VINH ANH
NẺO ĐỜI
tiểu thuyết
27. Từ ngày được điều về văn phòng Tổng cục, Ngọc luôn bận rộn với công việc. Có lẽ một phần muốn
chứng tỏ năng lực, phần khác, muốn thể hiện rằng sự lựa chọn của cấp trên với
mình là đúng đắn.
Ngọc nghĩ, bọn Ngân, Nhân không bao giờ có thể tưởng
tượng là mình được tiếp xúc với những con người mà ngày xưa, chỉ nghe danh là
như thấy sự cao siêu với sự xa vời. “Gần mặt trời” Ngọc vẫn nhớ, có thể bị mặt
trời thiêu cháy. “Gần mặt trời” cũng là cơ hội để “vua biết mặt, chúa biết
tên”. Và càng ngẫm, Ngọc càng cảm thấy, đa số cái vị trí công việc làm nên danh
giá con người là chính. Bởi nếu như, đặt Nhân vào đây, nó cũng đầy đủ tư chất
như mình, có thể nó còn giỏi hơn. Bởi vậy, về được đây cũng gọi là trúng số,
rất đúng với khả năng và cả sự ham thích với công việc của Ngọc. Thâm tâm, Ngọc
không hề muốn khoe với hai thằng bạn về vị trí công tác của mình, nhưng với số
còn lại của cuộc đời, Ngọc có thái độ khác, cũng tùy từng hoàn cảnh.
Công việc của Ngọc là nhận báo cáo từ các nơi gửi về,
tập hợp lại những vấn đề đặc biệt để báo cáo thủ trưởng. Đúng là của một nhân
viên văn phòng, một công chức. Điều kiện cần phải có là, văn bản viết trình lên
cho thủ trưởng phải rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý, chính xác. Điều đã được các đồng
nghiệp căn dặn rất kỹ. Có lẽ đó cũng là một điều đã viết trong “sách giáo
khoa”. Ngọc nghĩ và cười thầm khi chỉ còn một mình.
Điều rắc rối trong mối quan hệ công việc bây giờ có lẽ
chỉ là đề phòng sự ghen ghét. Một vị trí thường xuyên được tiếp cận thủ trưởng,
không thể có sai sót. Sai sót sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của thủ trưởng và
chắc chắn, vị trí của mình cũng lung lay.
Ngọc cũng nhiều lúc rất rỗi rãi. Đâu phải ngày nào
cũng đọc báo cáo và viết báo cáo. Chuyện đó chỉ xảy ra hàng tuần. Cũng có đôi
khi đột xuất. Làm lính thì phải quen với những đột xuất. Một công việc khác
cũng cần đến quĩ thời gian là phải đi công tác xuống các đơn vị cùng các lãnh
đạo. Với vai trò trợ lý, Ngọc cũng chỉ đi theo để nắm tình hình. Nhưng chính
những buổi như thế này, được gần lãnh đạo cao cấp nhiều hơn và dễ có điều kiện
thể hiện bản lĩnh của mình trước các cấp lãnh đạo hơn. Ngọc rất khiêm tốn khi
nói về vai trò của mình với các bạn: “Là
trợ lý/ là thậm thà thậm thụt xin chữ ký/ là xắc cốt đeo vai lang thang mỗi nơi
một tí/ là ăn ghẹ nói leo/ gà thủ trưởng khi bí/ biết chỗ họp ở cơ quan/ thạo đường đi đơn vị/
biết nhà ở của cấp trên/ biết tên cháu, tên chị…”Chúng mày thấy trợ lý như
tao nhục không? Oách gì đâu mà thằng Ngân cứ trầm trồ. Tao biết mày ở đơn vị,
nhiều cái cực lắm, “ đầu binh cuối cán”
mà. Bọn tao đây toàn sĩ quan, chẳng phải gương mẫu gì hết.

Chuyện cán bộ trên cơ quan thì nhiều lắm. Có những
chuyện nhỏ nhặt, như con cá mớ rau của các bà nội trợ, nói về tính tình bủn xỉn
của một vị nào đó quá ư lo lắng cho công việc gia đình, những việc đáng ra phải
để bà vợ và những đứa con quen ỷ lại vào bố mẹ tự lo toan lấy việc nhà. Nhưng
cũng có những chuyện tày trời. Chuyện tày trời nói theo cái nghĩa chính trị là
liên quan đến sinh mệnh con người. Tất cả đều phải biết nhìn nhau giữ ý giữ tứ,
không thể cái gì cũng bô bô mang ra bàn
luận.
