Mầm xanh
Truyện ngắn
Ngày đó tôi còn
rất trẻ, mười tám tuổi đời, cùng đồng đội trấn giữ con đường huyết mạch trên
cao điểm 585. Cao điểm đó lính lái xe và lính công binh chúng tôi gọi là cổng
trời. Tôi cũng chưa rõ sự quan trọng của con đường này lắm. Nghĩa là nó dẫn đi
đâu, phục vụ chiến dịch nào hoặc cho địa bàn nào. Tôi được đưa từ phía sau lên.
Phía sau không phải là hậu phương, phía sau đây là hậu cứ của trung đoàn tôi.
Bom đạn đối với chúng tôi chẳng lạ lẫm gì, cũng đã quá quen rồi. Không ở trọng
điểm này thì ở trọng điểm khác, thậm chí có cậu còn nói: “Không hi sinh hôm nay
thì ngày mai hi sinh” cơ mà. Nói như vậy là chỉ cái sự ác liệt của những vị trí
mà trung đoàn chúng tôi đảm nhận.
Ngày đó tôi còn
rất trẻ, mười tám tuổi đời, cùng đồng đội trấn giữ con đường huyết mạch trên
cao điểm 585. Cao điểm đó lính lái xe và lính công binh chúng tôi gọi là cổng
trời. Tôi cũng chưa rõ sự quan trọng của con đường này lắm. Nghĩa là nó dẫn đi
đâu, phục vụ chiến dịch nào hoặc cho địa bàn nào. Tôi được đưa từ phía sau lên.
Phía sau không phải là hậu phương, phía sau đây là hậu cứ của trung đoàn tôi.
Bom đạn đối với chúng tôi chẳng lạ lẫm gì, cũng đã quá quen rồi. Không ở trọng
điểm này thì ở trọng điểm khác, thậm chí có cậu còn nói: “Không hi sinh hôm nay
thì ngày mai hi sinh” cơ mà. Nói như vậy là chỉ cái sự ác liệt của những vị trí
mà trung đoàn chúng tôi đảm nhận.
Tôi
mới nhập ngũ được một năm. Chỉ sáu tháng ở chiến trường mà tôi lớn lên bao
nhiêu, già dặn bao nhiêu. Tôi cũng không kịp nhận ra sự biến đổi quá nhanh đó ở
tôi. Tôi chỉ biết là mình đã trải qua ít nhất là một lần suýt chết. Còn những
lần như bom bi nổ rào rào trên mặt đường cũng chả coi là gì, thậm chí có những
viên đã găm vào áo giáp của tôi, có viên kêu đánh choang vào mũ sắt. Cái “suýt”
của tôi chính là mảnh bom toạ độ cắm vào đất ngay đầu tôi, làm nóng một bên má, bong lớp da má bên trái của tôi,
nó chệch đi một hai xăng-ti vào phía gáy hay vào đầu là tôi có thể không còn ở
trên đời nữa. Tôi nhặt mảnh bom lên, cầm trên tay mà vẫn còn thấy nóng bỏng
lòng bàn tay của mình.
Những
ngày trên trọng điểm “cổng trời” là những ngày tôi lớn lên nhanh nhất. Tôi dạn
dày bom đạn, tôi biết cách tránh bom đạn, tôi thuộc bài của bọn giặc lái và làm
vô hiệu hoá bom đạn của bọn nó được. Bom không nổ lăn lóc cạnh đường, bom chui
sâu xuống đất chưa nổ, bọn tôi phá ngon
ơ. Cũng những ngày này, tôi mới cảm thấy cuộc sống và cái chết thật gần nhau.
Người ta có thể chết ngay sau bữa cơm, ngay sau tiếng cười. Mới đêm qua còn nằm
với nhau, ngày hôm nay đã đem bạn đi chôn. Tất cả những chuyện đó diễn ra bình
thường, diễn ra như cơm bữa. Tôi dạn dày bom đạn là như vậy. Tôi lớn lên nhanh
là như vậy. Tôi phản ứng với sự sống và cái chết rất tài tình. Có thể vì thế mà
tôi tồn tại.
Từ
hậu cứ của trung đoàn lên đến trọng điểm “cổng trời” phải đi bộ mất hai tiếng.
Chúng tôi lên cổng trời bằng xe ôtô của các đoàn vận tải cơ giới vào ban đêm.
Hầu như ban đêm là thời gian lính công binh chúng tôi làm việc. Cánh vận tải
bằng xe cơ giới cũng vậy. Những chiếc Zin rách tã tời, xộc xệch, méo mó quăng
quật trên đường,trải qua bao ngầm, bao suối mà không hiểu sao cái thùng xe vặn
vẹo hết sang trái lại sang phải đó vẫn giữ được các hòm đạn, các bao gạo hay
thịt thà, đường sữa gì đó. Cánh xế thì thực phẩm nhiều và dư thừa, bọn lính
chốt chúng tôi thì thiếu thốn mọi thứ. Bọn xế vẫn thường chi viện cho chúng
tôi. Chẳng là chúng tôi bảo đảm sự thành công cho bọn nó mà lị. Ai đã từng ở
trên chốt đều có thể thấy cái tình cảm gắn bó này của chúng tôi.
Những
ngày nhàn trên cao điểm là những ngày mưa hoặc mù trời. Nghĩa đen của nó là ít bom đạn hơn. Những
ngày đó chỉ có bọn toạ độ và bọn B52 làm việc. Đương nhiên bọn xế và bọn lính
đường chúng tôi cũng phải làm việc nhiều hơn. Nhưng nói nhàn rỗi là vì thời
tiết như vậy nên ít bom, ít đạn. Chỉ
đứng ở chốt mà đếm xe, nhìn xe vù ga đi qua. Đường xá ít hỏng, bọn OV-10 ít xăm
soi, bọn C-130 ít tắc cụp, tắc cụp. Mà sao bọn nó bắn giỏi thế, cứ lộ một cái
là thằng OV-10 chỉ điểm được ngay. Lúc đó thì cha con liệu liệu mà tránh bom,
tránh đạn. Liệu liệu mà tìm chỗ ẩn giữ chắc lấy cái “gáo”, rồi thì lại chuẩn bị
lấp hố bom, san phẳng mặt đường.
Tôi
quên chưa nói về quang cảnh cái nơi gọi là “cổng trời” này. Đây là điểm cao
nhất. Đứng trên này có thể nhìn thấy sự quanh co, lượn lờ của con đường qua các
ngọn đèo, qua các con suối, nhìn thấy cả từng chiếc ôtô đang cố gắng, phì hơi
leo từng con dốc. Đẹp một cách ngoan cường và mới thấy giá trị của từng con
người đang góp sức lực của mình cho thông tuyến nơi đây. Ngày tôi được lên trấn
giữ “cổng trời”, nơi đây cũng đã có vô cùng nhiều chiến tích. Tôi là lớp lính
kế thừa. Kế thừa cả vinh quang và ác liệt. Xung quang, cái bán kính tầm mắt con
người, còn nhìn được là còn thấy đất đỏ bị lật lên, rừng cây chẳng còn, toàn là
đồi trọc đỏ lòm, trông cứ như bát úp. Những cái bát khổng lồ úp xuống. Đây đó
còn sót lại vài cái cây khô cháy dở, đen thui, không hiểu sao chúng không cháy
được hết, không đổ được nữa. Những nơi đó thành các địa danh vùng “cổng trời”.
