Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

LÊN MIỀN TÂY (ký)

Chán phố phường quá. Giữa Thủ đô mà chỉ thấy những nhiễu nhương, giả tạo.
Nghĩ về cái nơi mà xưa cho là rất heo hút.
Người ở đây trong sáng và không đượm bụi trần gian
(ngày thông qua hp mới)

Lên Miền Tây

 

Chúng tôi lên Yên Bái vào tháng cuối năm. Theo hẹn hò của bạn bè trong hội Văn nghệ Yên Bái. Một vài anh em chúng tôi chưa có dịp lên vùng Tấy bắc xa xôi này, chưa hình dung rõ nét núi đồi trung du và rừng núi trập trùng nơi biên ải, có người trong chúng tôi coi chuyến đi có phần bụi bụi bởi đường xá xa xôi và hầu như tự túc này là lên Miền Tây. “Lên Miền Tây”, nghe đúng có vẻ xa xôi vời vợi và heo hút  hơn. Cũng kèm thêm một chút kiêu kiêu lãng mạn của đoàn quân không mọc tóc trên đường Tây tiến ngày nào.

 

Miền Bắc vừa qua một đợt rét. Hà Nội cũng vậy. Cái lạnh không có gì là đột ngột với người Hà Nội. Nhưng năm nay như có khác, người Hà Nội phải chờ rét. Chờ mãi rồi cũng đến. Đợt lạnh vừa qua có lẽ là đợt lạnh đầu tiên, dù mùa đông về đã lâu. Về đêm, nhiệt độ cũng mới chỉ quanh quẩn 14 đến 15 độ. Chắc cái lạnh đó cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng ở mạn Bắc, nơi biên cương đầu sóng, đầu gió, cái lạnh thấm sâu hơn và khắc nghiệt hơn. Truyền hình đưa tin Sa Pa có băng. Băng đóng tạo nên những cây hoa đá trắng trên xứ sương mù vốn cũng đã nhiều hoa. Sắc thái đó của thời tiết lại trở nên quyến rũ, mơ màng và lôi kéo người Hà Nội.

 

Chúng tôi đi vào ngày đông tràn nắng. Những giải nắng vàng nhẹ như mây và mỏng như lụa rải khắp mặt đất. Nắng mỏng manh và dìu dịu. Cái khô hanh, se buốt chỉ còn rơi rớt đâu đó. Vượt qua cầu Trung Hà, thấy làng quê phóng khoáng và thoáng đãng khiến lòng con người cũng muốn trải rộng, cởi mở hơn. Hơi thở của đất gặp được nắng ấm như đã toát mạnh lên sau đợt gió mùa buốt giá. Vẫn là đấy quốc lộ 32. Con đường có bắt nguồn từ cái đường 32 của Thủ đô mà đôi khi tôi vẫn thấy có người gọi? Cũng đôi khi, tôi  tự hỏi, sao giữa chốn phố xá ồn ào đông đúc lại có con đường mang cái số lạ lùng đó, nhưng rồi cái guồng xoáy cuộc đời cứ cuốn đi, cũng chỉ còn quên quên nhớ nhớ về một câu hỏi có phần nhẹ tếch, có phần bâng quơ, ngớ ngẩn của mình.

 

Lại là con đường như đã quen quen. Cảnh quen, đời cũng quen. Cứ ra khỏi nơi ồn ào đua chen của thị thành là lại bắt gặp cái cảnh quen quen đó. Cái vốn mộc mạc và chân chất trong con người trở lại. Ta lại được tắm mình trong hơi thở quê, nhịp điệu quê, nét đời quê. Ta như được về với cội nguồn, điểm xuất phát của cuộc đời mỗi con người. Những ý nghĩ đó gieo vào lòng ta một chút bâng khuâng, một chút xao xuyến và có cả một chút gì luyến tiếc nữa.



 

Vẫn là con sông Đà, vẫn là đấy sông Thao. Vi vút lau bên bờ sông đang mùa cạn nước. Lờ lững dòng nước trong veo khi chảy qua các bãi cát mênh mông. Cánh đồng làng quê đang thời ngơi nghỉ. Trơ đấy là những gốc rạ cụt lủn, khô khốc sau mùa gặt, những cây ngô sau kỳ bẻ bắp cũng đang khô theo từng con gió lạnh thổi từ phương Bắc. Mùa đông như đã thấm sâu vào đất, vào nước, vào cả cái không gian vắng lặng với những cây xoan gầy guộc mọc rải rác và nhiều nhất trên đường đi, lá như đã bắt đầu rụng, những chùm quả lúc lỉu không còn nữa mà là những quả xoan nhăn nhúm cuối mùa còn mắc lại thưa thớt trên cành cao, vẫn đung đưa chống chọi gió mưa và tiết trời buốt giá.

 

Cảnh chợ, cảnh người, cảnh phố xá các thị tứ, thị trấn dọc theo quốc lộ 32 cứ na ná như nhau. Lại cảm thấy thoáng bay qua nét buồn vì cái sự pha trộn, đua đòi, học mót một điều gì đó. Thỉnh thoảng vẫn thấy những ngôi nhà khang trang với mầu sơn lòe loẹt nổi lên trong cái không gian quê vốn luôn sẵn đẫy một mầu xin xỉn, xam xám, lam lũ quen thuộc. Thấy cái sự bon chen, lai lai đang gặm nhấm nét quê. Cảm như thấy bên cạnh mình thói đua đòi trưởng giả của những người nhờ thời mà cuộc sống phất lên hơn là cái sự giàu sang của một cái đầu biết lo toan tính toán.

 

Những người bạn của thành phố Yên Bái hiện đại hôm nay đón tiếp chúng tôi đầy tình người và còn hàm chứa trong đó hương núi, hương rừng từ thủa nào xa lắc cộng thêm cái vui gặp gỡ của những người đang cùng nghề viết làm cho cuộc chơi đậm đà hơn. Những câu thơ mang cái chất, cái hồn Yên Bái của Lê Thanh Bình vang lên. Trong tiềm thức, tôi vẫn nghĩ Yên Bái là xa xôi, là “mạn ngược”, là heo hút. Ngay trong thơ của Lê Thanh Bình cũng vẫn đau đáu cái ngày xa xưa, cũng có cái hoang dại, cái sơ sài, thô ráp cơ mà: “Bạn bè gặp, vỗ vai hỏi nhau/ mày ở cây số mấy/ cây số ba…” “ Những tiếng hú gọi nhau, chỉ người miền núi mới gọi nhau bằng cách hú…” “Lửa được đốt lên…” Người Yên Bái ngay đây còn cảm thấy như vậy huống hồ là tôi và nếu cùng ăn cơm với họ thì: uống rượu bắt tay, biết ngay Yên Bái. Cái hoang sơ mộc mạc thể hiện ở ngay trong bữa ăn, nó dân dã và chân tình lắm!

