Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Cảm nghĩ về tấm ảnh...

Nghĩ về tấm ảnh
cảnh sát Ucraina quì gối xám hối

 

Chẳng hiểu thông tin được đưa lên có bao nhiêu phần trăm sự thật nhưng mà xem hình thấy cảnh sát Ucraina kẻ quì gối, kẻ cúi đầu trước những người dân tham gia biểu tình, xin tha tội, thấy thỏa mãn và dịu bớt đi phần nào nỗi uất ức khi bị cảnh sát chìm, nổi các loại ở nước mình, vẫn lợi dụng được sự bảo kê của chính quyền, đàn áp đè nén người dân khi họ xuống đường biểu lộ lòng yêu nước, biểu tình chống Tầu.

Chẳng hiểu cảnh sát Ucraina đeo bám người biểu tình và hành hạ họ thế nào, bị phản đối ra sao chứ đa phần các anh cảnh sát ngầm Việt Nam đều bị những người biểu tình phân biệt qua hành động, qua nét mặt và đều bị những người biểu tình khinh miệt, căm ghét lắm (dẫu biết rằng các anh chỉ là công cụ của một thế lực). Có điều, lực lượng biểu tình nhỏ yếu quá, chỉ có thứ vũ khí duy nhất là lẽ phải, là chính nghĩa, là sự hiểu biết nên nếu ai đó có tức khí muốn “dần” cho mấy chú “ngầm” kia một trận vì thái độ lếu láo, hỗn xược cũng không được và ngược lại, thường xuyên chịu phần thiệt, khi lực lượng công cụ "còn đảng, còn mình" này ra tay đàn áp.

Cũng có điều, sau ba năm (nếu tính từ mùa hè xuống đường năm 2011), các chú mật vụ chìm nổi kia cũng đã dần biết đến tính chính nghĩa, tính xác đáng và tấm lòng thật sự của những người biểu tình-những người có tư tưởng phản biện(chứ không phải phản động), tôn trọng sự thật và hiểu biết pháp luật-nên không dám ra mặt hung hăng chống những người biểu tình thô lỗ như “Minh đạp” thời gian đầu nữa. (Điểu này có lẽ chỉ cảm nhận được ở Hà Nội, Sài Gòn, nơi suốt thời gian qua, lực lượng đòi được sống trong một xã hội cởi mở hơn như Hiến pháp đã hiến định, liên tục có những đấu tranh bền bỉ với nhà cầm quyền và luôn phải đối mặt với cảnh sát các loại.)

Nhưng chắc không phải đa số các mật vụ ngầm áo đen kia đã giác ngộ và lương tâm của họ đã cắn rứt và le lói được chút ánh sáng nào đâu. Bằng chứng là trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt những nơi thuộc vùng sâu vùng xa, nơi trình độ dân trí còn thấp và chưa từng trải những cuộc đấu tranh trực diện với cảnh sát, thì cảnh sát chìm nổi kia vẫn là lực lượng chủ yếu đàn áp, kìm kẹp, xách nhiễu người dân. Ở đó, lực lượng cảnh sát vẫn coi mình là cha là mẹ thiên hạ, là những kẻ đang u mê hành động bằng thứ luật rừng, côn đồ với người dân với lí do bảo vệ chế độ, giữ chế độ ổn định.

Điều chắc chắn mà nhân dân, những người biểu tình biết rõ thông tin, hiểu biết việc của mình đang làm, còn các bạn chìm nổi áo đen kia, trong số các bạn, có rất ít người biết là chính mình đang bị đầu độc, bị phụ thuộc, bị nhồi sọ và đặc biệt bị che dấu, bị kiểm soát, phong tỏa thông tin bởi cái gọi là “còn đảng còn mình”. Có thể trong số này nhiều bạn còn trẻ và đang muốn thể hiện mình, muốn lập công. Hành động đó chứng tỏ các bạn còn nông nổi, dại dột lắm. Vì các bạn bị bưng bít, nên các bạn không biết tình hình của những đồng nghiệp ở Ucraina, đơn vị “Đại bàng”- lực lượng cảnh sát tinh nhuệ chuyên đàn áp biểu tình- đã bị giải tán và có thể rất nhiều trong số họ, đã quì gối xám hối trước nhân dân, xin nhân dân tha tội. Họ, chính là những con người đáng thương bởi họ cũng chính là những con người bị lừa dối. Và họ, cũng rất đáng trách vì hành động dại khờ không biết cân nhắc hành động của mình, những hành động đã gây tổn thương cho rất nhiều đồng bào chịu đau khổ của mình. Và là một lẽ tất nhiên, tất cả chúng ta đều phải chịu sự phán xét của công lí và luật pháp vì những hành động, hành vi của mình. Chúng ta là những người phải chịu trách nhiệm cho dù chúng ta chỉ là công cụ và có lời bào chữa, phải làm theo lệnh của cấp trên.

Thời giặc Pol-pot sang biên giới, giết hại dã man đồng bào ta, tôi cũng như nhiều đồng bào ngày đó nghĩ rằng đó là một tội ác không thể tha thứ. Rồi năm 1979, sự việc giết hại dân thường dã man, tàn phá làng mạc lại diễn ra ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Lần này không phải giặc Pol-pot mà là giặc Tầu, kẻ thù muôn đời của nhân dân ta, kẻ đã cai trị và áp bức nhân dân ta một cách dã man, mọi rợ từ những năm đầu công nguyên mà lịch sử còn ghi lại.

Một đất nước nếu luôn đặt giá trị nhân bản lên trên, có lẽ không bao giờ để diễn ra những sự việc như vậy với đồng loại.
 
                                                                             *****
Cha ông chúng ta luôn nêu cao ngọn cờ dân tộc và trọng chữ nhân trong đạo làm người, chữ trung của một công dân với Tổ quốc. Để giữ gìn hòa khí và bình yên xã tắc, đôi khi chúng ta cũng phải nhún nhường. Nhưng đó là sự nhún nhường cho phép vì quyền lợi đất nước và nhân dân, trên nguyên tắc bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và tốn ít xương máu của dân nhất. Chẳng vậy mà các vị tiền nhân đã nói “kẻ nào làm mất một tấc đất của ông bà, kẻ đó đáng phải chu di tam tộc” đó sao.

Cũng vẫn bài học của tổ tiên, khi quân giặc biết thua, xin đầu hàng, chúng ta đã cấp lương thảo cho chúng về nước, mở cho chúng con đường lui.

Các bạn mật thám chìm nổi nghĩ sao khi sẽ có ngày các bạn phải quì gối xin nhân dân tha tội. Chắc chắn các bạn không được lợi lộc nhiều từ những hành động trấn áp những người dám đứng lên vạch mặt sự xấu xa của kẻ thù. Chẳng lẽ các bạn cứ nhắm mắt hành động chống lại nhân dân-những người đang tiên phong chống lại sự xâm lăng của bọn giặc Tầu, kiên quyết chống lại những nhục mạ, khiêu khích của chúng với dân tộc ta, vạch rõ tội ác của chúng với nhân dân ta và đang chiếm giữ một phần lãnh thổ của Tổ quốc ta.

Hãy tỉnh lại, hãy tự phán xét mọi hành động của mình và của những người bạn của mình. Quay về với nhân dân không bao giờ muộn, nhân dân sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm của các bạn.

 

                                                                                                                                        Vinh Anh 27/2/14

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

NẺO ĐỜI (tiếp-phần 28)

VINH ANH
                                        NẺO ĐỜI
                                                                                                                    tiểu thuyết






28. Cây phượng trước cửa nhà sao hôm nay bỗng chói đỏ. Ngọc lững thững ra ngoài sân. Vắng vẻ vì đa phần cán bộ cơ quan ở nơi sơ tán, bộ phận thường trực ở lại cũng đã nghỉ trưa. Nắng gắt. Những chú chim sâu bé nhỏ lích chích lích chích nhảy nhót liên hồi. Ngọc nheo mắt và như thấy lại tuổi niên thiếu. Thị xã bé con con đó trồng rất nhiều phượng. Nhân đã từng đứng trên ngọn núi có giếng Tiên với Sen, ngắm nhìn thị xã và nói như thế. Một nỗi buồn bảng lảng bay qua, phảng phất thôi, nhè nhẹ thôi. Ngọc thấy lại bầu trời xanh ngày đó. Ngày đó hình như không nóng gay gắt như bây giờ. Gió, gió đưa ký ức ngày trẻ trở lại. Bâng khuâng buồn. Không có bạn thân để chia sẻ. Nỗi niềm ứ đọng lại trong tâm hồn, tự cảm thấy bỗng chốc thành cô đơn. Vậy là sao? Câu hỏi của thủ trưởng cục vẫn luẩn khuất đâu đây. Phượng là mùa chia ly hay là mùa tình yêu học trò? Chia ly để nỗi nhớ biến thành tình yêu. Hà bây giờ thế nào? Mình biết cô ấy sẽ gặp được Ngân, sâu thẳm trong lòng mình biết sự việc đó sẽ xảy ra. Mình đang theo đuổi cái gì nhỉ? Những điều đạt được đến bây giờ hình như có rất ít sự nỗ lực mà đa phần là thuận lợi bên ngoài mang đến. “Bạn phải tìm cho ra mình yêu cái gì chứ”. Ừ, phải tìm cho ra. Liệu có tìm được không? Mình bị cuốn vào dòng xoáy. Mình là cái ốc vít vớ vẩn. Mình đâu có làm chủ được mình. Ai hiểu được điều này với mình, Hà, Nhân, Ngân… Chỉ Hà hiểu được thôi…

