Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 29 tháng 3, 2021

Bố và con

bố và con Có một mùa hè, đứa con nhỏ thấy các bạn về quê, hỏi: “Sao nhà mình không có quê?” Lão nhanh nhẹn, mau mồm mau miệng, lúc nào cũng có thể cười toe toét được với mọi người nhưng khi vừa quay đít, thì miệng lão lại nói ra ngay cái tật xấu của người đó. Thật giả, đúng sai là đâu, bản chất sự vụ cũng không rõ. Thôi thì cứ im. Nhưng có điều, lão vậy mà không có bạn bè. Xởi lởi như vậy nhưng lại ít bạn. Bạn bè đếm trên một bàn tay không hết. Nhưng lão bảo, bạn bè như thế mới là bạn bè, nhiều mà hờ hững, vờ vịt thì để làm gì. Thậm chí nếu chỉ chót lưỡi

đầu môi thì lại quá hại. “Con người hiện nay là thế. Tệ bạc và xấu xa lắm. Lão nhắc lại, xấu xa lắm. Mày còn lâu mới hiểu cuộc đời và con ngời như bố.” Tiếng thằng con “Ok bố. Mọi người được như bố là thế giới đại đồng còn ngược lại thì thế giới ngập ngụa toàn bọn xấu xa”. Ông bố gườm gườm nhìn thằng con, đồ chợ trời. Nó bỏ học, kiếm ăn ở chợ trời mà. Bọn chợ trời chúng mày thì một mét vuống 10 thằng ăn cắp. Thằng con:“Ok bố luôn, bố nói tuyệt đối đúng. Cả xã hội này toàn ăn cắp nuôi nhau.” Lão im, cãi nhau với nó thì nó xả ra để cho lão biết toàn xã hội này hiện đang thối nát cho coi. Thà im, bới đồ thối lên làm gì. Thằng con cười tít mắt, ca ông ổng “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người và Đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao...” Cả nhà đều công nhận là lão nhanh nhẹn. Làm bất cứ việc gì, đương nhiên phải hợp với khả năng của lão và không cần cố gắng nhiều, lão làm thoay thoáy, xong ngay. Xong và lão hát, bài hát của thằng con “Đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao”. Vợ lão biết điều đó hơn hết nên giao việc cho lão, cũng phải lượng khả năng lão có thể làm. Cứ nói đàn bà giữ ngọn lửa bếp chứ chính mụ nhận ra, lão mới là người giữ ngọn lửa, mọi việc mua bán, đối ngoại, đối nội lão làm hết. Mà nói cho cùng, lão sống vô cùng đơn giản. Ăn uống có nem công chả phượng gì đâu, hôm nào cũng chỉ món nhạt, món mặn là xong bữa. Mâm cơm chỉ thấy bát, đâu có đĩa. Vợ lão chỉ mỗi việc ở nhà, lo nấu ra những bữa ăn như vậy và nghĩ chuyện giao việc cho lão, nghĩ việc cằn nhằn, chê bai lão. Căn nhà có tiếng nói là tiếng nói của mụ vợ, tiếng cười là của lão. Người ngoài nhà nhận xét, nếu như, nhà mụ ấm êm được là do lão gây dựng, còn nếu có lúc sinh chuyện ầm ĩ, thì nguyên nhân của mọi tác phẩm đều do mụ gây ra. Những lúc đó, nguyên tắc bất di bất dịch của lão là im. Cái lặng im của lão làm mụ vợ hạ hỏa kèm theo đó là sự hả hê của kẻ chiến thắng, mọi việc sẽ lại vào trật tự cũ. Lão biết, không thèm nói, lão tìm sự đồng cảm của những đứa con. Con cái luôn đứng về phía lão. Hàng xóm nói, ờ mà tại sao... cái nhà lão ấy lành thế... Thời kỳ khổ ải, lão không phải bươn trải như những người thuộc diện bần hàn. Cán bộ trung cấp, lương cao, phiếu mua hàng ở cửa hàng dành cho cán bộ trung cao... những thứ đó làm thành bộ mặt sĩ diện của một lớp người, làm cho lão thấy tự hào vì cái nhà nước phần cho, cũng ngẩng mặt vì những năm cống hiến. Nhưng cuộc sống không chỉ ở mấy cân thịt, cân cá... Nhưng lão lại như hài lòng với mấy cân thịt, cân cá và đã bỏ qua nhiều thứ mà cuộc sống con người cần có. Thằng con chợ trời của lão không nghĩ như lão. Lão chấp nhận cuộc sống mà người ta ban cho lão và luôn chỉ so với kẻ thấp hơn chứ không so với bọn cao sang. Vậy là sướng. Thời đó, có nhà nào sướng. Thỏa mãn với cuộc đời mà ông trời ban cho là sướng. Thằng con chợ trời kể: Hôm đến chơi nhà thằng bạn mà bố nó là thứ trưởng. Căn biệt thự thời Tây ngay đầu phố, chia cho hai ông thứ trưởng ở. Thằng con “ông này tin với ông kia, ngay khi gặp nhau trên cầu thang chung, một ông lên, một ông xuống: “Ông biết tin mới chưa, cửa hàng phân cho mối gia đình thêm một ký xúc xích Nga, một yến gạo ngon Hải hậu và nước mắm Cát Hải đó...” “Ôi chao, còn đầu óc đâu mà làm việc!” Lão nghe chuyện của thằng con, ôm đầu, kêu. Thằng con thì nghêu ngao: “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người... rồi thì cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao...” giọng khê nồng thuốc lá cuốn và chè chén ký quán triền miên. Lão chê thằng con chợ trời nhưng ở nhà này, chỉ nói chuyện được với nó. Lão được trời cho ba đứa. Lão yêu tất cả nhưng đặc biệt là cậu cả. Thằng con chợ trời thì, lão ngửa đầu lên trời, kêu: cái thằng chỉ bông lông, chả làm cái gì nên hồn. Bố con ngồi với nhau là hắn gây chuyện, mà toàn những chuyện khiến lão bí rì rì, ngồi đực mặt, không thể nói ra cái điều lão nghĩ để nó hiểu. Thằng con chợ trời lấy vợ chợ trời. Nó bảo, các cụ đỡ phải lo. Vợ chồng lão cũng nổi điên, nhưng thằng chợ trời cứ nhâng nhâng, vợ con sắp đẻ rồi. Mụ vợ: “Vua cũng thua thằng liều, phải chấp nhận”. Thằng chợ trời lại ông ổng Cuộc sống ơi ta mến yêu người và đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao. Nó hay đặt câu hỏi với lão, kiểu hỏi không xoay ngang cũng xoay ngửa. Như thế này: thấy lão hớn hở tha về những thứ từ cửa hàng trung cao dành riêng, nghĩa là hàng hóa mua ở cửa hàng của lão được phân phối: “Mẹ chỉ đạo hả bố...? Lão nhìn thằng con: “Mày biết gì, tưởng mua được mà dễ. Phải nhanh nhẹn tháo vát, cũng vất vả lắm mới mua được đấy con ạ. Thế này là mẹ khen rồi. Mẹ mày á, đợi mẹ mày đồng ý, khen tao một câu, kẻo tao chết...” lão nói và liếc về phía mụ vợ, như cốt cho mụ nghe. Lão vô cùng thích thú những khi khi thấy mụ vợ nghe được lão nói về sự vất vả của mình và thấy vợ tủm tỉm cười. Hình như lão chỉ cần có thế. Còn mụ vợ, chắc đang hài lòng, mắng các con để lão chồng nghe: “Chúng mày đấy, còn lâu mới được như bố...” Vậy là lão tỉnh tình tinh, lặp lại câu hát thằng con: “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người... và đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao”, lão nghe loáng thoáng tiếng vợ: nỡm! Vợ lão biết hết vì đó chính là lệnh của mụ bắt lão đi mua chứ ai. Mụ không đi mua nhưng mụ nắm chắc tiêu chuẩn của lão, tính toán cần gì cho gia đình. Đố có sảy được một li một lai. Thời đó, chuyện kham khổ của bố, chỉ thằng con chợ trời hay lại qua với bố, nó biết. Chuyện ăn uống tằn tiện hàng ngày của lão, mụ vợ cũng biết. Nhưng hình như mụ cho là, đó là điều tất nhiên. Đôi khi kiếm được tiền, thằng con chợ trời rủ lão đi xếp hàng uống bia, cái thú nhất của lão. Lão là như vậy. Vợ lão là số một, ý của vợ lão là thánh chỉ, lão thực hiện ý kiến của vợ cứ tự nhiên như ta hít thở khí trời, như hàng ngày ta phải ăn, phải ngủ. Con cái thì lão cực chiều luôn, đặc biệt con gái và thằng cả. Ngoài chỉ thị của vợ, lão còn phải xem ý thằng con trưởng. Thằng này theo ông, đứng đắn, chừng mực và hiểu biết sự đời. Với lại nó vợ con, công ăn việc làm rồi, tự lập hoàn toàn, dẫu chẳng thấy khi nào giúp bố mẹ cái gì. Nhưng như vậy là mừng. Đứa con gái lấy chồng. Còn thằng chợ trời thì chỉ ỡm ờ, chỉ loăng quăng. Nhớ cái hồi lão đã nghỉ hưu. Nghỉ hưu như người ta thì sướng, lão như khổ hơn. Đấy là cái nhìn của thằng con chợ trời. Việc nhà của mẹ, bố cũng có chia sẻ cho một ít. Nó thấy lão đi chơi tenits. Ừ thì tenits. Quá hay, bố đi chơi cho khỏe. Lão bảo mày nói như ông tướng. Lão một ngày hai buổi, nhong nhong trên chiếc xe mi-ni mới có từ hồi giải phóng, đi đánh bóng. Trời phú cho lão sức khỏe. Ăn uống kham khổ, mà cấm có ốm. Nhưng tenits là thứ chơi quý tộc, những tay chơi dạng có tiền. Chơi