Có lần, chuyện bàn ngoài lề liên quan đến lịch sử. Mọi
lần bàn chuyện, với đồng nghiệp cùng phòng, ngọc luôn đóng vai trò “bé’ nhất,
bởi Ngọc trẻ nhất và quân hàm cũng thấp nhất. Cho nên, nhiều vấn đề, Ngọc biết
đấy, nhưng cũng không tiện tham gia với các bậc đàn anh. Một sự nín lặng vẫn
hơn một sự phô bày. Nguyên tắc của Ngọc học được là thế.
Nhưng hôm nay nói chuyện lịch sử. Chuyện lịch sử nhưng
không phải nói về “người cổ xưa” như ngày nào Hà vẫn nói đùa các bạn khoa sử.
Chuyện lại liên quan đến thời nay. Đó là nói về việc chúng ta chưa coi trọng
lịch sử dân tộc mình. Một đề tài khá thú vị bỗng nhiên xuất hiện bởi một câu
hỏi đánh đố kiểu trẻ con: “Hai Bà Trưng thì bà nào là chị, bà nào là em?” Vậy
mà, không thể tưởng tượng nổi, cái phòng chuyên lo về sinh mệnh con người này
lại rất ỡm ờ về lịch sử Hai Bà. Có ông nói đại nhưng gần đúng: Đó là hai chị
em. Có ông bảo chuyện xảy ra từ thời củ tỉ âm ti, sao mà nhớ. Có ông vung ra
một thời đại rất dài, chắc chắn xảy ra vào thời Bắc thuộc.
Chàng cựu sinh viên khoa sử trường Đại học danh tiếng
của Thủ đô bị lôi vào cuộc, được dịp trình bày. Với phong cách của một giảng
viên, một sinh viên sử, bài nói chuyện ngẫu hứng của Ngọc khiến mọi người rất
nể. Ngọc nói:
- Đầu tiên là vì sao lại gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị.
Mẹ hai bà chỉ sinh một lần được hai cô con gái. Ba năm sau mới đặt tên. Mẹ của
hai bà làm nghề tơ tằm. Theo cách làm việc của người nuôi tằm, lứa đầu gọi là
lứa chắc. Cô chị là Trắc. Lứa sau là lứa nhì. Cô em là Nhị. Trong lời tuyên
ngôn của bà chị khi xuất quân đánh Thái thú Tô Định, bà tự xưng với trời đất
“Thiếp là Trưng Nữ, hậu duệ thứ hai nhăm của Vua Hùng…” Sau khi đánh đuổi được
Tô Định, thu hồi sáu mươi nhăm thành, bà xưng là Trưng Nữ Vương, lên ngôi vua.
“Khởi nghĩa Hai
Bà Trưng xảy ra từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất, khoảng năm 40 sau Công nguyên.
Nghĩa là rất sớm. Suốt cả ngàn năm Bắc thuộc sau đó có hàng trăm cuộc khởi
nghĩa của nhân dân chống quân xâm lược. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà chứng tỏ ý thức
dân tộc và chủ quyền của nhân dân ta chống lại bọn giặc phương Bắc luôn muốn
xâm lấn và đồng hóa nhân dân ta. Đấy là điều quan trọng nhất. Tiếp theo là các
cuộc khởi nghĩa của anh em Triệu Quốc Đạt-Triệu Trinh Nương vào đầu thế kỷ thứ
ba chống lại nhà Đông Ngô, rồi đến Lý Bí (Lý Nam Đế) chống lại nhà Tần, rồi
cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) thế kỷ thứ tám, chống nhà Đường
và sau đó là Phùng Hưng, nổ ra vào gần cuối thế kỷ thứ tám…
Ngọc say sưa “thuyết trình” về các cuộc khởi nghĩa
chống đô hộ của dân ta và không biết thủ trưởng cũng đang ở ngoài lắng nghe.
Ông vốn là dân tú tài thời Tây, nên cũng được học hành kỹ lưỡng. Nhân lúc Ngọc
dừng nói, ông bước vào và hỏi mọi người:
- Này, mình thấy rất thú vị, xin đặt một câu hỏi với
các đồng chí và cả “ông giáo lịch sử” nữa, tại sao một dân tộc nhỏ bé như dân
tộc mình cứ phải đương đầu hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, hết cuộc chiến tranh
này đến cuộc chiến tranh khác. Làm thế nào để tránh được các cuộc chiến tranh?
Tránh được là tốt hay xấu? - Ông nhìn Ngọc nháy mắt - thày giáo sử nhớ tìm câu
trả lời cho tôi nhé, tôi sẽ nhớ và chúng ta sẽ thảo luận đấy... Bây giờ tôi
bận, khi khác chúng ta sẽ dành thời gian nói chuyện. Tôi nói thêm với các đồng
chí, phải nói thật ý nghĩ của mình, còn nói theo các bài giảng, tớ cũng biết cả
rồi… Ông bắt tay Ngọc: “Cậu khá lắm…” và đi về phòng làm việc của mình.