Đúng, chỉ có Hà… Mình đang “say”. Con đường mình đang mở. Có thể nói đó là sự thành đạt sớm với một sĩ quan chính trị do ít nhiều có sự nâng đỡ và may mắn. Con đường tới danh vọng cần có những điều đó. Lý tưởng, cống hiến, đạo đức, nghĩa vụ, hy sinh là một chuỗi những giá trị và khái niệm ước lệ. Mỗi vấn đề của nó chỉ có một vài giá trị khi mà hệ thống xã hội chấp nhận trong một điều kiện nào đó, thậm chí trong hoàn cảnh khác, điều kiện khác, nó còn bị phủ nhận. Những điểm mà xã hội thống nhất được chỉ là sự tôn vinh lòng yêu nước, yêu thương con người. Đó là chủ nghĩa nhân văn trong sáng, thuần khiết.

Ngọc lan man với những suy nghĩ rất riêng tư của cuộc đời. Đúng chỉ có Hà… Trong thẳm sâu nhất của tình yêu, Hà đã nhận ra sự biến đổi của mình mà mình hình như chưa nhận ra. Không, mình giả bộ chưa nhận ra mới đúng. Mình đã so sánh hơn thiệt giữa Ngân và mình và không có câu trả lời vô tư như Ngân, bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ không sôi sục nữa mà càng ngày càng có nhiều điều của cuộc sống tác động vào. Đây là sự giả dối đầu tiên của tình yêu cũng như tình bạn của ba chàng ngự lâm.

Ngọc đau khổ khi nhận ra điều này. Với mọi người xung quanh, không ai nhận ra, nhưng không thể che dấu với Ngân và đặc biệt với Hà. Mình có thể vượt qua nhiều cửa ải, nhưng với Hà, mình thấy là một trở ngại lớn nhất. Phải giải thích thế nào? Bảo đấy là do tính sĩ diện hay làm căng nhau như giận dỗi khi yêu, hay lý sự cùn, lấy lý do là để bảo vệ hạnh phúc sau này, phân bua là do tự nhiên được hưởng chăng… Tất cả những lý lẽ do Ngọc nghĩ để đem ra bào chữa cho mình đều  không ổn. Lý do có thể chấp nhận: tổ chức phân công. Đúng vậy, sự điều động Ngọc đi các nơi đều là do tổ chức. Ngay cả chuyện điều động Ngọc về cơ quan Tổng cục, Ngọc cũng không biết có sự can thiệp. Nhưng Hà không đồng ý. Hà bảo Ngọc háo danh và sĩ diện với bạn bè. Một trong những thói xấu của con người. Con người như vậy sẽ rất nguy hiểm cho đồng loại. Từ danh vọng đến quyền lực và tội ác rất gần nhau.

Một điều nữa, Hà nói, Ngọc không có tư tưởng phản biện, chống lại cái trì trệ, ù lì của xã hội. Đó là tiền đề tạo ra sự sống kí sinh. Ngọc cho rằng cách sống như vậy là khôn, biết dấu mình và xuất hiện đúng lúc nhưng Hà lại quy cho phương cách như vậy của Ngọc là sự chờ thời, chờ cho một đối thủ (vô hình) nào đó sảy miếng, mới ra tay. Kiểu đó không quân tử. Xã hội chúng ta cần những hoạt động chính danh và minh bạch. Không thể nhân danh đạo đức nhưng lại luôn giấu trong mình sự giả dối. Chúng ta thường lừa dối lẫn nhau trong cái vỏ đoàn kết nhất trí. Vì thế trong mỗi chúng ta ẩn chứa trong bụng mình một thùng thuốc nổ.

Nhưng những suy nghĩ của Ngọc hay Hà đều có phần chưa chính xác. Bản thân Ngọc cũng vẫn chưa nhận thấy rõ rệt. Có thể chính điều này làm cho con người ta ngày một đi xa cái quỹ đạo lý tưởng thời trẻ mà ta không biết.

Ngọc chưa kinh qua chiến đấu, những gian khổ, cực nhọc mà Ngọc nếm trải trên ghế nhà trường không thể so với cái sương gió, trận mạc của cuộc đời. Cuộc sống của Ngân khác. Ngân có chất liều lãng tử của tuổi trẻ. Vì thế, Ngân dạn dày, từng trải hơn, dấn thân, phôi pha hơn.

Ngọc ít va chạm với các tầng lớp xã hội. Xã hội của Ngọc đơn điệu là những người lính được học hành hoặc có chức vị. Dù có thế nào, đó cũng là một xã hội thuần. Mâu thuẫn trong xã hội của Ngọc dễ giải quyết bởi tự mỗi người đã có ý thức con người nhất định. Ngân khác, Ngân sống chung với một tập thể đa dạng, khác nhau nhiều. Từ văn hóa đến tôn giáo, từ suy nghĩ đến hành động, từ nhận thức đến tư tưởng, mỗi con người đều ở một cấp độ khác nhau. Đối xử với những con người đó cũng phải đa dạng và tất nhiên là “đời” hơn.

Vậy là từ môi trường sống, Ngọc đã khác các bạn về suy nghĩ và cách nhìn cuộc đời. Ngọc nhìn cuộc đời có chiều sâu thực và có cả trong đó những tì vết. Càng ngày càng ít đi sự trong sáng, càng ngày càng đầy thêm những rác rưởi. Ngọc cứ tự nhiên hấp thu những sản phẩm cuộc đời được đẻ ra trong một môi trường không hoàn chỉnh: lo toan về danh vọng địa vị, thu vén về vật chất, giả tạo trong tư duy và suy nghĩ, hời hợt trong giao tiếp, xử thế, ghen tức và kèn cựa, ngại va chạm, sợ đấu tranh, luôn phải cảnh giác vì cảm thấy có con mắt nhìn trộm, nghe lén. Đúng là môi trường độc hại! Đó là môi trường của sự ích kỷ.

Ngọc bị ngâm trong môi trường như vậy. Sự vô tư, trong sáng chuội dần đi. Ở một nơi được quyền phát đi những mệnh lệnh, chỉ thị có lợi cho sự tiến thủ, cho sinh mạng chính trị, thì hà cớ gì mình không cùng được hưởng cái lợi đó?

Người đời vẫn chẳng nói “giàu nhà kho, no nhà bếp” là gì.

Nhưng cái đáng sợ hơn là sự gian xảo và giả dối. Sự giả dối bắt nguồn từ những lời cổ vũ, cổ động, hô hào, động viên, kích thích lòng yêu nước, đề cao sự hy sinh, sự xả thân vì Tổ quốc cho đến việc xây dựng tập thể điển hình, con người điển hình để cả nước học tập, cả nước sống và noi theo. Ngọc biết đó là tuyên truyền. Trong những hoàn cảnh nhất định, thời cơ nhất định, việc tuyên truyền là rất cần thiết. Nhưng nếu cứ triền miên nói những điều không đúng sự thật, bắt con người ta u mê đi vì những điển hình không có thì lại là một sự dối trá. Nhưng, Ngọc nghĩ, ta ở trong guồng, ta không nói và làm như vậy, ta sẽ bị chết chìm trong dòng xoáy.

Phải! Với biện luận giả dối có thể coi như đó là một lời bào chữa không đủ lý lẽ. Nếu ta không bơi cùng dòng, chắc chắn, ta sẽ bị vứt ra ngoài như một vật bỏ đi. Và vì thế, ta phải bơi cùng chiều. Có lẽ lời biện hộ này không chỉ có ở riêng Ngọc, Ngọc tin nhiều người cũng có suy nghĩ đó. Chỉ có điều, không ai đủ dũng cảm vượt qua mình. Vượt qua chính mình, vượt qua được sự sợ hãi vốn ở ai cũng có, để thành con người sạch sẽ. Đó chính là điều Hà hiểu về Ngọc. “Và Ngân chính là con người sạch sẽ”. Ngọc nói với mình. Điều kiện sống của nó không gắn với những âm mưu, thủ đoạn của người đời.