là phải ra dáng, quần áo, giày dép, vợt vủng... đều ra cái dáng... ăn chơi và tốn tiền. Lại còn tiền cá độ, thêm khoản này là khó thuyết minh với mụ vợ, nghĩa là chơi thì có thắng có thua, có mất có được. Lão lấy đâu ra tiền chơi kiểu đó, lão hạ cấp chơi, xuống đánh bóng bàn. Bóng bàn là thứ rèn luyện thân thể bình dân. Lão nói với thằng con chợ trời. Thằng này nhìn bố áy náy quá, sờ túi, thấy có ít tiền, bố con mình ra làm vại bia đi. Gì chứ, bia thì lão chẳng từ chối. -Bố này, hay là bố nghỉ làm thêm đi, tối tăm, đêm hôm ra đấy ngủ một mình, con thấy ngài ngại thế nào ấy. -Thì bố biết làm gì... thêm mấy chục cũng tốt con ạ, bù vào chỗ thiếu hụt... khi hưu. -Bố chỉ chiều mẹ thôi... Con biết tỏng tòng tong... Đấy lão vậy đấy. Nhìn bố, cứ chiều tối, bó mớ chăn chiếu, đạp xe lên nằm gác cổng ở phòng thường trực tận khu “kho” tít tắp cuối thành phố, thằng con chợ trời xót xa. Nhưng lương lậu của nó có đâu vào đâu. Thôi thì thi thoảng ngồi bia với bố cũng được. Rõ khổ, mang tiếng là cán bộ nọ kia, tem phiếu nọ kia, chế độ nọ kia, tiêu chuẩn nọ kia, mà về hưu thì đi gác cổng. Ờ, đó là số phận. Lão có hai ông anh tuy chẳng nên trò trống, chức tước gì, nhưng chẳng bao giờ phải ôm chăn gác cổng cả. Nhân bữa bia, thằng con chợ trời tâm sự: Bố nghĩ thế nào về chế độ? Lão ngậm ngùi. Thằng chợ trời: Bố nghĩ sao, nhà mình ông nội để lại cho mấy chục ngôi nhà, bao nhiêu ruộng đất mà “của thiên trả địa hết? “Không phải, bố không biết giữ, bố sợ tai tiếng, bố sợ chế độ này...” Vì thế, thằng con tiếp lời, nên bây giờ bố khổ và chúng con khổ theo. Con không sao nhưng con thấy tức cho bố. Người ta bảo bố lành nhưng kỳ thực không phải... Bố... Đúng không bố?” Lão lại ngậm ngùi nhớ về xa xưa và cầm cốc, đẩy cục nghẹn xuống bằng hớp bia. Với thời gian thì chẳng ai trụ được. Lão yếu dần. Chiều hôm đó, ngồi uống bia với lão, nghe thấy tiếng ho khan của bố, nó hỏi “Bố bình thường chứ? Ừ, vẫn bình thường...” “Có lẽ không đâu, thôi bố không đi làm thêm nữa. Con bù cho bố tiền làm thêm đó” “Thôi đi anh, tiền đó anh cứ mời tôi uống bia.” Nhưng rồi lão quỵ thật. Lão nằm quay mặt vào tường, nén cơn ho. Thằng cả nghe tin về thăm bố và nắm tình hình qua mẹ. Bảo với mẹ, có lẽ phải đưa bố đi bệnh viện, rồi đi công tác. Cô em đến, ríu rít hỏi bố, thăm mẹ. Con gái đến là ông vui. Nó lấy chồng xa, mấy khi về thăm bố mẹ được. Thông cảm cho con. Bố ốm, chúng nó về đây là quý rồi. Chúng có phận của chúng. Ông gượng ngồi dậy rồi lại nằm xuống. Rồi con gái cũng đi. Thằng con chợ trời ngất ngưởng, phì phèo thuốc cuộn, về. Nó biết chuỵên mọi người đã về thăm bố cho phải đạo, đúng nghĩa vụ. Ai bây giờ cũng bận việc hết, trách thế nào được. Việc nhà nước, ai dám bỏ bễ. Thằng con chợ trời từ hôm ngồi uống bia với bố, nay mới đến. Nó nhìn mặt bố. Bố phải đi khám bệnh thôi. Nó rút túi, lấy điện thoại. “Thằng em, gọi thêm một đứa nữa, đến đây giúp anh ngay” Mươi phút sau, một thằng mặc áo phông đen, để cánh tay trần, xăm con rắn con rồng gì đó từ vai xuống, trông phát khiếp. Một thằng mặc đồ lính, đủ bộ rằn ri, kể cả đôi giày da nặng trình trịch, đội cái mũ cối sùm sụp che hết mặt. Nó nói với hai thằng mới đến: “Phải đưa ông già đi khám bệnh. Chúng mày giúp anh”. Mọi việc nhoáng là xong, mụ vợ lão ngớ người, không biết nói câu gì. Thằng con chợ trời mà mụ và chồng coi thường nhất thì lại cả gan làm cái điều mà chẳng ai dám. Nó giải quyết công việc không theo cách nghĩ của vợ chồng mụ, càng không bị cái quan hệ xơ cứng, nhạt nhẽo của cái tế bào xã hội, cái gia đình, mà vợ chồng mụ cứ khăng khăng bám vào để nhận mấy đồng lương hưu, rồi bày tỏ lòng biết ơn. Lão vào bệnh viện nằm được vài ngày thì ông cả và cô con gái lại kéo nhau vào thăm. Bệnh ho của ông người ta đang chẩn đoán. Ông anh và cô em thì suy đoán. Thằng con chợ trời vào lúc chín giờ tối. Lúc này thì ông cả nói nhỏ với mẹ phải chuẩn bị cho cuộc họp ngày mai ở cơ quan, cô con gái thì cháu lớn, con nhỏ đang chờ mẹ... Đại loại là đứa nào cũng tối mặt vì công việc, bỏ đi một chút là nhà cửa sẽ lanh tanh bành. Chúng nó chào bố, vì tất cả đều bận rộn. Thằng con chợ trời đêm đêm đến. Lúc mẹ về nhà nghỉ, nó dịch bố sang một bên, nằm quay đầu ngược với bố, kiếm cái ghế gác chân và ngủ nửa người trên chiếc giường bệnh viện, nửa người ngủ gác lên ghế. Nó thì chẳng cơ quan nào chờ, chẳng cháu chắt nào mong. Nó nhận nhiệm vụ chăm bố qua đêm như đương nhiên, chẳng cần xem thái độ của ai, cũng chẳng nói với ai một lời. Cảm như, mọi người thấy vậy là hợp lý. Hợp lý là đương nhiên. Ba tháng sau, lão khỏi bệnh. Nghe nói bệnh nhân đến khám đúng lúc, bệnh tình chưa đến nỗi, nếu để dai dẳng là sinh to chuyện. Thằng con chợ trời đưa lão về. Mọi người tụ họp mừng lão khỏe khoắn trở lại. Lão cũng mừng, vậy là tai qua nạn khỏi. Giờ chỉ phải kiêng khem và uống thuốc đúng chỉ định. Thằng con chợ trời đưa bố về với “Cuộc sống ơi ta mến yêu người và đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao” rồi biến. Lão ngồi với mọi người mà nhớ nó. Mọi người biết, nhưng giả bộ làm như chẳng có chuyện gì. Thằng đó vốn dĩ như vậy mà. Nó ngồi đây lại chẳng sinh chuyện, ăn mất ngon. Mọi người chóng quên, chóng quên nên chẳng ai nhớ, cái thằng chợ trời, con trời ấy, một mình nó quyết định đưa bố đi bệnh viện bằng cái mối quan hệ rất anh chị, cũng có vẻ rất “xã hội đen”, mà cái gia đình lão vốn rất trọng cái nền nếp trật tự xã hội và cả mang ơn xã hội hiện tại, dẫu cái xã hội đó khiến cái người như lão về hưu rồi, vẫn tối tối phải cắp chăn chiếu đi gác cổng, kiếm thêm tiền. Cái xã hội ấy là xã hội gì? Ông cả và cô con gái vẫn cứ nói như báo, như đài, như loa, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Mà cả lão nữa, lão vẫn nói như đài với TV, nhờ có nhà nước nên lão được chữa khỏi bệnh. Chỉ có thằng con chợ trời của lão là văng mạng, nó sống ở chợ trời và nó hiểu thế nào là chợ trời, nó bảo đó là xã hội đểu giả. Nói theo kiểu dân trí thức nửa mùa:“đểu đến từng mi-li-mét”. Nó nói với lão: “Bố không tin ư? Hãy sống như con, bố sẽ hiểu xã hội theo cách khác, chẳng ai vì dân giàu nước mạnh hết, chẳng vì độc lập tự do gì hết. Chỉ vì mình, hãy sống vì mình. Bố tin hay không thì tùy.” Lão hỏi: “Thế chúng mày sống vì cái gì?” “Chúng con sống vì chúng con, chúng con là một xã hội có luật, chúng con tin nhau và có thể chết vì nhau... chúng con có cách nhìn khác, không tin mù quáng. Chúng con dám nhìn vào sự thật và biết sự thật. Rằng chốn này vô cùng xấu xa. Mấy ông đâu đó chỉ được cái một tấc đến trời, dân nào tin. Họa may chỉ có những người như bố... Người ta thí cho cái chức, cái ghế và hí hửng... lại còn ơn với chả huệ nữa chứ...” “Láo, thằng láo... Lão hét toáng lên, mày là thá gì mà bảo tao mù quáng?” Thằng con chợ trời bỏ đi, không một lời nói, không thèm ngoái lại. Đêm nằm, vắt tay lên trán, lão nghĩ: Ừ, đúng vậy! Sự thật là gì? Thằng ôn bảo mình mù quáng. Láo, thằng láo. Lão lại tức sôi lên.. Sao nhỉ? Cả đời mình chỉ thu vén cho gia đình... Nó nghi ngờ hết thảy, nó phủ nhận hết thảy... và lão nhớ trận ốm với cách hành xử của thằng con chợ trời. Nó sống vì cái gì mà không theo cái “đạo lý” của cái nhà này? “Đạo lý” của cái nhà này là như mụ vợ lắm điều hay là như thằng cả và đứa con gái. Đấy là đạo lý. Bố ốm, đến thăm, rất phải đạo rồi đưa ra những lời bàn, nhiều lời khuyên rất “chăm sóc” nhưng chẳng có tác dụng gì hết. Nó đến và giải quyết xong mọi chuyện, êm thấm và theo