng có mối liên hệ ruột rà, biết tin anh này, chị kia. Cũng có người đôi khi tìm về. Về rồi thôi, mối liên hệ gia đình khó thành gần gũi, thân thiết vì cách trở, xa ngái và vì nhiều thứ tế nhị khác. Cái chữ “tế nhị” trong tiếng Việt thật tuyệt vời, cho rất nhiều cách hiểu. Lâu rồi không có người về nước, vì thực ra cũng chẳng còn ai thân thích, từng có những ngày ấm êm bên nhau để hàn huyên về những ngày thơ dại xưa kia, nên làng cứ vậy mà xa, quê cứ vậy mà quên. Còn về làm gì nữa cho sượng sùng cả người về lẫn người đón.
Mẹ tôi, người đàn bà không thuộc dòng dõi cao sang, danh gia vọng tộc nhưng có cuộc sống cũng đủ để gọi là “lai” Tây tây, để có thể, cũng thuộc loại “mưa không đến mặt, nắng không đến đầu”. Gia đình mẹ tôi thuộc lớp công chức lối mới, mang kiểu cách tiểu tư sản, học lối sống thành thị, hướng Tây cho con trai, còn con gái thì phải biết sơ sơ “nữ công gia chánh” để mà mau mau lấy chồng. Lấy chồng là gánh vác giang san nhà chồng rồi đấy. Phía nhà bố mẹ đẻ quan hệ vừa phải, đủ để không bị nhà chồng chê không biết cái lẽ “xuất giá tòng phu”.
Tôi không rõ mức độ giàu có của ông ngoại tôi đến đâu nhưng cứ nhìn tầm công chức của ông, nuôi nổi một gia đình có cả gia nhân giúp việc và một đống con, con trai thì được học hành tới có cái bằng đíp-lôm, thì cũng thấy thằng Tây nó giả lương cho công chức của nó cao lắm, chưa kể tư gia của ông ở ngay thị xã, rộng nhiều mẫu đất với ngôi nhà Tây kiểu cách, trong vườn có đủ các loại cây ăn quả. Sau ngày hòa bình 1954, tôi đã về với mẹ, đứng bên sự tĩnh lặng, hoang phế của khu nhà mà mẹ tôi sống cả thời con gái, lần đầu tiên tôi nhận ra sự nuối tiếc những ngày xưa yên ấm trong tiếng thở dài xuýt xoa mỗi khi mẹ nhận ra một dấu tích xưa cũ còn lại ở mảnh vườn hoang phế. “Đây là vị trí căn nhà xưa của cô. Nó ở đây…” Người quen những ngày xưa đưa mẹ con tôi về,  chỉ cho mẹ tôi. Ngôi nhà mà sau này, vì yêu quý nó, chính tay ông ngoại đã giật mìn phá bỏ, để thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống” của chính phủ kháng chiến. Từ ngày đó, ông về quê sống một mình, con gái đã yên bề con gái, con trai có người cũng bỏ nhà theo kháng chiến, còn cậu út, như tôi biết khi tôi đã đủ trí nhớ của đứa trẻ 8 tuổi, cậu vừa học vừa làm và là người thành danh trong họ, cậu là một viên chức chính của ngân hàng Quốc gia Viêt Nam (Sài Gòn). Ngày đó, cả hai ông con trai của ông ngoại, đều chưa lập gia đình.
Quê ngoại tôi theo đạo công giáo. Tất cả các anh chị mẹ tôi đều là những con chiên ngoan đạo. Cái sự ngoan ấy tự tôi suy ra. Sau lần đi lễ chủ nhật, tôi tâm sự với cậu về chủ đề niềm tin ( lúc đó tôi đã ngoài ba mươi, còn cậu đâu khoảng 50 (sau năm 1975, có lẽ vào năm 77-78). Tôi nói về niềm tin và lý tưởng, còn cậu nói về niềm tin trong sự cứu rỗi. Cậu nói một câu mà tôi rất nhớ: “Khi không còn niềm tin bấu víu, người ta sẽ chỉ còn biết trông cậy vào chốn linh thiêng… ở đó, chí ít, ta cũng tìm được nguồn an ủi, dù nơi đó rất xa xôi lại còn thăm thẳm mông lung nữa…”
 Ngay sau buổi nói chuyện đó, tôi thấy cậu tôi nói thật suy nghĩ của mình, còn tôi thì nói theo những gì mình được chế độ cộng sản nhồi nhét vào đầu. Cậu tôi cần có niềm tin vì tại thời điểm đó, niềm tin nơi thiên chúa là nơi che chở, chỗ dựa của cậu. Tất nhiên tôi không dám thú nhận với cậu những suy nghĩ thật của tôi vì tôi sĩ diện và tôi nghĩ, nếu nói thêm, chuyện sẽ dẫn nhanh đến sự xa cách. Cậu ơi, dường như có những con đường, những lối rẽ đã được chỉ ra trong họ hàng nhà ta phải là như vậy. Đấy là buổi tâm sự duy nhất của cậu cháu tôi. Cho đến sau này, khi cậu đã xa quê hương, xa Việt Nam, tôi nghĩ cậu chẳng bao giờ hiểu được sự thật diễn ra trong suy nghĩ của tôi.
Quả thật, nếu mẹ tôi không quyết tâm thì chắc với gia đình tôi, quê bên ngoại cũng sẽ tàn phai theo năm tháng và mồ mả ông ngoại tôi vẫn chỉ mỗi ông Thạch, người trông coi nghĩa trang, mới biết ông nằm ở đâu nơi nghĩa trang lạnh lẽo, dù đó là quê quán, nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Nhưng đấy là chuyện khác, chuyện tôi muốn nói là chuyện về con người bên nhà ngoại, họ là những người mà tôi biết từ hồi còn rất nhỏ, lúc đó tôi khoảng 7-8 tuổi. Có những người, trong trí nhớ láng máng của tôi, đây là lầ đầu tiên chúng tôi sống cùng nhau trong một mái nhà, ở với nhau để rồi có những kỷ niệm kéo dài đến cuối đời. Cái tạo ra mối quan hệ đó chỉ do mối quan hệ lằng nhằng, dây nhợ từ chút máu mủ ruột rà nào đó còn sót lại. Năm, sáu đứa chúng tôi, những đứa cháu thuộc bên nội, được gia đình cho đi nghỉ mát ở Bãi Cháy, Hạ Long (ngày đó gọi là Hồng Gai). Gia đình chúng tôi đến chơi là chị ruột mẹ tôi, bác Huệ, có chồng kinh doanh về ngành than.
Chuyến đi của lũ trẻ chúng tôi xuất phát từ Hải Phòng. Bọn tôi háo hức chui vào khoang hành khách đi ca-nô. Gọi là lũ trẻ vì toàn trẻ con, tất cả đều lần đầu được đi chơi xa, lại bằng phương tiện thủy, một cuộc nghỉ hè hiếm có, đúng với nghĩa nghỉ hè. Tôi chiếm được chỗ ngồi gần cửa sổ, nhìn ra sông nước đỏ ngầu. Chiếc tàu khách, chắc là rất nhỏ, tôi nhớ là tôi còn thò đầu ra ngoài, với tay xuống được dòng nước, xòe những ngón tay cho nước chảy qua. Mặt sông và chiếc thuyền (ca-nô) cứ bồng bềnh nhún nhảy. Tôi lâng lâng tận hưởng chuyến đi thật thú vị. Có lẽ vì thế mà tôi ấn tượng, tôi nhớ lâu. Chuyến đi chỉ có một ông bác dẫn đường để cai quản bọn trẻ.
Tàu nổ máy. Mùi dầu khét lẹt thộc từ phía tiếng nổ ầm ĩ của động cơ lên tận chỗ hành khách ngồi và hàng hóa gửi. Chúng tôi không hề bận tâm đến độ sạch sẽ hay thái độ phục vụ của chủ tàu. Tôi nghĩ họ đã cho mình đi, bẩn hay sạch đều phải chịu. Tâm lý đó là như vốn có của hầu hết người Việt. “Được người ta cho đi là tốt rồi!” Cái tính tự ti cứ vậy theo thời gian mà lớn dần, chẳng hề biết và cũng chẳng hề nghĩ đến cái quyền sinh ra được hưởng mưu cầu hạnh phúc, sung sướng gì hết.
Tôi cứ ngồi vậy bên cửa sổ khoang tầu ngắm nhìn dòng sông ngầu ngầu nước. Nghe thoáng đâu đó mình đang trên sông Bạch Đằng, nơi đây Ngô Quyền từng cắm cọc trên sông và đánh thắng quân Nam Hán. Cũng trên dòng sông này, Trần Hưng Đạo đã ba lần thắng quân Nguyên. Tôi nghĩ, vậy là mình đang rất gần gũi với chiến công lừng lẫy của tổ tiên, trí óc non nớt của tôi cũng thấy tự hào, tính dân tộc của tôi hình thành như vậy và những chuyện tranh mà ngày đó tôi được đọc, đã phát huy tính giáo dục truyền thống dân tộc của nó.
Vì lúc nào cũng nhìn dòng sông với đôi bờ rất hiu hắt ngày đó, tôi nhận ra ở một quãng, con tầu đã đi khoảng thời gian dài, dài là bao lâu, tôi cũng không nhớ, tàu đi qua ranh giới giữa màu đỏ và màu xanh của nước trên cùng con sông. Tại sao có hiện tượng đó? Tôi nghĩ ngay đến chuyện xưa trên sông này, đó chính là máu giặc Tàu còn nhuộm đỏ khúc sông, đến tận hôm nay vẫn còn loang. Tôi nói chuyện đó với hai ông anh lớn, con bác cả, hai ông này không chú ý, và không có câu trả lời. Ấn tượng về dòng sông lịch sử và về chuyến đi đó theo tôi đến tận ngày tôi học lớp 5 (lớp đầu tiên của cấp 2, hệ 10 năm), tôi nói chuyện cho mấy đứa bạn cùng lớp, chúng nó cũng thờ ơ bỏ qua. Rồi tôi cũng quên, mãi tới sau này, lớn lắm rồi, tôi đã tốt nghiệp đại học, nghĩ lại tôi mới tự lí giải được cho mình, đó là cửa sông. Nước sông đổ vào biển và liên quan đến thủy triều. Đó chính là cửa sông Bạch Đằng, màu đỏ chính là phù sa mà con sông đã cuốn theo trên suốt chặng đường đi của nó. Đơn giản như vậy mà sao ngày đó, tôi cứ thấy lờm lợm thấy mùi máu giặc vẫn còn tanh.
Sau hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam họ hàng nhà tôi, bên ngoại cũng như bên nội, tự dưng chia thành hai phe: phe nó và phe ta, cũng chẳng biết đâu là nó, đâu là ta, nhưng tự dưng trở thành hai kẻ đối địch nhau, tự coi nhau là kẻ thù, cầm súng bắn vào nhau là cái đã xảy ra. Cái đất Việt thuở nỗi buồn sông Gianh hai trăm năm trước giờ mang tên nỗi buồn Bến Hải. Những đứa trẻ sinh những năm 40, 50 cùng sống chung một mái nhà bây giờ thành bên thắng cuộc và kẻ thua cuộc. Dẫu chúng biết, cả kẻ thắng người thua đều chẳng được cái gì.
Cậu tôi, người bên ngoại được coi là cũng thành danh trong họ, chỉ cho tôi những bao gạo mua từ cửa hàng mậu dịch, đựng trong các bao cát để làm công sự đánh nhau thời chiến, xếp chung quanh phòng khách rộng cỡ bốn chục mét vuông mát rượi. Cả chục bao có dư, mỗi bao gần chục kí, cậu chua chát nói: “Những thứ này, thời ông Thiệu, người ta dùng để nuôi heo, cậu mang về từ cửa hàng lương thực bán cho dân đó.”