Ngọc biết vậy và vẫn bước tiếp trên con đường đó như một định mệnh.

 

Nhưng tình yêu với Hà, Ngọc chắc chắn như đinh đóng côt, mình không giả dối. Ngọc yêu Hà thật lòng. Tình yêu có xuất phát điểm từ những ngày tuy không còn non nớt nhưng vẫn là tinh khôi với cả hai. Một mối tình tự nguyện và trong sáng:

- Môi trường cuộc sống nhuộm tâm hồn anh. Hà thẳng thắn nói với Ngọc. Anh sẽ gắn bó cả cuộc đời với những vấn đề mà anh đã dốc sức cho công việc để chứng tỏ năng lức của anh với cấp trên

- Anh biết và anh đang rất cố gắng điều chỉnh mình.

- Anh không thể. Một mình anh không thể… Trừ phi…

- Anh phải tách khỏi môi trường đó… Đúng không? Nhưng công việc mà anh đeo đuổi cũng là hạnh phúc của anh. Người đời chẳng nói, “đàn ông lấy sự nghiệp làm tình yêu”, đó ư?

- Có nghĩa là anh không yêu em bằng cả trái tim. Ở đây anh cũng có thể vận dụng câu “dẫu rằng một nửa cũng là trái tim” để bào chữa đấy, nhưng cũng có câu “một nửa sự thật không phải là sự thật”. Em ngại rằng, phải nói là em rất lo chứ không phải ngại đâu, anh không thể thay đổi được và càng ngày anh càng dấn sâu. Môi trường công tác đòi hỏi anh, cấp trên đòi hỏi anh thậm chí cả nguyện vọng, mong ước của anh cũng đòi hỏi anh. Em nói nguyện vọng tức là nói mục tiêu phấn đấu của anh đấy. Anh sẽ phải đi lên, phải thăng tiến. Danh vọng sẽ làm anh lóa mắt và có thể khiến anh xả thân vì nó. Lúc đó thì sao? Anh sẽ trở thành con người của nguyên tắc, mất khả năng nghe những lời phản lại nguyên tắc, mất khả năng đứng trên cao để phán xét đúng sai.

- Em lại quá nặng nề và đi quá xa tầm ảnh hưởng…

- Chỉ anh nằm trong tầm ảnh hưởng mà thôi, chứ đâu có em…

- Có chứ. Chúng ta đều nằm trong tầm ảnh hưởng. Nếu em không rõ điều này thì đúng em không thể thông cảm được với anh.

- Em công nhận anh cũng có lý… Nhưng phần tự điều chỉnh của mỗi chúng ta… Em lấy chuyện anh và em làm ví dụ. Ngày chúng ta mới yêu nhau, chính em là người can anh nên thận trọng phát biểu những suy nghĩ của mình. Một thời gian sau, chính anh lại khuyên em nên thận trọng, còn anh thì lại là Ngọc càng “già” hơn ngày xưa, thời của ba chàng ngự lâm. Còn bây giờ, bây giờ anh không phải suy nghĩ nữa mà là anh hành động để cho cái anh không đồng tình trong suy nghĩ thành cái phải thực hiện trong cuộc sống…

- Em hiểu thế nào về giáo dục, thế nào là tuyên truyền? Nghề của anh đấy, chuyên môn của anh đấy.

- Em không rõ được như anh. Nhưng em cũng được học và nó là thế này: giáo dục là một hoạt động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng dần dần có phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Còn tuyên truyền tức là tìm cách truyền cho người nghe niềm tin vào một vấn đề nào đó. Đó là định nghĩa trong sách giáo khoa. Còn giáo dục con người của chúng ta ở đây, đối tượng là quảng đại quần chúng nhân dân, thì chúng ta có chú ý đến sự phát triển tinh thần hay thể chất gì đó không. Chắc là không. Mà là ép đối tượng được giáo dục phải tin, phải nghe theo. Điều nay như nó lại trùng với sự tuyên truyền. Em hỏi anh, nếu sự giáo dục và tuyên truyền nó méo mó và lại còn bắt người ta tin thì đó là giáo dục và tuyên truyền kiểu gì, không khéo nó thành phản tác dụng, một khi người ta biết sự thật. Chúng ta muốn người khác tin, nhưng chúng ta cung cấp thông tin ít lắm, thông tin chỉ toàn “ta thắng địch thua” thì mấy ai tin. Họa chăng chỉ mấy ông bà nông dân. Theo em, chúng ta cần phải thay đổi cách giáo dục và tuyên truyền…

Lặng im. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ để con đường khác biệt như cứ kéo dài thêm.

 ảnh internet

 

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

CAY ĐẮNG (suy ngẫm)


 CAY ĐẮNG


                                                                              Cảm nghĩ nhân buổi tưởng niệm ở Bờ Hồ(16/2/2014)

 

Máu người không phải nước lã. Máu của những người con đã ngã xuống để bảo vệ giang sơn, Tổ quốc càng không phải nước lã!

Những người con đất Việt đã mất trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc không thể bị lãng quên, không ai được lãng quên!

Đất nước này phải biết ơn những con người đã vì sự toàn vẹn non sông mà hi sinh!

Trong tâm thức chúng tôi, những người đến tượng đài Lý Thái Tổ sáng nay (16/2/2014) để đặt bông hoa hồng trắng, thắp nén nhang cũng là để tỏ lòng tri ân những con người như vậy.

 

Hà Nội sáng nay lất phất mưa, trời lạnh.

Trong bối cảnh hiện nay, sau 35 năm Trung Quốc gây chiến, đánh phá sáu tỉnh biên giới, do thông tin không được cung cấp đầy đủ, nên sự thật về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới năm 1979 với nước láng giềng Trung Quốc, đã và đang bị thời gian phủ bụi. Lòng yêu nước của người dân hôm nay có những cách nhìn khác nhau, không được như thời 1979, thời kì mà toàn dân ta đều đồng lòng, cùng quyết tâm chống giặc, giữ nước. Dẫu rằng người dân cả nước, dù mới đây chưa thật xa, thuộc chế độ cộng sản hay chế độ cộng hòa, cũng đều mới bước ra khỏi cuộc chiến tranh ba chục năm ròng rã.

Tại sao có sự không đồng lòng cả về phía những người dân? Tại sao Nhà nước không dám nói rõ cho Nhân Dân biết sự thật mà lại cố tình bưng bít, đàn áp những người nói ra sự thật?

Ta mới ngộ ra, đây là một vấn đề lớn, là sự thách thức trong sâu thẳm lương tâm ở mỗi con người trong xã hội. Xã hội đòi hỏi con người sống phải lương thiện, có hiểu biết. Xã hội nước ta, NHÂN DÂN ta đã nhiều phen bước qua những thăng trầm, gian khổ. Nhưng cuộc  đời thì luôn dối trá, đảo điên, đặc biệt ở những nước mà sự công bẳng, minh bạch, sòng phẳng, tôn trọng sinh mệnh con người còn hạn chế, thì những đòi hỏi trên luôn là món hàng xa xỉ.

“Sự thật là một thứ quyền lực”. Vì lẽ đó, sự thật ở đây luôn bị bịt mắt khiến những người dân bình thường hiện nay như vẫn sống trong thời kì cổ xưa, lạc hậu, tối tăm của thời chiến tranh và thời bao cấp. Đa phần người dân chỉ còn biết lo cho miếng ăn hàng ngày. Đa phần sự hiểu biết của họ đều xuất phát, được dẫn dắt từ một ý chí mù mờ, xa xôi, ảo vọng, mơ hồ.

Có người nói, đâu chỉ dân thường bị bịt mắt, cả anh và chị bà phó giám đốc Sở Công thương cũng ôm nhau nhảy dưới chân tượng đài đấy thôi; cả ngài thiếu tá bộ đội Thông tin cũng ra gân cổ (như có mượn rượu để tăng thêm phần dũng cảm) chửi bới những người đi tưởng niệm đó thôi. Vẫn có những con người như vậy trong cuộc đời khi họ chỉ thấy cái lợi trước mắt và đặc biệt họ quá vô cảm, không biết xấu hổ và càng không biết đặt ra câu hỏi tự vấn: Vì sao?

Và tôi nói đó là sự không đồng lòng. Và tôi nói đó là sự thật bị lừa dối. Sâu hơn, tôi cảm thấy đây là nỗi nhục với bạn bè trên thế giới và nhìn thấy cả sự hèn nhát đầy rãy trong cuộc sống quá ích kỉ, tư cách làm một người tử tế bị coi thường.