cách nhìn của lão, thằng con chợ trời này sống rất tình nghĩa với bạn bè. Lão ngạc nhiên vì mối quan hệ của thằng con chợ trời. Nó khô khan mà lại nhiệt tình, nó lạnh lùng mà lại tình cảm và đặc biệt hơn, đó là những suy nghĩ khác thường của nó. Bên cạnh là mụ vợ. Lão lên cơn ho, lão xoay mình. Mà thằng ôn còn nói về sự giả dối, về sự hi sinh, nhưng cái sâu hơn, lão hiểu, là nó nói đến chốn tối tăm trong mỗi con người luôn muốn che giấu. Con người mình sĩ diện và luôn bảo vệ bộ mặt của mình sao cho sạch sẽ. Nó xé toạc cái giả dối và làm lộ ra bao điều xấu xa của con người, của chính lão. Lão nhớ và tiếc những ngày xưa lắm chứ. Sao lại không tiếc? Thằng con chợ trời bảo giả dối là đây chăng? Lão thương nhớ cha mẹ lão nhiều mà không có điều kiện tưởng nhớ cho đúng ý. Lão vừa ngại vừa sợ. Đấy chính là điều lão được học mà người ta gọi là “mê tín dị đoan” từ mọi cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân. Từ ngày nào đó, lão như đã quên bố mẹ, coi bố mẹ, gia tộc nhà lão không như người dưng mà có khác gì người dưng, không phải kẻ thù mà có khác nào kẻ thù. Lão chả bao giờ dám nói cho mọi người biết sự giàu có của bố mẹ lão từ đâu mà ra. Nó là lao động đấy chứ, nó là suy nghĩ, tính toán của một người biết làm ăn đấy chứ. Từ lao động mà tích lũy ra mọi của cải. Vậy mà lão sợ, lão sợ bóng ma vô hình sẵn sàng sà xuống bóp cổ chẹn họng lão, bóp cổ chẹn họng những đứa con lão, phá tan những phút yên ấm của gia đình lão, những phút giây yên ả mà lão phải đánh đổi quá nhiều. Cứ như vậy, lão đi theo hướng, làm theo điều mà từ đâu đó người ta bảo. Lão u mê. Hình như lão đã không còn là lão. Cái điều mà thằng con chợ trời bảo là mù quáng. Đấy là cái đời riêng của lão, góc riêng trong cuộc đời lão. Những ngày qua, lão ốm, ngày xưa là nan y, là chết đấy. Còn hôm nay, lão ngộ ra cách hành xử của những đứa con lão. Đứa nào có suy nghĩ tự do, không ràng buộc, đứa đó có cách giải quyết hay hơn, hiệu quả hơn. Đúa làm bài bản thì cứng nhắc và gò bó vì mọi ràng buộc. Thằng được học hành, công việc thuận lợi nhưng trong việc này, có giúp gì được lão không. Nó không phải là nó của ngày xưa. Ngày xưa nó khác. Giờ thì là cái bóng của ai đó, hình như là của lão, chỉ biết dập đầu chấp nhận những điều người ta sai bảo. Và như thế, nó tự hào là hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Lão đang cố nhớ, lão đã bắt đầu làm theo chỉ bảo của người khác từ khi nào, có lẽ từ cái ngày lão phải làm tự kiểm điểm sau mỗi lần lão được học chính trị hay “tập huấn” về tư tưởng thì phải (nhưng trong bụng khi đó lão nghĩ là phải xưng tội trước linh mục thì đúng hơn). Và đúng thật, sau những đợt học tập đó, lão trở thành con chiên của chế độ, sau con chiên của chúa. Có lẽ là ở khoảng thời gian đó. Lão nghĩ, có rất nhiều điều mình không nỡ nói ra, nói ra sẽ mất lòng người khác. Tỉ như, chuyện mụ vợ lão. Mụ vợ lão xinh. Ngày xưa thì xinh nhưng bây giờ già rồi, mụ vẫn cứ nghĩ mình như ngày xưa, vẫn xinh và luôn cho là như vậy, nên đôi khi, cách ăn vận của mụ hơi lố (đấy là théo nhận xét của lão, ít ra là với lão). Mụ bắt lão phải tin như thế. Thì biết thế nào. Lão quá hiểu vợ rồi. Thì cứ im. Im là đồng ý. Người ta nói thế. Lão không nỡ nói: “Có ai và cái gì chống trọi được thời gian đâu cơ chứ? Mình già rồi!” Ngay cả với con cái trong nhà, nhiều chuyện lão cũng không nói. Tỉ như truyện về ông bà, tổ tiên nhà lão. Bố, đẻ (chẳng hiểu từ đâu, mấy anh em lão gọi mẹ là đẻ) lão để lại cho lão một gia tài lớn. Với thời nay, là kếch sù. Thằng con chợ trời có hôm bắt gặp lão đứng trước ngôi tuổi thơ lão đã sống (ngôi nhà to nhất, cao nhất phố ngày xưa ấy): “Bố tiếc à? Thôi đừng tiếc nữa bố ơi...” Lão giật mình, nhìn thằng con chợ trời, cười gượng gạo: “Ngày xưa, trên tầng hai kia, có một tổ chim nhạn. Bà nội mày bảo, chim nhạn làm tổ trong nhà là nhà có phúc...” Thằng con: Vậy ạ, mà đúng đấy bố ạ. Ông bà mình giàu thế là được ông Trời phù hộ đấy. Chẳng bù cho bây giờ, cái nhà bé bằng cái lỗ mũi. Mà sao lại tự dưng, bố bỏ hết cả đi thế...” Lão nhăn mặt... Chúng mày... biết gì về ngày đó... biết gì... Nhưng bây giờ cần phải biết. Biết thì được cái gì? Được cái biết”. Thằng con chợ trời cứ đeo bám lão như vậy. “Ừ, có lẽ là sự vô phúc. Về già, mới nghĩ đến ngày xưa, ngày xưa chung mái nhà với ông bà nội. Nghe mẹ kể, bố được chiều lắm. Mười mấy tuổi vẫn bắt ông nội cõng lên cầu thang.” Ừ... Lão rơm rớm nước mắt. Chuyện xưa của nhà này ít người biết, thằng con trời này biết nhiều, chẳng là, có thời gian nó ở với ông bà nội mà. Lão trầm ngâm: “Có thể mình đã quá bất công với ông nội chúng nó. Không phải bất công mà là bất hiếu. Gần chục năm xa cách, bố lên thăm, mà không tìm cách gặp được bố để bố lủi thủi về một mình, rồi sinh bệnh, rồi chết. Vì sao? Vì sao? Vì sao? Lão biết rõ. Mụ vợ chắc cũng biết. Lão sợ tai tiếng. Lão sợ liên đới. Lão sợ cách mạng sẽ mang lão ra đấu tố vì xuất thân từ cái thành phần ghê gớm đó, thành phần mà có một thời, mọi người đều ghê tởm. Lão âm thầm chịu một mình, tránh cho con cháu lão khỏi liên quan. Đấy là sự hi sinh của lão. Mà chuyện đó hình như, chỉ có thằng con chợ trời này hiểu, mọi người cứ ngu ngơ. Thằng này khác, nó mang giòng máu của tổ tiên đậm hơn... Nhưng lão không dám nói ra. Lão vẫn ngại phải đối chất với thằng con chợ trời và đối chất với chính mình. Đối chất với mình chính là soi vào lương tâm. Lão tự biện hộ, cho là vì thời thế, đã có lúc lão đã hối hận, tự xỉ vả mình. Nhưng với cái thằng con ăn nói văng mạng kia, nó như ma xó, khi có dịp, nó lại chẳng phá tan cái đang yên ả ấy à. Khó lường lắm. Xã hội này có nhiều cái khó lường lắm. Con cái cũng chẳng như xưa. Cứ vận từ lão thì rõ, bố mẹ, ông bà, tổ tiên, quê quán đâu có thiết. Mấy đứa con lão có bao giờ nghe lão nói về quê với quán. Chuyện về ông bố lão, tức là ông nội mấy đứa con, những năm cuối đời, lão còn phải hỏi nó. Thế thì mong gì nói chuyện được với con cái. Lão vẫn ngại thằng chợ trời kia cho đến ngày lão lăn ra ốm... Sao chúng ta cứ lừa dối nhau như vậy? Chuyện quê quán, bố mẹ, ông bà ta có được lựa chọn đâu, số phận cho ta đấy chứ, vậy mà cứ phải giấu tông tích của mình. Nhục không? Rất nhục và còn có lỗi với tổ tiên nữa đấy. Đâu gọi là “danh gia vọng tộc” nữa? Thằng chợ trời bảo: “Nói nhẹ cho bố đỡ tủi, thật ra trong chuyện con cái bàng quan, thờ ơ với quê cha đất tổ, có phần lỗi của bố. Bố chưa khi nào nói với mọi người về toàn cảnh gia đình nhà mình. Đến bố mới là đời thứ ba, kể từ những xác định được của người quê về ngôi mộ tổ họ nhà mình. Hỏi thử sau hai ba chục năm nữa, ai trong gia đình mình còn biết đến quê của bố nữa, chứ thiết gì đến cái gọi là mộ tổ. Mà quê bố là quê chúng con. Nhưng chúng con biết, bố cứ loanh quanh với cái thành phần khốn khổ khốn nạn, bố cứ giấu giấu diếm diếm bao che cho lũ con để mong chúng “nên người”. Chào ôi, “nên người”! Thằng con chợ trời dài mồm. Báu lắm đấy. Học Tây học Tàu còn chẳng ăn ai, sợ gì mấy cái ông viết một chữ không xong, đọc một trang sách không nổi.” Đêm tĩnh mịch, thanh vắng, lão lầm bầm không ra tiếng. Ý mày là gì? Tựu trung lại có phải là mày muốn tìm cách giữ truyền thống gia đình và giữ lấy giá trị tinh thần của cha ông. Ừ, nghe có vẻ triết lý lẫn đạo lý. Nhưng có vẻ cao sang quá, tao không phải người như vậy. “Truyền thống gia đình” còn dễ nghe chứ “giá trị tinh thần” thì quả là cao ngất ngưởng, tao chả bao giờ nghĩ đến. “Giá trị