Thường thì gọi chúng là “cây cụt ngọn”. Cây nào ở đây mà chả cụt ngọn. Ngã ba
“cây cụt ngọn” chẳng hạn. Có những cây khi thôi cháy để lại một dáng đứng lên
nền trời, mà chỉ có lính cổng trời mới tưởng tưởng được ra những tên gọi gợi
lên ngay một hình tượng thích đáng, như “cây dạng chân” là cây có hai chạc phía
gốc, lên cao chỉ có một thân, “cây đón chào” là cây gần đỉnh dốc, sau một cái
cua, ngẩng mặt lên là nhìn thấy nó, nó có một cành cũng cháy dở nghiêng về phía
xe lên, “cây chia xa” là cây cuối cùng trong cái đám cây cháy dở ở khu vực cổng
trời, từ đây xe của ta đi trong vùng bớt nguy hiểm hơn… Chúng tôi nằm mỗi đứa
một nơi, đứng mỗi đứa một chỗ, rỗi hơi và bất chợt trong đầu nhận ra cái hình
dáng đó và đặt tên cho nó. Cả cư dân nơi cổng trời gọi theo. Lính xế đương
nhiên cũng gọi theo lính công binh, sau này nếu có ai đến sau cũng cứ cái tên
đó gọi, dù có thể cái cây đó không còn. Nó đã bị bom làm biến mất, nhưng lịch
sử vẫn được tôn trọng. Đó cũng là niềm tự hào của lính “cổng trời” chúng tôi.
Phía
lưng chừng đồi, nơi bọn chốt chúng tôi ở, tất nhiên xung quanh vẫn là cái bán
kính, cái phạm vi mà măt lính có thể nhìn thấy được rõ mọi vật, có một gốc cây
bị bom đánh bật tung lên trời, rũ hết mọi đất đá bám vào rễ cây và cắm cái thân
còn lại xuống đất, bộ rễ tua tủa chổng lên trời, đó là cây “mọc ngược”. Đâu đó
trên đường hành quân, tôi cũng đã nhìn thấy những gốc cây như vậy bị lính công
binh mở đường đánh bật ra khỏi mặt đường, nhường chỗ cho xe pháo đi. Tất nhiên,
do lính ta hành quân toàn vào đêm tối, nên những cảnh đó không để lại ấn tượng
gì cả. Nó dễ lẫn vào đám cỏ dại, dây leo mà chỉ sau một mùa mưa, sẽ có thể phủ
kín, để rồi lại một cây khác, nhiều cây khác đua chen, vươn lên cao, chứng tỏ
sức sống mãnh liệt của thế giới tự nhiên. “Cây mọc ngược” ở cổng trời tồn tại
bất chấp trăm trận bom, mà mỗi trận bom là một trận bão, bất chấp bao nhiêu lớp
lính chúng tôi đã trưởng thành, rèn dũa và tôi luyện. Chúng tôi thành các chiến
sĩ từng trải trăm trận, thay nhau bảo vệ tuyến đường huyết mạch, và có lẽ “cây
mọc ngược” đã nhiều lần vào ảnh tư liệu của các loại máy bay chụp ảnh do thám
của Mỹ ở cổng trời. Tôi về đây thì cây đã sừng sững trước đó. Nó cũng có dáng
hiên ngang dạng chân tạo thế vững chắc, nó cũng có dáng cởi mở vẫy chào, có cả
dáng lì lợm, giơ tay che ánh mặt trời, hướng về phía máy bay thường lợi dụng
mặt trời làm loá mắt quân ta, bổ nhào ném bom.
Tóm lại, lính cổng trời chúng tôi lấy đó làm biểu tượng của sự dũng cảm,
của tính kiên quyết, của cả sức sống bất diệt nơi ác liệt và chết chóc này.