 

Nhưng Yên Bái xa xôi đâu thấm bằng nghe những cái tên tiếp theo: Mường Lò, Nghĩa Lộ và đặc biệt hơn nữa là Mù cang chải, đích cuối cùng của chuyến đi . Chặng đường hôm nay của chúng tôi là đến những nơi đó. Chắc nhiều người trong chúng ta đã nghe thấy những địa danh này. Ngày xưa còn đi học, tôi cũng từng được nghe và đọc sách nói về những địa danh đó nhưng chưa bao giờ lại nghĩ mình lại có dịp đặt chân đến những nơi này. Địa danh Nghĩa lộ cũng luôn gắn bó với địa danh Điện Biên. Nơi được vua Thiệu Trị vào giữa thế kỷ XIX đặt tên với ý nghĩa là vùng biên cương vững chắc. Tôi ngồi trên xe và hình dung cái chênh vêng vắt vẻo của con đường. Cha ông ta ngày xưa và cả ngày nay nữa, cũng chưa lâu lắm, mới khoảng ba, năm chục năm chứ mấy, còn đổ máu giữ biên cương chống quân xâm lược. Ngày xưa là ngay từ thời các vua Hùng ấy, rồi đến thời Tam quốc, thời Pháp thuộc, nơi đây đã trải qua bao cuộc chinh chiến và bao chế độ, dẫu là một tấc đất ở nơi đèo heo hút gió này, cuộc sống mông muội hoang sơ này, ông cha ta vẫn phải giữ bằng được.   

 



Vượt gần trăm cây số, chúng tôi đến Nghĩa Lộ. Cái tỉnh đặc biệt vùng Tây Bắc này đã bao lần hợp tách. Đọc trên mạng thấy đất này được hình thành từ thời các Vua Hùng. Thời Tam quốc, hết nhà Ngô đến nhà Tần, nhà Tuỳ cai trị. Thời nhà Lý thuộc tỉnh Hưng Hoá. Thời Pháp thuộc hạt Nghĩa Lộ, trực thuộc đạo quan binh thứ 4, miền Thượng du Bắc kỳ. Đến thời nay, Nghĩa Lộ cũng đã từng thuộc Khu tự trị Thái Mèo, đến khu tự trị Việt Bắc, nằm trong tỉnh Hoàng Liên Sơn, rồi ngày nay về với Yên Bái. Cũng còn có mấy huyện sáp nhập vào Sơn La, Lai Châu nữa. Với những lần tách nhập như vậy, chắc hẳn vị trí địa lý và sự phát triển kinh tế, xã hội của Nghĩa Lộ cũng có những điều đặc biệt.

 

Thị xã Nghĩa Lộ bao trùm cả cánh đồng Mường Lò nổi tiếng vùng Tây Bắc. Ai qua đây chẳng biết câu nói truyền miệng: nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc. Nơi đây nổi tiếng với hoa ban, gạo Mường Lò, xôi ngũ sắc, dệt thổ cẩm và du khách cũng chẳng thể quên được điệu xoè  uyển chuyển mà tình tứ đong đưa của các cô gái Thái. Đây chính là trung tâm kinh tế xã hội của miền Tây Yên Bái với 12 dân tộc chung sống cùng nhau.

 

Đường chúng tôi đi vượt qua những đồi núi đầy thông. Phải đến hai chục cây số vòng vèo qua những núi đồi thông như vậy mới đến huyện lỵ Mù cang chải. Với độ cao trên 1000 mét, nơi đây có khí hậu ôn đới hài hoà. Nhiệt độ trung bình cả năm chỉ 22, 23 độ. Giống Đà Lạt mộng mơ thế. Cũng thông vi vút bốn mùa và hiên ngang trước trời đất, cũng đồi núi trập trùng xanh mầu huyền thoại hoang dã, và cũng các cô gái dân tộc má hồng eo thon như trăng non e ấp, dịu dàng, những đức tính riêng của phụ nữ được gia đình giáo dục và rèn dũa từ những ngày còn thơ bé.



 

Mù cang chải, cái tên đọc lên thấy xa lơ xa lắc là đây ư? Gần vào đến trung tâm, chúng tôi gặp hai cô bé gánh lau trắng bồng bềnh trên vai. Gánh lau sải chân lên dốc che mất dáng người. Hai cô đi lấy lau về làm chăn. Hỏi các cháu bao nhiêu tuổi. Chúng cháu mười sáu. Hỏi các cháu có chồng chưa. Chúng cháu có rồi. Nói lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn. Cười xinh quá, vẫn trong veo ngây thơ của lứa tuổi trăng tròn. Hai gánh lau lại đi. Nhớ Ngô Văn Phú. Hai cô đang bận gánh mây trắng về nhà để vun vén, xây tổ ấm gia đình. Người nơi đây ăn ngủ đều hoà quyện cùng với thiên nhiên, bên cạnh thiên nhiên là thế! Chẳng vậy mà lòng ta cứ ngỡ đó là hoang sơ, đó là tinh khiết. Cũng tại đây ta thấu hiểu sạch trong như nước suối nguồn là như thế nào.

 

Nói đến Nghĩa Lộ, Mù cang chải hay Mường Lò ta không thể quên những nắm xôi, bát cơm nấu từ những hạt gạo sản sinh ra từ những mảnh ruộng nơi đây. Cánh đồng Mường Lò mênh mông  chỉ trơ những gốc rạ. Những thửa ruộng bậc thang đã được tôn vinh là những điểm du lịch đặc biệt cũng trơ gốc rạ. Nhìn toàn cảnh các ruộng bậc thang mới thấy sự hoành tráng,  mới thấy công sức con người của biết bao thế hệ đã đổ ra. Đất đai đang thời kỳ được hồi sức, nghỉ ngơi sau cuộc sinh nở. Vẫn đây đó có những vạt ngô xanh xanh đang chờ ngày bẻ bắp và ngay tại thị trấn, chúng tôi cũng bắt gặp những bông ban đỏ trái mùa. Tất cả những trái vụ, trái mùa đó chỉ nhắc nhở cho chúng tôi một vùng đất có những đặc sản khó quên, từ lâu đã đi vào tiềm thức con người. Đã đến là người ta nhớ ngay. Hoa ban đẹp một nét riêng trên xứ sở của nó. Trên đường Bắc Sơn ở Thủ đô, hoa ban có màu trắng tim tím. Hoa ban nơi đây mầu đỏ. Có phải đất  nơi đây đã thấm nhiều máu cha ông ta từ những ngày xưa giữ nước để có được mầu hoa đó

 

Đối với mọi chuyến đi, ấn tượng về thiên nhiên của địa phương là một trong những điều  luôn được ghi nhớ sâu đậm. Vượt dốc đèo, ngắm thắng cảnh trên đường đến huyện miền Tây Yên Bái Mù cang chải là một kỳ thú. Cảm giác say say hư thực. Nhìn lên trên cao: thấy chênh vênh bởi đường mở toàn trên triền  núi với mờ mờ mây và sương. Nhìn xuống phía dưới: đoạn đường xe vừa qua đâu có xa, chỉ cách ta vài chục mét, cùng lắm là vài trăm mét mà mất cả nửa tiếng đồng hồ lượn lèo. Con đường nhựa trải thảm đen sì như một con trăn rừng khổng lồ, vắt vẻo qua triền núi này sang triền núi khác, lúc ẩn lúc hiện như trẻ chơi trò ú tim, khi lộ ra dưới ánh nắng lúc mờ đi lẫn vào đám cây cối mờ sương. Trong xe đôi lúc mọi người lặng đi trước cảnh thiên nhiên hùng ví, hiểm trở và với người thành phố, vùng đất này vẫn đẹp một cách nguyên thuỷ sơ khai như thủa con người mới khai thiên lập địa.