tinh thần” cứ như một khái niệm trong bài giảng về “cái chủ nghĩa” gì đó, mà cả đời tao đã học ấy. Vâng, cả đời lão toàn được học những điều cao siêu. Cao siêu nhưng không ứng dụng vào được cuộc sống. Những “giá trị tinh thần” mà lão thấm nhuần, vẫn chỉ là tìm cách nhặt nhạnh từng đồng bạc nhỏ nhoi cho gia đình. Cách kiếm tiền của kẻ làm thuê bé mọn thì bao giờ mở mày mở mặt được. Lão bỗng thấy cái thằng chợ trời mới thật đáng nể. Và bây giờ nó ngồi với lão. Sau ốm dậy, lão thấy dửng dưng với cái đồ giải khát mà lão ưa thích. Chiều tháng ba, ngày thanh minh, man mác gió lạnh cuối mùa. Những vệt nắng đầu mùa đã nhen nhóm. Đúng ngày này, thằng chợ trời lại xuất hiện. Vậy là nó biết nó có lý, nó sẵn sàng lại xoay ngang xoay ngửa với lão. Nó có quyết làm cái cầu nối của gia đình hôm nay với quê hương ngày xưa. Nó làm gì có ngày xưa ở quê? Nó gắn với quê chỉ từ sự linh thiêng. Chắc có điều quan trọng muốn nói với ông, nên cũng hờ hững với thứ nước mà nó ưa thích. Hai bố con im lặng nhưng có vẻ nó đã nhận ra, lão đã ngầm đồng ý với thằng nó. Lão không dám nhìn thẳng và cũng không dám nói. Từ cái đêm thanh vắng yên tĩnh nọ, lão không ngừng nghĩ và lão thấy thằng chợ trời đúng. Đúng nhiều lẽ. Nhưng hơn cả, nó có trái tim ấm áp của một con người. Nó thở bằng hơi thở cuộc đời nó sống, nó không vay mượn, không giả tạo làm dáng, làm sang. Cái đó quý hơn vàng. Vàng mua được chứ tấm lòng của nó tìm đâu ra. Lão thấy vui. Lão ư ử câu hát cuộc sống ơi ta mến yêu người và cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao. Lão nốc cạn cốc bia và đứng lên, miệng vẫn ư ử “Cuộc sống ơi ta mến yêu người và cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao.” Vinh Anh 31/3/21

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

 

Chuyện bên đống lửa sưởi
  
 1.Tôi bị lạc đơn vị. Gọi là lạc cho oai thôi chứ những ngày đầu nghe thấy tiếng pháo là chúng tôi đã nhớn nhác, chẳng biết tình hình ra sao. Nghe thêm tiếng xe tăng là biết giặc rất gần lại thêm tiếng đạn pháo là con bồng con bế, mạnh ai nấy chạy hết. Nói vậy cũng khí quá, nhưng mà đúng là chạy giặc. Lẫn với dòng người ôm nhau, lớn cõng bé, chạy loạn giặc Tàu, cũng lốn nhốn lắm. Cũng may đều là dân vùng núi, nên trốn chạy trong rừng, người nọ theo người kia, cũng chẳng mấy khó khăn. Chạy vài ba ngày là chúng tôi tơi tả, đói khát, nhếch nhác hết cỡ. Dẫu tôi có thâm niên ở rừng khá lâu, rừng với tôi vẫn là chốn thâm nghiêm và cũng với tôi, rừng luôn là bạn của con người. Thâm tâm tôi nghĩ, trận đầu tiên với bọn Tàu bên kia biên giới, bị bất ngờ, bỏ chạy, thì có thể tha thứ. Còn nếu cứ chạy mãi, không tập hợp được quân tướng, thì không thể tha thứ được, thì sẽ mất hết. Tôi người vùng này, tôi muốn cắt đường rừng, tìm về quê. Tôi cũng sốt ruột cho gia đình lắm. Nhưng bên tôi còn một anh lính bị bỏ lại với đoàn người hỗn loạn, đầu quấn băng và chân cũng quấn băng, nên tôi không nỡ bỏ. Tôi dìu anh cùng đi và cũng từ đó, tôi bị lạc với đoàn khảo sát địa chất của tôi. Tôi cùng anh lính bị thương lạc vào một khu rừng, theo con mắt của tôi và anh lính, rừng như còn nguyên sơ, hầu như rất ít dấu vết con người. Vào lúc chiều muộn, anh sốt hầm hập, chân lại đau, không lê nổi. Tôi cũng mỏi mệt, bụng đói cồn cào và buồn ngủ nữa. Tôi nghĩ tìm chỗ nghỉ trước cho anh lính, rồi kiếm cái ăn sau. Tôi đã nhìn thấy khối thứ ăn được trong khu rừng còn rất hoang dã này. Ở rừng, tôi chẳng thể chết đói được. Khi hái rau, tôi phát hiện ra những khúc gỗ cháy bên suối. Vậy là ở đây cũng đã có người ở. Nhìn những khúc củi cháy, tôi hiểu, họ ở đây cũng khá lâu nhưng nhìn lối đi, tôi thấy rất ít dấu vết con người. Vậy thì chỉ có thể họ chỉ tạt qua một thời gian ngắn. Và tôi đã gặp họ khi đang kiếm rau. Người đàn bà dân tộc đứng trước mặt tôi, nhìn bộ dạng của bà, nhìn gùi lá sau lưng, tôi đoán bà trên nương về. Tôi mừng quá, sự xuất hiện bất thình lình của bà khiến tôi vững dạ, tôi nghĩ ngay mấy khúc gỗ bị đốt cháy dưới suối. Và tôi đã đúng. Bà hỏi chuyện, xem qua vết thương của anh lính, bà an ủi, giọng nói rất rõ ràng, như người miền xuôi, cái đầu thì phải vừa uống thuốc, vừa đắp thuốc, cái chân phải đắp thuốc và nghỉ ngơi dăm bảy ngày, cứ chạy thế này không khỏi được đâu, rồi đưa chúng tôi về nơi bà ở. Trong lúc ngồi nghỉ lấy lại sức lực và đợi bà chủ nhà lui hui nấu cơm canh cùng với mấy ngọn rau rừng bà mới hái mang về, anh lính tâm sự: “Lính tráng tụi tôi đâu có được biết những gì mà cấp trên biết. Tình hình giặc giã thế nào cũng đâu có biết…” Vậy cũng chẳng khác gì cái đơn vị khảo sát của tôi. Ở cái đơn vị khảo sát, nơi heo hút bản làng chỉ dăm bảy nóc nhà, lại nay đây mai đó, mang tiếng là cán bộ Nhà nước, nhưng cũng chẳng hơn chị dân quân và anh du kích. Có nghe được mấy mẩu tin trên đài của ta đấy, nhưng cũng chung chung lắm. Biết cái thằng bạn bên kia biên giới nó đểu rồi, nó bành trướng rồi, nhưng gọi cho rõ là thù thì cũng chưa thật dám gọi to cho rõ đâu. Trước khi nó đổ quân sang ào ào như lũ rừng, bắn pháo như sấm nổ, giết người, cướp của, hãm hiếp phụ nữ… chúng tôi vẫn coi bọn Tàu bên kia là bạn, bạn cùng phe xã hội chủ nghĩa mà, bạn quốc tế vô sản mà… tuy chằng thằng lính nào ưa thằng bạn đó. Bạn gì mà bạn, bọn đểu thì có. Ông bảo tại sao lính sao lại chạy á. Ông có biết quân nó đông như thế nào không? Biết “Chiến thuật biển người” của bọn nó không? Đấy, ông đã nghe bao giờ chưa? Chưa hả, chưa thì nghe. Chúng nó ỉ quân đông và nhiều đạn. Còn ta thì nghèo, nghèo lắm. Tôi nghe hồi đánh Mỹ, lính ăn sướng hơn bây giờ. Chuyện chúng tôi ăn ruốc mặn, mắm tôm giềng gió trên chốt là thường. Bọn Tàu chết vô khối. Nói không ngoa, bọn tôi cứ phải một chọi 5, chọi 10. Đánh thế, lính nào chịu nổi. Hết đạn chẳng lẽ để nó bắt sống. Phải tìm cách bảo vệ mình chứ. Mà này, lúc oánh nhau, có đồng đội ở bên, đếch sợ. Nhưng bây giờ, thấy cô đơn lắm, biết khi nào mới tìm được đơn vị… Buồn và cả sợ nữa. Nếu không có ông, tôi biết xoay sở thế nào… Mình thèm gặp lính mình quá, gặp lính mới biết được tình hình… Tôi vừa mới bước qua một cuộc chiến và giờ đây lại bắt đầu cuộc chiến mới. Khổ cho dân tộc này, đánh nhau liên miên. Ừ thì giờ đây đang là chiến tranh. Chiến tranh là nguồn cơn của tội ác, là sự phân li, chia rẽ, là giúp nhận rõ hơn bộ mặt bạn bè. Nhưng rồi chiến tranh sẽ phải kết thúc. Kết thúc là có bên thắng, bên thua. Lúc đó sẽ thế nào? Tôi không hình dung ra, nhưng tôi hi vọng tôi sống sót. Ai bước vào cuộc chiến cũng đều hi vọng mình sẽ sống và sẽ tồn tại, chẳng ai muốn mình chết. Nhưng chắc một điều, trong cuộc chiến, người ta thương nhau nhiều hơn. Dù rằng không muốn chết nhưng lại sẵn sàng chết cho các bạn mình sống. Trong cuộc chiến, tâm hồn con người đẹp hơn, mọi người sống vị tha, tình cảm và rất con người. Vậy mà khi cuộc chiến kết thúc, sự phân cực lập tức đến. Những thằng bạn mà mình sắn sàng chết vì nhau kia trước ánh sáng đô thị, có những thay đổi. Tôi đã phần nào kịp nhận ra cái “ phân cực” này trong tháng đầu tiên sống ở Sài Gòn sau khi ngưng tiếng súng. Người ta nghĩ đến mình nhiều hơn. Người ta ích kỷ. Cái tình người không phải không còn nữa nhưng nó kém mặn mà đi. Người từ cuộc chiến trở về đã khác. Đau khổ là như vậy. Cuộc chiến qua đi, cái sự sống chết không còn phải quan tâm nhiều, người ta bận tâm lo cho cuộc sống của mình và rất dễ dàng quên những ngày sống chết bên nhau. Còn bây giờ dân tộc này bắt đầu vào cuộc chiến mới. 