Cái
thú vị và đáng ghi nhớ nhất là trên một nhánh rễ cái của cái gốc cây chổng
ngược đó tồn tại một mầm sống thật sự. Chẳng ai phát hiện, chẳng ai biết và
bỗng dưng, một ngày nào đó, một sáng nào đó, tất nhiên ngày hôm đó rất đẹp,
trời thì cao xanh, gió thì mát rượi và hẳn lúc đó bọn tầu bay Mỹ không quấy
nhiễu, nghe nói lính ta còn cãi nhau là hôm đó có cả tiếng chim hót. Một ai đó trên chốt phát hiện ra mầm xanh đã
thành cành lá, ba chiếc lá toẽ ra ba góc, hứng sương đêm và bây giờ bung ra
hứng ánh sáng. Ba chiếc lá vẫn còn nhỏ xíu và mong manh, mong manh lắm, mong
manh đến nỗi lính ta sợ nó bị gió táp, nắng táp, bụi táp và ngay cả cái không
khí nơi cổng trời hầm hập lửa đạn này cũng sẽ làm cho ba nhánh lá đó không tồn
tại được. Vậy mà nó sống, không phải là
ba lá, mà là một cành con mềm mỏng đâm lên trời cao. Mầu xanh của cành non đó
thay đổi dần, nó đã mất đi cái mượt mà , dịu mềm của nhành non, nó đã xẫm lại,
cái mầu xẫm trông nó có vẻ già và từng trải, cứng cáp, nó đã phải chịu đựng,
trải qua thử thách. Sự biến đổi đó chỉ xảy ra có vài ngày. Sự thay đổi đó chứng
tỏ cành non đã có thể tồn tại, đã có thể bám trụ. Sự xuất hiện của mầm xanh và
sự tồn tại của nó làm cho cánh lính thấy mình tồn tại trước đạn bom là lẽ tự
nhiên, không phải bàn cãi. Truyện kể lại từ những người lính lớp trước chúng
tôi: “ Một chiến sĩ chốt trên vị trí “cây chổng ngược” trong một trận đánh bị
bom vùi, đồng đội đào lên, làm hô hấp nhân tạo mãi mà không thấy sự sống trở
lại với cậu ta. Cậu bạn cũng được bới lên cùng hầm thì lại mạnh khoẻ. Chẳng
hiểu cái sức ép của quả bom thế nào mà bao nhiêu hơi ép cậu này nhận hết. Cậu
bạn vừa làm hô hấp, vừa khóc: “Tỉnh lại đi mày ơi, tỉnh lại đi. Tao vẫn thấy
cái cành xanh kia sống, không bị bom,
không hề thương tổn, nó sống được thì mày cũng phải sống, tỉnh lại đi”.
Cậu bạn vừa khóc vừa ấn ngực cậu bị sức ép của bom rõ mạnh. Thế rồi máu ở miệng
cậu ta, chảy ra: “ Nó thở được rồi, nó sống rồi” và cậu lính đó sống đấy. Mầm xanh trên chốt thiêng là thế! Sức sống
bất tận trong cuộc đời là thế!” Bây giờ, cái mầm sống xanh đó đã lan thành một
khóm, vài chục cái lá vẫn xanh tươi. Nó biết chọn hướng để tồn tại. Khát vọng
sống, khát vọng tồn tại mãnh liệt và dẻo dai là thế.
Tôi
ở chốt được ba tháng thì cấp trên tăng cường cho chúng tôi một tiểu đôi các cô
gái xinh tươi, trẻ trung. Các cô vốn là những cô gái “hai giỏi” của Quảng Bình
đi dân công hoả tuyến, chuyển sang Thanh niên xung phong và bây giờ, theo yêu
cầu nhiệm vụ, các cô ở cùng chúng tôi trên chốt. Khỏi phải nói các cô gái của
chúng tôi chịu gian khổ đến chừng nào, vất vả đến chừng nào. Đặc biệt là vấn đề
nước. Cũng may mà lính công binh chúng tôi với lính xế là chỗ thân tình, cần về
hậu cứ trung đoàn, chỉ ngồi ca bin với
tài xế khoảng nửa tiếng là tới thôi. Có lẽ người “hậu cứ” thương lính trên
chốt, nên mới điều cho chúng tôi những nụ hoa quyến rũ và đáng yêu đến thế. Có
các cô ở, quả thật trên chốt thấy bớt đi cái vẻ trận mạc và máu lửa nhiều lắm.
Con gái cũng như là mầu xanh của sự sống, bản thân mỗi cô là một nguồn sống và
cảm hứng yêu đời với lính chốt chúng tôi.