Chè Suối Giàng nổi tiếng mọc trên độ cao 1000 mét cũng là một đặc sản khó quên. Truyền thuyết nói rằng đây là đặc sản của trời, quà của trời ban. Nghiên cứu của các nhà khoa học nói rằng đây là nguồn gốc thuỷ tổ của các loại chè hiện nay trên thế giới. Thôi thì chúng ta là người trần mắt thịt, hãy hưởng hương vị khó quên của trời đất nơi đây, từ những cây chè cổ thụ có tuổi đời cỡ trăm năm, già hơn, nghe nói đến ba trăm năm. Chúng tôi ôm những gốc chè có hình thụ kỳ dị, ghi lại hình ảnh những phút giây được lơ lửng giữa đất trời, bởi nơi đây cứ thoắt cái là mây che phủ, cảm giác bồng bềnh chốn bồng lai. Thú vị và vui lắm chứ! Một chút xuân tươi trở lại với những con người đều đã cỡ ngoài “tri thiên mệnh”.

 

Và cứ bồng bềnh như thế, say say như thế, chúng tôi rời độ cao trên 1000 mét. Con đường về lại ngoằn ngoèo bên những núi, những vực. Lại muốn được hỏi quá khứ chưa xa: Đường kéo pháo của cha anh ta ngày xưa như thế nào nhỉ?

 



                      ảnh internet     Vinh Anh  12/09

* Thơ của Lê Thanh Bình trong trí nhớ tác giả

 

 

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

GẶP LẠI NGÀY XƯA (t.ngắn-tiếp và hết)

Gặp lại ngày xưa


truyện ngắn

tiếp theo và hết
    *********

 

            Anh yêu, anh lính binh nhì của em, tướng quân của em! Anh là thế nào nhỉ? Em không hiểu nổi. Đang hoc hành tử tế thì đi lính. Chỉ còn hai năm nữa thôi, vội gì. Anh không đi theo phong trào đấy chứ. Không, nhất định không. Em đã phần nào hiểu được con người anh, tướng quân của em ạ. Đấy có phải là “Trai thời loạn” không anh? đấy có phải là ý chí, cũng là bản chất con người của anh? Có phải anh đang “Sống như Anh” không đấy?

            Ngày đó em chưa thật hiểu nhiều lẽ của đời. Đừng chấp em làm gì. Một đứa con gái mới lớn như em, có người nọ người kia để ý là lẽ đương nhiên. Anh sống “nhà binh” quá, dứt khoát quá. Còn em, em quá thơ ngây. Anh chẳng vẫn bảo em “trẻ con” là gì. Có lẽ em còn “trẻ con” hơn cả cô bé hàng xóm ngày xưa của anh. Anh cứ bảo anh không để ý đến cô ta. Chắc là có đấy. Anh không dám nhận phải không? Khi anh bị cô ta cù, anh có tức không? Anh cười cơ mà, cười thì làm sao lại tức được. Vậy nhất định là có cảm tình rồi!

            Em hỏi anh thật nhé. Trên đường hành quân vào chiến trường, anh đã quen bao nhiêu cô gái và khi nói chuyện với các cô ấy, anh có nhớ tới em nữa không? Em nghe nói, các cô gái khu tư là mạnh bạo lắm. Đúng không anh? Có cô nào đã chủ động hôn anh chưa? Anh còn nhớ những cái hôn của chúng mình không?

            Sau ngày anh vào trong đó, em vào đại học. Công việc học hành của bọn em cũng vất vả. Em sơ tán trên Lạng Sơn. Chẳng hiểu sao em cứ nghĩ quẩn khi đứng bên nàng Tô Thị. Liệu em có phải như vậy hay không. Cái dáng bồng con, chờ chồng đó làm em bồn chồn lắm, em đã khóc cho nàng Tô Thị, em cũng khóc cho bao nhiêu người đàn bà khác. Chẳng hiểu rồi em có khóc cho em không? Ôi, chiến tranh! Chẳng hiểu anh nghĩ về chiến tranh thế nào, còn em, em căm ghét nó lắm. Em biết một bài hát Nga. Em tin là sẽ đồng cảm với anh. Bài “Người Nga không thích chiến tranh”. Chẳng ai thích chiến tranh cả, đặc biệt là phụ nữ. Khi nào gặp anh, em sẽ hát cho anh nghe. Mau về đi anh nhé, anh lính binh nhì của em, tướng quân của em



 
           Sau chiến dịch lớn, anh và đồng đội được ra ngoài an dưỡng, củng cố lại ý chí và xây dựng lại lực lượng. Anh mong được gặp em, gặp lại tình yêu của anh. Mơ ước của những người lính trong chiến trường là như vậy. Chúng ta đã gặp nhau như thế nào nhỉ? Anh như đã mơ hồ nhận ra. Có phải con đường chúng ta đi không trùng nhau. Thời gian đã làm chúng ta hiểu thêm về nhau, ta phải nhìn rõ cái thực chất vấn đề. Trong chuyện rất đỗi riêng này, đừng bị đánh lừa bởi ám ảnh dĩ vãng tình yêu và những lời hoa mĩ. Cũng đừng bị mê đắm bởi khát vọng cuồng si nhưng tầm thường. Chính dịp này, em lại bảo anh tỉnh táo hơn. Anh yêu và anh tỉnh táo. Một lời khen hay một câu trách khéo? Sau này, đã bao lần anh đặt lại vấn đề đó với chính mình và anh vẫn trả lời, anh vẫn yêu em. Cái sự tỉnh táo có được là do cuộc sống thật mang lại cho anh. Anh đã trải qua nhiều nỗi đau và vì thế, anh tỉnh táo.

             Chúng ta đạp xe trên đường Cổ ngư và đi xa hơn nữa. Hàng phượng vĩ vẫn xoà bóng. Bấy giờ đang là cuối hè. Trời xanh, xanh đến trong veo. Cuộc vui không có chủ đích. Đơn giản là chúng ta được ở bên nhau. Anh thoả mãn và em cũng thoả mãn. Lần đầu tiên anh được đi quanh Hồ Tây. Chẳng biết là bao lâu và bao xa, chỉ biết đêm đó về mỏi dừ toàn thân và một giấc ngủ không mộng mị một mạch đến sáng bạch. Hôm đó, mình ngồi ở ven sông, một nơi vắng vẻ, trên triền đê. Cỏ mịn màng và sạch sẽ. Một tầm nhìn phong quang phía ngoài xa, bãi cát sông Hồng ngút ngát. Những căn lều tạm bợ của những cuộc đời có hoàn cảnh éo le xô đẩy. Một thảm xanh những ngô non và đậu và lạc. Cảnh quê ngày đó còn đậm nét lắm. Chẳng hiểu sao, với anh, mỗi khi nhìn thấy cánh đồng làng là tâm hồn anh dịu lại, nhẹ nhàng và thanh thoát. Lòng lâng lâng  như muốn trải ra, muốn một được ôm một không gian gì đó thoang thoảng chất quê và hương quê ấm áp, mơ hồ nhưng lại cụ thể như là cỏ xanh kia, như bãi ngô mềm mựơt hay những luống khoai xanh mướt. Bỗng dưng anh lại nghĩ về dáng em ngồi trên chiếc xe đạp  rất “mốt” xe Mi-pha thời đó. Cái dáng nó thế nào ấy, hơi khó khăn với người đi lần đâu, người cứ phải duỗi dài ra dọc theo thân xe. Có thể về tạo dáng rất đẹp với con gái nhưng anh lại thấy thiếu một sự tinh tế, kín đáo của những cô gái ngồi trên chiếc xe “Pơ- giô”. Đấy có phải là sự mơ hồ của anh? Và anh đã như nhìn thấy cái sự mơ hồ của mình, có phải em là biểu tượng của sự đổi mới, còn anh, anh vẫn mộc mạc, đơn sơ quá.