 2. Anh lính và tôi ngắm ngôi nhà và chủ nhân của nó. Ngôi nhà gỗ bé nhỏ gọn gàng. Giữa rừng thẳm có thể gọi là lâu đài. Họ có hai người, một đàn ông, một đàn bà, nhang nhác già như nhau. Đó là sự kết hợp tự nhiên hợp lý và dễ chấp nhận với những khắt khe, tóc mách của người đời. Người đời có cái xấu: chuyện mình thì giấu còn chuyện thiên hạ thích mang ra bàn tán. Cũng dễ nhận ra đó là cặp đôi “rổ rá cạp lại”. Không có trẻ nhỏ. Cái từ “rổ rá cạp lại” không mấy khi hiểu được theo nghĩa tốt đẹp. Cuộc đời luôn là thế. Có rất nhiều chuyện “rổ rá cạp lại” từ những quanh co, khúc khuỷu của cuộc đời, từ sự cô đơn, sự éo le duyên số, để rồi đến lúc đành “nhắm mắt đưa chân”. Người ta cô đơn và người ta tìm đến nhau để bớt cô đơn. Người ta tìm đến nhau để tìm ra ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn, hâm nóng trái tim và để hi vọng. Bởi cái cô đơn thường dễ gặm nhắm cả tâm hồn lẫn thể xác con người, còn hi vọng là để người ta tồn tại với đời. Rồi biết đâu đó, từ ngọn lửa nhỏ nhoi, leo lét đó, có thể tìm ra lửa ấm của hạnh phúc, lửa sáng của cuộc đời. Nhìn qua về vết thương của anh lính, người phụ nữ đeo gùi vào rừng, chừng một tiếng sau, bà quay về với một gùi lá sau lưng. Bà chọn lá và giã những lá gì đó, thứ thì để anh uống, thứ để đắp vào chân. Anh lính cũng ăn hết bát cháo cá mà ông già bắt được dưới suối, lăn ra ngủ. Giấc ngủ của người lính chiến rất say. Từ ngày bị thương, dẫu vết thương không nặng, nhưng có lẽ hôm nay anh mới có được giấc ngủ ngon. Cuộc đời luôn có sự ngẫu nhiên. Sự ngẫu nhiên được giải thích bằng duyên số, bằng số phận hoặc đơn giản là chuyện tình cờ. Chuyện tình duyên đa phần là chuyện của sự ngẫu nhiên và mang tính con người. Con người khác giới tự hấp dẫn lẫn nhau. Bỗng dưng đâu, một “người dưng” đâu đó khiến ta lưu luyến, khiến ta nhớ thương. “Cái duyên ông trờ se, cái que ông trời buộc” là thế. Và được giải thích đó là số phận mà đấng tối cao sắp xếp, rất ít người có thể lựa chọn. Nhiều khi, có sự lựa chọn và cũng có thể sự lựa chọn kéo theo sự đau khổ. Đêm nay, một cái đêm chiến tranh, thật ngẫu nhiên, tôi và anh lính được ngồi với hai người và một đống lửa. Chúng tôi ngồi với nhau để tạo cho nhau niềm tin và sự yên lòng cho nhau trong hoàn cảnh giặc giã, bom lửa. Lửa xua đi giá lạnh và lửa ấm làm người đời xích lại gần nhau. Xích lại gần nhau để chống trả cái giá lạnh. Còn hôm nay, xích lại với nhau để chống lại kẻ thù. Nhiều tâm tư và cũng lắm nỗi niềm mà ta hằng cất giữ, ấp ủ trong lòng dễ được thổ lộ bên đống lửa mùa đông như thế. Điều này rất thú vị với tôi, dù là chiến tranh ở ngay bên cạnh, vì tôi được thêm một sự hiểu biết. Nhưng đối với hai ông bà, cái thú đến một cách khác, cái thú không vì ngọn lửa. Cái thú là có thêm người. Thây kệ thiên hạ đánh nhau. Nơi rừng thiêng này bọn giặc mò đến là chết. Thêm người là thêm chuyện, vừa để xua đi những cô quạnh, đơn điệu, vừa để cho quên màn đêm lạnh giá, vừa để thấy đời bớt đi bất công phần nào chăng? Chẳng gì, có mặt tôi cũng là niềm an ủi… Niềm an ủi rất đỗi bình thường, thậm chí tôi chẳng nghĩ đến nhưng với hai ông bà cô đơn, đó là niềm vui. Niềm vui mà người ngoài cuộc chẳng thể hiểu hết. Đêm chưa sâu, trời chưa lạnh lắm, cái lạnh tái tê mà ngày xưa các cụ gọi là rét buốt, rét cóng, nghe rất hình ảnh, cũng dân dã, hình dung thấy ngay như có ngàn mũi kim đâm vào da thịt. Vẫn là những con gió đó nhưng sao thấy khang khác với cách gọi rét đậm, rét hại ngày nay. Tầm chập tối, những con gió hoang, lạnh buốt mới chỉ chờn vờn, chưa cắm vào da thịt. Hình như lúc này, mới chỉ là màn dạo đầu của một đêm đông. Và tôi biết, hai ông bà kia đã chịu nhiều đêm như thế và còn chịu nhiều đêm đông khác như thế nữa. Tôi ngắm ông già ngồi trầm ngâm bên gốc si già lụ khụ, lua xua rễ phủ. Một gương mặt có đầy những nét gồ ghề của đá sắc, của khô cằn nứt nẻ, có đủ nỗi buồn tủi và khổ đau đã kinh qua. Gương mặt đó không giống những gương mặt khác từng lướt qua đời tôi, vì bất chợt tự nhiên, tôi nhận ra ở khuôn mặt đó với hình hài nội tâm khác, như thể một khoảnh khắc chớp nhoáng nào đó chạm vào, nhận ra con người thật, tình cảm thật của ông. Tôi bỗng nhận ra cái thần thái và sự ấm áp nơi ông. Sự ấm áp như ngồi bên đống lửa lúc này. Anh lính bị thương không thể thờ ơ với ngọn lửa ấm áp. Anh xoay người về ngọn lửa nóng, đưa tay bóp đầu, không kêu đau nữa. Mấy thứ lá trên rừng mà người phụ nữ hái về đã có tác dụng. Rừng nuôi ta và bảo vệ ta là thế. Đừng bội bạc với nó. Anh ngồi xuống cạnh người đàn bà. Anh nói đã tận mắt nhìn thấy mấy thằng giặc Tàu cầm súng phun lửa đốt từng nóc nhà và tiếng cười khả ố của chúng. Anh cũng nghe thấy tiếng la khóc của đàn bà con trẻ, dắt díu bồng bế nhau chạy giặc. Anh không còn đủ sức để bảo vệ đồng bào mình. Anh đau nỗi giặc giết hại dân mình. Anh phanh áo ngực đón ngọn gió lạnh vừa lướt qua để giảm bớt sự căng thẳng, ức chế. Con gió chỉ đủ rung rinh nhẹ các nhánh rễ lòa xòa. Anh nói anh ngửi thấy mùi khét cháy của thi thể con người trong tiếng cười toang toác của bọn giặc dữ. Nhưng hơn tất cả, anh nghĩ về đối tượng cuộc chiến đang xảy ra. Phải rồi, đó là kẻ thù, kẻ thù thì phải dùng ngọn lửa căm hờn để thiêu đốt chúng. Còn đồng bào, đồng bào của anh đây, phải dùng ngọn lửa để sưởi ấm, tìm ra sự yêu thương, đùm bọc Anh quay sang tôi: “Có điều lạ, tại sao ta cứ ẩm ương giữa bạn và thù, không dứt khoát. Cái lệ thuộc một chiều quá nhiều. Điều đó khiến một người hiểu biết không thể không đặt câu hỏi: đâu là độc lập và tự chủ? Cái u u minh minh là ở cái sự không rõ ràng, dứt khoát bạn là ai và thù là ai. Chúng ta đang sống ở gần cuối thập kỷ hai mươi chứ đâu có phải thời “tiền khởi nghĩa? Và ngày đó, trong đầu những ông to to, to cỡ nào thì lính tráng cũng khó xác định, có lẽ cũng rất mơ màng, viển vông cái vai trò xác định bạn và thù. Cái mà các ông í nói ra cứ ẩm ẩm ương ương, coi chúng là bạn một ít, thù một ít. Bọn tôi có bao giờ được phổ biến phải coi chúng là kẻ thù đâu, dẫu rằng chúng tôi vô cùng căm ghét cái sự đểu giả của bọn người phía bên kia. Ngay cái sự gây nhiễu, gây loạn dẫn đến chết người rõ ràng của chúng, cũng có bao giờ mang súng ra phang nhau đâu. Vẫn “dĩ hòa vi quý” vì vẫn “núi liền núi, sông liền sông” vẫn “hữu nghị truyền thống” cơ mà. Chuyện “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” xảy ra ở đâu đó cũng là bắt buộc, là bất đắc dĩ thôi, mình cứ cố “một sự nhịn là chín sự lành”. Âu thì thời thế nó thế, nên ta cũng phải thế. Bị nó đánh bất ngờ là thế.” Sau những tiếng súng, tiếng pháo là sự hoảng loạn của tất tần tật dân biên giới, khi tận mắt thấy bọn giặc giết sạch, phá sạch, đốt sạch, chẳng chừa cái gì. Vậy là hò nhau chạy về phía sau. Tin đồn từ mạn có tiếng súng là bọn lính Tàu giết hết, phá hết, giờ thì chắc chắn đã rõ, chẳng bạn bè gì nữa. Cứ phải máu đổ thì mới mở mắt, rút được ra bài học cơ. Cái đau khổ chết người là đấy. Bài học đẫm máu là đấy. Quả thật, chúng ta yêu hòa bình đến giây phút cuối cùng. 