Nhưng rồi ông chuyên viên cao cấp của chế độ cũ, không được chế độ mới dùng vào đúng vị trí, ông vất vưởng ăn vào của để dành từ chế độ cũ mà ông phục vụ. Niềm tin, mà ông muốn dựa để cố sống, có lẽ cũng đã rời bỏ quê hương. Ông được đi theo diện ra đi có trật tự, được bảo lãnh của gia đình, đã qua bên kia bờ đại dương từ những ngày binh lửa năm 1975. Ông chọn Bỉ làm nơi sinh sống nốt chặng cuối cuộc đời. Nước Bỉ đã đón và cưu mang gia đình nhỏ của ông.
Ngoài năm chục tuổi đời, ông lại bắt đầu khởi nghiệp. Điều đáng khâm phục là như thế. Nhiều người vào tuổi đó khó thích nghi với cuộc sống mới, có khi lại trở thành gánh nặng cho nước đã cưu mang họ. Ông cậu tôi đã vượt qua cái đận khó khăn nhất của đời người. Tôi từ một nơi rất xa, cảm nhận được, hình như niềm tin đã trở lại với ông. Đấy là cậu tôi. Cậu tôi đã vượt qua con đường gian nan, khổ ải và chắc chắn rất nhiều đau khổ, tìm điều chấp nhận được mà cuộc đời đã dành cho và ràng buộc ông. Những khổ ải đó, chắc chắn không nhiều người vượt được. Hãy cố hình dung đi, từ một viên chức cổ cồn cao cấp của nhà nước, một ngành quan trọng trong hệ thống kinh tế, bất đắc dĩ trở thành ông chủ tiệm ăn nhỏ, bình dân ở xứ người, tại một chân trời xa lắc.
Cái gì đã làm thay đổi được đời con người như vậy? Niềm tin hay điều kiện để tồn tại? Để câu trả lời nhận được sự chấp nhận của cuộc đời, nhiều khi phải đổi bằng mạng sống hoặc cứ nhắm mắt chấp nhận số phận. Cậu tôi, có thể vì cái lý để tồn tại trong cuộc đời, chấp nhận phải làm lại từ đầu. Điểm khởi đầu không phải từ một mái đầu xanh mà là từ một người đang… từ từ tiến tới để trở thành người già.
Những người anh em của tôi không thuộc bên thắng cuộc nhiều lắm. Cả nội ngoại phải đến vài ba chục người. Bản thân tôi cũng không nhớ hết tên chứ đừng nói gì biết mặt và nếu run rủi ngộ nhỡ, liệu ai muốn, ngộ nhỡ chúng tôi đối mặt nơi chiến trường, ai là người nổ súng để giết người kia, bảo vệ mạng sống của mình?
Chuyện về những người anh em này tôi cũng không biết được hết và càng không thể hiểu kỹ từng người được, mỗi người đều có một số phận nhưng nói chung, một điều phải biết, càng nhiều tuổi càng khó hòa nhập với cuộc sống mới nơi xứ người xa lạ. Dù nơi đó, người ta có chìa tay ra cứu mạng, thì họ vẫn là xa lạ. Sự cưu mang mang nghĩa nhân đạo nhưng vẫn tạo ra nỗi mặc cảm cho kẻ chịu ơn.
Khi tôi đã thuộc về lớp người già, tôi mới nhận ra, nghĩa là tôi nhận ra chưa lâu đâu, lớp người tuổi cậu tôi buộc phải ra đi tìm cuộc sống mới, chắc họ không thể biết những khổ ải mà họ gặp phải. Xin thú thực, dù có hiểu họ đến đâu, cũng không thể nào hiểu hết nỗi cực nhọc mà họ vượt qua. Tôi cho rằng, ở tuổi sắp lên lão làng, phải thay đổi nếp sống bình thường, dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới, để mưu sự sống cho mình và cho gia đình, thì đó là bước đường cùng. Bước đường cùng phải lao vào, phải dấn thân, thì may ra, may ra mới hòa nhập và tồn tại được.
Tôi chắc chắn rằng, những kẻ chịu trách nhiệm của cả hai phía thắng cuộc và thua cuộc, chẳng bao giờ biết và hiểu rõ điều này. Mọi lời nói để tỏ ra đây có sự thông cảm, cũng chỉ là giả dối. Tiếc thay, sự giả dối đó luôn được một số đông, rất đông, vô cùng đông chấp nhận.
Và tôi hiểu thêm về đồng bào tôi, những người anh em của tôi, bây giờ họ đều vào ngưỡng 7-8 chục tuổi đời, họ đã trải 3-4 chục năm bươn bải nới đất lạ, làm lại từ đầu cuộc sống, lo cho mình và lo cho gia đình. Ở tuổi “tam thập nhi lập”, nghĩa là đáng ra, những người anh em tôi đó đã phải có cuộc sống ổn định rồi. Thế sự cuộc đời đã rút ngắn của họ mất 3-4 chục năm. Còn với cậu tôi, ông mất đi 5 chục năm, để mưu cầu cuộc sống mới. Liệu có mấy ai trong nước, mấy ai thuộc “bên thắng cuộc”, hiểu thấu đáo hoàn cảnh của những người buộc phải ra đi?
Tôi cũng có người ruột thịt sống bên kia bờ đại dương, đó là con gái tôi. Nó nói với mẹ nó: “Để tồn tại được trên đất này, những người không phải gốc gác ở đây, phải cố gắng với 200% sức lực của mình.” Xem ra, đấy là điều không ai cũng có thể làm được và sự bình đẳng không phải được tôn trọng ở mọi nơi.

Vinh Anh 27/01/20






Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

Vài chuyện của Mười Năm

Vài chuyện của Mười năm (2011-2020)

                  Thực ra, tôi tính còn phải mất nửa năm nữa, mới tới cái mốc thời gian lần đầu tôi xuống đường, hòa tiếng hô của mình và của các bạn học sinh, sinh viên, lên án hành vi cắt cáp tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 và xâm phạm biển đảo Việt nam của giặc Tàu. Nhưng nghĩ chẳng cần. Bao sự vụ xảy ra chục năm qua, có ai cần đến cái mốc chỉ thời gian chính xác đâu. Đừng hoài không tìm sự chính xác khi lịch sử không được gọi chính xác bằng tính chân thực của nó. Tất cả, trừ ta, rất rất nhiều người, đều coi đó là sự viển vông.
Từ ngày đó, chẳng hiểu lý lẽ thế nào, như những người đã thông cảm, nói chuyện với nhau, tôi đều dùng từ “khựa” để chỉ giặc Tàu. “Khựa” đối với tôi là xấu xa. Đơn giản là thế.
10 năm mà còn suy nghĩ? Đã qua 10 năm rồi ư?
Trong cuộc đời, tôi cũng có khoảng cách 10 năm để liên tưởng. Ngày nào ra trường và chục năm tiếp sau, vào sinh ra tử, cơm Bắc giặc Nam, chinh chiến hết chiến dịch này đến chiến dịch kia, đến lúc ngồi xe của lữ trưởng Kính, cũng là tên lính đầu tiên của lữ pháo binh 38, vào tận hang ổ Tân Sơn Nhất, xem kết quả trận nã pháo của đơn vị mình… cũng chỉ gần 10 năm… Nhớ lúc đi trên cồn cát Quảng Bình, nhớ lúc bị đạn pháo 175 li, nã dọc đường đi, nhớ lần xe bị cháy chạy như ma đuổi trên đường để tránh tọa độ bom ở ngay bến phà Gianh… Ôi chao, bao nhiêu là lúc, bao nhiêu là hoàn cảnh… vậy mà ngần ấy chặng đường, cũng chỉ là 10 năm…
10 năm là chặng đường đâu có ngắn? Nhưng để đến đích đó, ta đã vượt trên bao xác người, bao người đã ngã xuống lót đường cho ta đi đến đích. Ôi, 10 năm… nghĩ thoáng thôi chứ ngẫm ra thì kinh lắm.
Tôi chỉ muốn nói về cái đoạn 10 năm gần đây. Cái đoạn mà chẳng gì, mình cũng đã là người chuẩn già của thế giới. Cái đoạn mà mới trước đó 1, 2 năm, mình còn u ơ, từ lúc bập bẹ, mò mẫm đọc Bô-xit của Nguyễn Huệ Chi, khi tìm hiểu ra thì theo dõi luôn vị giáo sư khả kính, ngày nào cũng ngóng tin ông ấy qua ông Phạm Toàn mỗi sáng. Gần cả tháng trời lo cho ông bị bắt. Người già thì nói thật và nhiều điều đúng. Mới vậy thôi mà như vèo một cái… bóng câu: 10 năm. Đời người được mấy cái bóng câu đó thì đến cõi?
                                                                                          *****

Điều đầu tiên, phải nói ngay chẳng phải để sau sợ quên, nói ngay còn thuộc về “tầm quan trọng” của nó. Phải xác định (định nói đã là người Việt), Tàu khựa là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân mình. Người Tàu luôn và mãi là mối quan tâm của đất ta, nước ta, biển ta, đảo ta, dân ta. Hãy nhớ đừng bao giờ nghi ngờ sự chính xác này: lịch sử của sự nghiệp dựng nước, giữ nước của người dân xứ này gắn với các cuộc kháng chiến chống giặc Tàu xâm lược, đô hộ. Mười lăm cuộc chiến của cả chiều dài lịch sử là lịch sử 15 cuộc chiến chống giặc Tàu của cha ông dân Việt ta.
Nói như vậy để hiểu thêm cho rõ, chẳng có thằng Mỹ, thằng Nhật, thằng Tây nào hết phá hoại đất ta, nước ta, biển ta, đảo ta như thằng Tàu hết, mấy thằng Tây các loại đó chỉ đến cướp ta tùy theo thời gian và điều kiện thế giới lúc đó. Ai đó cứ phóng đại chuyện thế lực thù địch và phản động luôn tìm cách phá ta, mà thâm ý là muốn chỉ mấy thằng Tây này, là sai hết. Cứ tìm thằng Tàu, lôi cổ thằng Tàu ở mọi ngõ ngách là ra và sẽ ra hết, triệt nọc hết.
Nhân cuối năm nói dài một tí, để viết được ra những điểu mình nghĩ là khó. Viết mà không bị tự mình kiểm duyệt càng khó. Bởi tôi biết khối người, chỉ sợ bóng sợ gió, có ông sợ đến nỗi nói ra bằng lời nhưng bị những tiếng bổng, tiếng nhẹ nó che mất, cũng chẳng hiểu ông ấy nói gì. Tôi muốn nói nốt cái ý coi thằng Tàu là kẻ thù, kẻ thù truyền kiếp luôn cho nó “vuông”. Cứ ngẫm cái độ lịch sử dân ta, (người nói 4 nghìn năm, kẻ nói 2 nghìn năm). Tôi không ngoa ngoắt, cứ nói 2 nghìn năm cho khiêm tốn của dân ta, từ cái đận có Hai Bà Trưng ấy, là đánh Tàu rồi. Cứ từ đó mà tính. Ta đánh nó, nó là giặc Tàu ấy, là mười lăm trận đấy, các cụ ạ. (Xem bài nói của tướng Cương, Công An) 14-lan-xam-luoc-nuoc-viet-cua-giac-phuong-bac. Còn lần thứ 15 là cái đận năm 1979 í.)
Nhà em già, không hề nói ngoa cho ai. Cứ vuông mà phang. Chuyện thằng Tàu khựa thì nhiều, chỉ xoay quanh cái “đường lưỡi bò” mà nói thôi, khối ông cãi chẳng nổi. Sau đận 2011, dân ta cứ mỗi tuần không ra Bờ Hồ là nhớ í. Năm 2015, năm có lão Tàu chính hiệu tên là “XI” được mời lên diễn đàn “Diên Hồng” nói chuyện, cả phòng “Diên Hồng” im phăng phắc, nghe hắn nói 10 phút. Tiếp theo năm 2018, thằng Tàu ép thằng Ta và thằng Repson phải bỏ khoan thăm dò ở lô 136-03. Không bỏ nó dọa, nó đánh. Vậy là(nghe nói) chỉ 2 ông: Tổng BT và BT QP đã lấn được 19 ông ở BCT. Chuyện đúng sai phải có thời gian phán xét, hôm nay lịch sử chưa làm rõ được. Không bỏ biển mà phải trả chi phí cho thằng Repson à?
Cái đận bãi Tư Chính mới nổi từ tháng tư năm 2019. Tàu khựa cũng ép ta. Vụ này lúc đầu NN không chịu hé một nửa lời cho dân đỡ ngóng. Chờ mãi sốt ruột. Cứ mỗi đận nghe tàu nó đi rồi nó quay lại mà người cứ nhôn nhốt. Nó coi biển mình như ao nhà của nó, đến thì đến mà đi thì đi.
Được biết quan hệ với thế giới thì Nhà nước mình cũng đứng hàng xịn. Không quan hệ cỡ “đối tác chiến lược” thì cũng hàng cự phách “quan hệ tầm cao”… Vậy mà, cái biển của ta đấy, chẳng có thằng “chiến lược” hay thằng “tầm cao” nào ra cái mặt ủng hộ. Bạn bè đến với nhau ngày mưa mới là bạn quý chứ? Xem ra mấy hàng chữ được viết trong văn bản hợp tác cũng chỉ là vớ vẩn.
Kết luận Biển Đông giống như thất thủ, Bãi Tư Chính thì giống như bị bỏ rơi, đất của tổ tiên cha ông thì chỗ này cắt, chỗ kia xén để đổi lấy mấy chữ vàng. Tôi chưa thấy nhà nước “của dân” nào lại làm việc như thế. Chạm đến cái thằng láng giềng to xác, xấu chơi ấy là cứ phải tìm từ ngữ cho nhẹ bớt. Nói mãi, chán.

Chuyện thứ hai: xã hội dân sự.  10 năm trước, thuật ngữ này nghe không quen. Nghe thấy mùi của bọn “tư bản giãy chết”. Người cộng sản và xã hội cộng sản không dùng những từ ngữ loại này, thậm chí còn thù ghét hoặc chí ít cũng không thiện cảm. Theo Wikipedia “ Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hộidân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường.”
Nói cho gọn hơn, dân dã hơn, thì, xã hội dân sự nó như gắn với cái đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, bớt đi độc tài toàn trị, tăng cường thêm dân chủ. Thực ra là nó cũng chỉ gắn với Hiến Pháp, cái Hiến pháp đã được thông qua từ năm 1946, cách nay gần cả thế kỷ rồi.
Vì xã hội dân sự thường được to dng bi nhng nhân vt có quan đim chính tr đối lp, nhng người “bt đồng chính kiến” được gi là “ngn c”. V th đon chính tr, các t chc XHDS thường da vào cơ s pháp lý quc gia và quc tế. V khu hiu và phương thc hot động, các t chc XHDS thường tuyên b mc tiêu ca h là vì quyn li ca người dân, vì s tiến b ca xã hi và ch hot động “ôn hòa”, “bt bo động”. Tóm lại là xã hội dân sự nghe ra cứ na ná đòi cách sống bọn phương Tây, tức là bọn giãy chết, bọn thế lực thù địch.
Chục năm và phong trào xã hội dân sự tăng lên rất nhanh. Chẳng rõ mấy ông công an nắm được bao nhiều hội đoàn được thành lập. Mình chỉ theo dõi khi ký tên vào một tuyên bố nào đó, thí dụ như ký tên đòi chống Trung cộng xâm lược hay phản đối giao thầu cho Tàu khựa làm đường sắt cao tốc…. thấy khối đoàn thể ký theo, cũng phải đến vài ba chục hội đoàn ấy chứ. Vậy rõ là phát triển. Nhưng có lẽ bây giờ XHDS đang lâm vào vị thế thoái trào, các hội đoàn đó chỉ thấy quỹ 50k của cô bạn Thúy Hạnh là hoạt động hiệu quả và nổi đình đám hơn.

Chuyện thứ ba: chuyện dân oan mất đất. Chuyện dân oan mất đất thì kể đến bao giờ cho hết? Khắp nơi đổ về Hà Nội để khiếu kiện. Cái này chứng tỏ một điều rất cơ bản, ông Nhà Nước biết rõ mà vẫn cứ cố tình ngơ để cho cái vết thương ngày càng nặng, không chịu để tâm cứu chữa gì hết. Chuyện oan ức như vậy thì phải cùng nhau vá víu chứ, để dân bớt khổ chứ. Cứ để nay xảy ra một vụ, mai lại một vụ khác, mà xử ở địa phương xảy ra bê bối chỉ có kết luận “án bỏ túi”. Làm cái thằng dân thấp cổ bé họng muôn đời chịu thiệt. Cãi với họ đi. Có khi càng cãi càng sai lè lè, không dám nói đến nữa. Thủ Thiêm đấy, Lộc Hưng đấy, Đồng Tâm đấy, Văn Giang đấy, Dương Nội đấy… Cả trăm nghìn người oan đấy. Có ở đâu trên trái đất này, có một vườn hoa được mang tên là vườn hoa dân oan không? Không, chỉ Việt Nam mới có thôi! Thôi, không cãi. Bọn này là phải chuyên chính. Vậy là chuyên chính!
Chuyện dân oan có lẽ nên nhắc về 2 vụ đình đám. Vụ Thủ Thiêm xảy ra đằng đẵng 2 chục năm trời và vẫn chưa có kết quả rõ ràng. Vụ sau là vụ Đồng Tâm. Chuyện chắc còn dài dài, chưa kết thúc vì trong những ngày giáp tết này, bà con Đồng Tâm có báo tin có những biểu hiện tập trung CSCĐ trong khu ranh giới giữa đất QP và đất Đồng Tâm.
Điều đáng nói là cả hai vụ này đều dựa vào bản đồ bị coi là mất hoặc thất lạc. Nói chuyện đất đai thì phải có bản đồ, nói suông chó nó nghe. Chỉ có điều bản gốc mất. Thu hồi đất từ 1980 mà mang bản vẽ 1992 ra khoe, chó nó nghe.
Được cái cả hai vụ đều đã có đối thoại với nhau (dân bị mất đất và chính quyền đòi lấy đất) nhưng xu hướng thắng về lý sự là dân chứ không phải phía chính quyền và có một biểu hiện khác, chính quyền không chịu thua dân. Nguyên tắc Đảng là chân lý được đem vận dụng. Một khi như vậy, cái sự oan khuất mãi mãi không thể giải quyết. Cái lỗi lớn nhất là sự tham lam vô độ của kẻ có quyền, có thế lực. Lỗi đó là do Nhà nước ta tạo ra. Mà chế độ ta, Nhà nước không có sai, đó là nguyên tắc. Kẻ bị kết tội gây rối luôn là dân. Sẽ có kẻ bị tù nhưng nghe chừng, dân còn lâu mới cho được những kẻ tham lam vào tù. Sự đời đơn giản nhưng luôn bị bẻ khó là vậy. Được vạ, má xưng là vậy.
“Đối thoại” là trung tâm của một nền văn hóa dân chủ, tiếc rằng điều này vẫn còn quá xa vời tại Việt Nam. Hệ quả là, chính quyền sẽ trấn áp được nhưng người phản kháng và chúng ta sẽ chờ “cuộc tòa” sẽ diễn ra.
(Phải ghi chú vội: Hôm nay (11/1/2020) bổ sung tí chút: Có kết luận về cái con sâu to ăn đất Thủ Thiêm. Còn dân Đồng Tâm bị coi là bọn chống đối và thủ lĩnh của Đồng Tâm đã chết)

Chuyện thứ tư: các phiên tòa xử các quan tham nhũng và các phiên tòa xử phản động. Chuyện này dài lắm, rất mất công. Khi viết sẽ phải lục lọi tài liệu, trích dẫn các câu nói của các quan, có lẽ chỉ xin tóm một câu hài hài: “Các quan được đưa ra tòa chỉ tính quan bự, quan cộng sản gộc, chức to nhưng tòa hỏi đến sự vụ thì nói với tòa là không biết, không nhớ. Tòa có hỏi sao là Bộ trưởng mà nói không biết? Botay.com! Hay như (ông này chưa ra tòa) Tôi đọc nguyên văn thư ký viết…” Đại loại là lỗi của cậu đánh máy chứ tôi không nói như thế; Có cả ông quan lỗi tày đình vẫn lên bục giảng về đạo đức, tác phong; có ông quan viết sách dạy dỗ thần dân và tặng cho các bạn trong tù làm sách gối đầu, để hàng ngày nghiền ngẫm…
Người dân không được đến dự những phiên tòa mở công khai này, dù rẳng ai cũng được biết là tất cả đều là những phiên tòa công khai. Cách nói và sự thật xảy ra ở mọi phiên toà ở nước ta luôn là có khoảng cách. Chẳng bao giờ biết công lý sẽ được thực thi?
Chuyện xử quan thì hầu hết quan phạm đều phạm tội nhận hối lộ. Tội hối lộ này mà đem vận vào ông quan nào ở xứ này cũng đúng hết. Tùy theo mức độ, điều này rất khó xác định, có quan chỉ vi phạm luơ quơ vòng ngoài. Khi đã bị kết án rồi cũng vẫn “rềnh rang” lắm. Ý nhà em muốn nói là, để cho một thanh củi vào lò, quy trình cũng rườm ra phết. Kiểm điểm, chuyển chức, chuyển địa phương, về kho… đợi dịp vào lò. Dân có khi không sống nổi vì chờ … kết luận.

Chuyện thứ năm, chuyện về môi trường
Nói môi trường là nói về thảm họa. Những ngày đầu năm mới này, nói nó là thảm họa của thế giới, nghe nó đã bình thường rồi nhưng cái chất thải do nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh thải ra làm ô nhiễm cả môt dải biển miền Trung trên 300 cây số và không biết khi nào mới phục hồi như cũ thì cái năm xảy ra thảm họa đó, người Việt có người cho là nói vống lên. Điều đáng nói là sự vụ cứ bị bưng bít khi đáng ra, phải nói lại cho nhấn mạnh, phải có cảnh báo sớm cho toàn dân, lường trước hậu quả nguy hại thì nhà chức trách chỉ có tìm cách bao che cho tội phạm.Thế mới là chuyện đáng nói.
Nhân nói về môi trường, phải nói về dự án “thủ tiêu” 6700 cây xanh của Hà Nội cũng là chuyện ứng xử với tương lai của quan chức cs VN rất thấp kém. Trong đầu những người lập dự án, duy nhất họ nhớ trong đầu là mối lợi họ sẽ thu về. Tất cả sẽ được trình qua cái gọi là Hội đồng nhân dân mà sẽ chẳng tìm đâu ra ý kiến phản biện.
Nói đến môi trường mà không nói chuyện cấp nước của Hà Nội thì thấy không đủ. Cấp nước cho dân thành phố cứ tưởng “uy nghiêm, cẩn mật”bậc nhất, ấy vậy mà chuyện nước bẩn cứ xảy ra nhu không. Nhân vụ nước bẩn, người ta mới quay ra (không hiểu quay ra hay quay vào) cái ông sông Đuống, hóa ra quy trình học một đằng, về Việt Nam ta, quy trình phải gọn nhẹ. Có thế hiệu suất mới cao.
Chuyện về ô nhiễm không khí cũng có thể cho vào mục này cho gọn gọn lại. Bởi dân đã nói thế này: Rau bẩn, cá bẩn, tôm bẩn, thịt bẩn thì còn cái gì nữa để ăn. Nhịn ăn thì mới sống được nhưng ngắc ngoải. Nhưng nhịn thở có được không? Không khí bẩn mà cũng cứ dấu diếm, che đậy mới kỳ chứ. Ngày đầu tiên, có người công bố, số liệu lấy của ông sứ quán Mỹ. Các nhà chức trách chê là cái đại sứ nó toen hoen, không đại diện cho Hà Nội được. Thì cứ để các nhà chức trách theo dõi. Còn hôm nay, cả Hà Nội nội ô đều toàn màu cam, đỏ và tím. Không thấy mấy nhà môi trường học lên tiếng bênh vực thủ đô ngàn năm văn vật bồng bềnh trong sương mù mờ ảo nữa.
Năm 2019 vừa qua, Hà Nội và Sài Gòn chẳng hiểu sao không khí đua nhau nhiễm bụi. Người có kiến thức, tầm nhìn xa, thấy cái sự “bụi mịn” này hao hao giống bên Tàu, cũng nhiệt điện cho lắm vào rồi thì ung thư. Ô nhiễm không khí cũng ăn theo cái khói, bụi. Nghe đâu có cách giải thích: “gãi ngứa” cũng là nguyên nhân… sinh bụi. Khôi hài hết chỗ. Nhưng nó đúng bản chất. Vẫn tìm cách đổ thừa, nhà chức trách, quản lý vô can.
Họ nói dân gây ra bụi là chính: xe vật liệu, rác rưởi rải khắp thành phố. Biết cái lý còn non nhưng mà cũng khó cãi. Cái ông có “tầm nhìn xa” định bảo ô nhiễm của từ hai chục nhà máy nhiệt điện từ phía Đông thổi vào Hà Nội, vị thượng thư ngành môi trường lên tiếng bác bỏ ngay. Hãy đợi đấy! Con chó sói của nước Nga nó từng đe con thỏ cả trăm bận đó sao. Hãy đợi đấy! Nhưng chờ thì nước mẹ gì. Nếu chết thì nó chết dai dẳng chứ đâu cứ ập bụi mịn vào mà chết luôn được. Được vạ có má sưng vù.

Chuyện thứ sáu: Đối thoại giữa Đảng và dân.
Lấy cái ý của anh Thưởng, trưởng tuyên, là Đảng ta không sợ đối thoại, để dẫn dắt.
Hồi hè cách đây chục năm, có 11 cuộc biểu tình liên tục. Năm 2011, trí thức Hà Nội yêu cầu gặp lãnh đạo thành phố để hỏi rõ chuyện biểu tình chống Khựa có là phản động không? Có phải yêu nước không? Ông Thủ  tướng lúc đó còn đang uy, có đăng đàn trước Quốc Hội và công nhận những người tham gia biểu tình là yêu nước, dân ta yêu nước, vậy biểu tình là yêu nước. Thiếu tướng đô trưởng Hà Nội ngày đó là Nguyễn Đức Nhanh, cũng đăng đàn trả lời báo Tuổi trẻ hay Thanh niên gì đó, có lời công nhận là người dân yêu nước.
Nói về cuộc đối thoại ngày đó. Xã hội dân sự ngày đó chưa mạnh lắm, các hội đoàn do từng nhóm hợp nhau, cùng một mục tiêu, lý tưởng để rồi cùng nhau trên con đường dài đến tận hôm nay (10 năm), nói chung là chưa rõ. Cuộc sống thay đổi, điều kiện đấu tranh thay đổi, đối tượng của các nhà đấu tranh là đảng cầm quyền cùng lực lượng công an cũng thay đổi sách lược “phản đấu tranh” và những người, từ năm 2011 cùng nhau xuống đường đó, cũng có nhiều đường rẽ. Những người có được cuộc sống cá nhân ổn định, ít bị xáo trộn, quấy nhiễu, chỉ tham gia ôn hòa thì đại đa số nhiều tuổi, chỉ còn có thể làm chỗ dựa tinh thần cho phong trào đấu tranh dân chủ mà thôi. Cụ Vĩnh ngày đó cũng được tự nhiên đóng vai quan trọng của đại biểu trí thức Hà Nội, cũng nhờ ở danh tiếng của cụ. Cụ nói về cái văn bản không chữ ký của Ủy ban Hà Nội, các cụ khác cũng nói. Thôi thì Hội nghị Pa-ri bàn cả đến trăm phiên, kiên trì mới thắng lợi, chứ đây, mới phiên đầu, nghe chừng các vị lãnh đạo chính quyền cũng nản vì bí. Ở vị thế nắm quyền hành, định đoạt vận mệnh của dân, các quan CS khó chịu thua lắm.
Chuyện khác là chuyện anh Chung con đến giải tỏa điểm nóng Đồng Tâm. Chuyện này sách báo viết nhiều, nhưng để có một cái làng, xứng với tên gọi Đồng Tâm, cũng thật chói lọi sử sách nước mình. Đang viết thì có tin đụng độ giữa chính quyền và dân.(Đã nghe tin có 3 chiến sĩ công an hi sinh và một kẻ chống thi hành công vụ chết). Vậy là anh Thưởng và ngài đô trưởng thành phố không thích đối thoại.
Bây giờ chẳng ai nhớ: “Giáo dục, đối thoại, hòa giải cơ sở” phải là phương pháp tối ưu nhất để giải quyết vấn đề Đồng Tâm, thay vì sử dụng lực lượng vũ trang, bán vũ trang nhằm “trấn áp” người dân. Sau những lần thanh tra, hết Hà Nội rồi thanh tra Chính phủ vào cuộc, kết luận là ông này bảo ông kia đúng. Tôi đã viết một bài báo về vấn đề này, nhan đề nó là “Quyết thắng dân”. Và tôi nghĩ, kịch bản sẽ hoàn hảo nếu ông đạo diễn nào đưa ra phương án tác chiến “có thể viết thành sách giáo khoa”.
.
.
Chuyện thứ bảy: Bàn về sự thật

Trong muôn vàn điều xảy ra trên đời, có những cái tưởng như dễ dàng công nhận mà nhiều khi rối rắm vô cùng. Lý do là lịch sử thì chỉ xảy ra một lần còn suy diễn về nó của thế hệ sau, lại quá nhiều điều, khiến lịch sử bị cải biên. Đó là cái điều không ai muốn, chỉ có hàng ngũ cầm quyền muốn mà thôi. Kẻ đang cầm quyền và là kẻ thắng có quyền viết sử theo ý của mình. Đó chính là nguyên nhân của sự méo mó lịch sử và chúng ta, thế hệ hậu sinh, chỉ có thể biết cái đại thể rằng ông bà ta đánh Tàu từ ngày Đức chúa Giê-su chịu khổ nạn, gánh cho thiên hạ và gần đây nhất là năm 1979, thế hệ 4x, 5x, 6x, 7x… cũng mới vác súng đánh Tàu nơi biên cương và nên nhớ từ ngày đó, xứ này chưa chịu mất tí tẹo đất đai hay ngụm nước biển nào cả.
Vậy mà mới có mấy chục năm (ba bốn chục năm gì đấy) mà ối thứ đã cãi nhau inh thiên địa. Vì thế muốn hỏi, những gì thế hệ cỡ bọn tôi đã được học, vẫn luôn tin “ta thắng, địch thua”,đâu là sự thật đúng như lịch sử đã trải qua? Khó quá, gần đây còn biết, cả mấy cái cọc trên sông Bạch Đằng, để trong bảo tàng từ hồi mình chưa đẻ, cũng không đúng niên đại đã được cha ông ta dùng cho trận chiến Bạch Đằng. Vậy đâu là sự thật?
 Với dân miền Bắc lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn một chút, chuyện ta thắng, địch thua là đương nhiên, ta chính nghĩa, kẻ thù phi nghĩa là đương nhiên. Những thứ đó, với người còn sống đến hôm nay, vẫn thấm đẫm trong dòng máu.
Nói chuyện gần đây cho dễ nhớ. Để dẫn dắt sự việc đến cái độ “Thật”. Đây, chuyện năm 2019, ở Bãi Tư Chính đã xảy ra chuyện gì và như thế nào? Dân nghe ai? Ai biết? Những người lãnh đạo đã có những phát ngôn gì về vấn đề này? Và đúng sai như thế nào, ai biết rõ sự thật… trả lời hộ cho con cháu, ngộ nhỡ nay mai có chết cũng đỡ ngậm ngùi. Cả đống câu hỏi đấy.
Thôi thì xích lại gần nhau tí để nhìn ra cái điều đáng phải lên án, đáng nguyền rủa. Cứ như chuyện Đồng Tâm hôm nay, mấy cô cậu trên loa đài nói nọ, nói kia mà dân nó không nghe, dân nó còn đặt ra bao nhiêu câu hỏi. Có câu hỏi thì phải có trả lời. Đó là ý nguyện của dân, dân muốn tiếp cận sự thật, muốn có ai đó trong lãnh đạo, khi có việc xảy ra, phải lên loa đài công bố ngay. Lại nghe thấy vài tiếng phản đối: “Lại luận điệu bọn đòi dân chủ tư sản”. Dạ, nhà em xin thưa, đấy là quyền được biết sự thật đấy ạ, không có gì là quá đáng lắm đâu ạ. Không cho dân biết là bưng bít sự thật đấy ạ.
Xin đặt một câu hỏi: Cụ Kình-Đồng Tâm, từ một lãnh đạo xã, bí thư chi bộ… rất nhiều năm ở Đồng Tâm, giương ngọn cờ chống tham nhũng ở địa phương, thành ngọn lửa thể hiện ý chí bất khuất của dân Đồng Tâm. Một con người như vậy sao có thể tự diễn biến thành kẻ đầu sỏ, thành kẻ chống đối, thành kẻ khủng bố tích lũy vũ khí giết người? Oan trái lại xuất hiện ở đây vì không chịu lắng nghe dân. Hơn nữa, còn lật lọng, sổ toẹt chữ ký và điểm chỉ của mình trước bàn dân thiên hạ.
Mấy hôm nay, loa, đài cứ nói ra rả về bọn Đồng Tâm, nhưng sự thật là thế nào đấy ạ?
Có một lời khuyên cho các quan lớn: Đừng coi mình là thánh, không ai với tới được. Hãy xuống Đồng Tâm đối thoại với dân.

Lại muốn nói về cái xa xôi: Biển Đông từ từ thất thủ, Bãi Tư Chính thì cũng từ từ bỏ rơi, Hoàng Sa, Gạc Ma chuyện của thế hệ đã qua… Chuyện cũng lâu rồi, ai nhớ. Chuyện đất “đồng Sênh, đất của nhân dân và dự án nhà máy QP cỡ A1 trên đất đó, các ông muốn vẽ và cố lấy cho bằng được bằng mọi thủ đoạn. Tôi chưa thấy nhà nước “của dân, do dân, vì dân” nào lại làm việc đó

Nghĩ nhiều đau đầu quá. Định viết 10 vấn đề nhưng mà không viết được, mà có ma dại nào đọc đâu. Phí của.



Vinh Anh 14/1/20