Thật cay đắng! Nỗi cay đắng ở đây có căn nguyên sâu xa, những người phản đối “buổi tưởng niệm” không được biết sự thật. Nỗi cay đắng ở đây có sự nhức nhối của những con người muốn tự giam cầm mình trong tư duy cổ hủ, cũ rích, đã và đang bị lịch sử đào thải. Nỗi cay đắng ở đây có sự nhơ nhớp của quyền lực và đồng tiền, người ta đã bỏ sự thật lịch sử sang một bên, đã quẳng Nhân Dân sang một bên, đã phản bội lại những hi sinh và máu đổ của sáu vạn con người nơi biên giới. Nỗi cay đắng ở đây có sự chua xót vì muốn tỏ lòng biết ơn những người đã chết cho đất nước này cứ phải dấm dúi. Nỗi cay đắng ở đây có sự nhục nhã vì có sự tác động của kẻ thù bên kia biên giới, những kẻ đã giết dã man đồng bào chúng ta, mà chúng ta thắp một nén hương cho các hương hồn của họ cũng không được yên lành.

Tất cả những nỗi cay đắng đó đã cho ta biết rõ bộ mặt thật của từng con người, ta biết họ vì ai và còn cảnh báo để ta biết rằng, con đường phía trước còn lắm gian truân.
 

                                                                                                                                                                                                    Vinh Anh 16-18/2/2014

 

 

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

NHÂN DÂN KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
 
17-2-1979_17-2-2014 
 
 
 
 
 
 
 
KẺ THÙ BUỘC TA ÔM CÂY SÚNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                            anh internet
 

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

THÁNG GIÊNG LỄ HỘI


Tháng giêng lễ hội

                                                Tản văn

           Có lẽ chẳng đâu như ở ta, tháng giêng lại nhiều lễ hội như vậy. Cứ thử đếm mà xem, phát sợ lên ngay. Không chỉ sợ, cả tự hào cũng có!

Lễ đầu tiên, ngay từ giao thừa, có thể còn sớm hơn một chút nữa, các cửa chùa cũng đã chật ních những người là người. Những ngày đầu năm, giờ phút thiêng liêng, chùa chiền chẳng bao giờ vắng bóng phật tử. Cũng chẳng hiểu người ta đi xin lộc đầu năm hay người ta đi vãn cảnh chùa, tìm một sự bình an trong tâm hồn, trong cõi riêng của lòng mình nữa. Có lẽ người đi xin lộc nhiều hơn người vãn cảnh. Biết bao nhiêu cho đủ với lòng tham con người? Chốn linh thiêng, chắc Phật biết hết. Vậy mà người trần chỉ luôn sẵn thổ lộ lòng tin và luôn che dấu lòng tham, đâu có biết Phật vẫn hằng bên ta. Âý vậy mà biết bao thói xấu của người đời vẫn được phô ra ngay trước cửa Phật.

Vẫn thích thói ăn chơi. Dân mình là vậy. Các cụ nói: “Tháng giêng là tháng ăn chơi”mà lị. Đi hội đi hè cả năm không biết bao giờ dứt. Những gần tám nghìn cái cơ mà. Hết hội này đến hội khác. Có những hội chỉ một ngày, có những hội kéo dài hai, ba tháng. Thoải mái hội để chúng ta đi chơi, nếu chúng ta có tiền, có sức khoẻ và thời gian.

Năm nào đầu xuân, mình cũng đi chùa. Không cầu lộc, cầu tài mà là cầu sự thanh thản trong tâm hồn. Chẳng hiểu sao, khi hết thời, lại hay ngẫm cái sự đời đến thế. Bởi ngẫm nhiều cái sự đời cho nên trong đầu luôn vẩn vơ cái ý nghĩ bất an về cuộc đời trong cái lúc đáng ra phải vất hết cái sự đời đi để mà thanh thản. Bởi trong người không thanh thản, nên đến cửa chùa, cũng chỉ xin sự thanh thản trong lòng.

Có mấy cách lý giải về niềm tin vào sự linh thiêng, mong chờ vào sự linh thiêng. Có thể là do con người đã quá cùng cực, bế tắc. Cũng có thể con người chưa thoả mãn những gì đã đạt được. Cũng có thể con người ta luôn phải sống trong chờ đợi, hy vọng. Những điều đó làm con người ta thêm tin, tìm đến cái đức tin để bấu víu. Dẫu rằng ai cũng biết, niềm tin đó nó xa xôi và mơ hồ. Nói như vậy cũng vẫn chưa đủ. Cuộc sống luôn tạo ra cho con người ta những éo le cần phải xử lý. Nhiều khi không thể xử lý được, không lý giải được. Vậy là cần một điểm tựa. Đó chính là niềm tin mơ hồ vào chốn linh thiêng. Mơ hồ vì không lý giải được và vì thế mới có những ngày chờ đợi, những phút hy vọng. Sống trong hy vọng mơ hồ còn hơn là sống trong sự thật nghiệt ngã. Một lời dạy rất hay của Phật: “Phá sản lớn nhất của cuộc đời là tuyệt vọng”. Con người ta đến với cửa Phật chưa hẳn đến mức tuyệt vọng, vẫn còn nơi để gửi gắm niềm tin, niềm hy vọng.

Cũng có thể con người ta không tìm được cái gọi là giá trị thật của cuộc đời? Rất nhiều điều chúng ta không thể lý giải được ở cuộc sống hiện tại mà đáng ra, theo cái lý của nhà Phật, cũng là theo cái lý thường của cuộc sống, nó đáng phải diễn ra như thế. Giống như, gieo gió phải gặt bão, cái ác đáng phải bị trừng phạt. Vậy mà nhiều khi, cái ác trong cuộc đời lại vẫn nhởn nhơ, nhởn nhơ như thách thức với công lý cuộc đời, thách thức cả với sự bao dung nhân hậu của Phật nữa. Cũng rất nhiều trường hợp xảy ra trong cuộc sống, mà cứ theo lý lẽ của ông bà ta “ở hiền gặp lành” thì người ở hiền luôn lại gặp phải tai bay vạ gió. Cái ác sao chỉ rơi vào người hiền, chỉ rơi vào dân lành, giai tầng thấp cổ bé họng. Tại sao thế? Câu hỏi được gửi vào Đức Phật để tìm sự trả lời. Đó cũng lại là niềm tin, niềm hy vọng mong manh gửi nơi của Phật.

 Năm nay đến thăm vợ chồng anh bạn, mà trong năm gia đình có đại tang không đi đâu  được. Nhân tiện cùng rủ nhau đi lễ Phủ Tây Hồ. Phủ Tây Hồ là một trong nhiều nơi thờ bà Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử mà dân ta tin yêu.

 Ngày thường, đứng phía đầu đường Thanh Niên, qua mặt hồ mênh mang nhìn sang, Phủ chìm dưới bóng cây rậm rạp và bóng nước. Một bức tranh thuỷ mặc. Một vị thế tạo nên dấu ấn của sự thoát tục, linh thiêng. Đến đây, với cảnh sắc đó, con người cảm thấy như được tắm rửa để trong sạch hơn, lương thiện hơn, thoát tục hơn. Trong không gian yên ả, mát lạnh, người trần như đã thoát xác. Tiếng chuông thỉnh lên nghe tưởng xa vời mà lại như mời gọi. Lẫn trong tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khấn đều đều là hương thơm nhè nhẹ, là sương mờ, là tiếng sóng vỗ của nước, tiếng chim hót và cả tiếng gió nữa…Chốn bồng lai có phải như vậy không? Một khoảng không gian lặng đi trong tĩnh mịch và thuần khiết.

Nhưng hôm nay mới mồng bốn tết, vẫn là những ngày đầu năm, chốn linh thiêng, thâm u với cảnh nước, cảnh rừng cây với tiếng chim không còn nữa. Thay vào đó là ồn ào, nhiễu loạn của biển người mênh mông. Tất cả khoảng trống ven hồ là ôtô, là xe máy, là đoàn đoàn người đi cầu, đi khấn dập dìu. Người ra người vào lũ lượt. Bỗng dưng bị cảm giác trần tục lấn át. Tất cả chen nhau vào đặt lễ và khấn và vái và cầu và xin. Cái sự trần tục nơi cửa Phật trang nghiêm này mang ảnh hưởng từ cuộc sống xô bồ ngoài đời. Hòm công đức và bàn ghi công đức đặt mọi chỗ và xếp hàng dãy. Tiền lẻ được vất đầy trên bàn lễ, nơi các thánh uy nghiêm đang giơ tay niệm chú hay bắt quyết. Thánh nào, Phật nào cần những đồng tiền lẻ đó không biết. Chỉ thấy đó là một sự buông tuồng, trơ tráo nơi cửa Phật theo thói quen cùng với những hành vi không suy nghĩ, không người hướng dẫn. Ấy vậy mà vẫn vô số người cho đó là lòng thành. “Tôi chỉ xin góp một giọt dầu…”

Cùng với hành động “góp một giọt dầu”, một cảnh khác trái ngược của những người đi lễ vào lúc giao thừa, “các phật tử” sẵn sàng mắt trước mắt sau, thậm chí lợi dụng đám đông ùa vào bẻ các cành cây nơi cửa Phật. Họ có hiểu hành động đó là ăn cắp của Phật hay không? Thật đáng thương, họ không cho là như vậy. Họ bao biện “chỉ xin ít lộc của Thánh”mà thôi.


Trần tục hơn nữa là các dãy bán hàng ăn uống. Hồ Tây xưa nay vốn nổi tiếng với đặc sản tôm, ốc và cá. Đặc biệt là bánh tôm và bún ốc.Từ đây, các sản phẩm đó được chế biến để phục vụ các phật tử sau khi làm tròn nghĩa vụ với đấng linh thiêng. Đường vào là đường của những lời cầu khấn được viết bằng chữ Nho và các lễ vật giả như cành vàng lá ngọc để dâng lên Phật. Đường ra là đường của những lời mời chào lẫn với mùi dầu mỡ chế biến thức ăn. Tôi những cám cảnh cho dãy nhà hàng dài như bất tận đó, cũng chẳng thể hiểu nổi sao nhà hàng lại nhiều như vậy. Dường như có đoạn đường nào mới mà khách thập phương đi được thì lập tức quán hàng được cấp phép mọc ra ngay đến đó. Người nghèo nương tựa cửa Phật đã đành, nay thì lại thêm cả chính quyền cũng dựa vào cửa Phật kiếm chác. Lại thấy cái sự trần trụi của con người hơn. Vẫn là đó những tiếng mời chào, vẫn mùi xào nấu toả ra khắp nẻo đường đi. Trạnh nghĩ, người đời cũng chẳng chay tịnh cho lắm. Có đâu là những sự cần phải giữ mình trong sạch khi đi lễ chùa!

Mình không phải thuộc trường phái tân tiến. Nghĩa là cũng rất yêu và nhớ những cái “xửa xưa”. Nhưng lại nghĩ, dạo này người ta khai thác vốn cổ khí nhiều. Những Unesco, những di sản, những bảo tồn, những gìn giữ, những phát huy, những đậm đà bản sắc, những gì gì nữa vô kể…cứ như một câu là phải kèm theo một câu “đậm đà bản sắc” mới thành người Việt Nam. Ấy vậy mà cái văn hoá người dân có nâng lên được mấy phân thì không rõ, chỉ thấy những hủ tục như ngày càng nhiều thêm.

Caí tội hay ngẫm làm mình buồn nên cũng chẳng muốn viết ra đây. Chỉ mong, chỉ mong thế này thôi, cái quan họ nó sẽ được ở mãi với Bắc Ninh, sẽ được dạy trong trường phổ thông như trong đề án đã trình, cái hát xoan cứ ở mãi cái làng nào đó trên Phú Thọ, cái đờn ca tài tử cứ sống ở Long An. Chẳng cần “nét cô nét cậu” gì hết. Mình cực đoan nghĩ vậy đấy. Cứ tuyên truyền cho lắm vào, cứ di sản cho lắm vào mà lại để cái vụ Vịnh Hạ Long chết người nào đó xảy ra nữa thì có mà chỉ biết kêu “Ối giời ơi…!” Đừng kêu gọi bàu bán “di sản thiên nhiên thế giới” làm gì nữa.

Tháng giêng lễ hội nhiều, cũng cố gắng đi được mấy cái rồi. Cảm nhận chung, cái dung tục được mang vào lễ hội nhiều hơn cái “chất xưa tinh tuý”. Hôm nay mưa nhấm nhắc, lòng người cũng nhấm nhắc. Viết mấy chữ để tự giải toả cho mình thôi.

 

                                                                                                             Vinh Anh-23/2/11

 

 

 

 

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

NẺO ĐỜI (tiếp-p 27)

VINH ANH
                                            NẺO ĐỜI
                                                                                                                          tiểu thuyết

27. Từ ngày được điều về văn phòng Tổng cục, Ngọc luôn bận rộn với công việc. Có lẽ một phần muốn chứng tỏ năng lực, phần khác, muốn thể hiện rằng sự lựa chọn của cấp trên với mình là đúng đắn.

Ngọc nghĩ, bọn Ngân, Nhân không bao giờ có thể tưởng tượng là mình được tiếp xúc với những con người mà ngày xưa, chỉ nghe danh là như thấy sự cao siêu với sự xa vời. “Gần mặt trời” Ngọc vẫn nhớ, có thể bị mặt trời thiêu cháy. “Gần mặt trời” cũng là cơ hội để “vua biết mặt, chúa biết tên”. Và càng ngẫm, Ngọc càng cảm thấy, đa số cái vị trí công việc làm nên danh giá con người là chính. Bởi nếu như, đặt Nhân vào đây, nó cũng đầy đủ tư chất như mình, có thể nó còn giỏi hơn. Bởi vậy, về được đây cũng gọi là trúng số, rất đúng với khả năng và cả sự ham thích với công việc của Ngọc. Thâm tâm, Ngọc không hề muốn khoe với hai thằng bạn về vị trí công tác của mình, nhưng với số còn lại của cuộc đời, Ngọc có thái độ khác, cũng tùy từng hoàn cảnh.

Công việc của Ngọc là nhận báo cáo từ các nơi gửi về, tập hợp lại những vấn đề đặc biệt để báo cáo thủ trưởng. Đúng là của một nhân viên văn phòng, một công chức. Điều kiện cần phải có là, văn bản viết trình lên cho thủ trưởng phải rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý, chính xác. Điều đã được các đồng nghiệp căn dặn rất kỹ. Có lẽ đó cũng là một điều đã viết trong “sách giáo khoa”. Ngọc nghĩ và cười thầm khi chỉ còn một mình.

Điều rắc rối trong mối quan hệ công việc bây giờ có lẽ chỉ là đề phòng sự ghen ghét. Một vị trí thường xuyên được tiếp cận thủ trưởng, không thể có sai sót. Sai sót sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của thủ trưởng và chắc chắn, vị trí của mình cũng lung lay.

Ngọc cũng nhiều lúc rất rỗi rãi. Đâu phải ngày nào cũng đọc báo cáo và viết báo cáo. Chuyện đó chỉ xảy ra hàng tuần. Cũng có đôi khi đột xuất. Làm lính thì phải quen với những đột xuất. Một công việc khác cũng cần đến quĩ thời gian là phải đi công tác xuống các đơn vị cùng các lãnh đạo. Với vai trò trợ lý, Ngọc cũng chỉ đi theo để nắm tình hình. Nhưng chính những buổi như thế này, được gần lãnh đạo cao cấp nhiều hơn và dễ có điều kiện thể hiện bản lĩnh của mình trước các cấp lãnh đạo hơn. Ngọc rất khiêm tốn khi nói về vai trò của mình với các bạn: “Là trợ lý/ là thậm thà thậm thụt xin chữ ký/ là xắc cốt đeo vai lang thang mỗi nơi một tí/ là ăn ghẹ nói leo/ gà thủ trưởng khi bí/  biết chỗ họp ở cơ quan/ thạo đường đi đơn vị/ biết nhà ở của cấp trên/ biết tên cháu, tên chị…”Chúng mày thấy trợ lý như tao nhục không? Oách gì đâu mà thằng Ngân cứ trầm trồ. Tao biết mày ở đơn vị, nhiều cái cực lắm, “ đầu binh cuối cán” mà. Bọn tao đây toàn sĩ quan, chẳng phải gương mẫu gì hết.

Chuyện cán bộ trên cơ quan thì nhiều lắm. Có những chuyện nhỏ nhặt, như con cá mớ rau của các bà nội trợ, nói về tính tình bủn xỉn của một vị nào đó quá ư lo lắng cho công việc gia đình, những việc đáng ra phải để bà vợ và những đứa con quen ỷ lại vào bố mẹ tự lo toan lấy việc nhà. Nhưng cũng có những chuyện tày trời. Chuyện tày trời nói theo cái nghĩa chính trị là liên quan đến sinh mệnh con người. Tất cả đều phải biết nhìn nhau giữ ý giữ tứ, không thể cái gì cũng bô bô mang ra  bàn luận.

Có lần, chuyện bàn ngoài lề liên quan đến lịch sử. Mọi lần bàn chuyện, với đồng nghiệp cùng phòng, ngọc luôn đóng vai trò “bé’ nhất, bởi Ngọc trẻ nhất và quân hàm cũng thấp nhất. Cho nên, nhiều vấn đề, Ngọc biết đấy, nhưng cũng không tiện tham gia với các bậc đàn anh. Một sự nín lặng vẫn hơn một sự phô bày. Nguyên tắc của Ngọc học được là thế.

