Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Có phải ít thấy các NHÀ VĂN lên tiếng?


Có phải ít thấy các nhà văn lên tiếng?

“Ít lên tiếng”, tôi hiểu theo cái nghĩa của nó là phản biện, dám phản biện. Ở nước ta còn có thể hiểu thêm: dám đấu tranh! Ở khía cạnh khác, với tầm ảnh hưởng của mình, quần chúng còn đòi hỏi là phải đi đầu trong hàng ngũ đấu tranh. Các nhà văn ít lên tiếng phản biện về các vấn  đề xã hội đang hot. Chẳng hạn như thái độ chống Tàu khựa, thì biểu tình là vấn đề hot, rất hot, nhưng rất ít người lên tiếng.

Đọc một stt của một bạn trên fb, thấy phê phán như vậy. Rồi lại đọc được ý kiến phản đối và có trưng thêm ảnh của một số bài viết trên báo Văn nghệ, chắc cũng là về chủ đề chống Tàu, tôi bây giờ rất ít đọc các loại báo đã bị kiểm duyệt hai lần(một lần tác giả tự buộc mình vào khuôn khổ, dẫu rằng có rất nhiều lời phân bua chẳng ai cấm đoán và một lần nữa là BBT)  

Tôi cho là thế này:

So với số hội viên cả ngàn, lại chưa kể các bác không phải hội viên chỉ đá ngang văn nghệ như tôi, có lẽ con số đó phải là vạn. Chỉ dám nghĩ là con số “1”đứng đầu thôi đấy. Vậy thì, tiếng nói của giới văn nghệ về chủ đề nhạy cảm này (cũng theo tôi) là rất thưa thớt. Bởi trong tâm thức tôi hiểu, nhà văn là những người dễ đồng cảm với xã hội nhất, gần cuộc sống nhất, nói được tiếng nói sát với tâm hồn, suy nghĩ con người nhất.

Hội văn nghệ Hà Nội là một hội có số hội viên đông. Đi biểu tình, gặp được ông Chủ tịch hội ba lần tham gia, còn ai nữa, tôi không quen. Chỉ nhớ và quen mấy vị trí thức. Các vị này xuống đường liên tục, đặc biệt là ông Nguyễn Quang A.(Nhưng những trí thức xuống đường so với số lượng trí thức hùng mạnh nước Nam cũng vẫn rất nhỏ nhoi)

Đọc trên mạng cũng vậy. Vẫn chỉ là những gương mặt quen biết và nổi tiếng trong phản biện là chính. Cũng có đọc “Lão Khoa”. Ông này cũng có phê, nhưng mình cảm thấy ông ấy “phê rất sa-lông”. Nhưng dẫu sao, trong trí nhớ của mình, ông này còn có vết hằn. (Có thể ông này viết về nhiều vấn đề xã hội khác nữa, mà đọc, mình thấy thích).

Còn các ông viết nhiều như Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Tường Thụy, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quang Thân, Dạ Ngân, Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Văn Công Hùng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Vinh…, Nguyễn Quang A, Phạm Toàn, Huệ Chi, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Xuân Diện, Hoàng Xuân Phú, Đông Yên… hầu như chỉ đọc được các vị này trên mạng. Báo nào dám đăng? Nếu mà lọt lưới, TBT lại chẳng mất chức như cái “Tản mạn nơi đảo xa” của Trung Bảo trên tờ Du lịch hồi tết nào. Có phải vì vậy mà cuốn tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường đã được ông giám đốc nhà xuất bản nọ hứa cho in (sau khi ông về hưu) cũng bị tuýt còi.

Phần khác, cũng là phản biện thôi. Chắc các bác đều biết, các loại phản biện, phê phán của ông Đông La thì báo Văn nghệ tp Hồ Chí Minh đăng kín trang. Nhưng vụ Nhã Thuyên với cái luận văn “Mở miệng…”gì đấy nữa, báo Văn nghệ nhà mình chỉ đăng ông Phan Trọng Thưởng, chứ các ông khác có đăng đâu. Nhiều người biết ông Đông La chứ có biết ông Ngô Văn Giá đâu. Nguyên do? Các bác chắc biết rõ cả rồi, khỏi giải thích.

Có thiện lệch ở đây không? Chắc chắn là có.

Vì sao?

Tôi nói ngắn thôi. Các bác không đồng ý cứ ném đá, tùy từng bài mà tôi sẽ đáp lại. Giới văn nghệ sĩ chúng ta hèn. Rất hèn! Chúng ta chưa dám bước qua cái ngưỡng của sự sợ hãi. Nỗi sợ đó làm chúng ta bé nhỏ. Đã thế lại cứ cố “biện luận” theo cái cách “mỗi người có một phương pháp đấu tranh, mỗi người có một hoàn cảnh”. Đó là ngụy biện hết các nhà văn và các bậc trí giả ạ! Nhiều cái trong tầm tay của mình phải viết, phải nói, phải thể hiện như ông Nguyên đầu bạc ấy… nhưng cũng rất nhiều, rất nhiều … cứ im thin thít. Bọn tàu gây gổ với ta lâu rồi, nở rộ từ những ngày hè 2011 cơ đấy. Tôi thấy một nhà văn, một trí thức xuống đường những ngày “căng thẳng” nó thôi thúc, cổ vũ, động viên lớp trẻ nhiều lắm, có ảnh hưởng nhiều đến phong trào lắm.

Từ ngày xảy ra vụ “giàn khoan” đến nay, khi mà ở một nơi nào đó đã “mở van” cho phép nói, các bác có thấy xuất hiện rất nhiều giọng điệu không? Cũng vẫn chỉ là những người mà ta vốn đã biết cả thôi. Đấy là sự dũng cảm được phép, được cấp chứng chỉ.

Nói tóm lại, tôi đồng ý với bạn fb nào đó, trong lúc rất cần các nhà văn lên tiếng thì tiếng nói nhà văn còn ít, ít lắm. Nói rộng ra, các vị trí thức nhiều chữ cũng vậy. Chúng ta đều chưa vượt qua mình.

Đó là một nỗi nhục cho nền văn hóa nước nhà.

Vinh Anh-31/5/2014

 

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

MIẾNG NGON NHỚ LÂU


Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời

 

Sau phát biểu của Thủ tướng tại hội nghị các nguyên thủ Asean và đặc biệt tại hội nghị kinh tế các nước Đông Á ở Malina, có vẻ như Thủ tướng đang ở thế thượng phong trước ba vị trụ cột còn lại của chế độ. Mình vẫn im phăng phắc lặng nghe. Chẳng gì thì chính ông này cũng làm mình bị lỡm. Hồi 2011, ông “nổ” tại Quốc hội nước nhà cũng rất kêu. Ngày đó nhân vụ tàu Bình Minh 02 và Viking bị bọn Tàu khựa cắt cáp khi đang tiến hành điều tra thăm dò dầu khí ở vùng biển của ta. Nhân dân phẫn nộ, biểu tình ầm ầm. Riêng Hà Nội có đến hơn chục cuộc. Mùa hè năm đó, tuần nào cũng xuống đường, khí thế lắm. Mình đi với bọn trẻ, cảm như được trẻ lại chục tuổi.

Sâu xa của các cuộc biểu tình đó là gì? Nhà chức trách sợ điều gì? Điều đó mỗi người đều có  suy nghĩ riêng của mình và có thể có một số câu trả lời. câu trả lời chung nhất là người dân Việt Nam không khuất phục bọn Tàu và muốn chính quyền tỏ thái độ với Trung Quốc về hành vi ăn cướp đó một cách rõ ràng, không quỵ lụy, không ươn hèn.

Thủ tướng năm đó cũng đăng đàn ở Quốc hội, Ông tuyên bố: Hoàng Sa là của Việt Nam, chúng ta sẽ đòi lại một cách hòa bình... Ông cũng tuyên bố: Những người đi biểu tình chống hành vi xâm lược của Tàu là yêu nước…

Về nhiều phương diện, mình không ưa ông này nhưng qua những lời phát biểu đó của ông, mình có cảm tình với ông hơn.

Hình như năm sau, 2012, ông đề nghị trước Quốc hội cần phải có luật biểu tình. Mọi nghười hi vọng. Riêng mình thì không, khi thấy ông giao luật này cho Bộ Công an soạn thảo.

Tất cả những điều đó theo thời gian, lại êm ả như chưa từng xảy ra chuyện gì cả. Từ ngữ hiện đại gọi là “chìm xuồng”. Ở Hà Nội, đôi khi có vài cuộc biểu tình, cũng chỉ lấy cái cớ vì ông bạn láng giềng to xác xấu chơi. Còn phía chính quyền thì lo ngại những phần tử đó và có ý xa xôi gọi họ là những phần tử thù địch. Dân đen hiểu trắng phớ là chính quyền không thích biểu tình, sợ là đằng khác.

Nói thật, mình là người có đôi chút hiểu biết, nghe những lời Thủ tướng nói không tin nữa. Theo cách nói bác tổng, phải bình tĩnh, bình tĩnh xem xem nó thế nào…

Tháng năm năm nay (2014), giàn khoan khủng của Tàu vào vùng EEZ của ta gây chấn động trong cả nước. Bởi lẽ nó đã là một vụ quá lớn, nếu báo chí lề phải không nói, dân lề trái cũng sẽ nói và chắc chắn là sẽ xuống đường biểu tình. Báo lề phải lên tiếng, mấy ông có chức phận bên Ngoại giao, dầu khí… cũng lên tiếng nên nhân dân biết nhiều hơn, bàn tán nhiều hơn. Vụ này mà mấy ông cấm khẩu thì có mà … lộ rõ cái bộ mặt bán nước.

Nhân sự việc, người dân (có hiểu biết) thì hỏi nhau, tại sao mấy ông có chức phận lớn chẳng nói năng gì. Cả bốn vị thuộc tứ trụ “lặn mất tăm” hết. Chuyện nước sôi lửa bỏng vậy mà có đến 200 vị TƯ kéo nhau ra Hà Nội bàn chuyện trên trời, vô thưởng vô phạt-chuyện văn hóa. Chẳng thấy một “cái tuyên ngôn” nào ra trò về hành vi của Tàu cả. Rõ là chán mớ đời!