Anh đã ôm em bên bờ sông lộng gió chiều hôm đó. Hình như đấy mới là lần thứ hai chúng ta tuyệt đối của nhau. Gốc cây ổi mồ côi bên sông đã chứng kiến chúng ta yêu nhau. Những nụ hôn cứ mát lành và dài dằng dặc như những ngọn gió sông Hồng. Chẳng còn gì mơ mộng hơn và lãng mạn hơn nữa. Bãi cỏ xanh bỗng chốc là tấm thảm mượt mà. Những lọn tóc dài của em xổ tung bay dạt theo chiều gió. Anh có cảm tưởng như đấy là nàng công chúa chứ không phải là em nữa. Em đã hoá thân, đã biến đổi chính bởi từ sự trong trắng, dịu dàng.

            Trời tối thật nhanh. Hà Nội dạo này thường mất điện. Từ bãi sông nhìn về thành phố chỉ thấy nhập nhoà một vài đốm sáng. Thay vào đó là trăng. Em có hỏi anh “Thời ở Trường Sơn, anh thấy điều gì đẹp nhât?” Anh trả lời là “trăng đẹp nhất”. Chắc em không biết trăng rừng đẹp và sáng đến mức độ nào. Đêm nay cũng vậy, anh liên tưởng tới cái ngày anh ở Trường Sơn, anh lại nhớ tới câu hỏi của em. Trăng bên sông đêm nay còn đẹp hơn nữa, bởi bên anh, em như một nàng công chúa dịu dàng.

            Đêm nay anh và em đã là của nhau. Của nhau với ý nghĩa một tình yêu trong sáng.

                                           *********

 
 Không ai hiểu vì sao tình yêu tan vỡ.(2)

             Sau chiến tranh, nàng ra nước ngoài tu nghiệp  một thời gian. Anh vẫn lặn lội trên biên giới, hết phía Nam lại lên phía Bắc. Mỗi lần nghĩ đến cách gọi anh của nàng, khi thì anh lính binh nhì, khi thì tướng quân, anh lại mỉm cười. Cái cười thơ trẻ và đẹp. Như cái thủa cô bạn hàng xóm cùng nhà trêu anh. Rồi sau đó, anh được đi học. Không phải học tiếp ở Bách Khoa mà là ở học viện Quốc phòng. Anh trở thành nhà lí luận quân sự chiến tranh. Những quan điểm, quan niệm về chiến tranh của anh có lẽ không hợp thời. Anh vốn tính “nhà binh” con nhà nòi và vì thế, đối với anh, đường đời gập ghềnh như vốn có từ ngàn xưa khi chưa có con người trên trái đất.

            Họ đã ra cái nơi toàn nước loang loáng và lóng lánh bởi phản chiếu của ánh điện. Một hòn đảo di động giữa hồ. Một chỗ ngồi lí tưởng của những cặp tình nhân, khi mà tiếng nói của tình yêu và những ve vuốt tình yêu đã không thật sự cần thiết. Thay vào đó, là được ngẫm cái sự xa cách bên nhau, nghĩa là được ngẫm về những ngày đã qua. Cái đó cần hơn, bởi nó chìm và lắng. Nó đọng lại tự mấy chục năm và hôm nay mới dần dần tự nó được xé mở. Chứng tỏ họ đã già, người già cần quá khứ! Gió như im ắng, một vài hạt nước li ti bắn lên từ mặt hồ theo vòng quay tuốc bin của nhà hàng nổi. Con tầu đi dưới trăng và sao. Lãng mạn ngày nào lặp lại, nhưng nó có vẻ đài các và quí tộc. Một cái gì đó gờn gợn trong con mắt anh.

            - Sao ngày đó chàng binh nhì bỏ em. Đã bao lần em đi tìm anh mà anh không tìm em? Có khi nào anh đi tìm em không?

            - Công chúa vì sao lại ra nước ngoài? Công chúa không chịu được cuộc sống đầy rẫy khó khăn ngày đó? Công chúa bỏ binh nhì để đi với hoàng tử?

            - Không hẳn là như vậy! Tướng quân. Mà đừng tra cứu nhau làm gì nữa. Cái đó đâu còn tác dụng cho ngày hôm nay. Mặc dù em công nhận, cuộc sống có tất cả các điều đó. Tướng quân chân chất có hiểu mình muốn gì ở cuộc đời không?

            - Anh không là tướng quân, anh muốn là binh nhì ngây thơ trong mắt em.

            - Em cũng mong như vậy, nhưng anh lại không thể hiện như vậy. Anh vẫn muốn làm tướng.






- Đó là thói xấu của anh, của người đời và anh phải trả giá. Em nghĩ gì về những ngày đã qua, của anh và của em.

            - Em chẳng nghĩ gì hết. Em chỉ nghĩ đến nàng Tô Thị bồng con. Cả nước có biết bao nàng Tô Thị đứng chờ các anh, các binh nhì và các tướng quân. Và em sợ. Nỗi sợ rất đỗi đàn bà, tướng quân biết không? “Nhất tướng phong hầu, vạn cốt khô”.

            - Anh không biết!

            - Vậy thì lúc này anh là chàng binh nhì của em.

            - Anh cảm thấy em rất “thời đại”. Em là mốt người đàn bà hiện đại. Anh hướng tới, có thể gần như ngưỡng vọng nhưng anh lại không muốn làm một chi tiết trong đó.

            - Tướng quân, tướng quân là người bảo thủ. Nhìn cách ăn mặc của anh, trong mắt em, anh là binh nhì. Với suy nghĩ của anh, trong mắt em, anh là tướng quân. Cái nét yêu của anh rồi cũng phai phôi. Cái đáng ghét của anh là lực cản đường. Ngày đó, chúng ta chia tay nhau là đúng, dẫu rằng có nuối tiếc nhưng tình cảm vẫn theo suốt cuộc đời cả hai chúng ta.

            Đoạn đối thoại không lời trên còn diễn ra cả buổi tối, nếu con tầu không cặp bến. Mỗi người một ý nghĩ. Họ vẫn trả lời những câu hỏi của nhau và hình như, họ thoả mãn. Có chăng, một nét buồn bâng quơ bay ngang, khi hai người chia tay bên chiếc xe ô-tô chờ sẵn đón người phụ nữ. Người phụ nữ chủ động ôm người đàn ông. Họ đứng bên đường khá lâu trước những ánh mắt lạ lẫm, ngạc nhiên, tò mò của những người qua lại.

                                                                                   
                                                                                                                10/7/0V VA  10-07-08
 
ảnh internet
 

 
(1)     ý lời đối thoại trong tiểu thuyết “Con đường đau khổ”

(2)     lời bài hát “Mối tình đầu

 

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

GẶP LẠI NGÀY XƯA (t. ngắn-phần 1)


Gặp lại ngày xưa

            Truyện ngắn
             (Phần đầu)
 

            Vậy là ba mươi năm đã qua.

            Họ ngồi đối diện nhau qua một chiếc bàn tròn. Im lặng trùm trong khoảng không gian vốn đã rất trầm và yên ả. Không gian tĩnh mịch mang mùi vị của mùa thu buồn của môi trường buồn đưa họ về với ngày xưa, tạo cảm giác dễ chịu hơn, nhẹ nhàng hơn. Những phút yên lặng đó mới tuyệt diệu làm sao. Cả hai đều không muốn nói. Cả hai đều như sợ và không muốn phá vỡ giây phút này. Mà hình như họ như đều cảm thấy, nói cũng chẳng ích gì. Đổ vỡ cũng đủ rồi, xa xôi và chia li cũng đủ rồi.  Một đời người dài có là bao mà lại muốn đổ vỡ thêm nữa, chia li thêm nữa. Hình như họ đã thấm cái sự đổ vỡ. Cái sự thấm ngấm ấy chẳng lấy gì để mà đong đo được, chẳng lấy gì để mà so sánh được. Nó là một đại lượng mà chỉ có đôi con người trải qua cảnh đó mới thấu hiểu. Người khác cũng tương tự ư? Vâng, nhưng chỉ có thể thông cảm thôi, còn cái sự thấm ngấm thì khó san sẻ lắm, cả khó thổ lộ nữa. Diễn đạt một vấn đề về tình cảm quả vô cùng phức tạp và khó khăn. Nếu như lại có thể lặp lại, cái sự ngẫm có thể thấm thía chắc chắn phải nhiều hơn cái sự nói.

            Ư, thì đã ngần ấy thời gian! Tưởng như thời gian có thể sói mòn tất cả, tàn phai tất cả. Đâu phải là như vậy. Nàng đấy! Anh đấy! Hiển hiện như một chứng nhân. Không tàn phai và cũng chẳng sói mòn. Vô lí! Cả hai đều đã phôi phai, cả hai cũng đều mệt mỏi. Và một điều nữa, cả hai đều nhận thấy, ở trong nhau cùng đang chảy những dòng lũ. Cơn lũ tình cảm chứa chất đầy ứ nhưng bị vùi lấp suốt mấy chục năm trời. Nhiều điều tưởng như vô lí, nhiều điều tưởng như trái ngược… Cơn lũ tình cảm đang trồi lên dữ dội mà cả hai lại đều kìm nén, và họ kìm nén được.



“Hình như nàng hơi đẫy ra, trông ra dáng mệnh phụ quá. Sao mà anh ấy già đi nhiều thế, vẫn cái cốt cách ngày xưa.” Cả hai như cùng muốn bật lên những câu hỏi tiếp. Họ chưa nghĩ gì về xa xôi, càng chưa có dịp ôn lại những ngày xưa. Ngay cả câu hỏi đầu tiên của phút gặp lại họ cũng chưa kịp thốt ra. Họ có đôi chút lạng vạng, nghĩa là có đôi chút không thăng bằng, chỉ thoáng thôi, cái tích tắc đó qua đi rất nhanh, người ngoài chẳng ai nhận biết, nhưng loáng qua cái ánh mắt bắt gặp, họ ngỡ ngàng phút giây, và rồi, mọi sự đều bình thường trở lại. 
                                           *********

  Đôi chiếc lá rơi bay bay qua đầu nàng, có chiếc nửa xanh nửa vàng đậu trên mái tóc nàng. Nàng không để ý. Thời gian đậu trên mái tóc và cho ta cảm nhận cái sự bạc bẽo của thời gian. Không, không, tóc nàng vẫn còn đen lắm! Vậy mà tại sao loáng trong ý nghĩ, anh lại so sánh chiếc lá rơi còn nửa xanh nửa vàng và mái tóc nàng. Anh yên lặng khi ngắm nàng một cách rất nhẹ nhàng, nhẹ nhhàng như ngày xưa, cái ngày hai người còn rất trẻ. Khi thì nhìn ra xa xa, cái nhìn có phần mơ mộng, mơ mộng như ngày xưa nàng thường nhận xét về anh, với hàm ý ở trong anh có ẩn chứa một sự yếu đuối, không mạnh mẽ, không nam tính. Nàng thường chê anh nhút nhát. Anh không cảm thấy như vậy nhưng anh không cãi. Anh chỉ cười. Tiếng cười che dấu một câu nói phản đối. Lúc đó, anh cầm tay nàng, bóp mạnh, để đến nỗi nàng phải kêu hoặc nhăn mày anh mới chịu buông. Chẳng hiểu sao, nàng lại để anh bóp tay mình mạnh thế. Có thể, nàng muốn tìm hiểu sự mạnh mẽ của anh

Nàng nhớ lại một lần đi chơi. Họ đi bộ bên con đường rợp bóng me bên hè vắng của thành phố ngày chiến tranh. Chiến tranh ở đâu xa chứ không phải nơi đây. Nàng chưa có ý thức gì về cuộc chiến. Cuộc chiến là ở nơi xa đâu đó, cuộc chiến nằm ở tầm cỡ “ông bà”. It ra, cuộc chiến cũng là ở các chú bộ đội. Còn nàng, nàng vẫn còn đang tuổi thiếu niên, ngấp nghé vào tuổi thiếu nữ. Hồn nhiên và trong trắng. Nét hồn nhiên và sự trong trắng mà bản thân nàng không nhận biết được. Chỉ có anh, anh nhận ra như một phát hiện và anh nâng niu nó như một kỉ niệm. Điều đó mãi sau này, anh mới nói với nàng. Không nói trực tiếp mà là qua những bức thư khi hai người đã xa nhau. Anh viết: “ Em có biết cảm giác của anh thế nào không khi thấy em nhìn anh hơi bĩu môi và hơi đánh đôi mắt đen dài, khi nghe anh nói “hái lấy chùm lá me này để nhớ lại ngày bé, trèo me trèo xấu” và anh đưa nó cho em. Sau này anh viết thư và hay nói về con đường với những cây me của chúng mình. Hồi đó, những cây me còn thấp lắm, với tay là ngắt được mà. Bây giờ con đường đó là con đường nào anh còn nhớ không?


            Anh vẫn nhớ. Nhưng cái lưu vào anh, cái hình ảnh của em ấy, lại là đôi mắt và cái bĩu môi nửa vời kia. Ngoài ra, vắt vẻo sau lưng là lọn tóc tết đuôi sam, tóc em dài thế, vắt vẻo như ngúng nguẩy, như dỗi hờn phía sau tấm lưng mỏng mảnh ấy, em có nhận ra điều đó không? Ôi ngày hôm đó, hình như cũng là mùa thu. Đúng là mùa thu. Trời dịu mát, hai đứa chúng ta thanh thản và vô tư và khờ dại. Cả hai đều đang muốn làm người lớn. Em biết không?Hồi đó mới chỉ có một mình anh là lớn, còn em, em chưa từng được làm người lớn. Anh biết rõ điều đó, tuy rằng hồi đó, chúng ta đều còn dại khờ. Anh tuy được làm người lớn nhưng anh lại vụng về. Anh chưa biết được tâm lí con người, không phải chỉ là với em mà làđối với tất cả mọi người trong gia đình, và với cả bạn bè nữa.



Anh chưa từng có bạn gái. Thực ra thì cũng có, nhưng không rõ ràng. Ơ cùng khu nhà với anh, có một cô bé. Hình như nhỏ hơn em một chút. Hồi mà anh biết cô bé đó, anh còn nhỏ, đâu như mới học lớp năm. Con trai mười ba mười bốn tuổi, con gái mười hai tuổi, có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn, anh không chú ý, bởi vậy anh không coi cô bé kia là bạn. Còn coi là gì anh cũng chẳng có khái niệm. Cô bé đó rất thích chơi với anh. Không phải anh tự khoe đâu mà là thật đấy. Cái ý thích buồn cười nhất của cô bé cùng khu nhà là muốn cù vào người anh, để anh cười, để anh buông cuốn truyện đang cầm trên tay mà chơi với nó. Chơi như thế nào, anh cũng chẳng nhớ. Có thể là nghe cô bé nói chuyện, có thể là cùng đi chơi hay cùng nấu cơm gì đó… Đấy , cô bạn bé nhỏ của anh thời anh còn đi học là thế đấy. Sau này khi đã kha khá lớn, nghĩa là ba bốn năm sau, gia đình cô bé chuyển đi nơi khác, đôi lúc nhớ lại, thấy vắng thiếu một bóng dáng tuổi ấu thơ và anh nghĩ ra, đó chính là cô bé hàng xóm. Anh tiếc và anh giận mình, sao ngày đó mình lại quá ư là ngốc nghếch, ngốc nghếch đến ngu muội dở hơi.

            Từ chuyện về chùm lá me có thể kể thêm nhiều chuyện khác. Nàng đưa mắt ra xa. Chúng ta đã ngồi với nhau như thế này bao nhiêu buổi. Nàng nhớ về một chiều đến hẹn nhà anh. Thời chiến, các em của anh đi sơ tán theo mẹ. Căn nhà chỉ có tháng đôi lần, bố anh tạt qua, gọi là cho nó có hơi người, gọi là nhà vẫn còn có chủ. Trước khi em đến, anh có dịp quan sát cái khu tập thể mà gia đình đã sống. Phía kia là nhà bách hoá với vài thứ hàng lèo tèo bày mẫu được bố trí ở tầng trên, còn phía dưới là cửa hàng lương thực và thực phẩm, chuyên bán những thứ tối thiểu cần thiết cho cuộc sống con người, tất nhiên theo một tiêu chuẩn nhất định.

            Từ căn nhà của gia đình anh, có thể quan sát được em đến từ xa. Vì phải xem khi nào em đến, nên anh mới có điều kiện quan sát khu tập thể mà gia đình mình sống. Từ đó có thể nhìn thấy cửa hàng bách hoá và cửa hàng lương thực thực phẩm. Nhưng cái đáng nhớ hơn, ngoài xa nữa kia, ngôi trường cấp hai vắng tanh. Học trò theo gia đình sơ tán về nông thôn hết. Ngôi trường cũng như các toà nhà trong khu tập thể có nét gì hao hao giống nhau ở dáng cao cao, vuông vuông với màu sơn tường vàng và các cánh cửa màu xanh. Kiểu nói của các cụ ta ngày xưa: cứ như trứng gà trứng vịt, như anh em một mẹ. Giống hệt nhau. Nét tự hào của một thời. Cuộc sống con người luôn lấy cái sự phục vụ nhân dân làm thước đo, cái ý thức đối với tập thể làm sự sống. Cuộc sống cần gắn liền với tập thể, với xã hội. Hàng cây bên hè phố ngày đó còn nhỏ lắm, chưa vươn cao, toả bóng. Nó cũng thấp bé như hàng me chiều thu nào đó, em đi cùng anh, để anh thấy ánh mắt đen dài và cái bĩu môi nửa vời.




            Khi đã mỏi mắt chờ và cũng mỏi mắt nhìn ngắm cái khu tập thể yêu quí của mình mà em không đến, anh lăn trên  giường mơ một giấc về cánh buồm đỏ thắm, về công chúa và hoàng tử, về biển cả và chim hải âu. Em đến ngoáy mũi anh, giống như cô bé ấu thơ ngày nào cù vào người anh. Chúng ta làm gì chiều hôm đó nhỉ? Anh chỉ nhớ, sau khi em ngoáy mũi anh, anh mở mắt dang rộng đôi tay, kéo em nằm đè lên anh với những nụ hôn ngọt lành, một mùi thơm mát lành thoang thoảng. Da thịt con gái mát thế. Chúng ta ôm nhau, cơn khát nhớ thương, cơn khát yêu đương đã làm chúng ta quấn lấy nhau. Chẳng biết thời gian trôi về đâu, chẳng biết trái đất quay thế nào, em nhắm mắt đón chờ những cái hôn, khi thì dồn đập , khi thì lướt mướt, khi thì hôi hổi lửa cháy từ môi anh. Vậy mà em vẫn tỉnh. Con gái luôn biết giữ mình. Dù cả khi bất ngờ khuy áo em bật ra, làn da trắng như sáp và ngọn núi đôi làm anh chao đảo, làm anh mê đắm, ngất ngây,cả tò mò nữa, nhưng anh vẫn không thể chạm được vào . Chiều ngày hôm đó là thế, tối ngày hôm đó cũng thế. Em vẫn bất khả xâm phạm, anh bất khả chiến thắng. Nhưng mà ta lại càng quí nhau hơn, yêu nhau nhiều hơn. Đó là cái điều bí ẩn mà lại rõ ràng của tình yêu. Những nụ hôn cứ dài mãi, bất chấp thời gian hay là nó tự bản thân dài như thời gian không biết.

            Chúng mình ngày hôm đó không đói. Chúng mình ngày hôm đó ăn bằng tình yêu. Nhưng những ngày như vậy không nhiều. Ngày tình yêu của chúng mình ít lắm. Những ngày riêng đó của nhau đếm trên đầu ngón tay cũng không hết. Thời gian thì không thiếu mà thời gian lại chẳng phải của mình. Có lẽ vì thế mà anh nhớ như in những buổi chúng mình là riêng của nhau, cho nên, anh yêu bằng tưởng tượng nhiều hơn. Anh luôn hình dung em với cái bĩu môi nửa vời, với ánh mắt đen và sâu thăm thẳm, với chiếc đuôi sam vắt vẻo sau lưng và đặc biệt, anh luôn mơ về những nụ hôn ngọt ngào, mềm mại. Ngọt cũng là tưởng tượng. Mềm cũng là tưởng tượng. Tất cả những điều này, chỉ  sau những giờ phút bên em, anh mới thấm.

            Anh nói về chuyện thời gian. Thời gian của đời thì nhiều mà thời gian của riêng chúng ta thì ít. Chiến tranh mà. Em nhớ không? Ngày đó chúng ta đang sống trong thời chiến. Anh mặc áo chiến binh như bao thanh niên học sinh thời đó. Anh cũng không ngờ màu áo đó theo mãi cuộc đời anh. Anh tự hào  về nó. Niềm tự hào mà anh dần nhận ra không có ở em. Đấy có phải là những hạt cát trong tình yêu của chúng ta?




            Sau những giờ phút của tình yêu của hai chúng ta, anh phải lên đường. “Lên đường” nghĩa là vào tiền tuyến, xa hậu phương, xa em. Chiến tranh. Ngay từ những ngày “non nớt” đó, anh đã suy nghĩ rất nhiều về chiến tranh. Anh đọc nhiều sách. Sinh viên mà! Thời đó, có bao nhiêu sách dịch từ những cuộc chiến tranh Vệ quốc, đến những chuyên tình lãng mạn của nền văn học Xô viết bọn sinh viên các anh đều đọc hết. Cả em cũng vậy. Anh nhớ, trong túi của em luôn có một quyển truyện. Có thể là truyện của Anh, của Pháp đã được dịch. Thời đó, sao lứa chúng ta quí sách thế!

            Chúng mình cũng đã có những lần nói về sách phải không em? Nhưng chúng ta không nói théo kiểu “Thép đã tôi”. Anh rất thích “Con đường đau khổ” và đặc biệt thích tập đâu “Hai chị em”. Anh cũng dùng lời nhân vật trong truyện nói với em, lời của nhân vật cũng là lời của anh, tiếng nói từ trái tim của anh, từ những suy nghĩ của anh: Những cuộc chiến tranh sẽ trôi qua, những cuộc cách mạng sẽ thôi gầm thét, và chỉ còn lại, tình yêu của anh đối với em”(1). Ôi sao mà lãng mạn! Giá như lúc đó anh cầm tay em và nói bằng âm hưởng của tình yêu, chúng ta chắc chẳng khác gì hai diễn viên đang đóng phim. Phim ngày đó cũng chỉ lãng mạn đến thế là cùng.

            Anh nằm trên võng giữa những cánh rừng già Trường Sơn và nghĩ đến em. Thoảng đâu đây lời bài ca nói về đời người trai chinh chiến. Người trai sống giữa núi đồi. Đương nhiên là buồn và nhớ. Anh không dấu lòng mình trong những giờ phút của riêng mình. Nghĩ đến em và nghĩ về chiến tranh và cả những con người, những thân phận trong cuộc chiến đó. Em biết không, may cho anh là có một tình yêu để nhớ, để tưởng tượng ra những gì sẽ cao hơn, xa hơn cả tình yêu. Em biết  đó là gì không? đó chính là cái ngày mà em sẽ là vợ anh. Anh đã nghĩ quá xa? Hình như vậy! Trong anh có những phút giây lẫn lộn giữa lí tưởng phải cống hiến và hạnh phúc cá nhân mà mình đáng được hưởng. Mà chắc em không thể biết, sự lãng mạn của tình yêu chúng ta là “lãng mạn tiểu tư sản”, có thể bị phê phán vì nó làm lu mờ đi sự hi sinh vì Tổ quốc. Âu cũng là một thời!

            Cũng trong thời gian này, anh cảm thấy anh lớn lên rất nhiều. Mười mấy năm trên ghế nhà trường không thể là không có ích. Những kiến thức học được trên ghế nhà trường và mấy năm thời sinh viên sôi nổi giúp anh rất nhiều, đặc biệt là cách nhìn nhận đánh giá sự việc. Có thể nói anh tự tin hơn vào bản thân. Chẳng dễ gì có được sự tự tin đó, nếu không tự bản thân trải qua giờ phút giữa sự sống và cái chết. Anh nói anh lớn lên là nhờ đã trải qua những giờ phút đó. Anh cũng tự hào, điều này chỉ nói riêng với em, chẳng mấy ai có được niềm tự hào đó, vì giữa sự sống và cái chết, bộc lộ rất rõ bộ mặt thật của những con người. Một cậu sinh viên cùng lứa với anh đã thể hiện được điều đó. Trong thâm tâm, anh rất phục cậu ta. Nhưng bề ngoài, anh lại không muốn lộ ra điều đó. Anh cũng rất xấu phải không em? Con người ta muốn đi lên thì bên cạnh anh ta, đám đông kia phải thấp xuống. Đã có những lúc anh ghen với cậu sinh viên nọ và khi chỉ còn riêng mình, ngẫm lại, thấy nhục nhã quá. Có lẽ vì thế, anh  trở nên khá hơn. Đúng là những điều đó anh học được nhờ vào môi trường thực tế và em biết không, còn nhờ ở một điều khác  nữa, những cuốn sách anh đọc được ngày còn trên ghế nhà trường. Cũng không thể không kể đến, trong tim anh, có một tình yêu trong trắng. Những nét thơ ngây học trò của cô bạn ngày xưa trong khu tập thể cũng xuất hiện trong anh những giờ phút buồn âm thầm giữa mưa rừng đại ngàn. Trộn lẫn trong anh là mọi thứ. Từ đây anh bắt đầu nghĩ về chiến tranh. Chiến tranh trong suy nghĩ của anh là tình bạn thời ấu thơ, là tình yêu của em, là sự xa cách, là sự so sánh và ghen tức âm thầm với cậu bạn sinh viên, là những bộ mặt thật con người bên sự sống và cái chết. Anh thấy cái nghiệt ngã và cả sự dã man vô lí của nó trong từng tiếng bom rơi, tiếng pháo nổ. Vừa mới tiễn đưa các bạn về nơi yên nghỉ bên ngọn đồi không tên lại là những tiếng cười của những con người được hưởng phút giây hạnh phúc nào đó vì những sự hi sinh, mất mát kia. Cay đắng, buồn vui và nước mắt đã hoà trộn trong dòng máu của anh.




 Cuộc chiến có lẽ còn dai dẳng. Anh và biết bao người nữa là người trong cuộc nhưng không một ai có thể trả lời được khi nào thì cuộc chiến kết thúc. Hoà bình, không bom đạn chỉ là niềm mong ước khó thực hiện. Không một ai có thể trả lời được. Anh từng nhìn bầu trời trong xanh của mình và mơ một ngày nào đó đi trên đường không còn lo tiếng có máy bay ném bom. Anh từng mơ sẽ được nô dỡn trên biển Quảng Bình. Nghĩ và mơ và anh vẫn âm thầm lao vào cuộc chiến như một mắt xích của cỗ máy khổng lồ. Không được ngừng và cũng không thể ngừng. Trước mắt bọn anh, hai từ ‘Thắng lợi”luôn là những lời động viên, những lời cổ suý hay nhất và cũng chỉ có như vậy, chiến tranh mới có thể kết thúc. Không biết bên kia chiến tuyến thế nào, cũng vẫn là những con người thuộc dòng giống con Rồng cháu Tiên, nói ra một tiếng là hiểu nhau, vậy mà chúng ta bỗng dưng trở thành kẻ thù của nhau. Những ngày đó, anh nghĩ về chiến tranh là như thế. Anh lớn lên và trưởng thành là như thế. Anh hiẻu cuộc sống theo cách vào đòi của anh. Chẳng hiểu có giống ai không?
                                           *********









Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

SĨ DIỆN (suy ngẫm)





`Sĩ diện

Con người nhiều thói xấu, tật xấu. Cái xấu hay gặp nhất trên đời đối với số người làng nhàng tạm gọi là có đôi chút hiểu biết là thói sĩ diện. Thói sĩ diện tưởng chừng đơn giản nhưng lại khó vượt qua. Chẳng mấy ai, trong phạm vi được gọi là làng nhàng, không mắc thói xấu này. Suy rộng ra, thành phần mắc thói sĩ diện có thể còn rộng hơn, nhiều hơn nữa. Tỉ dụ trong gia đình, ông chồng nào mà chẳng sĩ diện với vợ, ông bố nào chẳng ra vẻ thông hiểu với con cái. Con người vốn dĩ luôn nghĩ mình là người hiểu biết, nắm được vấn đề, thậm chí còn cho mình là người tốt, người giỏi là đằng khác. Chí ít, cũng hơn nhiều người. Số người đó là bao nhiêu, không cần biết. Đó là điều dễ hiểu, bởi đấy chính là sự không muốn công nhận cái kém, cái dở, cái xấu trong con người mình. Và cũng từ đâu đó, rất tự nhiên trong suy nghĩ, luôn có sự phản ứng tự bảo vệ, mình không phải là con người tầm thường như thế, không xấu như thế, không kém cỏi như thế.




 Sĩ diện là gì? Đó là sự không công nhận mình thua kém ai, là phải hơn người. Không hẳn tự khoe, không hẳn phô phang ra ngoài, nhưng trong thâm tâm vẫn cho rằng, cái gì đó vừa xảy ra, chẳng là gì với mình, mình biết qúa đi chứ. Cái đó người ta gọi là bệnh sĩ.

Thói sĩ diện, không ai nghĩ nó là bệnh, chính vì thế, người mắc thói sĩ diện dễ mắc thêm bệnh “tưởng”. “Tưởng” ở đây là tưởng tượng hay tưởng bở. Vậy là lại thêm bệnh. Đã mắc bệnh “sĩ” là không thoát bệnh này đâu. Mà càng lên to lên cao, càng trầm trọng. Hậu quả của nó là không thấy mình sai, chỉ thấy mình đúng. Mà cái đám lâu la, đệ tử cũng đểu, chẳng có đứa nào chỉ cho biết hết. Thì nguyên do nó có từ gốc, việc gì ông chẳng luôn cho mình đúng, mình sáng suốt. Bố bảo cũng chẳng có ai dám góp ý với ông. Bởi ông luôn đúng, nên lũ lâu la nó chiều ông, nịnh ông mà ông không biết đó thôi.




Những điều đó bắt nguồn từ xã hội.

 Bệnh sĩ là bệnh xã hội. Xã hội càng quan liêu, càng mất dân chủ, càng độc đoán chuyên quyền càng bị bệnh nặng. Chẳng đâu xa, cứ lấy xã hội ta đang sống làm ví dụ, đủ hết.

 

Xã hội ta đang sống là kế thừa của nền thiết chế “dân chủ” của chính thể “cộng hòa” từ năm bốn nhăm. Nhưng thực sự, chính thể và thiết chế này chưa hình thành rõ nét trong quảng đại nhân dân vừa thoát khỏi thời ngu tối bị đế quốc, phong kiến áp bức, lại phải chịu đựng những cuộc chiến tranh liên miên kéo dài ba chục năm và lại còn thêm nữa những cuộc chiến tranh biên giới, cho nên, người dân chưa hiểu rõ khái niệm thể chế cộng hòa và thiết chế dân chủ.

 

Thể chế cộng hòa đặt vào nó quyền lực cao nhất do chính nhân dân bầu lên

Dân chủ chính là “quyền cho dân mở miệng” theo đúng hiến pháp và pháp luật.

 

Thực chất người dân chúng ta không có hai thứ đó. Nghĩa là, nói thẳng ra, dân ta vẫn ở trong thời kỳ phong kiến, bị kìm kẹp. Bị kìm kẹp mà lại cứ phải nói là được tự do, nói để cho nó lành, như không hề biết bị kìm kẹp, bởi trong đầu đã và luôn có một sự khiếp sợ cố hữu làm cho tư tưởng tự do không thể thoát ra được, nói đúng hơn là không dám thoát ra khỏi sự cương tỏa vô hình. Sự cương tỏa đó chính là sự cai trị. Người dân không được hưởng sự cai trị bởi những người thực sự do dân bầu, cho nên chúng ta không tìm được những người xứng đáng. Kết quả là xã hội cứ rối tung như hiện nay, một thể chế mà người dân chỉ có quyền nghe và chấp hành. Còn nếu có ý kiến phản biện sẽ bị ghép cho tội chống đối chính quyền bằng những điều khoản rất mập mờ ghi trong hiến pháp hay bộ luật hình sự. Thế mới biết sự kìm kẹp thật kinh khủng, nó khiến cho con người ta “tự giác giam hay đặt” mình vào trong nó một cách tự nhiên, tự nhiên như là vốn phải như vậy.

 




Bệnh sĩ có tính di truyền trong cả gia đình và xã hội. Trong một xã hội thiếu dân chủ, bệnh sĩ càng nặng, bởi thực chất đó là xã hội phong kiến, quan hệ giữa con người với con người là quan hệ vua- tôi. Đã là thần dân thì với vua chúa làm gì có chuyện dân chủ. Nói có dân chủ là cách nói lấy được của kẻ có quyền nói.

Xã hội mắc bệnh nặng vì đám vua quan không còn biết nghe tiếng nói của người dân nhưng lại luôn luôn lên mặt dạy bảo dân. Mỗi lời nói ra được bọn nịnh thần đầy nhung nhúc tâng lên là sáng suốt, là ý vàng bạc, lời châu báu. Tự dưng, cảm thấy mình luôn luôn đúng. Đúng mãi thành quen, nếu có sai cũng phải bỏ qua và sẽ phải hiểu cho đúng. Quan từ đó không biết nhận sai lầm. Cái sĩ ngày một lớn. Đến một lúc nào đó, không còn nhận được mình đang ở đâu. Ở xã hội mất dân chủ, điều đó đầy rãy. Ở nước ta điều đó đầy rãy. Đó là lẽ tự nhiên và người dân nước ta cũng tôn trọng cái lẽ tự nhiên đó. Chẳng hiểu sao dân ta cứ muốn ngu, tự làm khổ mình như vậy.

 

Hay đó cũng bởi dân mình mắc bệnh sĩ? Đúng vậy chăng? Cái gì chứ, ở cái tuổi mình bây giờ, toàn gặp những ông thánh ông tướng, cái ngày còn đi làm có một chút quyền lực, có một chút uy, nói như búa tạ mà chẳng làm ra cái tích sự g. Bây giờ về vườn, chắc cũng có nhiều điều không vừa ý cuộc sống hiện tại, chuyên nói kiểu chửi đổng, chửi vung lên trời ấy mà, chửi là để xả cái xì-tréc. Cái đấy cũng đúng là sĩ diện phải không? Có lẽ về phương diện nào đó, cũng na ná.

 

Viết cái này là viết ra cái điều mình nghĩ. Mình cũng là thằng chúa sĩ diện. Thì đã nói rồi, cả xã hội nó như vậy, đâu có thoát được căn bệnh đó.

 28/8/2012-Ngập ngừng mãi mới xong.
 
ảnh internet
 

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

BẰNG LĂNG(thơ)

Vào đông. Bằng lăng đã trút lá.
Nhớ mùa hè hay là muốn níu kéo ngày xưa
 

 Bằng lăng

 

 

                    Xoai xoải chiều, nắng nhạt đậu trên vai

                    Bằng lăng tím, chao ôi, sao mà tím

                    Cái sắc tím cho đời bịn rịn

                    Từ cái nỗi bâng khuâng đến cái dáng dại khờ

 

                    Trống rỗng con đường trang kí ức vẩn vơ...

 

 Gió vật vờ thổi nắng dạt về xa

Hương nồng ấm có phai pha một ít

Tôi thầm tiếc cái mầu biền biệt

Một thoáng thương trong vệt nắng u hoài


Xao xác buồn, ngâm ngấm đợi chờ ai...
 
 

          Gốc bằng lăng, đôi bạn tình đẹp quá

Chiều thơm hơn, suối chải tóc vai mềm

Gió thẫn thờ để thời gian đứng yên

Cho ta cảm tình yêu luôn là điều trăn trở

 
Sao sắc tím, bạn ơi, cứ dại hoài muôn thuở...

 

                                                            Vinh Anh-22/05/09