Nhưng hôm nay nói chuyện lịch sử. Chuyện lịch sử nhưng không phải nói về “người cổ xưa” như ngày nào Hà vẫn nói đùa các bạn khoa sử. Chuyện lại liên quan đến thời nay. Đó là nói về việc chúng ta chưa coi trọng lịch sử dân tộc mình. Một đề tài khá thú vị bỗng nhiên xuất hiện bởi một câu hỏi đánh đố kiểu trẻ con: “Hai Bà Trưng thì bà nào là chị, bà nào là em?” Vậy mà, không thể tưởng tượng nổi, cái phòng chuyên lo về sinh mệnh con người này lại rất ỡm ờ về lịch sử Hai Bà. Có ông nói đại nhưng gần đúng: Đó là hai chị em. Có ông bảo chuyện xảy ra từ thời củ tỉ âm ti, sao mà nhớ. Có ông vung ra một thời đại rất dài, chắc chắn xảy ra vào thời Bắc thuộc.

Chàng cựu sinh viên khoa sử trường Đại học danh tiếng của Thủ đô bị lôi vào cuộc, được dịp trình bày. Với phong cách của một giảng viên, một sinh viên sử, bài nói chuyện ngẫu hứng của Ngọc khiến mọi người rất nể. Ngọc nói:

- Đầu tiên là vì sao lại gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị. Mẹ hai bà chỉ sinh một lần được hai cô con gái. Ba năm sau mới đặt tên. Mẹ của hai bà làm nghề tơ tằm. Theo cách làm việc của người nuôi tằm, lứa đầu gọi là lứa chắc. Cô chị là Trắc. Lứa sau là lứa nhì. Cô em là Nhị. Trong lời tuyên ngôn của bà chị khi xuất quân đánh Thái thú Tô Định, bà tự xưng với trời đất “Thiếp là Trưng Nữ, hậu duệ thứ hai nhăm của Vua Hùng…” Sau khi đánh đuổi được Tô Định, thu hồi sáu mươi nhăm thành, bà xưng là Trưng Nữ Vương, lên ngôi vua.

 “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất, khoảng năm 40 sau Công nguyên. Nghĩa là rất sớm. Suốt cả ngàn năm Bắc thuộc sau đó có hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống quân xâm lược. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà chứng tỏ ý thức dân tộc và chủ quyền của nhân dân ta chống lại bọn giặc phương Bắc luôn muốn xâm lấn và đồng hóa nhân dân ta. Đấy là điều quan trọng nhất. Tiếp theo là các cuộc khởi nghĩa của anh em Triệu Quốc Đạt-Triệu Trinh Nương vào đầu thế kỷ thứ ba chống lại nhà Đông Ngô, rồi đến Lý Bí (Lý Nam Đế) chống lại nhà Tần, rồi cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) thế kỷ thứ tám, chống nhà Đường và sau đó là Phùng Hưng, nổ ra vào gần cuối thế kỷ thứ tám…

Ngọc say sưa “thuyết trình” về các cuộc khởi nghĩa chống đô hộ của dân ta và không biết thủ trưởng cũng đang ở ngoài lắng nghe. Ông vốn là dân tú tài thời Tây, nên cũng được học hành kỹ lưỡng. Nhân lúc Ngọc dừng nói, ông bước vào và hỏi mọi người:

- Này, mình thấy rất thú vị, xin đặt một câu hỏi với các đồng chí và cả “ông giáo lịch sử” nữa, tại sao một dân tộc nhỏ bé như dân tộc mình cứ phải đương đầu hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác. Làm thế nào để tránh được các cuộc chiến tranh? Tránh được là tốt hay xấu? - Ông nhìn Ngọc nháy mắt - thày giáo sử nhớ tìm câu trả lời cho tôi nhé, tôi sẽ nhớ và chúng ta sẽ thảo luận đấy... Bây giờ tôi bận, khi khác chúng ta sẽ dành thời gian nói chuyện. Tôi nói thêm với các đồng chí, phải nói thật ý nghĩ của mình, còn nói theo các bài giảng, tớ cũng biết cả rồi… Ông bắt tay Ngọc: “Cậu khá lắm…” và đi về phòng làm việc của mình.

Rất tiếc là sau đó không lâu, ông thủ trưởng đó được điều xuống đơn vị mới thành lập với chức vụ chính ủy sư đoàn. Trong cục ồn ào một thời gian về sự ra đi của ông. Bởi lẽ trước đó, người ta tưởng ông sẽ được cử đi làm tùy viên quân sự ở một nước Tư Bản. Ngọc không nói nhiều về ông, nhưng tiếc như đánh rơi một vật quý. Trong đầu Ngọc bỗng nảy một ý nghĩ khác thường… Giá như… Nếu mình có thể…Nhưng… Đời chẳng cho mình nhiều quá rồi sao… Liệu sự ham muốn của con người có giới hạn?

  

          Dẫu sao, câu hỏi của ông thủ trưởng cục vẫn là nỗi ám ảnh trong đầu Ngọc. Ngọc nghĩ, ông không nói chơi. Đây cũng là một câu hỏi ám ảnh đời ông, có lẽ ông cũng đã mất nhiều đêm trăn trở để tìm câu trả lời và như một lẽ thường, chắc ông cũng đã có nhưng lại không có người để trao đổi, để thổ lộ. Ngọc bỗng thấy nghi ngờ phương cách sử dụng con người và cả cho số phận con người. Ừ, đúng thật, mình đây chẳng cũng phải nín lặng những suy nghĩ riêng tư, mang tính phá cách để hòa hợp và thuần chủng đó sao.

          Lại ngẫm ngợi xa và sâu hơn. Dân tộc ta từ khi biết kết nối lại với nhau đã luôn chứng tỏ là một dân tộc giỏi chiến đấu, biết chiến đấu. Vó ngựa quân Nguyên dẫu tung hoành khắp nơi vẫn thảm bại ba lần khi vào nước ta. Rồi quân Minh, quân Thanh cũng vậy. Trước đây thế, hiện nay cũng thế. Chúng ta luôn được giáo dục tinh thần quên mình vì nước. Từ Nam quốc sơn hà, Nam đế cư  đến Hịch tướng sĩ, đến Bình Ngô đại cáo… Bất kể là thời nào, khí phách anh hùng luôn được đề cao. Dù có lấy “trí nhân thay cường bạo” thì vẫn phải “đánh cho chích luân bất phản/ đánh cho phiến giáp bất hoàn/ đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” và có phải chính vì chiến tranh liên miên mà chúng ta ít có thời gian ngẫm về mình? Có phải vì chiến tranh mà đất nước ít có điều kiện xây dựng? Nhìn ra xung quanh mà xem, chúng ta có mấy công trình mà cha ông để lại kỳ vĩ như những công trình của Lào, của Thái, của Căm-pu-chia. Chiến tranh đã tàn phá hết, cả kinh thành Huế nguy nga sát cạnh thời đại chúng ta, cũng mới bị phá tan hoang ngay sau ngày cách mạng thành công.

          Vậy ông thủ trưởng cục hỏi điều đó có ý gì? Tại sao ông lại đặt câu hỏi đơn giản như thế “làm thế nào để tránh được cuộc chiến tranh; tránh được là tốt hay xấu”. Ngọc nghĩ, ông có lẽ có quan niệm khác về cuộc chiến tranh này. Cuộc chiến này nếu hiểu theo ý “ngoại” thì đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Nếu như hiểu nó theo ý “nội” thì đó là một cuộc nội chiến, người Việt đánh giết người Việt, là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, khác nào cách đây hai, ba trăm năm, Trịnh – Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh làm giới tuyến.

Ngọc đã có lần nghe bố nói, ngay kẻ chuyên đem quân đi xâm lược suốt cuộc đời như Na-pô-lê-ông, cuối đời ông cũng nghĩ lại, giá như với trí tuệ thiên tài của ông, chỉ để phục vụ nước Pháp, thì nước Pháp đâu phải là nước Pháp hôm nay, kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh liên miên. Ông ân hận vì đã mất gần như cả cuộc đời vào các cuộc chiến tranh chứ đâu có ân hận nếu như để Châu Âu được hưởng hòa bình. Vậy có phải là, cần khuyên những ông vua đừng có “say” vào các cuộc chiến. Bởi suy cho cùng, cuộc chiến trường kỳ dai dẳng là một cuộc chiến thất bại. Người thất bại là nhân dân vì chỉ nhân dân phải trả giá cho chiến thắng. Bởi sau cuộc chiến là gì? Sẽ là sự mệt mỏi của cả kẻ thua lẫn người thắng, rồi vẫn phải bắt tay nhau vì một nền hòa bình. Còn kết quả với dân chúng là những người mẹ mất con, vợ mất chồng để mọc thêm nữa những hòn vọng phu, những bến không chồng, những chiến binh lê chân gỗ về quê xây dựng lại căn nhà dột nát.