Dần dà thì các vị đó cũng phát biểu. Phát biểu nhưng không ấn tượng và cái diễn đàn cũng chẳng có giá trị gì, chỉ là “phát” ở cái chỗ, mà mấy ông đại cử tri được cử đi họp. (Nói vậy thôi chứ nếu nói cho ra dáng, nói không ngọng nghịu và đừng có vận dụng triết học Mác Lê vào đây, cũng được báo chí lề phải tâng lên ghê lắm đấy). Mà lạ, mình là thằng “đại tá điền” lại cứ lo lo khi nghe các bác “phát”, đặc biệt là bác cả tổng. Sao mà bây giờ mình sợ mấy cái từ “biện chứng, bình tĩnh…” của bác ấy thế. Kỳ này mà bác lại “biện chứng” thì đất nước nguy to, mất vào tay thằng tàu chứ chẳng chơi.

Thật may dịp này có hai cái hội nghị. Một cái nguyên thủ họp ở Miến. Cái thằng cũng đang tìm cách thoát Hán. Cái nữa ở Phi-lip-pin. Thằng này đang cùng cảnh ngộ với ta nhưng nó mạnh mồm mạnh miệng dám lôi thằng to xác kia ra tòa, lại còn vận động Việt Nam mình cùng nhau lôi thằng “bạn” ra tòa nữa chứ. Vậy là may chứ gì. May là có dịp vạch mặt, lên tiếng để thế giới hiểu mình hơn, ủng hộ mình hơn. Còn nếu không, mình đã nói rồi, Việt Nam mình cô đơn trong cuộc chiến này lắm.

Cái may đó được trao cho Thủ tướng. Lão Huy Đức thì nói, đại ý “ bóng ở chân Thủ tướng gần nhất, Thủ tướng dễ làm bàn nhất…” Vậy là Thủ tướng nhà mình “nổ” và mọi người cho là nổ ròn rã, nổ đẹp, đáp ứng được mong đợi của người dân, giải tỏa được phần nào nỗi bức xúc của người dân. Và theo truyền thống, truyền thông nước nhà, báo chí thi nhau phát bài ca ngợi.

Nhưng ai phấn khởi thì cứ phấn khởi, hoan hô thì cứ hoan hô. Tôi có kinh nghiệm đã đặt niềm tin vào Thủ tướng hai năm nay rồi, bây giờ vẫn chờ. Vậy nên, Thủ tướng nổ kêu đấy nhưng nếu như pháo hoa, nổ đẹp rồi lại tắt lịm ngay thì thất vọng lắm. Tôi lại chờ. Miếng ngon nhớ lâu là thế!

Cũng lại nhớ về cái “niềm tin chiến lược” được ông phát lên ở diễn đàn bên Sing nữa. Báo chí lề đảng cũng ồn ào mấy hôm rồi cũng im. Cái niềm tin đó chẳng hiểu đã bao lần được nói với thằng “bạn vàng” rồi và cũng đặt vào nó đến “độ chiến lược” nào rồi không biết. Muốn hỏi các bác, cái niềm tin chiến lược ấy có phải là sự viển vông? Tôi thì tôi cho là cái niềm tin ấy viển vông, rất viển vông. Chúng ta có nhiều cái viển vông lắm, các bác ạ. Mà đã viển vông thì chẳng cái nào để lại dấu ấn cả.

Từ chuyện cái ô-tô cho đến tận bây giờ vẫn chỉ là hàng lắp ráp, thua cả thằng em Căm-pu-chia, tôi nghĩ về cái nước Việt Nam mình đến năm 2020 lọt vào được cái nước hiện đại hóa gì đấy. Ngày đó chắc các bác tứ trụ bây giờ đều còn sống, các bác chắc chắn vẫn còn khỏe. Vậy cái “hiện đại gì đó” có viển vông không? Nếu kể ra thì còn ối. Hay là ta bỏ quách cái mục tiêu trên trời đó đi.

Cứ ngồi mà ngẫm, buồn nhiều lắm. Bởi có “ông giàn khoan” vào trong nhà ta, khiến người Việt ta dám nhìn lại mình. Nó tát cho vêu mặt mà không xem lại tư cách kết bạn thì có mà là thằng điên. Đây là cơ hội tốt như chưa từng bao giờ tốt bằng, từ cái đận bị nó oánh năm 1979 đến nay, chúng ta hãy dám nhìn vào sự thật, dám cởi bỏ mặt nạ đeo tàm tạm hơn ba chục năm, thoát khỏi vòng cương tỏa của bọn Tàu đi, nếu còn quan hệ hữu nghị với chúng nó, cứ bình đẳng mà quan hệ hữu nghị.

Biết là các bác đã nghĩ đến. Làm đến chức to đùng như các bác chắc chắn là đã nghĩ đến những mối nguy hiểm cho đất nước khi tình thế buộc ta phải “thoát Tàu”. Nhưng mất cái này sẽ được cái khác, chắc chắn là các bác sẽ lấy lại được niềm tin ở người dân. Đấy là cái được lớn nhất. Có câu “đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Các bác về với dân, các bác sẽ là những con người khác. Đừng hù dọa dân nữa. Nếu hù dọa dân là các bác sẽ chiến đấu với Tàu khựa trong cô độc đấy.

Nhưng mà, mọi chuyện vẫn cứ như xưa. Hiện bây giờ, người nào có suy nghĩ thông thoáng, có chút ý kiến phê phán, có tư tưởng khác biệt là y như bị xếp vào hàng ngũ các thế lực thù địch và bị chính quyền làm khó đủ điều. Phải thay đổi thể chế đi các bác ạ. Thoát khỏi Tàu khựa là bước đi đầu tiên của sự thay đổi. Tiếp theo các bác học thằng bạn Miến Điện, nới lỏng tự do dân chủ cho dân. Nới lỏng tự do dân chủ tức là phải bỏ độc tài. Bỏ được điều đó chắc các bác chiếm được lòng dân, có chỗ dựa là dân. Dựa vào dân là vững nhất, điều này các bác biết rõ hơn ai hết. Vậy đấy!

 

Vinh Anh-25/5/2014
ảnh internet

 

 

 

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

NẺO ĐỜI (phần 35)

VINH ANH
                                           NẺO ĐỜI
                                                                                                                                                          tiểu thuyết

35. Hà cầm quyển sổ ghi chép của cả mình và Ngọc. Đây là lần thứ bao nhiêu mở ra rồi, rồi lại gấp lại. Một điều gì đó như ân hận, một tiếng nói đâu đó như trách móc, hành hạ Hà. Có phải, chính vì những cuộc tranh luận bất phân thắng bại với Hà đã đẩy Ngọc đi. Có phải cũng giống như Hà, hãy đi xa một thời gian, lấy khoảng cách và nỗi nhớ làm thước đo và thử thách tình yêu. Ở nơi xa, ta có đủ thời gian và cả sự tĩnh tâm để chiêm nghiệm những gì đã xảy ra. Nếu, ôi giá như có được cái nếu, mình khuyên anh ấy đi học, không hiểu cách đó, cũng là đi xa, có giữ nổi tình yêu.

          Mình liệu có quá khắt khe và cứng nhắc với tình yêu của Ngọc? Đấy là câu hỏi cắn rứt Hà nhất. Mình muốn gì ở Ngọc cơ chứ. Tại sao lại đòi hỏi Ngọc nhiều như thế. Liệu anh ấy có cho rằng, chính vì sự xung phong vào tuyến lửa khu bốn của mình là để tăng sức ép với anh ấy không.

          Phải thú thật lòng mình, đã có lúc, mình nhìn thấy sự hẹp hòi của Ngọc. Cách sống ngày đó của Ngọc trong vỏ bọc kỹ quá. Đặc biệt sau khi gặp Ngân trên cùng tuyến đường, mình thấy đường đi của Ngọc sẽ tới chỗ bế tắc. Hai con người từng là bạn rất thân của nhau mà sao khác nhau quá. Có phải, mình thích cái chất khoáng đạt của Ngân và muốn Ngọc cũng có điều đó. Cái nghĩa của “trai thời loạn” trong Ngân rõ nét hơn. Mình muốn Ngọc có chất hiệp sĩ trong dòng máu. Mình không muốn người con trai lại phải tính toán, lo toan đến cái gọi là đồng tiền bát gạo. Con người như vậy, có dựa vào cũng cảm thấy không an tâm. Nó không được gọi là bản lĩnh đàn ông. Trong con mắt Hà, đàn ông phải phôi pha, từng trải. Được dựa vào bờ vái đấy mới thực sự cảm thấy tin tưởng là nơi an toàn và hạnh phúc.

          Nhưng, lại vẫn nhưng, liệu có người con gái nào như mình? Hà vẫn không thoát hỏi suy nghĩ về cái chết của Ngọc có liên quan đến mình. Cô gái trong “Khi đàn sếu bay qua” khác mình. Cô ấy thấy người yêu thông báo lệnh tập trung còn không tin, bởi anh ấy thuộc diện ở lại hậu phương. Vậy mà mình, mình lại khuyên Ngọc đi B trong khi có cả khả năng được chọn đi học. Đi B là vào nơi lửa đạn, có khác nào đẩy anh ấy vào chỗ nguy hiểm? Liệu gia đình anh ấy có oán mình không? Thực ra, mang tiếng là vào tuyến lửa, mình cũng đâu có gặp nhiều hiểm nguy bằng các bạn trên mặt đường. Các bạn ấy đêm nào chẳng đối mặt với bom đạn chết chóc. Mình được ưu ái hơn. Phần là nhà báo, phần khác, cấp lãnh đạo nào đó trên cao vẫn có ý nhắc nhở đơn vị sở tại phải ưu ái mình.

          Không, không phải như vậy. Nếu nghĩ như vậy là đánh giá thấp lòng tự trọng của Ngọc. Có thể một thời gian, Ngọc đã như thế. Có thể nhiều lẽ nữa mà chỉ những người như Ngọc mới biết và hiểu việc làm của mình. Biết và phân biệt được đúng sai trong khi thi hành nhiệm vụ là một điều khó. Dám nói cái điều đúng sai đó với cấp trên ra lệnh lại càng khó. Ngọc ở cái thế như vậy.