Rất tiếc là sau đó không lâu, ông thủ trưởng đó được
điều xuống đơn vị mới thành lập với chức vụ chính ủy sư đoàn. Trong cục ồn ào
một thời gian về sự ra đi của ông. Bởi lẽ trước đó, người ta tưởng ông sẽ được
cử đi làm tùy viên quân sự ở một nước Tư Bản. Ngọc không nói nhiều về ông,
nhưng tiếc như đánh rơi một vật quý. Trong đầu Ngọc bỗng nảy một ý nghĩ khác
thường… Giá như… Nếu mình có thể…Nhưng… Đời chẳng cho mình nhiều quá rồi sao…
Liệu sự ham muốn của con người có giới hạn?
Dẫu sao, câu hỏi của ông thủ trưởng cục vẫn là nỗi ám
ảnh trong đầu Ngọc. Ngọc nghĩ, ông không nói chơi. Đây cũng là một câu hỏi ám
ảnh đời ông, có lẽ ông cũng đã mất nhiều đêm trăn trở để tìm câu trả lời và như
một lẽ thường, chắc ông cũng đã có nhưng lại không có người để trao đổi, để thổ
lộ. Ngọc bỗng thấy nghi ngờ phương cách sử dụng con người và cả cho số phận con
người. Ừ, đúng thật, mình đây chẳng cũng phải nín lặng những suy nghĩ riêng tư,
mang tính phá cách để hòa hợp và thuần chủng đó sao.

Lại ngẫm ngợi xa và sâu hơn. Dân tộc
ta từ khi biết kết nối lại với nhau đã luôn chứng tỏ là một dân tộc giỏi chiến
đấu, biết chiến đấu. Vó ngựa quân Nguyên dẫu tung hoành khắp nơi vẫn thảm bại
ba lần khi vào nước ta. Rồi quân Minh, quân Thanh cũng vậy. Trước đây thế, hiện
nay cũng thế. Chúng ta luôn được giáo dục tinh thần quên mình vì nước. Từ Nam quốc sơn hà, Nam đế cư đến Hịch tướng sĩ, đến Bình Ngô đại cáo… Bất
kể là thời nào, khí phách anh hùng luôn được đề cao. Dù có lấy “trí nhân thay
cường bạo” thì vẫn phải “đánh cho chích luân bất phản/ đánh cho phiến giáp bất
hoàn/ đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” và có phải chính vì chiến
tranh liên miên mà chúng ta ít có thời gian ngẫm về mình? Có phải vì chiến
tranh mà đất nước ít có điều kiện xây dựng? Nhìn ra xung quanh mà xem, chúng ta
có mấy công trình mà cha ông để lại kỳ vĩ như những công trình của Lào, của
Thái, của Căm-pu-chia. Chiến tranh đã tàn phá hết, cả kinh thành Huế nguy nga
sát cạnh thời đại chúng ta, cũng mới bị phá tan hoang ngay sau ngày cách mạng
thành công.
Vậy ông thủ trưởng cục hỏi điều đó có
ý gì? Tại sao ông lại đặt câu hỏi đơn giản như thế “làm thế nào để tránh được
cuộc chiến tranh; tránh được là tốt hay xấu”. Ngọc nghĩ, ông có lẽ có quan niệm
khác về cuộc chiến tranh này. Cuộc chiến này nếu hiểu theo ý “ngoại” thì đó là
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Nếu như hiểu nó theo ý “nội” thì đó là một
cuộc nội chiến, người Việt đánh giết người Việt, là cuộc chiến huynh đệ tương
tàn, khác nào cách đây hai, ba trăm năm, Trịnh – Nguyễn phân tranh, lấy sông
Gianh làm giới tuyến.
Ngọc đã có lần nghe bố nói, ngay kẻ chuyên đem quân đi
xâm lược suốt cuộc đời như Na-pô-lê-ông, cuối đời ông cũng nghĩ lại, giá như
với trí tuệ thiên tài của ông, chỉ để phục vụ nước Pháp, thì nước Pháp đâu phải
là nước Pháp hôm nay, kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh liên miên. Ông ân hận vì
đã mất gần như cả cuộc đời vào các cuộc chiến tranh chứ đâu có ân hận nếu như
để Châu Âu được hưởng hòa bình. Vậy có phải là, cần khuyên những ông vua đừng
có “say” vào các cuộc chiến. Bởi suy cho cùng, cuộc chiến trường kỳ dai dẳng là
một cuộc chiến thất bại. Người thất bại là nhân dân vì chỉ nhân dân phải trả
giá cho chiến thắng. Bởi sau cuộc chiến là gì? Sẽ là sự mệt mỏi của cả kẻ thua
lẫn người thắng, rồi vẫn phải bắt tay nhau vì một nền hòa bình. Còn kết quả với
dân chúng là những người mẹ mất con, vợ mất chồng để mọc thêm nữa những hòn
vọng phu, những bến không chồng, những chiến binh lê chân gỗ về quê xây dựng lại
căn nhà dột nát.