Tôi
trẻ nhất. đại đội phó phụ trách cũng có phần chiều hơn vì tôi nhanh nhẹn, phân
công cho tôi chịu trách nhiệm chăm sóc một cô cũng trẻ nhất trong tiểu đội các
cô gái xinh tươi. Lí lịch trích ngang mà tôi tìm hiểu nhanh là: Em mười tám,
bằng tuổi tôi; học xong lớp bảy, văn hoá cao ra phết; có một anh trai cũng đi
bộ đội , ở nhà còn hai em nhỏ. Vì bằng tuổi tôi, nên nhiều lúc em tỏ ra bất
tuân lệnh, lại còn cãi nữa chứ. Không sao, xem có đứng vững được ở “cổng trời”
không?
Dạo này vào mùa vận chuyển. Xe vào cả trăm chiếc một đêm.
hành lang vận chuyển lúc nào cũng phải thông. Có lẽ đánh hơi thấy sự chuyển
động của quân ta nên máy bay địch hoạt động với tần suất cao hơn. Đêm nào cũng
có xe cháy, khi thì đầu dốc, khi thì cuối dốc. Điều hành xe qua đỉnh cổng trời là một nghệ thuật.
Cháy xe trên đỉnh cổng trời là tắc đường, kèm theo là cả chục xe khác đang
chuản bị vượt đèo cũng có nguy cơ bị đánh lây, cháy lây. Lúc đó là có hi sinh,
có tổn thất. Tôi và em bé(tôi vẫn gọi cô ta như vây) trực ở chốt cổng trời đã
một tuần. Ban ngày khi chưa có “em bé” “ tôi ngủ kĩ, ăn uống qua loa lại ngủ. Cũng may từ ngày có “em bé” nên đêm nào cũng có bát cháo thịt hộp, bát cơm nóng. Lính tráng không
phải “có suất” nữa. Tự dưng cảm thấy không thể thiếu “em bé” được, tự dưng thấy
gắn bó.
Vậy mà em bỏ tôi đi. Đêm hôm đó, xe vào rất nhiều. Toàn chở đạn pháo.
Một đoàn năm chiếc xe đang leo vào khu vực chốt “cổng trời” thì C 130 và pháo sáng treo lơ lửng trên đỉnh đèo. Trên
chốt, chúng tôi nhìn thấy năm cái xe rõ mồn một, con đường huyết mạch cũng rõ
mồn một, phía dốc cuối đèo cũng vừa có một đoàn xe qua. “Em bé chỉ kịp nói với
tôi “Nguy hiểm rồi anh Vân” và chạy ra đường, nhảy lên chiếc xe đầu tiên vừa
mới tới. Em đứng bên ngoài cửa xe, chỉ đường cho xe chạy vào chỗ trú bên tà luy
dương. Hai chiếc đã vào được, còn ba chiếc vẫn ở ngoài. Hàng loạt bom vãi trên
mặt đường, đạn mười bốn li, đạn cối hai mươi li chiu chíu chiu chíu găm trên
thùng xe, cày toé lử mặt đường. Hai xe bị vướng đường không vượt lên được, một
xe đang bén lửa bốc cháy. “Em bé” nhảy lên chiếc xe đó và chỉ cho lái xe đường
lao xuống vực để giải phóng mặt đường. Khi em nhảy được ra khỏi xe thì chiếc xe
đã thành một quầng lửa với những tiếng nổ kéo dài rền rĩ. “Em bé” lăn xuống
dốc, ngất xỉu. Chúng tôi tìm thấy em thì tim em chỉ còn đập thoi thóp. Em đã
không còn nhận ra tôi, người bạn đã từng ở với em suốt một tháng vừa qua. Cuộc
sống với em quá ngắn ngủi, cuộc sống đang đẹp biết bao. Tôi ôm chặt em vào
người, lần đầu tiên tôi ôm một người con gái. Tấm thân tròn lẳn vẫn còn ấm theo
mãi tôi những năm chiến tranh, một kỉ niệm không bao giờ phai trong cuộc đời
tôi. Mỗi lần nhớ tới em, tôi lại nhớ tới cái mầm xanh của “cây chổng ngược”. Sự
sống của chúng tôi trên đất này mong manh quá! Sự ra đi của chúng tôi trên mỏm
đồi này cũng đơn giản, nhẹ nhàng quá!