          Lúc này, Hà mới nhớ Ngọc còn gửi một túi xách và có dặn hai đứa sẽ cùng đọc khi Ngọc về. Hà vội mở ngăn bàn, lấy cái túi đã được bọc lại trong tờ giấy xi măng.

 

Gần 1h sáng ngày……tháng……năm

 “Phải quyết định một lần để không ân hận. Phải sống thật với mình. Nói những điều mình đang nghĩ về con người, công việc và cuộc chiến. Cần phải có những con người dám nói và hành động. Mình có sợ bị quy kết không? Con đường mà bố đã dọn cho mình tưởng đẹp mà giờ lại gặp trở ngại. “Xin lỗi bố. Bởi hình như chúng ta đang có sự lệch lạc mà ngay từ thời bố, bố đã phải gánh chịu. Con cũng chỉ mới thấy sự lệch lạc ở một số vấn đề về cách đánh giá con người và về công việc thôi, bố ạ”. Tất nhiên, mình cho rằng, với tầm thấp như mình, dù rằng có “đao ta búa lớn” đến đâu, sự vụ vẫn cũng sẽ bị chìm nghỉm trong nhộn nhạo sóng đời thôi. Mình có thể bị xếp vào loại tâm thần, “bệnh nhân phòng số 6” của Sê-khốp. Mình không nói quá những điều có trong cuộc đời mà mình biết đâu…Càng biết nhiều càng phải biết giữ mồm miệng.  

“Thật không dễ nói chút nào những chuyện này, chỉ có thể ngâm trong đầu và may ra, nói được với hai thằng bạn. Cả Hà nữa chứ. Hà đã từng khuyên mình nên đi B. Sao mình vẫn lưỡng lự để rồi bây giờ càng khó. Ai hiểu cái nỗi khó của mình? Mình đúng là đã dấn thân… Không thể nói là dấn thân, từ “dấn thân”không đúng với mình. Mình bị cuộc đời cuốn vào. Mình đã từng ảo tưởng về số phận bởi những bước đi đầu đời có vẻ thành công. Những hăm hở để chứng minh khả năng bản thân, những hăm hở vì sự nghiệp, những hăm hở vì tình yêu… Hình như mình đang chạy theo một cái bóng và vì thế không bào giờ bắt được, cả tình yêu và sự nghiệp có thể đều mất.

“Cái đau nhất mình nhận ra là mình giả dối với chính mình. Không hiểu được những gì Hà nói trước khi Hà vào tuyến lửa. Sai lầm của mình tăng dần theo đà tăng của chính sự thăng tiến. Càng thăng tiến càng sai lầm. Bị lú lóa vì sự thăng tiến, để ngoài tai những lời cảnh báo của người thân.

Không phải hoàn toàn thế. Mình chưa dám đối mặt với sự thật mà chỉ riêng mình biết. Trong mình đúng là có hai con người, ác và thiện. Cái thiện do có bạn bè, những đứa bạn thuở thiếu thời, trong sáng vô tư, và cả đứa em bé bỏng thuần hậu nữa, cả mối tình tưởng lãng mạn mà rất đậm “vị cách mạng thời cuộc” nữa. Chính tình yêu làm mình phải nghĩ nhiều nhất. Em là một cô gái thông minh, hiểu anh hơn hết thảy mọi người. Em đã đọc được chính nỗi niềm cay đắng sâu thẳm trong anh. Con người anh là như vậy. Cái hèn được ngụy trang bằng những ngôn từ cách mạng, mĩ miều. “Có thể nào quan niệm được sức mãnh liệt của tình yêu mà không đem nó vào lửa đạn gay go để thử thách” Em đã nói vậy và anh biết, anh đã sợ, đã hèn. Nỗi sợ và cái hèn được ngụy trang và được ngụy biện khéo léo bằng hàng loạt những lý do bên ngoài. “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”. Cái “xa” ở đây chính là dám hy sinh. Trong khi rất nhiều người như em dấn thân vào khói lửa, đạn bom. Dám đứng xa để nhìn toàn cảnh, thì anh tìm một nơi an nhàn ở hậu phương. Dù em ra đi vì lý do gì, em cũng vẫn là tấm gương với anh.

Hồi nhỏ bọn anh được xem phim “Khi đàn sếu bay qua”. Anh vẫn nhớ người chiến sĩ hồng quân ấy ngã xuống một vùng đầm lầy vì một viên đạn vu vơ. Người Nga tin rằng, linh hồn những người lính ngã xuống trong chiến trận sẽ nhập vào những con sếu. Chiến trường nhiều cái chết rất vu vơ mà ta không hề biết. Anh sợ những cái chết. Sự thật là thế! Con người trong anh không chỉ yếu đuối mà còn hèn kém, bạc nhược.

Em đã làm được điều đó còn anh không dám…

 

“Hôm rồi, nói chuyện với Sen, cô bé của chúng ta đáng yêu và “lớn” quá. Lớn thật đấy Nhân ạ. Tao nghĩ mày đừng để mất một tình yêu đẹp. Mày đừng vì những sĩ diện gàn dở để rồi sẽ lâm vào tình trạng giống tao. Không, tình yêu của mày không giống tao. Chỉ giống nếu như mình cùng để bị mất. Mình biết che dấu nỗi xấu hổ bằng những lập luận mà Sen bảo như nghị quyết. Nhưng chính vì buổi nói chuyện đó, mình dám nhìn vào bản thân mình để tìm lại con người tử tế, con người của những chân chất, thơ ngây, thánh thiện. Hóa ra cũng không đến nỗi khó khi mà mình đã dám và bây giờ mình nói là mình đã có thể bước qua được nỗi sợ vô hình cứ đeo đuổi, ám ảnh đó. Những điều này, chúng mày hãy hiểu cho tao. Khi vượt qua nỗi sợ hãi, con người thấy thanh thoát, nhẹ nhàng. Hơn khi nào, bây giờ tao đang rất thanh thản và có thể đối mặt với chúng mày, với Hà, với Sen mà không xấu hổ…

 

“Mình có thể nói chuyện với Hà như những ngày đầu được không, Hà có chấp nhận không? Anh cám ơn em nhiều vì những gì mà chỉ có em biết và em đã nói thẳng với anh. Nếu em đọc được những dòng này, em sẽ biết, con người anh còn xấu xa hơn nhiều. Anh đã sống rất vòng vo trong sự giả dối như em đã biết. Anh còn là một con người yếu hèn nữa mà em chưa nói. Nhưng anh đã ngẫm kỹ những lời nói xa xôi của em và anh hiểu, Ngân nó phong sương, nó hiệp sĩ, nó lãng tử. Nó có bao nhiêu điều tốt đẹp. Còn anh, anh đã từng tự hào và đã từng nghĩ, số phận may mắn dành cho anh. Bọn Ngân, Nhân không được cái điều may mắn ấy. Ấy vậy mà vì may mắn nối tiếp may mắn, anh đã trở thành một con người giả dối. Anh nghĩ đến bạn anh quá ít, anh nghĩ đến anh quá nhiều. Anh bị hòa tan vào cuộc sống “nửa bình, nửa chiến”. Đất nước thì chiến tranh còn anh sống trong mảnh đất chỉ nghe tiếng còi báo động. Trong hoàn cảnh đó, người ta thấy sợ chết và ham sống lắm. Bởi ham sống nên người ta phải phụ thuộc vào vật chất. Và vì thế, con người nhiều lúc trở nên nhỏ bé không hiểu nổi. Người ta có thể  cãi nhau chí tử vì miếng thịt, con cá và còn nhiều cái nhỏ nhặt hơn nữa cơ. Đọc truyện ngắn “Cổng trời” của em, anh biết Ngân là anh lính công binh đó, Ngân là nhân vật của em. Hình tượng anh hùng và một mối tình chưa thổ lộ. Bom đạn đã cướp đi, đã lấy mất hết. Nhưng tương lai của anh lính ấy còn dài, mùi hương tỏa lan trên cánh rừng và của hoa con gái đồng trinh sẽ theo và chắc luôn là nguồn động viên với anh lính. Cuộc đời vốn công bằng mà. Anh ấy sẽ có mối tình đẹp…

Anh biết, Ngân là một mẫu hình mà em chờ đợi ở anh. Anh không có được điều đó. Anh không đổ cho cuộc đời tự đưa anh đến bến này đâu. Anh biết anh có nhiều khiếm khuyết, mà những điều anh thiếu lại có ở Ngân. Ngân nó lãng du từ bé. Tâm hồn nó thảnh thơi, khoáng đạt hơn anh. Ngân à, không hiểu sao mà tao lại vướng víu trần gian thế không biết. Hà nó phục mày lắm và rất có cảm tình với bạn của người yêu. Cái phong sương và cái hiệp sĩ của mày vẫn vậy, khiến con gái cứ vây quanh… Nếu như… mà thôi, mày tự biết cách xử lý. Chúng mình vẫn mãi là bạn, những chàng ngự lâm của thời đại mới. Đúng không?

 

“Có lẽ người đời không ai tự cho mình là người giả dối. Cái giả dối mà mình thấy xấu hổ chính từ cuộc sống hàng ngày, ở khắp mọi nơi. Công việc cứ thấm dần, thấm dần và  bị dẫn dắt từ từ, từ từ. Con người cứ dần bị phụ thuộc vào nó. Nếu bảo Ngọc giả dối thì những người giả dối như Ngọc không thiếu trên đất nước này. Những im lặng, bàng quan và vô cảm cũng không thiếu. Nhiều điều ai cũng biết là sai nhưng mà lại không ai dám nói. Cải cách ruộng đất năm năm tư là một ví dụ điển hình về sự im lặng gây hậu quả nghiêm trọng. Ngay cả cái “Nhân văn Giai phẩm” cũng có người dân nào biết đúng, sai là gì đâu. Nếu ai nói điều đó ra có thể coi người đó là phần tử chống đối. Có một xã hội nào lại đồng lòng im lặng như vậy?