Câu trả lời để tránh được cuộc chiến thuộc về các vị
vua. Những người mệnh danh là cha mẹ của dân, vì vậy họ, những ông vua, phải
sáng suốt quyết định vì lợi ích và hạnh phúc của dân tộc và nhân dân. Hình như
ở một buổi nói chuyện ngoại khóa, một thầy giáo kể chuyện về nước Thái, đã
tránh được vòng xoáy mọi cuộc chiến tranh, mà điển hình là trong chiến tranh
thế giới thứ hai, nước Thái đã không bị hút vào trục phát xít gây chiến, vẫn
bảo toàn được vị thế độc lập. Chuyện ông thủ trưởng cục được điều đi nơi khác
là vì sao? Ngọc ngờ ngợ những suy đoán của mình về thủ trưởng cục.
Ồ, nếu vậy, chạy trốn được chiến tranh là tốt nhất.
Còn nếu nó xảy ra, thì phải biết vì danh dự của Tổ quốc mà hy sinh. Ngọc muốn
câu trả lời của mình đến với thủ trưởng cục.
Ngọc bỗng rùng mình. Cuộc đời lại quá tồi tệ vậy ư?
Đâu là lý tưởng và đâu là thần tượng một thời tuổi trẻ của mình. Có phải hiện
giờ, mình đã va vào cuộc đời với những bầm dập trong nội tâm chứ không bầm dập
về thể xác như Ngân, như Hà. Đúng không nhỉ? Và thời gian vừa qua, khi Ngân và
Hà lao vào trận tuyến cùng với những người là “nhân dân” thì mình lại lơ lửng
đứng, lơ lửng đi và cả lơ lửng bay trong rất nhiều sự việc. Quả thật là khi
được điều về đây, mình lơ lửng bay bởi đang gần như ở dưới đáy lại được nhấc
lên gần đỉnh cao. Biết quá nhiều chuyện xưa nay không biết, kể cả những chuyện
thực ra nhạt tuyếch mà rồi biến thành thần tượng. Mình đang trong guồng máy tạo
nên cái giá mà nhân dân phải trả. Vậy mình là kẻ vô can hay kẻ có tội trong
cuộc chiến tranh này. Mình là kẻ xúi dục hay kẻ ngăn cản cuộc chiến? Là kẻ ăn
theo như quá nhiều con người nơi đây? Lý trí như đã có câu trả lời nhưng quyền
lợi và một chút nghĩa vụ mong manh ràng buộc lại cho thấy mình chưa muốn dứt
khoát.
Mình nghĩ mình vô can vì mình chỉ là con tốt trên bàn
cờ, là thằng binh bét trong thế trận. Nhưng mặt khác, mình lại là kẻ tuyên
truyền cho cuộc chiến, thúc đẩy nguồn nhiệt huyết cho cuộc chiến chứ không phải
kẻ ngăn cản. Nếu vậy thì mình không thể vô can. Sao lại thế nhỉ? Ngọc rối bời
trong những mâu thuẫn do mình tự tạo ra.
Lại bỗng nhớ câu chuyện của Ngân với một phó chính ủy
trung đoàn, ông ấy nói: “ Cái nghề của các cậu, sau chiến tranh còn có cơm ăn,
nghề của mình, cái nghề buôn nước bọt…” Thằng Ngân có ám chỉ mình không? Mình
vẫn khâm phục những bài diến thuyết của Lê-nin trước đông đảo quần chúng, cả
Phi-đen ngày nay cũng vậy… Mình đã từng coi các vị đó là thần tượng. Chẳng lẽ…
Không! Họ khác, họ là những vĩ nhân… Nhưng được mấy con người như vậy… còn
những người như vị phó chính ủy kia và giống như vậy thì nhiều lắm, kể cả mình
nữa. Mình biết, hầu như những con người đó đều nói theo bài đã hướng dẫn, nói
vì trách nhiệm được phân công. Và thực ra, mấy ai dám sáng tạo và có khả năng
sáng tạo ra ngoài hướng dẫn khi mọi thông tin đưa đến đều từ một nguồn. Chẳng
lẽ chúng ta đều là những kẻ “ăn theo, nói
leo”
ảnh inter net