 3. Bà mở đầu: “Đàn bà như hạt mưa sa/hạt rơi giếng ngọc, hạt ra luống cày”. Phận đàn bà khổ lắm cháu ạ. Tôi thoáng có nhận xét, bà phải là một người đàn bà rất có nghị lực. Người bà yêu là một thằng gàn dở theo cái đúng nghĩa đen, nghĩa là con người lêu lổng, hư hỏng, vô tích sự, không có công ăn việc làm đàng hoàng như “con người ta”. Đúng là tự dưng ôm về một thằng “người dưng”. Làng xóm chê, bạn bè cũng coi thường, còn gia đình bà thì khỏi nói, dứt khoát là dứt khoát, cấm cửa! Vậy là thành trắc trở, vậy là thành éo le. Khi yêu, người ta có thể chết vì nhau. Với bà, đã có gì là ghê gớm đâu mà phải chết. Bà hỏi tôi “Cậu biết chuyện đồi thông hai mộ chứ? Biết ạ. Chuyện tình đẹp không? Đẹp nhưng không có hậu, cháu thương cô gái quá, mãi mới đọc tiếp. Nghe nói bây giờ họ vẫn xa cách. Ác độc! Người đời quá ác độc. Mối tình đẹp như vậy lại đem sẻ chia, chết rồi vẫn không yên, vẫn lẻ loi, độc ác quá…” Bà im lặng, xót xa. Nỗi xót xa hằn lên đôi mắt tồi tội, tối tối, u buồn đẫm nước mắt. Lòng tôi cũng lắng lại theo những lời lên án của bà. Tôi như nhìn thấy cuộc đời rõ hơn qua lời lên án của bà. Đời có mấy người tốt? Lại chua xót. Bà và cái thằng người dưng vô tích sự của bà thách thức gia đình, dòng tộc, làng xóm mang nhau đi một chỗ thật khuất nẻo để yêu. Tình yêu vĩ đại là thế, tình yêu bất chấp mọi sự đời là thế. Cái đẹp, cái say đắm, cái lãng mạn là thời kỳ này thì không ông phóng viên, ông tòa báo nào biết để câu khách, một đề tài lý tưởng, có thể khiến tác giả bài báo nổi tiếng, tờ báo cũng nổi tiếng theo. Bà nhớ là độ đó đang rét. Rét cắt da cắt thịt. Bà phong phanh và thằng vô tích sự cũng phong phanh. Đêm đầu tiên, họ chui vào cái lều chăn vịt giữa đồng không mông quạnh, ôm nhau bên đống lửa, được nhóm lên từ gốc tre quơ vội quơ vàng được. Đêm đó trời tối thui. Hai người vơ mấy bó rơm đánh đống trên ruộng, về làm ổ, đâu có được hưởng mùi thơm của chăn chiếu mới đêm tân hôn. Khổ ải bám víu vào bà từ đây. Nhưng trước khổ ải là những ngất ngây hạnh phúc mà đã chắc trên đời mấy ai được hưởng. Đó là hạnh phúc làm vợ, vợ một thằng vô tích sự nhưng hiện thì chẳng ai bằng cái thằng vô tích sự đó. Cô gái nhận ra cái đẹp của thằng vô tích sự, cái đẹp mạnh mẽ, trai trẻ và rất con người. Thằng vô tích sự nhìn cô bằng con mắt mà chưa hề có ai nhìn cô như thế, cả những năm tháng sau này cũng vậy. Ánh mắt say mê, điên rồ hút hồn cô, khiến cô bối rối chìm trong mê li vì sự dịu dàng. Nhưng khiến lòng cô run rảy nhiều hơn, kèm theo ánh nhìn, nó khen “sao mình hôm nay đẹp thế…” Con gái là bông hoa, ai chẳng muốn đuọc khen đẹp. Cô nhớ mãi câu đó, cái tiếng “mình” thì thầm bên tai báo cho cô một giai đoạn mới của cuộc đời, nó cứ văng vẳng suốt một đời con gái ngắn ngủi của cô, suốt quãng đời đàn bà nhiều day dứt, lắm tâm trạng của cô. Thằng vô tích sự gục đầu vào bộ ngực trần… Chao ôi… Đời người con gái có thể chỉ trong khoảnh khắc giây phút rung cảm để rồi sẽ tự nguyện buông bỏ, rồi đến một thời khắc nào đó, họ sẽ hi sinh, họ sẽ hiến dâng… Trong lơ mơ, cô văng vẳng nghe thấy tiếng nói của nó : mình đẹp thế, sao tự nhiên mình thương tôi, sao mình không chọn người khác, mình có biết tôi thương mình lắm không… Nó vùi đầu vào ngực cô mà lẩm bẩm như vậy. Cô gái run rảy, mê man nghe những lời của nó, cô hiến dâng đời con gái cho nó trong cái lều chăn vịt, nơi đồng không mông quạnh, giữa một đêm đông gió rít và rét như dao cắt chỉ liu hiu ngọn khói từ gốc tre khô nhặt được sưởi ấm. Nhưng rồi những ngày hạnh phúc đó không kéo dài, cái lưng vốn mà cô tích cóp mang theo khi dấn thân vào nơi mịt mù thăm thẳm cùng nó, chỉ có thể nuôi hai người không đầy tháng. Lúc này, cô tỏ ra hơn hẳn thằng vô tích sự. Thằng đó chỉ biết làm theo những gì cô gái nghĩ ra trong đêm, khi những ân ái đã qua. Cô cần phải lo cho một cuộc sống lâu dài, cái điều mà thằng vô tích sự không biết đến, chưa bao giờ nghĩ tới. Nhưng thực ra, thằng vô tích sự không hẳn vô tích sự. Khi không còn chỗ dựa là gia đình, họ hàng, bạn bè nó tự biết nó có bổn phận phải gánh vác phần việc nào đó. Từ lâu, nó biết nó chẳng được đối xử như một con người. Vậy nên, khi nó được cô bạn gái cưu mang, cái ẩn dấu và ý thức người đàn ông trong nó trỗi dạy. Nó thấy thương người bạn gái. Cũng tự dưng, nó muốn được che chở, bảo vệ cô. Sức trai của nó lần đầu được phát huy, nó thấy nó phải làm việc và phải kiếm tiền, nhưng vốn dĩ, nó chẳng biết làm gì ngoài việc ăn uống vạ vật, dựa vào chỗ quen này, người quen nọ. Vậy là ở cái nơi lạ hoắc xa làng, xa nước này, nó lang thang không ai thương xót, phải tự thân kiếm tìm công việc để có cái đút vào mồm. Thằng vô tích sự ra bến sông, gió thổi ù ù. Người ta thuê nó bốc hàng và cho nó ăn. Nó nhớ phải mang về cho cô bạn gái mà nó đã cùng ăn ở bấy lâu nay, vậy là nó đã biết nghĩ cho người khác. Cái gì làm thay đổi nó? Chẳng gì khác ngoài tình yêu và sự dịu dàng của cô gái. Vậy đấy! Bất chợt nó hỏi, thuyền đi đâu, cần người làm thuê không. Và nó được đáp ứng. Nó sẽ đi làm kiếm tiền, kiếm tiền để nuôi cô gái, bụng nó nghĩ thế. Bà kể tiếp: Cái đêm cuối cùng để rồi thằng vô tích sự đi, nó bần thần đứng ngồi không yên bên ngọn lửa được đốt cũng từ những gốc tre. Có lẽ đêm muộn lắm rồi, nó mới chui vào ổ với cô gái. Cái ổ rơm rặm rặm đầy hơi ấm đàn bà lại làm hắn si mê. Cô gái vuốt tóc nó, những ngọn tóc cứng như rễ tre. Người ta bảo vậy là khỏe. Thằng vô tích sự rúc vào cô gái, ôm chặt cô và ngấu nghiến. Hắn đã quyết, sáng mai hắn phải rời xa cô để thực sự lao vào đời, tự kiếm ăn. Cô gái không biết lý do. Thằng vô tích sự không muốn kể lại chuyện ở bến sông. Nó chỉ nghĩ ở trong lòng nhưng lại không biết kiềm chế biểu lộ. Cô bảo nó ngủ đi để ngày mai còn lo công việc. Nhưng tình yêu không để cho nó ngủ, nó cứ ôm chặt lấy cô. Cô thấy mặt nó ướt nước mắt và cô càng chiều nó hơn, dịu dàng với nó hơn, đàn bà với nó hơn. Trong cái gió bấc hun hút cắt thịt cắt da và trên cái ổ rơm năm đó, thằng vô tích sự được hưởng trọn một đêm hạnh phúc nhất trong đời. 

 4. Thằng vô tích sự ra đi và không trở về với cô gái. Nó chết bất đắc kỳ tử trong một đợt lũ rừng khủng khiếp vì bị chính những cây gỗ của những gã sơn tràng đàng anh đốn xuống và đè chết. Cái chết của hắn được các bạn đi bè mang về kể lại cho cô gái với những lời an ủi chất phác thô kệch như những cây gỗ già rừng sâu chứa đựng những thâm u, bí hiểm và vài đồng bạc mà bạn bè gom góp, gọi là chút tiền mọn phúng viếng linh hồn, để nó còn phù hộ anh em sau này. Hôm sau, sau một đêm thức trắng đến bạc đầu, bất chấp lời khuyên của các bạn của thằng vô tích sự, cô gái khăn gói lên đường tìm mộ nó. Chẳng gì cũng phải thắp cho nó một nén hương, cúi đầu lạy nấm mồ, mà người nằm dưới đó đã cho cô gái hưởng những điều mà bất cứ người đàn bà nào cũng muốn được hưởng: hạnh phúc được làm đàn bà, và hơn nữa, cô đang mang trong người một hình hài mang dòng máu của nó, cô đã có thai. Cô phải biết để còn nói cho con của cô và cũng là con của nó, biết về người nằm dưới mồ. Nhưng mọi sự không thuận lợi. Khi đến vùng mà thằng vô tích sự của cô được chôn cất thì có hai gã sơn tràng đến làm quen. Biết hoàn cảnh cô, hai gã đưa cô về nơi hai gã trú ngụ với lời dụ dỗ có chốn ăn ở đàng hoàng, để sẽ lại tìm đường trở về quê cũ. Khổ thân con gái dặm trường, chưa biết người đời tốt xấu, thật hư thế nào đã cả tin, cắp nón đi theo hai gã. Ngay đêm đó, và tiếp cả nhiều ngày sau, hai gã đã thay nhau hành hạ cô. Cô không thể chống đỡ cũng như không thể nào tìm lại được cảm giác của thằng vô tích sự đã trao cho cô. Không bao giờ nghe được tiếng “mình” rất đỗi dịu dàng, âu yếm của thằng vô tích sự nữa. Cô lo sợ khi màn đêm buông và hai gã nồng nặc mùi rượu xấn sổ đè ngửa cô, quần nát thân thể cô. Cái thai trong bụng mang dòng máu của thằng vô tích sự cũng mất. Chúng bỏ cô lại trong rừng với một nồi gạo còn dở. Người dân địa phương đã cứu thoát cô khỏi hai gã “quỷ sơn tràng” kia. Người đàn bà già mạn ngược, lúc nào cũng cái gùi hàng sau lưng, bắt gặp cô trong tình trạng mê man, nhìn thoáng đã biết bệnh tình của cô, ngoài những vết thương trên thân thể, cô còn bị băng huyết, mặt xanh như tàu lá, hơi thở thoi thóp. Người đàn bà đó ngày ngày vào rừng lấy lá rừng mang về sắc cho cô uống và đắp những cánh lá cây được giã nhuyễn vào những vết thương trên người cô. Cô, nhờ phép màu, nhờ tuổi trẻ, nhờ cả cái chất phác, phúc hậu của người dân mạn ngược, đã trở lại với cuộc sống. Cô ở lại với họ trong sự vô thức. Chính sự vô thức đó đưa cuộc đời cô sang trang mới. Cô ở với những người đã cứu sống cô nơi sơn cùng thủy tận, heo hút. Người bản giúp cô dựng một căn nhà nhỏ bên suối bằng những cây gỗ rừng, không xa nơi thằng vô tích sự nằm. Cô theo người đàn bà luôn đeo cái gùi sau lưng vào rừng, lên nương. Cô nhớ cái ổ rơm của cô và cô mang gianh, mang lá rừng về làm ổ, cô nhớ lại những ngày mới đây, đâu đã xa xôi mà lại như xa thăm thẳm. Cuộc đời cứ chậm trôi, chậm trôi. Cô thường đi về phía đó, nơi mà chỉ cô nghe được tiếng ‘mình” của nó phát ra. Cái tiếng “mình” ấy là tài sản của riêng cô, cô giữ riêng và không chia sẻ với ai. Cái tiếng “mình” đó gắn kết cô với cái nghĩa tình“vợ chồng” sâu đậm khôn tả. “Mình” là sự hòa hợp và thông hiểu. Chỉ có cô mới hiểu nó, chỉ có nó mới hiểu cô. Cô muốn được nghe nhiều lần nữa mà không thể được nữa rồi. Nó ở đây, nằm dưới đất này và để lại trong cô sự quạnh quẽ, buồn tủi, đơn độc trên cõi đời. Thời gian sẽ phủ lên ký ức từng lớp bụi. Ký ức về những ngày đã qua đó chỉ còn lưu lại khi nét đậm, lúc nét nhạt của cô với thằng vô tích sự. Nhưng mỗi khi cô tìm đến ngôi mộ thì những nét xưa trên khuôn mặt cô trở lại. Cô nhớ hơi ấm ổ rơm liu hiu khói trong cái lều vịt giữa đồng-lâu đài hạnh phúc của cô. Những lúc như thế này, cô lại muốn nghe được tiếng kêu thì thầm “mình” của thằng vô tích sự khi nó âu yếm, vuốt tay lên mặt, con mắt nó cười nói chuyện với cô. Rồi cuộc đời người đàn bà vẫn cần phải có bóng một người đàn ông. Người đó có thể vô tích sự nhưng cũng có thể sẽ cho người đàn bà một chỗ dựa, một mái nhà, một tổ ấm… Vài năm trôi nhanh, rồi lại vài năm nữa… Hỏi, đời người còn gì với ngần ấy thời gian? Cô gái giờ đã là một phụ nữ với đủ nỗi thăng trầm, đủ mọi sắc thái cuộc đời với nhiều nỗi buồn và ít niềm vui, đầy những chông chênh, khổ đau ngấm vào, cần biết bao nhiêu một bờ vai. Anh lính quay lại phía ông già và ngọn lửa. Ngọn lửa cho ta niềm yêu thương, ông già cho ta vững niềm tin, siết chặt, gắn kết ta lại với nhau. Ngọn lửa của sự đầm ấm. Anh nhìn những gốc si ăn vào đất, một cái gốc vững chắc. Con người ông già có mảnh hồn như đã nhập vào rễ si, cắm vào đất, tạo ra sự chắc chắn, tin cậy. Sự tin cậy như một điểm tựa. Ông là cây cổ thụ của rừng già. Ông là hiển hiện của thực tại, cái thực tại nơi này đang chất đầy những lo lắng, hoang mang. Nhìn ông như thấy thêm sự chắc chắn ở niềm tin. Mặt khác vẫn nhận ra trong ông, còn có những mảnh hồn bay lơ lửng, rung rung theo từng con gió, đang lởn vởn khắp cánh rừng. Đó là cái kỳ lạ ở ông chẳng dễ nhận ra. Điều dễ nhận ra ở ông, đó là sự vững chãi. Nhưng trong ông còn có ngọn lửa lửa nóng, khi nghe anh lính kể về sự tàn bạo của bọn giặc, con mắt ông ngầu đỏ. Liệu con người có lương tri, nhận biết được yêu thương, có dám hạ tay chém giết đồng loại. 

 5. Đó là người đàn ông mà dân bản không rõ gốc gác, từ xa phiêu bạt đến. Có cảm tưởng ông ta không có quá khứ, không có ngày hôm qua, còn tương lai với ông, chắc chẳng bao giờ ông nghĩ tới. Một người điên điên như vậy thì nói đến tương lai thế nào được. Theo những gì ít ỏi từ miệng ông nói ra, gia đình ông cũng tan nát vì đất lở sau một trận lũ. Từ ngày mất gia đình, ông sống âm thầm, lặng lẽ như một cái cây lạc lõng, cô đơn, đặc quánh, gai góc, sần sùi, một cây rừng kỳ lạ do số phận trớ trêu, oái oăm tạo nên. Ở ông còn đôi mắt, đôi mắt thật buồn, đôi mắt nặng nề u tối, đôi mắt vô hồn hoang dại, đôi mắt đục lờ như ngâm trong màn sương, luôn vọng về ngày xưa. Nỗi buồn u ám ngày mưa, ngày mưa rừng xối xả, ngày nước suối dâng tràn bờ, ngày đất đồi sụt lở. Chẳng hiểu sao, những ngày mưa gió đó, ông lại dắt dao vào rừng. Người bản bảo ông nổi cơn điên, muốn rẽ mưa, lộị suối đi tìm vợ, tìm con hay tìm thủ phạm gây tội ác. Ông khua con dao đi rừng vào màn mưa. Ông la lên ồng ộc như con thú bị thương. Ông nhớ như in cái cảnh đất sụt. Cả nửa quả đồi đổ ập xuống. Cả nửa quả đồi biến thành ngôi mộ cho vợ con ông. Ông luẩn quẩn, mất hồn, ngớ ngẩn, điên dại bên quả đồi một thời gian, dựng lại một căn nhà trên quả đồi đó như có ý để nếu vợ con ông trở lại, có chỗ trú ngụ, rồi bỏ đi. Sau những biến cố nặng nề, thần kinh con người sang chấn đôi khi đến mức kỳ lạ. Một vết thương thẳm sâu chỉ có thời gian hoặc cái chết mới xóa bỏ được mà thôi. Rồi dần dần họ khám phá phá ra cuộc sống hoang dã của người rừng lại rất đàng hoàng. Họ nhận ra “người rừng” rất khéo tay. Cái chòi trên cao để tránh thú rừng đẹp như một mái nhà. Người rừng đặt bẫy bắt thú và nuôi sống bản thân bằng vô số đặc sản của rừng. Những người của bản có lúc bắt gặp, muốn bắt chuyện, tìm hiểu thêm nhưng không mấy người nghe được tiếng nói từ miệng “người rừng”. Người ta đồn thổi nhau, coi lão là kẻ dở hơi, là thằng người khi điên khi tỉnh, thích sống cô độc. Những nét đặc biệt về cuộc sống của “người rừng” khái quát cuộc sống của ông, thậm chí như thêu dệt về ông thành huyền thoại. Gần nơi “người rừng” ở, có một khe nước nhỏ lúc nào cũng rỉ ra từ tít sâu thăm thẳm rừng già, thấm qua các kẽ đá, chắt ra những giọt nước tinh khiết như để tưới mát tâm hồn nhàu nhĩ, khô cằn, cô đơn của ông. Ông tạo ra một cái giếng từ nguồn dòng nước đó. Chẳng hiểu có phải từ ngày có giếng, nhờ tắm rửa, ăn uống bằng dòng nước tinh khiết đó, ông thay đổi tâm tính, đôi lúc thấy ông khác lạ, khó hiểu. Liệu có phải dòng nước của thăm thẳm rừng sâu đã làm thay đổi tính nết của ông? Không ai xác định. Cái điều mà duy chỉ ông cảm nhận được. Dòng nước rỉ ra từ các mạch nguồn kia như đã mách bảo ông. Ông cảm nhận mọi chuyển động nơi rừng sâu thâm u qua dòng nước. Cái chòi nơi ông ở như động cựa, ông nhắm mắt và thấy nó đong đưa. Rừng như đang thở. Tiếng u u vọng về xa lắc trong đầu ông. Ông nhỏm dạy, đôi bàn tay thô ráp xoa liên tục lên mặt… Ông xuống chòi, đi về phía dòng nước đang âm thầm rỉ ra, róc rách… Vẫn là những tiếng u u từ sâu thẳm vọng về. Có điều lạ, khi những giọt nước thanh khiết chảy ướt nhòe khuôn mặt khắc khổ, quánh đặc, gồ ghề… Ông lại trầm ngâm như xưa, cái xưa như ngọn lửa ấm vỗ về ký ức. Ông nhớ… Những giọt nước tinh khiết làm ông tỉnh lại, cái trong veo, tinh khiết luôn có sức cảm hóa và những giọt nước tinh khiết đó đã cảm hóa ông, cải tạo ông, thay đổi ông. Những giọt nước thần thánh! Anh lính từ chốt phòng thủ bị đánh bật, phải chạy về phía sau, kể: Cái đêm trước hôm Tàu đánh sang, đơn vị có đủ quân đâu. Trước đó, lại hạ mức độ cảnh giác xuống một bậc, đang từ cấp sẵn sàng cao nhất giảm xuống mức thấp hơn, thì ai ngờ. Vậy mà đúng lúc đó, nó ào ào đưa xe tăng sang. Thế thì chiến đấu thế nào, đánh nhau thế nào được. Bất ngờ là vậy. Lại còn chuyện cảnh giác, chuyện bảo vệ an toàn cho chuyên gia và gia đình họ nữa chứ. Chuyên gia thì cần phải được bảo vệ ở mức an toàn nhất. Chuyện gia là khách, khách của quốc gia. Vậy mà nó đánh đến đít, tiếng la khóc đến tai, mà tất cả vẫn yên trong giấc ngủ. Nhưng anh em ta quen với chinh chiến rôi, sau những hoảng loạn ban đầu, chỉ ngày hôm sau là tập hợp lại được và đánh trả ngay. Lúc này là cần anh chỉ huy. Đồn trưởng bọn tớ có tầm như thế. Nhưng rồi chúng tớ cũng chẳng chống đỡ nổi cái chiến thuật biển người của giặc. Chúng đông quá, chết lớp này, lớp sau lên. Bọn tớ hết đạn. Hết đạn thì phải rút thôi. Khẩu hiệu “một tấc không đi, một li không rời” vào thời điểm đó không còn đúng nữa. Phải biết tự bảo vệ mình chứ. Chuyện tự bảo vệ và chuyện rời vị trí chiến đấu là khác nhau. Khi không còn khả năng phòng thủ, phải bảo vệ bản thân để còn tìm cách đánh lại. Phải rút lui là trong điều kiện như vậy. Một đồn biên phòng với một trăm tay súng, cầm cự một ngày trời với phi pháo, xe tăng và lính bộ binh chiến thuật biển người, chết bỏ của Tàu là một kỳ tích rồi. Cứ đối mặt với giặc lúc đó xem, sẽ tìm ra cách giải quyết. Đồn trưởng chúng tôi tuyệt vời ở chỗ đó. Chúng ta không thể đơn độc chóng lại kẻ thù, ông nói như vậy. Chúng ta phải huy động mọi người, ngoài các chiến sĩ biên phòng làm nòng cốt, phải có cả dân quân tự vệ và những người tình nguyện trong quần chúng. Chúng ta nhất định sẽ chiến thắng trong cuộc chiến này. Chúng ta không đơn độc, ông nhắc lại. 

 6. Những lúc ông ngồi bên đống lửa là lúc tâm tư nặng trĩu đã được cởi bỏ. Vẻ mặt ông nhẹ nhàng hơn, sạch sẽ, tinh khiết trong veo như những giọt nước được chắt ra từ rừng sâu núi thẳm. Ông nhẹ người, lâng lâng, bay bay khi nhớ về ngày xưa, cái ngày xưa tươi đẹp và hạnh phúc. Ngọn lửa bên cánh rừng làm ông ấm lại, cho ông những hồi tưởng ngọt ngào. Ký ức ngày xưa bên ngọn lửa khiến ông trở nên khác lạ. Nụ cười tưởng như đã bị triệt tiêu, quay trở lại trên khuôn mặt khắc khổ, đặc quánh, gồ ghề… làm ông thành khác lạ, cái khác lạ đó chính là cái hình ảnh ngày xưa của ông. Ngày xưa của ông đâu đã xa mà sao với ông nó đã là một đời người, nhiều đời người. Ngay lúc này, ông cảm như vợ con ông đang quây quần bên ông. Ông loay hoay vòng quanh đống lửa, tự bày biện ra mọi thứ mà trước đây vợ con ông hằng thích, miệng lẩm nhẩm những câu chẳng ai hiểu, những tiếng lòng đó chỉ có vợ con ông nghe được. Rồi ông ngồi xuống hòn đá, cầm chai rượu lên tu một hơi. Cái mặt lại trở lại vẻ khắc khổ, đặc quánh, gồ ghề… ông đã tỉnh lại và nhận ra cái hiện thực cô đơn, cảnh sống hiu hắt bên đống lửa rừng. Ông ngồi im, bất động như cục đá. Sự tĩnh mịch của thâm u cho ông nhận ra hơi thở của rừng. Rừng có vấn đề của nó. Để hiểu và đồng cảm được với nó phải gắn trọn cuộc đời của mình. Đôi lúc ông cảm tưởng như nó đang cựa quạy, nó vặn mình và những tiếng răng rắc như tiếng kêu của xương sườn, xương sống khi ta vặn người. Rừng đang vận động nội tạng của nó. Và rồi hai ba hôm sau, nước từ đâu đó đổ về, ầm ầm sôi réo. Sự thấu hiểu hoạt động trong nội tạng của rừng, tạo ra cho ông màu huyền thoại. Để nghe được tiếng rừng, nghe được hơi thở của nó, hiểu biết được thay đổi “nội tạng” của nó, chẳng đáng là huyền thoại hay sao? Người như ông thật hiếm, thật kỳ lạ và với dân bản, thật vô cùng kỳ bí chứa đầy những câu hỏi không dễ trả lời. Người khám phá ra cái “huyền thoại” nơi ông chính là người phụ nữ có chồng chết vì lũ rừng với cây đổ của rừng. Ngày đó, chẳng có ai nhận ra sự nổi giận của rừng, của trời đất với những cơn lũ sầm sập đổ về như thác, cuốn trôi mọi thứ trên đường đi của dòng nước. Nhìn dòng nước đổ cuồn cuộn, réo sôi ùng ục, mới thấy sức mạnh kỳ vĩ, khủng khiếp ẩn chứa trong nội tạng của rừng mà không một lực cản nào của con người nào có thể cản phá nổi. Cái người hiểu được sự bất bình, hiểu được cơn thịnh nộ của thần rừng, thần núi đầu tiên có lẽ chính là người đàn ông và người phụ nữ, những kẻ đã mất đi những người thân yêu vì sự nổi giận của núi rừng. Cái chết của những người thân yêu của họ chính là sự cảnh báo của thần rừng vì cách đối xử của con người với thiên nhiên. Thiên nhiên là thiêng liêng, là cái mãi tồn tại cùng con người, thiên nhiên là cái thuộc về bất tử. Để hiểu được lẫn nhau cần một sự ngay thật, trung thực. Để hiểu được rừng, cần một cả cuộc đời gắn bó, cần một tình yêu trọn vẹn, thủy chung, cần một tấm lòng can đảm sống chết bảo vệ nó… Nói chung là cần sự cống hiến hết mình và sự hi sinh hết mình. Ông già đã đối xử như vậy với rừng nên ông hiểu rừng hơn mọi người hiểu. Anh lính: Trong cuộc sống, cái khó nhất là hiểu được nhau. Muốn hiểu được nhau phải sống chân thành. Sự chân thành tạo lòng tin. Lòng tin không thể mua bán, không thể đổi chác. Câu hỏi đặt ra: Có thật chúng ta luôn sống chân thành với bè bạn, bè bạn đã thật tin chúng ta? Có thật không tinh thần quốc tế vô sản? Ông bà ta dạy: “Bạn bè là thủ túc”. Bạn bè đến với chúng ta những ngày chúng ta non yếu, không chỗ nương tựa là những ngườ bạn tốt. Ông bà ta cũng dạy: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, nhưng với lợi ích dân tộc, ông bà ta cũng bảo: Kẻ nào để mất một tấc đất thì kẻ đó phạm tội chu di… Chúng ta đã rút được gì qua những bài học đó? Thử xem, với sự chân thành của ta, những kẻ mà chúng ta vẫn gửi gắm ở bên kia biên giới như thế nào? Bây giờ thì trả lời quá dễ, nhưng khi máu dân mình chưa chảy, vẫn nhiều phân vân cho câu trả lời lắm… Ta chơi với bạn nhưng ta chưa hiểu bạn hay tầm nhìn của ta hạn chế? Chắc cả hai. “Sông sâu còn có kẻ dò/lòng người nham hiểm ai đo cho tường” Cả nghìn năm Bắc thuộc, các cụ ta vẫn dạy con cháu phải nhớ. Nghe tiếng súng nổ, người đàn ông đứng lên. Còn xa, nhưng nếu chúng mày đến đây là chúng mày chết. Ông lẩm nhẩm, mang khẩu súng săn tự tạo vào rừng.” Rừng cũng là nhà của ông. Vậy là hết một đêm bên đống lửa. Tôi và anh lính phải lên đường tìm về đơn vị. 


 Vinh Anh-3/3/21- Ngày Biên phòng 


 "Thế mới biết, không chỉ sáng tác khó, mà thẩm văn cũng khó vô cùng. Ngay cả tác giả còn không biết tác phẩm của mình hay hay dở, nói chi bạn đọc" (Tạ Duy Anh)