Câu trả lời để tránh được cuộc chiến thuộc về các vị vua. Những người mệnh danh là cha mẹ của dân, vì vậy họ, những ông vua, phải sáng suốt quyết định vì lợi ích và hạnh phúc của dân tộc và nhân dân. Hình như ở một buổi nói chuyện ngoại khóa, một thầy giáo kể chuyện về nước Thái, đã tránh được vòng xoáy mọi cuộc chiến tranh, mà điển hình là trong chiến tranh thế giới thứ hai, nước Thái đã không bị hút vào trục phát xít gây chiến, vẫn bảo toàn được vị thế độc lập. Chuyện ông thủ trưởng cục được điều đi nơi khác là vì sao? Ngọc ngờ ngợ những suy đoán của mình về thủ trưởng cục.

Ồ, nếu vậy, chạy trốn được chiến tranh là tốt nhất. Còn nếu nó xảy ra, thì phải biết vì danh dự của Tổ quốc mà hy sinh. Ngọc muốn câu trả lời của mình đến với thủ trưởng cục.

 

Ngọc bỗng rùng mình. Cuộc đời lại quá tồi tệ vậy ư? Đâu là lý tưởng và đâu là thần tượng một thời tuổi trẻ của mình. Có phải hiện giờ, mình đã va vào cuộc đời với những bầm dập trong nội tâm chứ không bầm dập về thể xác như Ngân, như Hà. Đúng không nhỉ? Và thời gian vừa qua, khi Ngân và Hà lao vào trận tuyến cùng với những người là “nhân dân” thì mình lại lơ lửng đứng, lơ lửng đi và cả lơ lửng bay trong rất nhiều sự việc. Quả thật là khi được điều về đây, mình lơ lửng bay bởi đang gần như ở dưới đáy lại được nhấc lên gần đỉnh cao. Biết quá nhiều chuyện xưa nay không biết, kể cả những chuyện thực ra nhạt tuyếch mà rồi biến thành thần tượng. Mình đang trong guồng máy tạo nên cái giá mà nhân dân phải trả. Vậy mình là kẻ vô can hay kẻ có tội trong cuộc chiến tranh này. Mình là kẻ xúi dục hay kẻ ngăn cản cuộc chiến? Là kẻ ăn theo như quá nhiều con người nơi đây? Lý trí như đã có câu trả lời nhưng quyền lợi và một chút nghĩa vụ mong manh ràng buộc lại cho thấy mình chưa muốn dứt khoát. 

Mình nghĩ mình vô can vì mình chỉ là con tốt trên bàn cờ, là thằng binh bét trong thế trận. Nhưng mặt khác, mình lại là kẻ tuyên truyền cho cuộc chiến, thúc đẩy nguồn nhiệt huyết cho cuộc chiến chứ không phải kẻ ngăn cản. Nếu vậy thì mình không thể vô can. Sao lại thế nhỉ? Ngọc rối bời trong những mâu thuẫn do mình tự tạo ra.

Lại bỗng nhớ câu chuyện của Ngân với một phó chính ủy trung đoàn, ông ấy nói: “ Cái nghề của các cậu, sau chiến tranh còn có cơm ăn, nghề của mình, cái nghề buôn nước bọt…” Thằng Ngân có ám chỉ mình không? Mình vẫn khâm phục những bài diến thuyết của Lê-nin trước đông đảo quần chúng, cả Phi-đen ngày nay cũng vậy… Mình đã từng coi các vị đó là thần tượng. Chẳng lẽ… Không! Họ khác, họ là những vĩ nhân… Nhưng được mấy con người như vậy… còn những người như vị phó chính ủy kia và giống như vậy thì nhiều lắm, kể cả mình nữa. Mình biết, hầu như những con người đó đều nói theo bài đã hướng dẫn, nói vì trách nhiệm được phân công. Và thực ra, mấy ai dám sáng tạo và có khả năng sáng tạo ra ngoài hướng dẫn khi mọi thông tin đưa đến đều từ một nguồn. Chẳng lẽ chúng ta đều là những kẻ “ăn theo, nói leo”

ảnh inter net

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

TINH KHIẾT HƯƠNG ĐẤT TRỜI (tản văn)


 

            T   Tinh khiết hương đất trời




                                                                                              

           Chúng tôi đi trong xào xạc sớm xuân. Đang vào mùa hoa cỏ trỗi dậy sau một mùa đông lê thê, lạnh lẽo. Cánh rừng chúng tôi đang đi còn đang ướt đẫm sương của tinh khiết ban mai. Những giọt sương long lanh, óng ánh đọng nghiêng trên mép lá, tròn như những... hòn bi sương trong suốt, chỉ chực rớt xuống đất. Tôi cứ cảm tuởng đó là những giọt tinh khiết nhất của thế gian mà trên đời chẳng mấy ai có dịp may được gặp. Thậm chí, cứ nghĩ đến hay nói đến những gì trong suốt,  trong trẻo và vô tư, tôi đều cho nó là của hiếm trong cuộc đời này. Thế mới hay, cái tinh khôi và sự trong sáng quý giá biết bao nhiêu trong cuộc sống ngày nay mỗi chúng ta.

             Không ai vội vã. Chẳng việc gì phải vội vã! Con đường xuống bản người Dáy phía dưới kia có lẽ cũng chẳng bao xa. Đi trên này, từ bản người H’Mông, trong mù sương, tự nhiên thấy xuất hiện nhiều cảm xúc mới lạ. Con đường lúc ẩn lúc hiện làm tôi lẫn lộn cảm giác và nhận biết giữa thực và hư. Mây bay hay sương bay cũng không rõ nữa. Lúc tôi ngập trong mây và sương, cứ tưởng như mình được chắp đôi cánh thiên thần đang bay trên vườn địa đàng, mọi thứ mờ ảo phảng phất. Lúc thì lại lộ ra, dưới tác động le lói của những tia nắng hiếm hoi hay một tác động nào đó của cái sự đỏng đảnh khí hậu miền núi. Đúng là tôi đang bước những bước trên trần thế, gập ghềnh nhưng tôi lại đang hít thở từng luồng không khí trong lành, tươi rói vào tận ruột gan. Vội vã hít thở, cứ như chỉ một chút nữa thôi, cái trong sạch, tinh khiết này sẽ mất. Đương nhiên, tôi cũng thải ra ngoài ngần đó không khí sau khi đã được cơ thể hấp thụ những gì là tinh túy của khoảng trời đất nơi đây. Tôi đang làm ô nhiễm bầu không khí. Giá như không có tôi, cái con người bụi bặm trần thế này, không gian nơi đây còn trong sạch hơn. Buổi sớm, cái buổi còn đang chất chứa trong mình đầy những sự trong lành, thơm tho. Con người đang trong trạng thái sảng khoái và tươi tắn. Cảm giác lâng lâng và bay bay. Lúc này ta đang là con người trong veo thuần khiết, nhuần nhị, đôn hậu và chất phác. Ta là con người của nguyên sơ, của thiên nhiên, biết sống hòa chung mật thiết với muôn loài cây cỏ. Ta hiểu được tiếng của thiên nhiên và trong lòng duềnh lên những cảm xúc dạt dào về yêu thương với muôn loài, với thế giới quanh ta.

Tiếng chim sớm mai mới trong veo làm sao! Nếu ai đó còn vướng víu chút nhân gian sầu thảm, lòng còn nằng nặng với những ham muốn u mê, còn đắm chìm trong những toan tính thiệt hơn, chắc chẳng mấy khi được nghe các loài chim tranh nhau hót buổi sớm và càng chưa hiểu thế nào là bản hoà ca của các loài chim. Còn nếu như, một lúc nào đó, con người vứt bỏ được những đam mê hèn kém, lòng tràn ngập những nỗi niềm nhân ái, lúc đó, họ sẽ có được những phút giây êm ả, sảng khoái. Khoảnh khắc đó, con người như đã lột xác, vứt bỏ được những thói quen trần tục, những tính toán tham lam và sẽ cảm nhận được, ta đang trở nên nhẹ nhàng, thanh khiết. Ta đã hiểu những điều sâu lắng và niềm vui khi nghe được tiếng chim đồng ca. Những từ líu lo, véo von để chỉ tiếng hót của các loài chim, lúc này không thật đúng nữa. Ta đã hòa vào với thiên nhiên, là một phần của thiên nhiên, ta đã hiểu được tiếng chim muông, tiếng núi rừng. Chúng đang ca ngợi sớm mai mát lành, đang gọi nhau thức dậy đón chờ nắng ấm, đang chào chúc nhau nhân một ngày mới bắt đầu, đang khao khát yêu đương. Và có lẽ, có cả những bàn định cho một ngày làm ăn, thông báo cho nhau những dự định qua một đêm bình yên.

 

                                                     ******

Chúng tôi men theo một khe suối. Những hòn đá to bằng những cái đầu ô tô chắn ngang con suối, rải rác vắt vẻo suốt một chiều dài cả trăm mét đường đi gập ghềnh và dòng nước mát lạnh. Dọc hai bên suối là rừng cây thâm u chi chít, đan sát nhau rậm rạp, chắn hẳn tầm nhìn xa. Không có lối đi lên. Muốn đi phải tự mở lấy lối mà đi. Chúng tôi đi dọc theo suối xuống phía hạ lưu. Nước nguồn từ trên cao và từ đâu đó nhập lại làm nên dòng suối trong vắt này. Thi thoảng lại thấy một khe nước nhỏ róc rách nhập vào. Chẳng biết dòng nước ngấm từ đâu ra mà trong veo và mát lạnh đến thế. Cái lạnh và cái trong vắt làm ta cảm thấy sự thân thiện của núi rừng, yên tâm với sự trong sạch, không chút tạp nham bụi bặm. Không gian im ắng và thẳm sâu chứa chất những điều thần bí. Đôi khi, từ trong âm u và bảng lảng màn sương phía sau kia, vọng lại những tiếng lách tách, như tiếng chép miệng ngẫm ngợi và nhẫn nại của người già, tôi cứ tưởng tượng đó là tiếng chép miệng của thần núi. Đoàn người vượt qua những hòn đá ven bờ nước lặng lờ đầy rêu, trơn nhãy, phần trên mặt nước thì tròn bóng, nhẵn lì. Kỳ thú của thiên nhiên, bí hiểm của rừng già. Ngẫm câu “nước chảy đá mòn” có phần nào đúng với nơi đây?

                Bỗng nhiên, đập vào mắt mọi người, không xa là bao, chỉ vài chục bước chạy bộ, một cây trẩu nở hoa trắng xóa nổi bật giữa màu lam giản dị và thăm thẳm hoang sơ, huyền bí. Vậy mà không đến được. Thật trớ trêu. Một cô gái cùng đoàn đi cứ tiếc ngơ tiếc ngẩn. Thế là đã vào tháng ba ta, mùa hoa trẩu nở. Nhưng thần núi, thần rừng không phụ chúng tôi, phía trước chúng tôi, gần hơn với bờ suối, mọc liên tiếp nhiều cây trẩu nữa, có những chỗ chúng mọc tụm lại vài ba cây, năm bảy cây thành rừng. Đẹp một cách kì lạ. Bây giờ tôi lại thấy cái màu trắng của hoa giữa rừng cây xẫm đậm đó thể hiện sự kiêu sa, cao quý. Cây trẩu với toàn hoa trắng như cô dâu duyên dáng, lộng lẫy, đang khoác trên mình chiếc áo cưới tuyệt vời trong ngày đẹp nhất của đời con gái. Lúc này không phải là sự điểm xuyết của hoa trẩu giữa rừng cây xanh sẫm nữa mà là một rừng hoa trắng phau. Đã có lối lên. Cô gái và chúng tôi chẳng ai bảo ai, đều hướng về phía những “cây hoa trắng” bước tới. Hoa đẹp cả trên cây và đẹp cả lúc đã rụng xuống thảm cỏ dưới gốc. Hoa vẫn tươi nguyên, vẫn giữ nguyên cái nét cười tươi trẻ. Những bông hoa trắng rải đầy mặt cỏ như đang ngủ với nụ cười yên lành trên thảm xanh.. Sắc đỏ tím nơi nhụy hoa có phần nhợt nhạt trước màu trắng hoang dã. Vì cái hoang dã của màu trắng đó khiến người ta nhận ra được sự thanh tao của hoa, của cây cỏ và của núi rừng. Chỉ một điểm xuyết thôi, chỉ một loài cây thôi, chỉ một bông hoa thôi, mà bỗng dưng trái tim ta xao xuyến, rộn ràng, bỗng dưng ta muốn ôm tất cả, yêu tất cả. Lòng ta như mềm đi bởi tình yêu với thiên nhiên. Không phải, chính cỏ cây hoang dại đã làm mềm lòng ta, chính núi rừng và sự hoang sơ của nó làm ta trong trẻo và trở nên tinh khiết.

Trời lác đác mưa, những giọt mưa nhè nhẹ rơi xuống tán rừng bị hắt lên thành các hạt bụi làm mất đi cái sự oi oi bi bí khi đi trong rừng. Đường đi vì vậy càng dễ chịu, đậm thêm màu núi rừng, thấm thêm chất hoang sơ. Ta như hiểu thêm mảnh đất thời khai thiên lập địa mà cha ông tổ tiên ta đã sống.

 Thấp thoáng xa xa bên trời kia là những khoảng sáng và những tia nắng. Chúng tôi đã bỏ lại dòng suối róc rách chảy trong rừng, bỏ lại hoa trẩu trắng ngần, bỏ lại sự âm thầm và sâu lắng của rừng sâu để đến với ánh nắng. Có nét hớn hở trên từng khuôn mặt của đoàn người. Âm u và thanh khiết của núi rừng vẫn là điều gì đó xa vời với những con người đang sống. Ánh sáng ấm áp và dư âm của cuộc sống hiện đại vẫn là điều con người ấp ủ, mong muốn. Cho dù đó là những tia nắng yếu ớt, mong manh. Ta vẫn đặt vào đó niềm hi vọng một tương lai sáng láng.

Chúng tôi xuống bản người Dáy. Như dưới một thung lũng. Con đường đất được mở phục vụ cho du lịch đã rộng rãi và phẳng phiu. Hao hao giống cái vùng trung du với những tán cọ, đồi chè. Những cánh đồng bậc thang hình vòng cung ở đây ôm lấy từng quả đồi chứa đầy nắng và bát ngát xanh. Cái màu xanh tươi non của lúa khác cái thâm trầm u uẩn của rừng già trên cao kia. Con mắt cũng phóng khoáng và trải rộng mải miết hơn.

Chẳng khác bao nhiêu về độ cao nhưng cuộc sống ở bản người Dáy này có cái gì đã pha tạp. Có phải là từ con đường đất được mở rộng. Tại đây, ô tô của khách du lịch có thể dừng trước cửa nhà của người dân bản. Một cái gì đó níu kéo tôi nhớ về cái bản người H’Mông hôm qua. Nhà cửa của người Dáy nơi đây không khác người vùng quê nghèo trung du là mấy. Nền nhà đất vẫn mát lạnh và hơi ấm từ bếp vẫn tỏa ra mùi nồng ấm, đôn hậu. Ngọn lửa bếp không khi nào tắt như tình yêu của con người mãi vẫn tồn tại. Đặc biệt cách tiếp khách. Chúng tôi được mời uống rượu ngô. Rượu không nặng mà uống vào cứ bâng khuâng. Tôi thả lòng mình vào cốc rượu khi uống...

Những cánh đồng nước ở đây cho thấy bản làng đã được sự văn minh khai phá. Vẫn thơm tho cái mùi chất phác giản đơn tuềnh toàng. Hình như mùi thơm đó xuất phát từ đất. Nguyên thuỷ của đất là sự thơm tho. Có đất và nước mới có sự sống. Tôi nghĩ đến những bản làng người H’Mông trên cao nguyên đá, cảm phục sức lao động cần cù và phi thường của họ, bắt nơi toàn đá với nghĩa đen của nó sản sinh ra ngô gạo, từng hạt ngô, hạt thóc được gieo vào chút đất giữa các kẽ đá để lấy lương thực nuôi sống mình. Mồ hôi thấm sũng vào đất và đá. Hạt gạo, hạt ngô lẽ nào không thơm!

Cách sống con người nơi vùng núi cao này vẫn đậm vẻ chất phác, giản dị quá. Dù là Dáy hay H’Mông, tôi vẫn thấy hương đất trời, hương cây cỏ tồn tại trong mỗi con người họ. Chỉ có tôi, tôi đã suy xét và tính toán quá nhiều về cách sống và phương thức sống. Mà cách sống của tôi cũng có phải là của tôi đâu, nó được lai tạp từ bao nhiêu kiểu cách ở trên đời này. Tôi đang tìm cách biện luận cho cách sống của tôi, một cuộc sống tách rời với hương vị đất trời. Tôi thấy vô vị và nhạt nhẽo quá. “Phải rồi, tôi đang hòa vào nhịp sống của thời đại”. Tôi tự hài lòng với lời biện hộ cho cuộc sống của tôi.

 


                                                           29/4/09-ảnh internet