Hồi Mậu Thân, mình biết ở một nơi, hai nghìn người xuống đồng bằng, chỉ còn ba mươi người trở về*. Người ta vẫn cứ nói đó là chiến thắng. Mình cũng vậy, tin đó là chiến thắng. Buồn cười không? Cười thế nào được mà cười. Đau xót và chua chát làm sao! Ai không về nữa? Nhân dân chứ còn ai vào đấy. Mình biết, nhiều người nữa cũng biết. Vậy mà tất cả vẫn cứ ca đó là bài ca chiến thắng. Đồng lòng, đồng tâm phải không? Cứ tưởng sự đồng lòng chỉ có thể xảy ra khi đất nước bị họa xâm lăng. Chỉ tình yêu đất nước  mới kết gắn được mọi người thành một khối… Hóa ra, đây là đồng lòng vì một nỗi sợ hãi vô hình. Vô hình nhưng lúc nào cũng ở bên ta.

Nhưng chiến tranh không thể kéo dài. Mình thấy điều mong mỏi đó trong mọi tầng lớp xã hội, ở cả những người dân và cả những người lính. Kể cả cuộc kháng chiến chống pháp, chiến tranh kéo dài đã gần ba chục năm. Hàng triệu người, cả hai phía, đã ngã xuống vì đất nước này. Những ngày gần đây, khi cuộc họp bốn bên ở Pa-ri mở ra, người ta hy vọng, chờ đợi một hiệp định đình chiến được ký kết. Trên mọi ngả đường, hễ ai có chiếc đài bán dẫn đều nghe đài BBC. Và tin tức được truyền lan. Dẫu có lệnh cấm nghe đài địch đấy, nhưng không cấm nổi. Từ người lính đang đánh nhau ngoài mặt trận đến ông già cắt tóc ở thủ đô, đều nói về hiệp định sẽ ký. Điều đó chứng tỏ sự mệt mỏi trong toàn dân. Nếu cuộc chiến còn tiếp tục thì không hiểu sự việc sẽ dẫn đến đâu. Cái “quyết tâm” mà chúng ta luôn cố gắng động viên và tuyên truyền kia sẽ không còn tác dụng.

Mình biết và mình không nói. Vậy là mình trở thành người giả dối. Nói những điều như sáo, như vẹt, như là nghị quyết. Sen nó bảo vậy.

 
ảnh internet
                                               

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

VẬN NƯỚC ĐÃ ĐẾN CHƯA?


Vận nước đã đến chưa?

và thất bại của phe nhân dân

 

Lâu lắm mới lại nghe câu hát đó. Quả thật hầu như đã quên nay chợt nghe và thấy kí ức một thời máu lửa sôi nổi nhưng u mê, mù quáng để bây giờ chán ngấy.  

Vận nước đã đến chưa?… Hiện trạng hôm nay đập vào mắt.

Ngày hôm ấy (11/5), mình cảm tưởng vận nước như cũng đã đến. Nhưng lại thấy không thuận tai so với những suy nghĩ của mình gần đây bởi vì có những ca từ “diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước” rồi thì “ôi xương tan, máu rơi, lòng hận thù ngất trời…” nghe thấy hãi hùng với những hận thù, chém giết. Một thời tuổi trẻ của mình đã được bao bọc sống trong ý thức như thế.

Nhưng đang sống ở thế kỉ 21, thấy âu lo cho lối suy nghĩ man rợ, mông muội và phi nhân tính.

Cái sự chém giết lẫn nhau, dù là người không cùng sắc tộc, dù là cái tộc người đó cũng đã từng không nương tay chém giết dân mình, vẫn thấy có điều canh cánh, cấn cái.

Có thể lối sống văn minh không phải chỉ ở những tiện nghi hiện đại trong cuộc sống, mà trước, hết phải từ trái tim nhân hậu trong mỗi con người.

Một nhà nước tồn tại trên bạo quyền chắc chắn không phải là một nhà nước mà người dân có trái tim nhân hậu. Một nhà nước dùng sức mạnh cảnh sát để đàn áp những người dân yêu chuộng tự do chắc chắn cũng không phải là một nhà nước nhân hậu.

Có sống trong những ngày chiến tranh bom đạn kề bên cái chết, chúng ta mới thấy yêu những ngày hòa bình. Có sống trong sự hiểu biết đa dạng, ta mới thấy yêu quý sự tự do.

Một khi những kẻ cầm quyền còn không bị ràng buộc trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân, đất nước đó còn tồn tại những kẻ độc tài tham lam. Một thể chế độc tài còn khiến cho đất nước không chỉ sản sinh ra những kẻ u mê, tham lam, ác độc mà còn tạo ra những hận thù tàn bạo.

Tại sao yêu nước chống Tàu là một sự nguy hiểm ở nước ta. Yêu nước cần phải “không được trái pháp luật”. Điều kiện lạ lùng áp đặt cho người yêu nước! Tại sao yêu nước ngay trong nội tại đất nước mình mà phải nơm nớp bị bỏ tù và nơm nớp sợ hãi bị khủng bố bất cứ lúc nào.

                                                                   ******

Đất nước này phải dạy lại cho tất cả mọi người lòng nhân ái, vị tha. Không trừ một ai. Không một ai được đứng ra ngoài bài học về lòng nhân ái. Không một ai có quyền ban phát tình thương mà chỉ có thể chia sẻ tình thương. Hãy hiểu ban phát chính là sự bố thí! Tình thương không bao giờ là sự bố thí vì nó luôn xuất phát từ trái tim. Vì vậy đừng nhân danh cá nhân, dùng đồng tiền của nhân dân đem úy lạo chỗ này chỗ khác. Nếu nhân danh cá nhân hãy tự rút những đồng tiền trong túi của mình. Đừng lấy “của người phúc ta”. Phải tội đấy!

Khi mọi người hiểu được nghĩa sâu xa của lòng nhân ái sẽ không còn những hình ảnh xấu của các thầy giáo, các thầy lang. Khi mọi người hiểu nghĩa đồng bào sẽ không còn có cảnh cả làng nhận tội đánh kẻ trộm chó nữa.

Đất nước này phải dạy cho con người biết đứng thẳng, không quỳ gối, biết trọng nhân cách, biết yêu tự do. Hãy giáo dục lòng yêu nước, yêu Tổ quốc từ ngày đứa trẻ mới tập nói. “Tổ quốc và Mẹ” phải là hai từ nhập tâm, gắn liền cả cuộc đời. Có như vậy khi lớn nên, nó mới không bán Tổ quốc cũng như nó không bao giờ bán Mẹ của nó. Con người cũng phải hiểu tự do cần thiết như không khí để thở. Chúng ta đã nói nhiều về tự do nhưng thực sự vẫn chưa hiểu đầy đủ cái nghĩa của tự do của con người.

Đất nước này phải dạy cho người dân hiểu, yêu nước và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng và không bao giờ có tội. Đó là công việc phải được chăm lo và giáo dục từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác. Cần phải nuôi dưỡng tinh thần để nhân dân không khuất phục, không hèn kém trước bạo quyền, bất công và điều ác. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa phân biệt được bạn và thù nên họa mất nước vẫn còn rõ ràng trước mắt.

Chúng ta đang sống trong thời kì mà đạo đức con người sa sút, lối sống thực dụng, lương tâm con người là hàng xa xỉ. Nền văn hóa dân tộc bị coi là mất phương hướng, thoái hóa, xuống cấp trầm trọng.

 

Vì vậy vận nước còn chưa đến và nhân dân còn thất bại!

 

Vinh Anh

21/5/2014

 

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

MỘT HÀ NỘI NHỤC NHÃ (ngẫm)


Một Hà Nội hèn hạ, nhục nhã

Đọc Fac. của một bạn, thấy đau nhói. Cứ ngỡ bạn ấy chửi đâu đó mà hóa ra đang chửi mình. Thật vậy, thấy nhục lắm.

Sáng nay (18/5), chẳng hiểu chấp hành lệnh ai, lệnh Nguyễn Thế Thảo hay lệnh bên Tàu mà trước cửa đại sự Tàu đặc vụ chìm nổi đông thế. Chưa lần biểu tình nào mình thấy đông như hôm nay.

Số người tham gia biểu tình có đến hai trăm không? Chắc chỉ đến thế là cùng. Số bên kia là bao nhiêu, người thuộc phe Nguyễn Thế Thảo hãy trả lời. Các ông dùng tiền thuế của dân đóng góp vào một việc quá ư viển vông. Mong các ông tìm ra một thằng Việt Tân hay thằng “thế lực thù địch ” hay thằng  “biểu tình trái pháp luật” gì đó cho nhân dân biết. Trộm nghĩ, chuyện này mà có, các ông lại chẳng làm ầm ĩ ngay lên. Vẫn còn nhớ vụ Trần Gia Thái dựng chuyện người biểu tình chia nhau tiền không thành Tôi nhắc lại chuyện đó và nhắc món nợ với người Hà Nội đấy.

 

Vậy mà thấy nhục. Thốt ra một câu với ông bạn: “Phe nhân dân hôm nay “thất bại” rồi”. Tất cả những ai muốn biểu tình chỉ nhìn ngó nhau. Những biểu tình viên có “số má” đều bị chặn hết. Không có người phất cờ, mọi người cứ đứng tránh nắng nơi gốc cây hoặc ven tường và dần dần bị dồn về Trần Phú. Ngẫm, chẳng công việc nào không cần người lãnh đạo, người dám xả thân.

Nóng ngột ngạt. Mồ hôi ướt hết áo. Ức quá quên mệt.

Nhưng thấy làm phận dân ngày hôm nay bị nhục lắm. Bị người của “phe mình” làm nhục. Bị làm nhục mà không thấy một tiếng ho he, chỉ thấy đâu đó, túm tụm đôi chỗ, những ông già đầu bạc đứng lại bên mấy chú cảnh sát cảnh phục đàng hoàng nói chuyện. Đôi lúc thấy cái cười mỉa mai và giọng hơi gay gắt. Vậy thôi. Cách phản ứng cũng rất cam chịu chấp nhận thất bại.

Tôi cảm thấy cái nhục của sự hèn trong tôi. Tôi không dám là người đầu tiên giương cao khẩu hiệu “Đả đảo bọn Tàu xâm lược”

 

Khoảng 10h, thấy ba bốn thằng dáng côn đồ chạy huỳnh huỵch sang đường bắt một thanh niên đi biểu tình chống Tàu xâm lược. Chúng kéo sềnh sệch cậu ta về phía đầu Cửa Nam (nơi cũng đã chăng giây hết hè đường để lực lượng này làm việc và tống lên tắc-xi, hai thằng ngồi hai bên. Thương cho cậu thanh niên, chắc lại nhừ đòn với chúng. Mong sao ngày mai đừng có thông báo một nam thanh niên chết vì treo cổ trong đồn công an nào đó). Việc cậu thanh niên làm theo mình là đúng. Vậy mà bị bắt như thằng ăn cắp. Ai nhục trong vụ này, Hà Nội ơi! Thành phố Hòa bình ơi!

Đất nước này người ta đang hành động kiểu gì? Mình nghĩ tới những bộ phim ngày bé được xem nói về bọn phát xít Giet-ta-pô. (Hà Nội hôm nay cũng tràn đầy mật vụ và cảnh sát cùng vô số những ông bà mặc quân phục ngày xưa, nét mặt cũng ngày xưa và đeo thêm cái băng đỏ nữa). Cảnh bắt bớ không lí do diễn ra trước sự hèn nhát, câm lặng của mọi người dân.

Tôi thấy đau đớn và nhục nhã quá! Hà Nội của tôi có thấy nhục không?

 

Một thằng “bạn”, vào nhà ta, tát ta vỡ mặt. Ấy vậy mà cứ cái lí nhún nhường, bình tĩnh… Và giờ đây sợ dân lại đẻ ra cái chuyện “không đi biểu tình trái pháp luật”. Chăng giây dàn quân, chặn mọi ngả đường, không chịu ban hành luật mà nói dân biểu tình trái pháp luật thì đúng là chỉ có ở “miệng quan”. Giữa trung tâm thủ đô, rải đầy mọi ngóc ngách là các lực lượng chức năng phản biểu tình, các ông lãnh đạo Hà Nội vui vì chỉ thị của mình được thực thi. Còn tôi, tôi thấy nhục cho Hà Nội của tôi lắm. Tôi thấy mỗi chúng tôi đều bị sỉ nhục. Đâu là quyền được thể hiện lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của người dân. Tôi cũng thấy nhục vì Hà Nội đã chọn ra những người như các ông.

 

Hà Nội nơi tập trung các trường đại học lớn nhất nước và đương nhiên là nới tập trung nhiều trí thức nhất. Vậy mà suốt bao năm, ít thấy các vị trí thức xuống đường cùng dân chúng và tuổi trẻ quá. Các vị đều đáng bậc thầy của tuổi trẻ, là những người hiểu biết. Một hành động của các vị sẽ khuyến khích thêm biết bao người khác, đặc biệt là các bạn trẻ, lớp người cần nhất cho cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Có câu “biết mà không nói cũng là tội ác” đấy các vị trí thức ạ.

Cái Hà Nội trung tâm văn hóa ấy có thấy nhục không? Các vị trí thức Hà Nội có thấy nhục không?

Tôi đau đớn vì nỗi nhục Hà Nội của tôi!

 

Vinh Anh-19/5/2014

 

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

SUY NGHĨ VỀ BIỂU TÌNH NGÀY 11/5


Suy nghĩ về các cuộc biểu tình ngày 11-5-2014
 
 

 

 

Hình như có một sự hài lòng, một sự thỏa mãn khi thấy các lực lượng vốn luôn chống lại các cuộc biểu tình chống sự xâm chiếm, gây hấn trên Biển Đông của TQ(sau này gọi là chống TQ) trước đây, nay bỗng dưng quay lại như thể hòa hoãn với người dân đi biểu tình chống TQ. Tôi cảm nhận được những điều mà phe nhân dân hân hoan. Với tôi, những điều đó còn sớm.

Trong cái không khí hân hoan đó (gọi là hân hoan vì thấy được những cuộc biểu tình chống Tàu trước đây của tôi và các bạn cùng chí hướng đã được chứng minh là đúng) tôi lại suy nghĩ và muốn đặt câu hỏi: đất nước chúng ta sẽ đi về đâu?

Vậy những suy nghĩ của tôi là gì?

 

1.Về vị thế của Việt Nam và những người lãnh đạo đất nước.

 Với tôi, dù các vị có những ràng buộc lẫn nhau bởi cái nguyên tắc lãnh đạo tập thể, nhưng qua sự việc Tàu khựa đặt giàn khoan, về TÂM các vị không xứng đáng là những người lãnh đạo. Sự bức xúc trong nhân dân là quá rõ. Nhưng ngay trong thời gian đó, các vị tụ tập về Hà Nội, ngồi phòng lạnh lại để bàn về một vấn đề tại thời điểm này là rất trên trời: bàn về văn hóa. Nhân dân dài cổ trông chờ các vị nói lấy một câu phản đối TQ, cổ súy lòng yêu nước, các vị im lặng hết.

Về sự phản ứng linh hoạt, những người theo CNXH phải học rất nhiều những người lãnh đạo thuộc phe TB. Điều này cũng thể hiện rõ, cái TẦM NHÌN, đánh giá sự việc của các vị thấp, rất thấp. Và qua đây, có thể chắc chắn nói như đinh đóng cột, các vị không do nhân dân bầu lên, các vị được bầu bởi phe nhóm vì các vị không bức xúc nỗi bức xúc của nhân dân, lo lắng, quan tâm mối lo lắng, quan tâm của nhân dân. Những gì mà trong hệ thống lí luận của CNXH đặt nhân dân là đối tượng phục vụ chỉ là giả tạo, các vị luôn coi nhân dân là những con tốt, những kẻ thừa hành, đối tượng chỉ biết vâng lời, các vị muốn nói thế nào cũng được, dân đen đều phải nghe và không có quyền nói lại.

- Những người lãnh đạo bị động trước động thái của TQ , không có sự chuẩn bị các phương án đối phó với tình huống xâm lấn trên biển như đang xảy ra.

- Các nhà lãnh đạo bị động cách ứng xử với nhân dân khi tình huống xâm lược của giặc Tàu xảy ra thể hiện ở tp Hồ Chí Minh, lãnh đạo thành phố không dám tiếp xúc với đại diện lực lượng biểu tình trí thức đến xin phép và do vậy càng không có phương sách đối phó với lực lượng biểu tình nhân dân mà trước đây họ vẫn cho là thế lực thù địch hoặc tụ tập tự phát.

- Phe thân Tàu hoặc bảo thủ trong giới lãnh đạo hiện mạnh hơn lực lượng muốn cải cách thể chế, chống lại ảnh hưởng của Tàu khựa. Điều này thể hiện trong ngày biểu tình, lực lượng phản đối biểu tình nhân dân đã cướp diễn đàn của biểu tình trí thức tại nhà hát thành phố Sài Gòn, cũng lực lượng này trà trộn vào lực lượng biểu tình nhân dân, có hành động phá đám, đưa ra các khẩu hiệu tin tưởng chế độ.(mang cờ búa liềm và một số khẩu hiệu, bài hát mà lực lượng biểu tình nhân dân không bao giờ dùng hoặc hát

 - Với thế giới, nước Việt Nam ta gần như cô độc trong cuộc đấu tranh với Tàu.

Thể hiện rất rõ ở tuyên bố cấp cao của tổng thống, chủ nhà Miến Điện không tỏ thái độ phê phán hay lên án hành động xâm phạm biển Đông của TQ. (Trong tuyên truyền, đài truyền hình VTV1 đã phải lấy đi lấy lại hình ảnh của nước Mỹ.) Điều này chứng tỏ nhiều hành động của chính phủ VN trước đây không được bạn bè trên thế giới ủng hộ và có thể, họ quan niệm cách đối xử với bạn bè của VN không thật lòng.

Cả ở người phát ngôn LHQ trong ngày đầu tiên khi phóng viên VTV phỏng vấn, hỏi về thái độ của LHQ về việc giàn khoan khủng HD-981 hạ đặt vào vùng EEZ của VN, ông này trả lời rất chung chung, vô thưởng vô phạt, nhạt nhẽo.

Những điều đó chứng tỏ VN rất cô đơn trong trận chiến với TQ. Chúng ta không có bạn! Những người bạn chí cốt dám sẻ chia khổ đau và là chỗ dựa tin cậy của nhau. (Nói về niềm tin chiến lược e xa xôi quá) Những nước XHCN cùng tư tưởng mà VN vẫn nhắc tới đã đi đâu mất cả. Cả những người anh em Cu Ba chung một chiến hào hay vọng gác gì đó, môi răng Việt-Lào cũng biệt vô âm tín

 

2. Với các lực lượng từ trước đến nay vẫn đi đầu trong phong trào chống TQ.

Chúng ta có nhiều lực lượng nhưng chưa “bầu, chọn” được một thủ lĩnh để tập hợp đội ngũ. Có thể trong lực lượng này,( thời điểm này chưa bộc lộ) chưa thật coi (tìm được) ở những bạn bè, đồng đội của mình có những người có phẩm chất tốt hơn mình, xứng đáng hơn mình(về phân tích, nhận định đúng đắn tình hình; sự khéo léo, mềm dẻo trong đấu tranh; sự sâu sắc, có nhiều ý tưởng trong suy nghĩ và các bài viết; sự dũng cảm khi đối mặt với lực lượng chuyên bắt bớ, đàn áp. Gần đây tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã đề xuất bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Tôi cho rằng nếu không có một cuộc trao đổi rõ ràng, không thể tìm ra được con người đó và cũng không làm tăng sức mạnh của lực lượng biểu tình nhân dân thậm chí còn làm suy yếu lực lượng và hình ảnh của phe biểu tình nhân dân. Cũng không thể nói trong hàng ngũ những người dám dấn thân xuống đường thời gian qua, không có những cá nhân bị tư tưởng địa vị, danh tiếng trên dưới, tạo ảnh hưởng tên tuổi cá nhân, hoặc địa phương chi phối).

 Điều này đã được chứng tỏ sự phân hóa lực lượng ngay trước khi biểu tình vì những ý kiến khác nhau xung quanh cách tỏ thái độ với chính quyền về mục tiêu của cuộc biểu tình. Những người như Nguyễn Đan Quế từ lâu không có dịp tỏ rõ chính kiến hoặc chính kiến của ông không được lan tỏa trong giới biểu tình nhân dân. Thậm chí những trí thức vốn vẫn thường xuyên có chính kiến và nói chung được tín nhiệm trong giới biểu tình nhân dân thì kỳ này vẫn bị một lực lượng biểu tình nhân dân khác phản đối bởi cách thể hiện thái độ xin phép chính quyền cho biểu tình. Một lực lượng khác lại không đồng ý vì cách đi biểu tình vì có thể bị chính quyền lợi dụng hình ảnh lòng yêu nước của một bộ phận biểu tình nhân dân, lấy hình ảnh của lực lượng này, hòng làm thay đổi bộ mặt xấu xa, hèn yếu vốn mang tính thuần phục TQ.

3. Thời cơ để VN thay đổi.

Đây sẽ là một cuộc thay đổi toàn diện. Đó là sự thay đổi: thể chế chính trị, tự do dân chủ, thoát khỏi ảnh hưởng giáo điều để đi với xu thế phát triển của thời đại và đặc biệt cần thoát khỏi sự kiềm tỏa của TQ.

Giờ đây, mong muốn một sự thay đổi ôn hòa như Miến Điện chắc sẽ rất khó khăn. Vì sao? Vì TQ đã tạo ra một vết thương trong lòng người dân và trong đất nước này. Khi mà TQ đã bỏ ra cả tỉ đô chế tạo giàn khoan nước sâu, đưa đến vùng EEZ của ta, thì TQ không thể rút nó đi trong vòng sớm nhất là 3 tháng như họ đã tuyên bố. Đó là sĩ diện của nước lớn mà cái nước đó vẫn đang áp chế ta.

Với cơ chế hiện nay, người VN đừng mong sự đổi mới từ những 200 vị TƯ và 500 vị đại biểu QH. Tới thời điểm này, những con người đó không có quyền nói “họ làm việc, chiến đấu là vì nhân dân” được nữa. Cái họ lo lắng nhất chính là quyền lợi của bản thân, gia tộc và những kẻ cùng hội cùng thuyền, cùng vây cánh. Cái hội nghị TW đáng lí ra phải có lời tuyên bố mạnh mẽ về chủ quyền đất nước thì lại tập trung lại chỉ nghe những lời nói về cái vấn đề văn hóa. Không ai dám nói văn hóa không quan trọng nhưng lúc này phải đặt cái chủ quyền quốc gia lên trên hết.

Câu trả lời nằm ở một số ít những người có lương tâm, có cách nhìn mới trong chính quyền và có vai vế trong lãnh đạo và họ phải kết hợp với những con người thế hệ mới, thế hệ f, dám có một tư duy mới thay thế cái đã lỗi thời vẫn đè đầu chúng ta.

Những hi vọng đó chắc xa vời lắm.

Cái mà tôi hi vọng có thể dễ đạt được sau vụ “giàn khoan” này là nhận thức của cái đa số xưa nay vẫn im lặng chờ thời sẽ có những phản ứng tích cực hơn nữa. Điều đáng buồn lại là đại đa số các vị là trí thức, công chức Nhà nước hoặc nhân viên làm việc cho các công ty nước ngoài, những người vẫn cho rằng mình là người hiểu biết hơn nhiều người khác, lại im lặng quá lâu và không biết đến khi nào. Có câu “Hiểu biết mà im lặng thì là tội ác” đấy, các vị nhớ cho. Vậy thì giờ đây các vị đang có điều kiện thể hiện cái “tâm” của mình với đất nước đấy.

Phải cần một số đông áp đảo mới có thể làm thay đổi tư duy của những người đang nắm quyền hành, mới có thể có những đột phá về tư tưởng để khai thông con đường thay đổi thể chế đất nước. Những người xưa nay im lặng, nếu chuyển mình, sẽ tạo được số đông đó.

Tôi cho rằng không thể chờ đợi ở các vị có nhiệm kỳ dang dở này. Chỉ có những con người mới, mới có thể đẻ ra những tư tưởng mới, mới có thể đi đến con đường hòa hợp cho mọi người dân Việt trong xã hội ta. Lúc đó mới có thể nói tới sự đồng lòng nhất trí của toàn dân chống kẻ thù.

Nếu không tìm ra con đường đi đến sự nhất trí, đồng lòng đó thì đừng nói gì đến đánh Tàu lúc này.

Vinh Anh                                                               

         15/5/2014

 

 

 

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

CƯ DÂN CỦA THÀNH PHỐ (t. ngắn)


VINH ANH

 

Cư dân của thành phố

Truyện ngắn


 

Họ gồm hai cặp bốn người, quê hương bản quán nghe đâu cũng gần Hà Nội. Với lại thời buổi ngày nay, gần là đi mất độ vài ba tiếng bằng ô-tô. Đường xá bây giờ tốt lắm, với thời gian đó là có thể vượt qua quãng đường dài trên dưới trăm cây số ngon ơ. Vậy thì họ là người ở các vùng quê lân cận như Hưng Yên, Nam Định hay Thanh Hóa gì đó mà thôi. Cái ngày họ mới về ở, dân có hộ khẩu thường trú gọi họ là những người làm thuê, những mụ đồng nát, những thằng xe ôm, nhưng dần dần thấy họ lễ phép, đúng mực thì sự nghi kị cũng không còn nữa, khách khứa trong khu tập thể cũng có người ra kẻ vào. Tuy vậy, họ vẫn có những mặc cảm về thân phận của mình. Tôi cảm thấy thế vì tôi đã trực tiếp mời họ nhiều lần vào nhà tôi ngồi chơi, uống với nhau cốc nước nhưng họ cứ tìm cách từ chối, việc đó làm cho tôi cứ áy náy, canh cánh thế nào ấy.

          Cái nhà mà họ thuê được với cái giá rất bèo bọt đâu như một nghìn đồng một tối,  vị chi bốn người, đôi khi có cả những người khác ở quê lên chơi cũng ăn ngủ luôn tại đó, vậy mà ông chủ nhà chỉ lấy họ có hai trăm nghìn đông tiền thuê nhà mà thôi. Của đáng tội gọi là nhà cũng là gọi cho oai, chứ cái chỗ trú ngụ của họ xập xệ lắm, mái che thì đủ cả tranh, tre, nứa, lá, giấy dầu, mảnh ván, cót ép vv…vv Nhưng mà đã là chỗ ăn, chỗ ở thì phải gọi là nhà vì nó cũng còn có khóa, có cửa. Sau này vì nó có nguy cơ đổ, ông bà chủ có cho sửa chữa lại toàn bộ cái mái, xây lại bức tường “con kiến”mà theo thời gian nó bị lún sụt hở huếch, hở ho
ác dễ đút lọt cả nắm tay vào bên trong, nếu là trộm thì cứ việc đứng bên ngoài tường thò tay mà khuấy, chẳng việc gì phải bẻ khóa vào trong nhà làm gì cho mất công. Ông bà chủ lại còn cho một tạ xi măng để lát tráng nền nữa, thành thử chỗ ở đó là một nơi trú ngụ quí giá với những cư dân mới của thành phố.


          Nói thật lòng, tôi cũng là người không hay thành kiến, nhưng mấy bà chè chai lông vịt cứ toòng teng đôi thúng lượn khắp hang cùng, ngõ hẻm, sơ ý một tí, cổng nhà không khóa là có thể bị mất trộm như chơi, tuy rằng trộm bây giờ chả hiếm và cũng rất nhiều thành phần tham gia. Chẳng phải vì thế hay không mà thời kì đầu, tôi không để ý đến họ, càng không biết tên tuổi của họ, thì còn nói gì đến quan tâm cuộc sống của họ nữa. Tôi cứ coi tôi là công dân loại một, còn họ là hạng loại hai, loại ba gì đó. Bản tính con người vốn xấu xa là thế, chỉ thích mình ở vị trí cao hơn người khác nhưng mà  không bao giờ dám tự nhận mình có thói tật xấu xa đâu. Tôi cũng vậy, tôi luôn tưởng tôi là người tốt, tốt nhất trong những người tốt là đằng khác. Mỉa mai làm sao khi chúng ta phân hạng con người chỉ qua cuộc sống kinh tế của họ chứ không qua cái tâm, cái lòng của họ.

          Hai người đàn ông ở chung với hai người đàn bà, họ sàn sàn tuổi nhau, cỡ chỉ trên dưới bốn mươi một chút. Chẳng bao giờ thấy họ to tiếng. Hình như ngay cả lời ăn, tiếng nói của họ cũng dè sẻn, cũng bị một cái gì vô hình ngăn trở. Tôi tuyệt nhiên chưa bao giờ nghe thấy một lời to tiếng của họ với nhau. Nhưng có phải vì cuộc sống vất vả nên những tiếng cười của họ tôi cũng không nghe thấy. Mỗi buổi chiều, sau khi đi làm về, đứng trên ban công tầng hai nhà tôi nhìn về phía nhà họ ở, tôi chẳng thấy cái gì động đậy hết, nghĩa là họ vẫn đang ở đâu đó. Tôi thì làm công ăn lương nhà nước, một cuộc sống ổn định, còn họ thì đang bươn trải trong cuộc đời. Tôi thầm nghĩ, hai người đàn bà chắc đang ngồi đập đập một thứ gì đó của một chi tiết máy hoen gỉ để lấy ra một vài sợi giây đồng hay mấy lạng sắt gỉ, cũng có thể là đang đập mấy cái vỏ lon bia hay đang cân mấy cân báo cũ cho cơ sở thu gom. Còn hai người đàn ông chắc là đang chờ khách. Giờ này đang buổi tan tầm, họ còn vẫn đang đón khách, hi vọng đi thêm một chuyến. Chắc khi tôi ăn cơm tối xong, ung dung bật ti vi xem chương trình thời sự, theo dõi tình hình thế giới, nghe ngóng các phản ứng của mọi nơi về cuộc chiến ở I Rắc, thì họ mới về đến nhà. Lúc đó, loại công chức như tôi mấy ai ra khỏi nhà nữa. Tôi sửa soạn đi ngủ thì chắc họ mới ăn cơm. Sinh hoạt khác thường như vậy thì có muốn kết bạn với nhau cũng khó. Đôi khi mụ vợ tôi nói chuyện đó, tôi lại vận dụng cái khác biệt về thời gian để lí sự với hắn. Chẳng hiểu mụ có thủng không, nhưng mà mụ ta quay đi. Tôi cũng vậy, chẳng việc gì mà phải để ý đến những cái điều chẳng bao giờ liên quan đến mình.

          Sau này, có lẽ phải cỡ một năm có dư ở gần nhau, tôi mới biết trong hai cặp ấy có một cặp thật và một cặp giả. Cái cặp thật thì tự nhiên hơn, cái cặp giả thì ý tứ hơn. Nhưng mà với cái thời mở cửa ngày nay, việc đạo đức gia đình trước đây người ta đề cao bao nhiêu, quan trọng hóa bao nhiêu thì ngày nay người ta lại bỏ qua, coi thường bấy nhiêu. Nếu nói chặt chẽ thì cũng chẳng ai coi thường hết, chẳng ai dám nói coi thường là đằng khác, nhưng bản chất là coi nhẹ hơn, xem thường hơn. Không dám lên án, không dám đấu tranh thì có nghĩa là coi thường, là xem nhẹ chứ còn gì nữa. Mình mà có đụng vào chỗ đó của một cá nhân nào đó là coi chừng, nó không bảo mình hâm, không thức thời, cổ hủ thì nó cũng bảo mình đừng xâm phạm đến tự do của nó, nó tự chịu trách nhiệm với cái hạnh phúc của nó, với cái gia đình của nó, không khiến mình can thiệp, đừng có xía vô cái riêng của người ta. Chẳng đâu như đất nước mình khi thì quá chặt chẽ, nghiêm khắc, lúc thì lỏng lẻo, lỏng lẻo đến vô nguyên tắc. Và cuối cùng thì đổ cho cuộc sống mới, nghĩa là thời mới phải có tư duy mới. Mình cũng tự chấp nhận mình là người cũ, cổ hủ, lỗi thời. Bọn trẻ bây giờ nó nói về mình theo kiểu Tây: “quá đát”. Ai hiểu thế nào cũng được. Còn bây giờ thì tình hình có khi đã đi quá xa, quá mấy cây số thì cũng không biết. Chẳng hiểu các nhà nghiên cứu về xã hội có muốn quay về cái nếp sống, nếp nghĩ ngày xưa không?

 Hai cặp ở gần nhà tôi thì cũng mỗi cặp mỗi vẻ. Tất nhiên rồi. Một cặp chính thức, một cặp do hoàn cảnh sống tạo nên. Họ đều là lớp cư dân mới của thành phố, lớp cư dân này chấp nhận sống tạm bợ hơn lớp cư dân vì cuộc mưu sinh phải trôi dạt về thành phố. Lớp cư dân này có công ăn, việc làm và nhà cửa tương đối ổn định, tuy rằng về mặt pháp lí và chính quyền thì còn nhiều vấn đề phải nói mà đã đụng vào vấn đề này thì còn lâu mới giải quyết được. Cứ xem cái cung cách cải cách hành chính  thì biết, cả chục năm nay hô hào cải cách, vậy mà cả chục năm qua tiến bộ được bao nhiêu, qui ra con số cụ thể để dễ hình dung là công cuộc đó đã tiến thêm được bao nhiêu cây số. Tôi cho rằng chẳng ai có thể trả lời được mặc dù họ đã làm công việc đó cả chục năm. Còn hai cặp cư dân chỗ tôi ở thì tôi nói là tạm bợ. Nghĩa là họ chỉ sống tạm ở đây mà thôi, cơ sở chính của họ vẫn là làng quê, nhưng ở quê không đủ sống nên họ phải tìm cách sống và thế là những cuộc “di trú” mới hình thành.

Những ngày cuối tuần, công chức như tôi được nghỉ. Thời kì đầu áp dụng chế độ nghỉ hai ngày cuối tuần, khối ông công chức làm công ăn lương như tôi không biết chi sao cho hết thời gian. Ơ nhà với bà vợ lắm điều là một cực hình, chỉ mong có một cú điện thoại của bạn gọi đến, gọi đi bù khú, nhưng lại phải nói dối bà vợ lắm điều là có việc trên cơ quan. Cái trò đó diễn mãi rồi cũng bị lộ, các mụ vợ lắm điều sẽ tinh khôn hơn, cáo già hơn. Tôi cũng ở trong cái dạng bị bắt ne, bắt nét đó. Rỗi hơi, tôi ra ban công ngắm trời, ngắm đất và quan sát hai cặp cư dân mới của khu nhà. Đầu tiên tôi thấy hai người đàn bà bước ra. Họ đi cùng nhau với vẻ an nhàn chứ không vội vã như bà vợ tôi, sấp ngửa dắt được cái xe ra là nổ máy đi liền. Hai đôi quang gánh nhẹ tênh lắc lư trên vai. Nào họ có đi ngay đâu, hai bà lại đặt cái đòn gánh xuống đất, gần chỗ hai chiếc xe máy của hai ông đã được dắt ra từ trước, ngồi xuống và tiếp tục câu chuyện nào đó dang dở ở trong nhà. Đàn bà ở đâu cũng vậy, thật lắm chuyện! Một lúc lâu sau, khi hai ông đi ra, hai bà mới nhẩn nha đứng dậy, toòng teng đôi quang gánh trên vai và đi…Tôi nhìn theo cho đến khi bóng họ khuất hẳn vào phố phường bụi bặm. Quay lại tìm hai người đàn ông thì họ đã biến đâu mất từ tám đời nào rồi. Thế là hết một buổi sáng theo dõi hành tung của các cư dân mới của khu tôi ở, của thành phố chúng ta.
Tôi quyết chí, bụng thầm nghĩ, phải xem chiều nay họ về lúc nào, ăn uống ra sao.Nghĩa là tìm hiểu cuộc sống của họ. Hãy còn sớm. Tôi sang nhà ông chủ cho họ thuê nhà ngồi chơi. Cũng chẳng mấy khó khăn, tôi được vợ chồng ông cho biết hoàn cảnh của họ.Cặp chính thức thì có một mẹ già và ba đứa con đều đang tuổi ăn học. Đứa lớn đang học lớp chín, năm nay phải thi chuyển cấp, một đứa lớp sáu, một đứa lớp bốn Bây giờ bố mẹ dạt ra thành phố kiếm tiền để nuôi chúng ăn học, chúng nó phải ở nhà trông nom nhau, cũng may còn có bà mẹ già cầm chịch. Dù sao bà của chúng vẫn là một chỗ dựa. Khi là một lời nhắc nhủ, một lời khuyên, khi là rủ rỉ tình cảm bà cháu, khi là cái cột cái trong nhà đứng ra giải quyết mọi việc có liên quan với nhà trường, với họ hàng, với làng xóm. Cái nhà có bà trông nom nó không bị bỏ bễ, tan hoang mà vẫn rất ấm cúng mỗi khi bố mẹ chúng trở về. Cặp không chính thức thì phức tạp hơn, vì là người cùng quê, nên việc họ cặp với nhau ở thành phố cũng dễ dàng như nhiều cái tình thời nay. Sự nghiêm túc trong hôn nhân bây giờ đã có phần…khác xưa. Tôi không dám nói là xuống cấp, càng không dám nói là đã suy đồi, chỉ dám nói là nó khác xưa thôi. Người nam thì đã có vợ và con. Con gái lớn đã có thể gả chồng, còn người nữ thì là gái lỡ thì. Khổ thế, với cái tuổi đó, ở nông thôn thì khó mà tìm được chồng, có thể đành phải ở vậy suốt đời. Chị ta ra thành phố không phải là để tìm chồng mà đầu tiên cũng chỉ vì cuộc sống và rồi cuộc đời đưa đẩy… Cái khó cho cả hai cặp là phải xử lí cái mối quan hệ ở quê. Cặp chính thức thì bị người làng cho là không biết can ngăn, thậm chí còn có kẻ nói là cặp này cố tình vun vào, để xảy ra chuyện không hay ảnh hưởng tới gia đình làng xóm, nặng hơn là ảnh hưởng tới cả hạnh phúc của gia đình người nam kia. Còn cặp không chính thức thì bị làng xóm phê phán là điều tất nhiên. Dư luận làng xóm phê đến nỗi người nữ không dám về quê nữa. Đại loại tôi được biết là như thế. Tôi bỏ không theo dõi hành tung của họ chiều hôm đó nữa.

          Những ngày sau, tôi là khách không mời thường xuyên của họ. Đúng là miệng quan (họ luôn cho tôi là quan) nói kiểu gì cũng được, chỉ có điều có lọt tai người nghe hay không mà thôi. Trước đây, tôi không thích gặp họ thì tôi lấy lí do là do lệch về múi giờ, họ còn ngủ thì mình đã đi làm, mình nghỉ ngơi thì họ còn làm việc. Còn bây giờ, khi đã quen, cứ qua nhà là tôi ngó vào xem có ai trong hai cặp đó ở nhà không, nếu có là rẽ vào chơi. Bây giờ tôi không còn coi tôi là công dân loại một nữa và đương nhiên tôi cũng không coi họ là công dân loại hai, loại ba nữa. Tôi nói với họ như ăn năn, hối hận về những ngày vô cảm vừa qua của tôi: “Các ông bà thông cảm và bỏ qua cho tôi, thật sự trong thâm tâm, tôi rất quí trọng những người phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt để mưu cầu cuộc sống. Cuộc đời mỗi người mỗi khác, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người mỗi số phận, có sang đây chơi với các ông các bà, tôi mới hiểu thêm được cuộc sống của những người nông dân, tôi mới hiểu thế nào là một nắng hai sương của bà con…” Có lẽ tôi nói cũng thống thiết lắm, cảm động lắm, chân thành lắm, mọi người im lặng nghe và rồi họ cười xí xóa: “Có gì đâu mà phải thông cảm, trước lạ sau quen, quen rồi sẽ hiểu, mà đã hiểu rồi thì sẽ thân thiết”. Vậy đấy, những buổi đầu sang chơi và làm quen với hai cặp cư dân mới của tôi là như thế.

          Thường thì tôi chỉ sang tào lao vài ba câu chuyện đường phố. Tôi không dám tham gia những chuyện về cuộc sống, về mức sống. Họ sống thiếu thốn lắm, ăn uống cũng không thể nói là đảm bảo chất lượng. Cặp chính thức thì còn nặng nề hơn tôi biết nhiều. Trong quê họ còn hai bà mẹ già đã hết tuổi lao động và ba đứa con đều đang tuổi ăn học. Bao nhiêu tiền vất vào đấy cho đủ! Tất cả có mấy sào ruộng. Không trụ nổi ở làng quê, họ phải trôi về thành phố. Những ngày đầu khổ sở lắm, gian truân lắm. Đã nhiều lần muốn trở về làng rồi đấy: “ Đấy anh xem, hơn ba năm rồi, bao nhiêu lần chuyển chỗ ở không nhớ nữa, mà chắc gì đây đã là chỗ cuối cùng. Giá mà được ở với các bác ở đây mà lo làm ăn thì tốt quá. Các bác ở khu ta đây tốt với chúng em quá”. Tôi phát ngượng khi nghe những lời khen đó. Nào chúng tôi có giúp gì được cho họ, đặc biệt là tôi, tôi lúc đầu còn e ngại họ là đằng khác. Họ ở và họ phải trả tiền, rất công minh, rõ ràng, rất thị trường là đằng khác. Có một lần ghé vào chơi, tôi buột miệng hỏi: “Thế các bạn không có T.V để xem à?”Và tự tôi, tôi cảm thấy mình thật ngớ ngẩn. Họ làm tối mắt mới về, nấu cơm ăn uống rồi phải nghỉ ngơi để lấy lại sức cho cuộc vật lộn ngày hôm sau. Họ lăn ra phản và ngủ ngon lành dù đó là mùa đông rét buốt hay mùa hè oi ả. Được cái là chỗ ở của họ, cái nhà tạm của họ ấy mà, nó được núp dưới một bóng cây rất to, nhờ vậy, nếu là mùa hè oi ả, cái nhà tạm đó được bóng cây làm dịu đi rất nhiều cái nắng gắt, nhưng lại khổ cái nỗi những đêm mưa, những ngày có gió to, tiếng hú của gió và tiếng là cành cựa quậy, vùng vẫy nghe khiếp lắm, cứ như là giông bão sắp đổ vào. Với lại, nhà cửa tuyềnh toàng thế, nếu có cái T.V liệu có giữ nổi ba bảy hai mốt giờ không? Chắc là khó! Những người bán mồ hôi lấy cơm ăn như họ thực sự cũng không cần biết tình hình I Rắc xa xôi đang bị bom lửa hay chuyện bầu cử mấy ông hội đồng thành phố làm gì cả. Cái quan tâm của họ là kiếm được tiền gửi về cho con, cho mẹ ở quê. Cái mà họ mong nhất là đừng có ốm đau. Có sức khỏe thì mới có cơ hội và điều kiện kiếm được tiền.

                                  *****

          Cái tết vừa rồi ba trong bốn người thuê nhà về quê ăn tết. Đi đâu thì đi, nhưng cái tết là phải về nhà. Cái nhà xập xệ đó trở nên vắng vẻ, chỉ thoáng thấy bóng người nữ của cái cặp không chính thức, nhỡ nhàng trong tình yêu đó chao qua như một vết sáng rồi lại im lìm.Chắc chị ta ngại,không về ăn tết với gia đình. Đời vẫn còn nhiều ràng buộc lắm! Cái xót sa và tủi hổ, cái éo le và cái “chót dại” của chị ai là người thông cảm? Ai là người sẵn sàng tha thứ? Một khoảng đời đằng đẵng đã qua trong cô đơn, một khoảng đời mù mịt còn lại ở phía trước. Tự nhiên tôi thổn thức trước một số phận. Chê trách hay tha thứ? Thông cảm bỏ qua hay kết tội? Một sự đã rồi với một dấu ấn để lại và hình như tất cả đều mang dáng vóc của người đàn bà bất hạnh. Cái hình ảnh không rõ nét của một tia sáng vút qua rồi tắt lịm, cái hình ảnh của một bông hoa úa tàn, cái hình ảnh của những quầng sóng của viên đá ném xuống ao và biến đi trong giây lát… tôi cứ nghĩ mãi về những số phận ở đời và tôi bâng khuâng…nỗi đau nào có thể sẻ chia, lời an ủi có thật làm lòng người ấm lại, làm sóng lòng dịu bớt. Tôi chỉ tin vào những giọt nước mắt của chị, nước mắt sẽ làm dịu đi cái đau, nguôi ngoai cái nhớ và tan đi cái giá lạnh của người đời.

          Chiều ba mươi tết còn lang thang ngoài đường một thằng bé đánh giầy. Những ngày giáp tết này lũ trẻ cũng biến về quê hết. Chiều ba mươi còn cửa hàng ăn uống nào mở đâu mà có khách đánh giầy. Thằng bé lê đôi chân mệt mỏi qua từng nhà chào mời, tôi thấy cửa ngôi nhà xập xệ hé mở và người nữ của cặp đôi không chính thức kéo thằng bé vào nhà. Tôi như thấy hơi ấm vào theo và hương mùa xuân vào theo. Một cái gì tràn dâng trong tôi, lâng lâng trong tôi. Sao lúc này tôi ao ước được biết cái cảnh một người đàn bà như đang chết vì cô đơn với một thằng bé như đang chết vì cô đơn gặp nhau đến thế. Họ trao đổi với nhau điều gì nhỉ? Có ngọn lửa nào ấm hơn khi hai con người cô đơn cùng thắp lên ngọn lửa của niềm hi vọng, niềm tin và sự che chở, đùm bọc cho nhau? Ông trời hay số phận đã tìm ra một giải pháp tuyệt diệu cho cuộc đời người nữ của cặp đôi không chính thức và thằng bé đánh giầy?

          Tôi vào nhà lấy một cặp bánh chưng mà người nhà quê mới gửi cho và một hộp mứt. Loại công chức quèn như tôi tết nào cũng có đồ biếu và tết nào cũng phải lo đồ biếu. Giá trị thì không cao, nhưng mà nó có cái tình. Tôi cũng cố gắng lo cho những người thân quen ở quê và một số anh em có “nền kinh tế hơi yếu”một chút quà mọn. Cũng có nhiều người qua cái tết được hưởng nhiều cái giá trị cao đấy nhưng mà cái giá trị cao nó không đến mình. Thôi thì giời cho lộc đến đâu hưởng đến đó và điều căn bản là phải chơi cái kiểu “lộc bất tận hưởng”. Tôi luôn nhủ mình, nếu mình được mười phần thì cố chia đi hai ba cho lương tâm đỡ áy náy.

          Tôi hắng giọng, gõ cửa và không đợi trả lời đẩy cửa bước vào bên trong. Cái cảnh mà tôi muốn biết làm tôi hết sức sững sờ. Người nữ của cặp đôi không chính thức đang ôm thằng bé đánh giầy khoảng mười hai, mười ba tuổi vào trong lòng, nước mắt chảy ướt hoen cả đôi mà đã vào thời tàn phai. Thằng bé ngồi im, thu mình nhỏ lại như con mèo nằm trong lòng chủ. Hình như chưa bao giờ nó có cảm giác ấm áp của tình mẹ. Tôi cảm thấy nó ngơ ngác và có phần bàng hoàng sờ sợ nữa. Cái tình này, giờ phút ấm áp này có biến đi mất không? Tôi đọc được nỗi khát khao của cả hai người trong cái chiều ba mươi tết. Hầu như tất cả mọi gia đình đều đã tập trung đầy đủ trong cái ngày này. Những chiến sĩ nơi biên cương, nơi hải đảo cũng đã xác định vị trí của mình cả rồi, những ai đang trên đường về chắc cũng đã thông tin cho gia đình biết được ngày giờ mình sẽ về. Niềm vui đầm ấm của sự xum họp đã và đang về với mọi gia đình. Chỉ có cặp cư dân mới phát sinh này là đặc biệt. Cả hai đang chờ một mùa xuân cô đơn, cả hai đang héo rũ và tê tái.. Vậy mà…

          Tôi làm như không biết chuyện gì xảy ra, đặt cặp bánh chưng và gói mứt tết bên cạnh chỗ người nữ của cặp đôi không chính thức, đôi mắt long lanh sung sướng vẫn còn ngấn nước, đôi mà héo hắt vì mấy ngày không có bạn nay như đầy đặn và hồng hào trở lại. Chị ta vẫn giữ chặt tay thằng bé, cái bóng trên tường bồng bềnh như bóng mẹ phủ bóng con. Ô, nếu cuộc đời suôn sẻ thì chắc đứa con đầu của chị ta cũng phải ngần này rồi. Cái hạnh phúc mà chị vừa có chị có cảm tưởng hình như là rất mong manh, dễ tuột rơi, dễ bị người talấy đi lắm. Chị vẫn không tin món quàcủa mùa xuân vừa mang lại.

          Tôi xoa đầu thằng bé: “Hai mẹ con sang bên nhà bác ăn bữa cơm tất niên, mọi thứ đã sẵn sàng rồi, ăn xong , hai mẹ con đưa nhau đi xem bắn pháo hoa là vừa đấy”

          Tôi mặc nhiên xem hai người hàng xóm của tôi là hai mẹ con. Có lẽ tôi là người đầu tiên nói ra cái điều mà cả hai đều muốn. Mùa xuân mang đến cho khu nhà tôi một cư dân mới, mùa xuân mang đến cho những người lỡ làng một niềm vui mới. Tôi cũng vậy, tôi đang bay trong gió xuân với những xốn xang kì lạ.