Chúng tôi để em nằm bên gốc “cây chổng ngược”, để em được mãi ngắm cái
mầm xanh trên cấy. Nó là tường trưng cho tuổi trẻ của chúng tôi, gan góc, dẻo
dai, kiên cường.. Tôi lấy dao khắc vào thân cây tên em, lại đi tìm một cây săng
lẻ, đặc trưng của Trường Sơn trồng bên mộ của em. Suốt cả tháng sau, hình ảnh
người con gái nhỏ bé, nhanh như sóc, cứ lẩn quất bên tôi. Tối nào tôi cũng nấu
một bát cháo đợi em về cùng ăn.
Tôi
, thằng lính mới hơn mười tám tuổi đời. Chẳng hiểu tôi đã trải qua cái mốc lần
thứ mười tám vào ngày nào nữa. Chỉ biết là vào cái thời khắc đó tôi có mặt ở
cổng trời. Đấy là niềm tự hào của tôi. Ông đại đội phó kĩ thuật chuyên phụ
trách phá bom mìn của cổng trời, một sĩ quan dạn dày, mặt mũi đen nhẻm và khét tiếng của “cổng
trời” về sự thông hiểu bom Mỹ với các phương pháp phá bom tài tình, táo bạo,
thủ trưởng của tôi: “Thằng này khá, chịu đựng gần một mùa rồi. Phải đào tạo mày
thành một sĩ quan công binh xuất sắc”. Ông ta nói oang oang và đập đập lên vai
tôi những cú đập đau điếng.-Trẻ trung như mày mà chết ở cái trọng điểm này thì
uổng quá”.
Tôi chưa hề nghĩ
đến chuyện sẽ được đi học sĩ quan, tôi cũng chưa hề nghĩ đến chuyện phải xa
“cổng trời”. Hơn một năm làm lính, khoảng một năm trong chiến trường và nửa năm
trên “cổng trời” này đã thấm gì so với các bậc đàn anh, so với đại đội phó của
tôi. Tôi hướng nhìn lên mầm xanh biểu tượng của khát vọng sống, sống bền bỉ và kiên cường, bất chấp mọi vùi dập,
vẫn tồn tại, vẫn rung rinh trước gió. “ Mầu xanh đó phải được duy trì, lính
cổng trời sẽ bảo vệ mầu xanh đó. Lính cổng trời phải được nuôi dưỡng và đào
tạo. Chú mày về học là duy trì và tiếp sức cho mầu xanh cổng trời, duy trì sự
sống ở nơi gian khó này đấy”. Đại đội phó cũng nhìn về phía mầm xanh trên gốc
“cây chổng ngược”, nói nhỏ vào tai tôi.
Tôi nổi gai vì những câu nói đó, nó hình như đã có sẵn trong đầu tôi.
“Sự sống phải được nối tiếp”. Chẳng ở đâu rõ bằng ở đây, khát vọng sống mãi
được duy trì.
Tôi rời cổng trời một ngày trời mưa rả rích. Bầu trời im ắng. Tôi đi ban ngày.
Lính công binh am hiểu mọi qui luật của kẻ thù. Mấy cây số về hậu cứ có xa xôi
gì, ba lô nhẹ tễnh và một khầu AK. Tôi ngắm nhìn mảnh đất đã gắn bó hơn nửa năm
mà thân thể không bị xây xát. Các bạn và cả em nữa đã bảo vệ và che chở cho
tôi, gánh chịu thiệt thòi cho tôi. Đất vẫn đỏ, vẫn một mầu chiến trường bụi
bặm, trên cao kia là “ cây đón chào”, và ngay đây là “ cây chia xa”. Tất
cả đang nhìn tôi. Tôi rưng rưng nhìn
những nhành cỏ non tơ dưới chân bên đường đi lại nảy mầm. Mùa mưa tới chắc lại
xanh rì. Tôi thấy tôi phải sống. Khát vọng sống với tôi lúc này lớn quá. Có
phải sau khi đã trải qua cái chết, mọi sự lại phải tiếp nối, vươn lên để tìm sự
sống hay không?
ảnhlấytrêninternet






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét