Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

Bên ngoại

Bên ngoại

Đã sắp tết. Với người Việt và tầm tuổi của tôi, nó còn là thiêng liêng, là sự sum vầy, là tiếng gọi của thăm thẳm kỳ diệu đất trời, của nhiều điều nữa nữa. Vậy mà, (hôm nay mới 26 âm) chưa có cái tết nào mình thấy trống vắng như thế này. Phần vì cái thế sự mà mình quan tâm nó cứ âm âm u u, đượm ám khí, tạo ra, cái sự quan tâm đầy nỗi cô đơn, không thể chia sẻ, chính xác hơn, không có người chia sẻ. Phần khác, (riêng tư) nhà thiếu trẻ con, không có sự ầm ĩ của trẻ, bọn con cháu tức là bọn trẻ, chúng nó cần có không gian riêng. Thay vào đó là cái già nua, cái già nua theo sự xoay vần con tạo mà chẳng ai tránh được.
Cái buồn vắng lặng đưa mình ra phố để hít thở một chút xuân sắp về. Đi và không chủ định gì, đi lang thang với cái đầu rỗng không. Phải nhắc lại, chưa có cái tết nào mình thấy buồn trống như năm nay.
Chẳng trách ai cả, đấy là cuộc đời. Quả thật, tôi không dám hình dung cuộc sống ở Đồng Tâm, quê cụ Kình, vì mỗi khi nhớ đến là nặng nỗi buồn, thậm chí còn muốn xua nó đi. Đừng nghĩ về Đồng Tâm nữa. Nhưng vẫn lởn vởn, Đồng Tâm liệu rồi có như Quỳnh Phụ hồi nào? Lại trách mình, sao không bỏ qua, nghĩ ngợi cũng chẳng được gì lúc này… Bỗng thấy mình muốn buông bỏ thế giới này… Rõ như cái Đồng Tâm mà chẳng thổi được chút “động lòng” nào đến đây.

Đến đầu Ô chợ Dừa thì nhớ thằng bạn học đã chết và nhà nó ở gần đây. Kiếm chai rượu vào thắp hương cho nó. Cũng lâu rồi, cứ đổ vào nỗi bận cuộc đời, cũng là để thanh minh vì ít nhớ đến nó. Bước vào căn nhà vẫn uống rượu và thường to tiếng cười, ôn lại những điều vớ vẩn ngày xưa cùng học. Lạnh vắng! Lại thấy bóng đàn bà cô đơn, vợ nó, trong căn nhà hẹp lòng sâu hun hút trên đường La Thành. Vậy là cái “ bên ngoại” hình thành.
Nói về nhà ngoại, người ta thường nói về người bà, người mẹ. Bà và mẹ là đằng ngoại. Cái ngoại đó nhiều khi sâu lắng hơn nhà nội. Cái sâu lắng nó đậm hương sắc quê, mùi vị quê. Nó dân dã, nó nghèo và nó rất đàn bà về lối cư xử con người. Cũng tùy từng thân phận, với tôi, bên ngoại nó chỉ bảng lảng, không thật sâu đậm, không ấn tượng và vì thế ít kỷ niệm.
Ông ngoại mất từ xửa xừa xưa, nên tôi không có chút kỷ niệm nào về ông, mối liên quan chỉ là máu mủ. Nhưng có điều, ông lại để lại cái danh giá cho dòng họ. Nhắc đến ông là người quê chỉ nhớ mỗi kỷ niệm, ông rất chăm chút và nhận đỡ đầu cho ngôi trường ở quê. Dấu ấn còn lại để con cái nở mặt nở mày là tấm bia ghi công ơn của học trò. Tấm bia đơn sơ đã bảy chục năm trời. Tôi vẫn tự hào về sự đơn sơ của tấm bia, cái mộc mạc, đơn giản của nó được đặt trang trọng hàng đầu trong hàng bia công đức mà quê hương ghi nhận. Còn với bà ngoại, chỉ cỡ đâu một tháng, bà về ở với mẹ, sau cả cuộc kháng chiến trường kỳ, gặp lại cô gái út, tại Hà Nội. Ngày đó, quân ta mới vào tiếp quản thành phố chưa đầy một tháng. Hình ảnh mà tôi nhớ đến hôm nay, mấy phố quanh Bờ Hồ, nhuộm đỏ màu cờ và rầm rập sắc lính. Ấn tượng người lính là mũ vải bọc lưới, áo vải chằng chịt “36 đường gian khổ” và hầu như trên ngực áo, ai cũng có tấm huy hiệu “chiến sĩ Điện Biên phủ”.
Nhớ câu thơ mới đọc của cô bạn thi sĩ “Áo nâu mẹ vắt ngang trời”. Cô bạn kiên trì làm thơ về thân phận đàn bà về những day dứt rất đàn bà và cô ấy thành đạt, cô ấy rủ tết đến chơi. Hôm nay thì chưa gọi là tết, vậy là chưa thể đến, vậy là vẫn cô đơn đi trên đường của mình…
Nhưng đọc “áo nâu mẹ vắt ngang trời” thì lại thấy tồi tội, tui tủi như thấy sự tiếc thương để thêm nhớ cái lầm lũi, cặm cụi của áo nâu. Đó là dáng mẹ, dáng chị, dáng đàn bà, phụ nữ quê ta. Quê ngoại ta chắc không thiếu hình dáng đó. Không hiểu sao, khi tôi nghĩ về những con người đó, luôn thấy ở họ vẻ chịu đựng, tâm hồn rất nhạy cảm lại dễ tổn thương. Nhưng cái “vắt ngang trời” là qua rồi, thời quá khứ rồi, nỗi buồn cũng đã nguôi ngoai rồi.
Tầm tuổi tôi hay nói về quá khứ. Bây giờ làm gì còn tương lai, tương lai chỉ còn một đoạn ngắn, nên nếu có chuyện thì cũng chỉ nói về cái đã qua. Về quê là để nói chuyện với quá khứ, đối thoại với những ngày xưa cũng là đối diện với tương lai không xa. Với tôi, quê ngoại mờ ảo lắm, nhưng đã về đây thì chủ yếu thời gian cũng chỉ để hoài niệm với ngày xa đó thôi. Ở nơi nghĩa trang lạnh lẽo này trong ngày đông gió bấc, như tìm lại được những ngày xưa thơ bé và có dịp nhớ về những khuôn mặt chỉ còn là mờ ảo sương khói.
Người có công tìm lại nơi quê cha đất tổ ấy là mẹ tôi, mẹ tôi là gái út. Ngày về quê cùng mẹ, tôi nhớ câu đố mà mẹ tôi đọc cho tôi hồi bé: Cô kia má đỏ hồng hồng/đến khi lấy chồng cô bỏ quê cha/tới khi tuổi tác về già/quê chồng cô bỏ, quê cha cô về”. Tôi nghĩ đúng là về già, mẹ tôi mới có cơ hội tìm về quê.
Tôi vào làng. Cái làng chỉ còn lại duy nhất một người trông coi nghĩa trang, biết mặt ông ngoại tôi, tôi gọi bằng anh. Cũng có một anh họ khác, nhưng quan hệ họ hàng xa lắc. Rồi một ngày đẹp trời, bỗng có người tìm về quê, hỏi thăm làng xóm về người này, người khác. Vậy là nhận ra họ hàng. Nhưng họ hàng nhận nhau theo kiểu đó, như không bền. Hỏi thăm nhau mà cứ như là muốn thăm dò nhau, nhờ vả nhau và thậm chí lợi dụng nhau. Ôi, họ hàng! Ôi, một giọt máu đào hơn ao nước lã… cái tình này vận vào từng người khác nhau và để lại những cảm giác khác nhau trong mỗi con người.
Cũng còn họ hàng bên ngoại gần hơn, đó là những ông anh bà chị của tôi ở trời Tây hoặc thoảng cũng có mối liên hệ ruột rà, biết tin anh này, chị kia. Cũng có người đôi khi tìm về. Về rồi thôi, mối liên hệ gia đình khó thành gần gũi, thân thiết vì cách trở, xa ngái và vì nhiều thứ tế nhị khác. Cái chữ “tế nhị” trong tiếng Việt thật tuyệt vời, cho rất nhiều cách hiểu. Lâu rồi không có người về nước, vì thực ra cũng chẳng còn ai thân thích, từng có những ngày ấm êm bên nhau để hàn huyên về những ngày thơ dại xưa kia, nên làng cứ vậy mà xa, quê cứ vậy mà quên. Còn về làm gì nữa cho sượng sùng cả người về lẫn người đón.
Mẹ tôi, người đàn bà không thuộc dòng dõi cao sang, danh gia vọng tộc nhưng có cuộc sống cũng đủ để gọi là “lai” Tây tây, để có thể, cũng thuộc loại “mưa không đến mặt, nắng không đến đầu”. Gia đình mẹ tôi thuộc lớp công chức lối mới, mang kiểu cách tiểu tư sản, học lối sống thành thị, hướng Tây cho con trai, còn con gái thì phải biết sơ sơ “nữ công gia chánh” để mà mau mau lấy chồng. Lấy chồng là gánh vác giang san nhà chồng rồi đấy. Phía nhà bố mẹ đẻ quan hệ vừa phải, đủ để không bị nhà chồng chê không biết cái lẽ “xuất giá tòng phu”.
Tôi không rõ mức độ giàu có của ông ngoại tôi đến đâu nhưng cứ nhìn tầm công chức của ông, nuôi nổi một gia đình có cả gia nhân giúp việc và một đống con, con trai thì được học hành tới có cái bằng đíp-lôm, thì cũng thấy thằng Tây nó giả lương cho công chức của nó cao lắm, chưa kể tư gia của ông ở ngay thị xã, rộng nhiều mẫu đất với ngôi nhà Tây kiểu cách, trong vườn có đủ các loại cây ăn quả. Sau ngày hòa bình 1954, tôi đã về với mẹ, đứng bên sự tĩnh lặng, hoang phế của khu nhà mà mẹ tôi sống cả thời con gái, lần đầu tiên tôi nhận ra sự nuối tiếc những ngày xưa yên ấm trong tiếng thở dài xuýt xoa mỗi khi mẹ nhận ra một dấu tích xưa cũ còn lại ở mảnh vườn hoang phế. “Đây là vị trí căn nhà xưa của cô. Nó ở đây…” Người quen những ngày xưa đưa mẹ con tôi về,  chỉ cho mẹ tôi. Ngôi nhà mà sau này, vì yêu quý nó, chính tay ông ngoại đã giật mìn phá bỏ, để thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống” của chính phủ kháng chiến. Từ ngày đó, ông về quê sống một mình, con gái đã yên bề con gái, con trai có người cũng bỏ nhà theo kháng chiến, còn cậu út, như tôi biết khi tôi đã đủ trí nhớ của đứa trẻ 8 tuổi, cậu vừa học vừa làm và là người thành danh trong họ, cậu là một viên chức chính của ngân hàng Quốc gia Viêt Nam (Sài Gòn). Ngày đó, cả hai ông con trai của ông ngoại, đều chưa lập gia đình.
Quê ngoại tôi theo đạo công giáo. Tất cả các anh chị mẹ tôi đều là những con chiên ngoan đạo. Cái sự ngoan ấy tự tôi suy ra. Sau lần đi lễ chủ nhật, tôi tâm sự với cậu về chủ đề niềm tin ( lúc đó tôi đã ngoài ba mươi, còn cậu đâu khoảng 50 (sau năm 1975, có lẽ vào năm 77-78). Tôi nói về niềm tin và lý tưởng, còn cậu nói về niềm tin trong sự cứu rỗi. Cậu nói một câu mà tôi rất nhớ: “Khi không còn niềm tin bấu víu, người ta sẽ chỉ còn biết trông cậy vào chốn linh thiêng… ở đó, chí ít, ta cũng tìm được nguồn an ủi, dù nơi đó rất xa xôi lại còn thăm thẳm mông lung nữa…”
 Ngay sau buổi nói chuyện đó, tôi thấy cậu tôi nói thật suy nghĩ của mình, còn tôi thì nói theo những gì mình được chế độ cộng sản nhồi nhét vào đầu. Cậu tôi cần có niềm tin vì tại thời điểm đó, niềm tin nơi thiên chúa là nơi che chở, chỗ dựa của cậu. Tất nhiên tôi không dám thú nhận với cậu những suy nghĩ thật của tôi vì tôi sĩ diện và tôi nghĩ, nếu nói thêm, chuyện sẽ dẫn nhanh đến sự xa cách. Cậu ơi, dường như có những con đường, những lối rẽ đã được chỉ ra trong họ hàng nhà ta phải là như vậy. Đấy là buổi tâm sự duy nhất của cậu cháu tôi. Cho đến sau này, khi cậu đã xa quê hương, xa Việt Nam, tôi nghĩ cậu chẳng bao giờ hiểu được sự thật diễn ra trong suy nghĩ của tôi.
Quả thật, nếu mẹ tôi không quyết tâm thì chắc với gia đình tôi, quê bên ngoại cũng sẽ tàn phai theo năm tháng và mồ mả ông ngoại tôi vẫn chỉ mỗi ông Thạch, người trông coi nghĩa trang, mới biết ông nằm ở đâu nơi nghĩa trang lạnh lẽo, dù đó là quê quán, nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Nhưng đấy là chuyện khác, chuyện tôi muốn nói là chuyện về con người bên nhà ngoại, họ là những người mà tôi biết từ hồi còn rất nhỏ, lúc đó tôi khoảng 7-8 tuổi. Có những người, trong trí nhớ láng máng của tôi, đây là lầ đầu tiên chúng tôi sống cùng nhau trong một mái nhà, ở với nhau để rồi có những kỷ niệm kéo dài đến cuối đời. Cái tạo ra mối quan hệ đó chỉ do mối quan hệ lằng nhằng, dây nhợ từ chút máu mủ ruột rà nào đó còn sót lại. Năm, sáu đứa chúng tôi, những đứa cháu thuộc bên nội, được gia đình cho đi nghỉ mát ở Bãi Cháy, Hạ Long (ngày đó gọi là Hồng Gai). Gia đình chúng tôi đến chơi là chị ruột mẹ tôi, bác Huệ, có chồng kinh doanh về ngành than.
Chuyến đi của lũ trẻ chúng tôi xuất phát từ Hải Phòng. Bọn tôi háo hức chui vào khoang hành khách đi ca-nô. Gọi là lũ trẻ vì toàn trẻ con, tất cả đều lần đầu được đi chơi xa, lại bằng phương tiện thủy, một cuộc nghỉ hè hiếm có, đúng với nghĩa nghỉ hè. Tôi chiếm được chỗ ngồi gần cửa sổ, nhìn ra sông nước đỏ ngầu. Chiếc tàu khách, chắc là rất nhỏ, tôi nhớ là tôi còn thò đầu ra ngoài, với tay xuống được dòng nước, xòe những ngón tay cho nước chảy qua. Mặt sông và chiếc thuyền (ca-nô) cứ bồng bềnh nhún nhảy. Tôi lâng lâng tận hưởng chuyến đi thật thú vị. Có lẽ vì thế mà tôi ấn tượng, tôi nhớ lâu. Chuyến đi chỉ có một ông bác dẫn đường để cai quản bọn trẻ.
Tàu nổ máy. Mùi dầu khét lẹt thộc từ phía tiếng nổ ầm ĩ của động cơ lên tận chỗ hành khách ngồi và hàng hóa gửi. Chúng tôi không hề bận tâm đến độ sạch sẽ hay thái độ phục vụ của chủ tàu. Tôi nghĩ họ đã cho mình đi, bẩn hay sạch đều phải chịu. Tâm lý đó là như vốn có của hầu hết người Việt. “Được người ta cho đi là tốt rồi!” Cái tính tự ti cứ vậy theo thời gian mà lớn dần, chẳng hề biết và cũng chẳng hề nghĩ đến cái quyền sinh ra được hưởng mưu cầu hạnh phúc, sung sướng gì hết.
Tôi cứ ngồi vậy bên cửa sổ khoang tầu ngắm nhìn dòng sông ngầu ngầu nước. Nghe thoáng đâu đó mình đang trên sông Bạch Đằng, nơi đây Ngô Quyền từng cắm cọc trên sông và đánh thắng quân Nam Hán. Cũng trên dòng sông này, Trần Hưng Đạo đã ba lần thắng quân Nguyên. Tôi nghĩ, vậy là mình đang rất gần gũi với chiến công lừng lẫy của tổ tiên, trí óc non nớt của tôi cũng thấy tự hào, tính dân tộc của tôi hình thành như vậy và những chuyện tranh mà ngày đó tôi được đọc, đã phát huy tính giáo dục truyền thống dân tộc của nó.
Vì lúc nào cũng nhìn dòng sông với đôi bờ rất hiu hắt ngày đó, tôi nhận ra ở một quãng, con tầu đã đi khoảng thời gian dài, dài là bao lâu, tôi cũng không nhớ, tàu đi qua ranh giới giữa màu đỏ và màu xanh của nước trên cùng con sông. Tại sao có hiện tượng đó? Tôi nghĩ ngay đến chuyện xưa trên sông này, đó chính là máu giặc Tàu còn nhuộm đỏ khúc sông, đến tận hôm nay vẫn còn loang. Tôi nói chuyện đó với hai ông anh lớn, con bác cả, hai ông này không chú ý, và không có câu trả lời. Ấn tượng về dòng sông lịch sử và về chuyến đi đó theo tôi đến tận ngày tôi học lớp 5 (lớp đầu tiên của cấp 2, hệ 10 năm), tôi nói chuyện cho mấy đứa bạn cùng lớp, chúng nó cũng thờ ơ bỏ qua. Rồi tôi cũng quên, mãi tới sau này, lớn lắm rồi, tôi đã tốt nghiệp đại học, nghĩ lại tôi mới tự lí giải được cho mình, đó là cửa sông. Nước sông đổ vào biển và liên quan đến thủy triều. Đó chính là cửa sông Bạch Đằng, màu đỏ chính là phù sa mà con sông đã cuốn theo trên suốt chặng đường đi của nó. Đơn giản như vậy mà sao ngày đó, tôi cứ thấy lờm lợm thấy mùi máu giặc vẫn còn tanh.
Sau hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam họ hàng nhà tôi, bên ngoại cũng như bên nội, tự dưng chia thành hai phe: phe nó và phe ta, cũng chẳng biết đâu là nó, đâu là ta, nhưng tự dưng trở thành hai kẻ đối địch nhau, tự coi nhau là kẻ thù, cầm súng bắn vào nhau là cái đã xảy ra. Cái đất Việt thuở nỗi buồn sông Gianh hai trăm năm trước giờ mang tên nỗi buồn Bến Hải. Những đứa trẻ sinh những năm 40, 50 cùng sống chung một mái nhà bây giờ thành bên thắng cuộc và kẻ thua cuộc. Dẫu chúng biết, cả kẻ thắng người thua đều chẳng được cái gì.
Cậu tôi, người bên ngoại được coi là cũng thành danh trong họ, chỉ cho tôi những bao gạo mua từ cửa hàng mậu dịch, đựng trong các bao cát để làm công sự đánh nhau thời chiến, xếp chung quanh phòng khách rộng cỡ bốn chục mét vuông mát rượi. Cả chục bao có dư, mỗi bao gần chục kí, cậu chua chát nói: “Những thứ này, thời ông Thiệu, người ta dùng để nuôi heo, cậu mang về từ cửa hàng lương thực bán cho dân đó.”
Nhưng rồi ông chuyên viên cao cấp của chế độ cũ, không được chế độ mới dùng vào đúng vị trí, ông vất vưởng ăn vào của để dành từ chế độ cũ mà ông phục vụ. Niềm tin, mà ông muốn dựa để cố sống, có lẽ cũng đã rời bỏ quê hương. Ông được đi theo diện ra đi có trật tự, được bảo lãnh của gia đình, đã qua bên kia bờ đại dương từ những ngày binh lửa năm 1975. Ông chọn Bỉ làm nơi sinh sống nốt chặng cuối cuộc đời. Nước Bỉ đã đón và cưu mang gia đình nhỏ của ông.
Ngoài năm chục tuổi đời, ông lại bắt đầu khởi nghiệp. Điều đáng khâm phục là như thế. Nhiều người vào tuổi đó khó thích nghi với cuộc sống mới, có khi lại trở thành gánh nặng cho nước đã cưu mang họ. Ông cậu tôi đã vượt qua cái đận khó khăn nhất của đời người. Tôi từ một nơi rất xa, cảm nhận được, hình như niềm tin đã trở lại với ông. Đấy là cậu tôi. Cậu tôi đã vượt qua con đường gian nan, khổ ải và chắc chắn rất nhiều đau khổ, tìm điều chấp nhận được mà cuộc đời đã dành cho và ràng buộc ông. Những khổ ải đó, chắc chắn không nhiều người vượt được. Hãy cố hình dung đi, từ một viên chức cổ cồn cao cấp của nhà nước, một ngành quan trọng trong hệ thống kinh tế, bất đắc dĩ trở thành ông chủ tiệm ăn nhỏ, bình dân ở xứ người, tại một chân trời xa lắc.
Cái gì đã làm thay đổi được đời con người như vậy? Niềm tin hay điều kiện để tồn tại? Để câu trả lời nhận được sự chấp nhận của cuộc đời, nhiều khi phải đổi bằng mạng sống hoặc cứ nhắm mắt chấp nhận số phận. Cậu tôi, có thể vì cái lý để tồn tại trong cuộc đời, chấp nhận phải làm lại từ đầu. Điểm khởi đầu không phải từ một mái đầu xanh mà là từ một người đang… từ từ tiến tới để trở thành người già.
Những người anh em của tôi không thuộc bên thắng cuộc nhiều lắm. Cả nội ngoại phải đến vài ba chục người. Bản thân tôi cũng không nhớ hết tên chứ đừng nói gì biết mặt và nếu run rủi ngộ nhỡ, liệu ai muốn, ngộ nhỡ chúng tôi đối mặt nơi chiến trường, ai là người nổ súng để giết người kia, bảo vệ mạng sống của mình?
Chuyện về những người anh em này tôi cũng không biết được hết và càng không thể hiểu kỹ từng người được, mỗi người đều có một số phận nhưng nói chung, một điều phải biết, càng nhiều tuổi càng khó hòa nhập với cuộc sống mới nơi xứ người xa lạ. Dù nơi đó, người ta có chìa tay ra cứu mạng, thì họ vẫn là xa lạ. Sự cưu mang mang nghĩa nhân đạo nhưng vẫn tạo ra nỗi mặc cảm cho kẻ chịu ơn.
Khi tôi đã thuộc về lớp người già, tôi mới nhận ra, nghĩa là tôi nhận ra chưa lâu đâu, lớp người tuổi cậu tôi buộc phải ra đi tìm cuộc sống mới, chắc họ không thể biết những khổ ải mà họ gặp phải. Xin thú thực, dù có hiểu họ đến đâu, cũng không thể nào hiểu hết nỗi cực nhọc mà họ vượt qua. Tôi cho rằng, ở tuổi sắp lên lão làng, phải thay đổi nếp sống bình thường, dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới, để mưu sự sống cho mình và cho gia đình, thì đó là bước đường cùng. Bước đường cùng phải lao vào, phải dấn thân, thì may ra, may ra mới hòa nhập và tồn tại được.
Tôi chắc chắn rằng, những kẻ chịu trách nhiệm của cả hai phía thắng cuộc và thua cuộc, chẳng bao giờ biết và hiểu rõ điều này. Mọi lời nói để tỏ ra đây có sự thông cảm, cũng chỉ là giả dối. Tiếc thay, sự giả dối đó luôn được một số đông, rất đông, vô cùng đông chấp nhận.
Và tôi hiểu thêm về đồng bào tôi, những người anh em của tôi, bây giờ họ đều vào ngưỡng 7-8 chục tuổi đời, họ đã trải 3-4 chục năm bươn bải nới đất lạ, làm lại từ đầu cuộc sống, lo cho mình và lo cho gia đình. Ở tuổi “tam thập nhi lập”, nghĩa là đáng ra, những người anh em tôi đó đã phải có cuộc sống ổn định rồi. Thế sự cuộc đời đã rút ngắn của họ mất 3-4 chục năm. Còn với cậu tôi, ông mất đi 5 chục năm, để mưu cầu cuộc sống mới. Liệu có mấy ai trong nước, mấy ai thuộc “bên thắng cuộc”, hiểu thấu đáo hoàn cảnh của những người buộc phải ra đi?
Tôi cũng có người ruột thịt sống bên kia bờ đại dương, đó là con gái tôi. Nó nói với mẹ nó: “Để tồn tại được trên đất này, những người không phải gốc gác ở đây, phải cố gắng với 200% sức lực của mình.” Xem ra, đấy là điều không ai cũng có thể làm được và sự bình đẳng không phải được tôn trọng ở mọi nơi.

Vinh Anh 27/01/20






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét