Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Hai thằng nó và tôi


Hai thằng nó và tôi

Hai thằng ấy thân nhau, thân nhau cỡ nào, chỉ chúng biết mà thôi. Tôi cũng biết loáng thoáng là chúng nó thân nhau. Biết vì thằng Uy là đồng hương, còn thằng Điệp thì đã có cả một mùa rét ôm nhau ngủ kiểu úp thìa. Rét quá, không ngủ được, lại dễ mỏi. Hễ thằng này xoay thì thằng kia cũng phải xoay. Xoay để giữ nhiệt cho ấm. Hồi đó trai trẻ mà sao sợ rét thế. Rét quá cơ. Sau này ngồi ôn lại, tìm ra nhẽ, chẳng qua là đói. Lính tráng bị nuôi đói. Cơm độn ngô hoặc bột mì được nặn như chiếc bánh tròn tròn, đen như hòn đá. Đúng là hòn đá, ném chó, chó chết.
Cứ mỗi đận tôi xuống đơn vị chỗ hai thằng là y như rằng chúng nó kiếm được thứ gì thêm để tôi cùng ăn. Hôm nay đĩa rau khoai, hôm sau đĩa rau khoai nữa, rồi thì lại rau khoai nữa. Chẳng là dân vùng này chỉ trồng khoai. Các chú muốn cải thiện thì nói một tiếng với chủ nhà, tha hồ hái. Vừa ăn vừa nói có vẻ ra cái điều không có gì tiếp khách cho tươm tất. Vậy mà nghe thằng Uy nói, cũng mát cả cái lòng, cái ruột. Cứ làm như ở quê không bằng. Tôi nói, để khi nào về quê mày, chiêu đãi một bữa gà thật thịnh soạn. Thằng Điệp nhớ đấy, cố sống đến ngày hòa bình.
Chúng tôi ba thằng, chẳng hiểu số giời thế nào, chơi được với nhau. Cái đầu tiên là ba thằng cùng nghành quân giới. Thằng Điệp học đạn. Tôi và thằng Uy cùng quê, học pháo. Ba thằng bảo nhau, làm thằng thợ xe sau này còn dễ kiếm việc, làm thằng thợ pháo, sau này chết đói. Cũng may, tuy không gắn cả đời với lính nhưng thằng Uy trước khi đi lính, vốn là thợ nguội, nó bỏ cơ lê, mỏ lết cầm dũa, cầm búa rất khéo. Nó kiếm ăn thêm bằng nghề gò xô, chậu, vừa đủ sống vất vưởng để nuôi một vợ, hai con. Thằng Điệp mang mác thương binh, được đi học ngân hàng. Còn tôi, biết mình “phận mỏng cánh chuồn”, ráng ở lại quân ngũ, đến tận nghỉ hưu.


Hai thằng ngày đó đều đã có vợ. Thằng Điệp yêu con bé gần đơn vị. Cũng gian lao và anh dũng lắm mới lấy được con bé đó. Gian lao vì hồi đó nó nghiêm cẩn trong mối quan hệ trai gái. Thằng Điệp bị gây khó bởi một lão cán bộ kiểu chính trị. Cái lũ này sao luôn luôn gây khó cho đồng đội. May mà nó lại gặp được ông thủ trưởng nhà trường thông cảm và tốt tính. Vậy là vượt qua đận gian lao. Đến đận anh dũng nữa. Cái đận anh dũng là cái đận tổ chức cưới xin. Nghĩa là phải có nhà trai nhà gái, đơn vị tổ chức công nhận. Lần này nó cũng vượt qua một cách oanh liệt. Nghe nó kể mà tôi không dám lấy vợ và ghét thậm tệ bọn cán bộ mang mác chính trị, bọn chuyên phá quấy, chỉ gây khó khăn cho đồng đội. Vun vào không un lại cứ phá ngang còn ra cái điều, tôi làm vậy là bảo vệ hạnh phúc cho các đồng chí. Rõ thối!
Hồi đơn vị đi chiến trận. Tôi một hướng, thằng Uy và Điệp một hướng. Tôi xa chúng nó một tháng chiến trận và sau này xa thằng Điệp mấy năm. Mãi sau mới tìm được nhau. Số là, trong trận chiến, thằng Điệp bị thương vào gót chân. Nó chui vào hầm được quá nửa người nhưng cái chân ở bên ngoài, dính bom. Nó chỉ kịp kêu “Ối Uy ơi, tao bị trúng đạn rồi, và nó ngất xỉu. Thằng Uy bên cạnh băng bó và động viên nó. Cũng thằng Uy, ép hai đứa nữa, đưa nó vào viện dã chiến bằng cáng. Nhờ thằng Uy nên thằng Điệp mới sống vì nó được đến viện kịp thời. Không có thằng Uy thì thằng Điệp đã gửi thây ở rừng Lào.
Chuyện thằng Điệp bị giòi bọ ăn phần gót chân là chuyện của nó. Nó cũng suýt chết ở cái bệnh viện đó trong hang khi bị nước lũ cuốn, cũng là chuyện của nó. Nó sống cho đến hôm nay khi đã phải trải qua những “gian lao và anh dũng” lúc lấy vợ, nên bây giờ chuyện đó nó coi khinh.
Thằng Uy lấy vợ thế nào thì tôi không rõ. Hồi tôi xuống thăm nó, sau khi nó đã chuyển ngành, thấy một cố gái bé tí. Thằng Uy cũng thấp bé nhẹ cân, vậy cũng đẹp đôi. Sau khi thằng Uy bỏ áo lính mặc áo thợ, cuộc sống chẳng khá khẩm gì. Thế là hết mong được nó chiêu đãi thịt gà. Nhà nó rách lắm. Rách thật. Chật chội, tối tăm. Tối đến nỗi tôi không nhìn rõ mặt vợ nó, chỉ biết đó là một cô gái cũng bé bé, thâm thấp như thằng Uy. Thì đã bảo chúng nó đẹp đôi mà.
Thằng Điệp bảo tôi, mày có gì giúp nó. Có đéo gì mà giúp? Tôi vặc thằng Điệp. Nói vậy nhưng cũng có. Tôi cho thằng Uy cái khung xe đạp nam mà tôi được phân phối giá rẻ như cho mà không ai muốn nhận và cái ê-tô cho nó kẹp đồ vật mà nó gia công, làm thêm tại gia. Tháng sau, nó mang cái xe đạp mà tôi đóng góp cho nó cái khung lên khoe. Chỉ phải cái cậu ta “thấp bé nhẹ cân”, đi cái xe nam cao, cứ nhệch nhệch cái mông. Trông chỉ thấy thương, chẳng thấy mừng.
Dù sao, chúng nó cũng vợ con đuề huề, con cái lớn tướng, đặc biệt là thằng Điệp, những bốn đứa, toàn con gái. Một tết, tôi đạp xe xuống chơi nhà nó, thấy nó dán khắp tường căn nhà cấp bốn, thấp lè tè toàn tranh vịt. Tôi chưa vợ con, chẳng chú ý. Lại nghĩ, thằng này trang hoàng ngày tết cũng lạ. Ngồi uống rượu lòng lợn với nó, hỏi, sao mày dán lắm tranh vịt thế? Thì mày thấy, nhà tao toàn vịt. Tôi nhìn ra phía sau, phía sau nhà nó là cánh đồng, có mương nước, có ruộng lúa, đang được chuẩn bị cấy, nước lấp xấp mặt ruộng, chẳng thấy con vịt nào. Hỏi vịt đâu. Nó điên tiết, buông: thằng ngu! Vịt đầy nhà đây. Mẹ cha nó, nó chửi mình ngu là đúng. Mình nhìn con vợ nó và bốn đứa con gái, yêu phết đấy chứ. Thật đáng đời!
Mãi rồi cũng đến lượt tôi cưới vợ. Biết phận mình là lính, đám cưới cũng muốn bỏ qua nhiều công đoạn cho bớt nhiêu khê và đỡ tốn tiền. Mà thời đó, cả xã hội nghèo, nên cũng dễ nhận được sự đồng cảm. Thằng Uy mang tiếng cùng quê, nhưng nó ở Hải Phòng, đi lại khó khăn. Thôi thì báo tin cho mày biết, để mày khỏi giục giã chuyện tao lấy vợ. Nó vẫn bảo tôi, già rồi, lấy vợ đi, đừng kén, rồi mọi chuyện đâu vào đó. Lính tráng ngày xưa đơn giản thật.
Sát ngày cưới của tôi, đâu như chỉ còn chục ngày. Nó lọ mọ vác cho tôi một cái chậu men to tướng, chụp lên đầu và không nhìn thấy mặt. Nó mang lên thẳng cơ quan tôi. Hỏi sao mày không đến nhằ tao. Tao đi nhờ mấy lão lên Hà Nội, ngại các lão ấy phải đi đi lại lại, tao bảo đến cơ quan mày cho tiện, đỡ phiền người ta nhưng phiền mày. Nhưng mày là bạn, đéo sợ. Tao được thưởng cái chậu thay tiền. Tặng mày luôn. Nếu mày chưa có con thì để đựng gạo, nếu có con làm chậu tắm. Nó bơi được trong chậu đấy. Chẳng gì nó cũng làm ở nhà máy sắt tráng men, nên mới có cái chậu khủng như vậy để tặng tôi. Đúng như nó nói, lúc đầu chưa con để đựng gạo. Sau này, hai đứa con của tôi đều lần lượt bì bõm trong cái chậu vĩ đại đó. Mỗi lần tắm cho con là nhớ ơn thằng bạn cất công đội cái chậu to tương lên cơ quan. Tắm trong cái chậu rộng rãi đó, chắc các cô công chúa của mình thích lắm. Thích nhưng chúng nó có biết công sức của các bác ấy đâu. Bọn trẻ bây giờ chúng cứ vô tư mà lớn thôi.
Chuyện cưới của tôi, tôi phải nhờ thằng Điệp. Mang tiếng cưới không ăn mặn, chỉ hút thuốc, uống nước mà vẫn ăn, ăn hai nơi, mỗi nơi một tí. Một nơi thì họ hàng nhà vợ lo, có hai chục cân cá mè ranh dưới đơn vị cho thì bà bác vất cho lợn, bà bù cho cá to hơn, thịt to hơn và hai con gà sống thiến cỡ ba, bốn kí của thằng lính mang cho. Một nơi là chỗ tôi ở, thằng Điệp lo. Hôm làm cỗ, nó vác cho tôi một bộ lòng lợn và tự tay nó làm. Chẳng hiểu cưới người ta có ăn lòng lợn không, cưới tôi nhờ có cỗ lòng của thằng Điệp mới thành cỗ cưới. Tôi cứ mang ơn nó. Không có nó tôi chịu. Chắc lại phải nhăn nhở mời mấy ông hàng xóm hút thuốc Tam Đảo suông.
Nhớ đến đám cưới tôi là tôi nhớ đến cỗ lòng của thằng Điệp. Vì sao ư? Vì ngày đó lấy đâu ra thực phẩm mà tổ chức ăn uống. Dẫu có thực phẩm thì lấy đâu ra tiền mua. Vâng, khó khăn lắm. Bây giờ chỉ nói là khó khăn, khó khăn thôi. Chứ ngày đó á, bạc mặt.
Rồi thì thế nào? Xa xôi nên tin thằng Uy ít lắm. Người mang ơn nó là thằng Điệp. Nhờ thằng Uy mà thằng Điệp sống sót. Qua cái đận đất nước “gian lao và anh dũng” không phải như chuyện thằng Điệp lấy vợ mà là cả nước vượt qua cái đận đói khi cuộc sống đã rơi xuống dưới đáy (tôi còn biết có ông cốp nói, chúng ta chưa hẳn rơi xuống đáy đâu, đang lơ lửng, nghĩa là còn rơi tiếp, có thể khổ hơn nữa cơ), thằng Điệp lặn lội bằng cái chân què đi tìm thằng Uy ở dưới Hải Phòng. Lần mò mãi rồi cũng gặp được thằng Uy. Nó đưa thằng Điệp về quê mới của nó. Chẳng rõ chuyện gia đình nó, già rồi khó nói lắm, nhiều điều không tiện nói, không muốn nói, cứ âm thầm mang đi thôi. Thằng Uy đã âm thầm mang chuyện riêng của nó đi rồi. Nó cũng thiêng. Đúng hôm đó, tôi vác cái a lô gọi nó, con nó nghe máy. Bảo cho tao nói chuyện với bố, nó bảo bố cháu mệt. Chết rồi! Mệt cỡ này là chắc nó chết. Vậy là chỉ còn tôi với thằng Điệp.
Thôi, vậy nhé, Điệp ơi. Chỉ còn tao với mày. Mày vừa mổ, không cho tao biết. Tao thấy nhớ mày nên vào chơi. Ai ngờ mày bệnh nặng thế. Cố sống vài năm nữa. Tao cũng cố sống vài năm nữa. Cùng cố nhé.

Vinh Anh 16/9/20

Tao viết về mày ở một chuyện khác.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Tú Bà còn trinh và luật pháp xứ mình

Tú Bà còn trinh và luật pháp xứ mình.

Đó là chữ của nhà văn Phạm Đình Trọng khi theo dõi vụ Đồng Tâm. Được biết cuối buổi xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thay đổi tội danh 19 người dân Đồng Tâm từ “giết người” sang “chống người thì hành công vụ” và nói đó là tính nhân đạo của nhà nước ta. Cũng không rõ từ đâu mà đại diện Viện phải chuyển tội danh. Dân đen như tôi chỉ biết hân hoan mừng, chắc bớt đi nhiều án tử hình. Bớt đi người chết là người nông dân. Cho đến thời buổi ngày nay, khi người ta đã vào kỷ nguyên, cái kỷ nguyên mà rất nhiều người nói là “bốn chấm không”vẫn phải cùi cụi lo từng bữa ăn, thì tôi rất lấy làm hân hoan, hân hoan lắm lắm. Bởi vì giả sử, nếu có, nếu là án tử cho mấy tay giang hồ, tôi nói thật, cũng không mấy nghĩ ngợi và cũng chẳng muốn khen hay chê cái nhân đạo của pháp luật xứ ta làm gì đâu.

Lại phải nói lại cái vụ thay đổi tội danh. Từ giết người, tội nặng nhất của mấy ông bà hình sự, chứ còn gì nặng hơn? Những cái mang hậu quả nặng nề hơn, có lẽ không phải giết người, mà ghê gớm hơn nhiều, như vụ tòa tháp đôi bên Mỹ í chứ. Đâu như cụ Kình cũng bị báo giới chính thống và các nhà báo ăn theo, kiểu ngày xưa bọn tôi được học hành và gọi là “bơ thừa sữa cặn” đã kết án cụ là Trùm khủng bố của Đồng Tâm rồi mà. Ở tòa vừa qua, ít nghe thấy từ khủng bố áp vào 29 người Đồng Tâm. Nó biến đi đâu nhỉ?
Thôi thì cứ lấy lý “10 ngày như 1”của ông Hiểu, để nói về 19 người không giơ tay, khi luật sự Mạnh hỏi, có ai bị tra tấn bức cung không. Thấy cái không giơ tay là 19, nhiều hơn cái giơ tay là 10. Vậy thì luật pháp ta cũng chưa nhân đạo lắm, phải không ạ? Ta vẫn “không tra tấn thì phá án thế đéo nào được-Phạm Thanh Nghiên)”. Nói chuyện tra tấn bởi vì ta cũng tham gia ký cót các loại công ước gì gì đó rồi mà. Ký rồi thì phải nghiêm như thằng Nhật ấy chứ.(Chuyện thằng Nhật, nó ký cái gì đó, và khi hoàng tử Nga sang chơi, bị ám sát, hoàng tử Nga không chết, nhưng đòi xử tội chết thằng ám sát. Thằng Nhật nó tôn trọng chữ ký của nó, nó xét tội chưa phải chết, dù nó có bị Nga Hoàng ngày đó rất hùng mạnh, đe nẹt, vậy là tha tội chết cho thằng ám sát. Mình cũng chỉ đọc trên mạng thôi, không bênh thằng Tư bản giãy chết đâu nhé. Chữ ký thế mới là chữ ký chứ. Bây giờ nói theo kiểu dân dã, chữ ký được bảo đảm bằng vàng, chứ đâu có ký rồi xổ toẹt, cãi bay. Thế giới chúng mày nói tiếng Tây, tao đéo hiểu. Khinh luôn!)
Bàn về cái sự nhân đạo, muốn nói nhiều lắm, nhưng vẫn cứ buồn. Buồn là chính. Thấy cái mạng người dân chất phác, hiền lành, khi vào đồn công an bị rẻ rúng lắm. Làm gì có công bằng, dân chủ ở đây, làm gì có thượng tôn pháp luật ở đây. Chẳng vậy mà một đồn trưởng ở thành phố cụ Hồ đã văng với dân, hình như là “dân chủ là cái cc” đó thôi. Và lại cứ phải nghĩ, đó là hang hùm, nọc rắn) Rồi từ từ ác cảm được chất thêm từng ngày, từng ngày. (Nói thật lòng, trước đây, tôi yêu các anh công an ghê lắm. Cả phố nhà tôi đi sơ tán, về nhà mọi thứ vẫn y nguyên. Đúng là ngày đó, công an gác cho dân ngủ ngon. Bây giờ á? Ra chợ thấy mấy chị bán rau bị đuổi, chỉ muốn đập vào mặt mấy thằng đuổi chợ, trong đó có công an). Cái đáng yêu ngày xưa đâu rồi?
Chính sự lộng hành, coi thường kỷ cương phép nước đã tạo ra những con người sắt máu. Chính tham vọng đã đẻ ra sự độc tài, công an trị, coi mình là chúa thiên hạ, nói sao dân đen cũng phải nghe, muốn gì được đó, bất chấp luật pháp.
59 hec-ta ở cánh đồng Sênh chưa được đền bù thỏa đáng cho dân và cứ làm như kéo đại quân đến sẽ chiếm được toàn bộ. Một chuyện nhỏ chỉ là mâu thuẫn dân sự biến thành mâu thuẫn đối kháng địch-ta. Địch ở đây là lũ dân đen, ta ở đây là chính quyền, có súng to, quân mạnh, gì mà chẳng giải quyết xong. Vậy là kế hoạch 419a hình thành trên cơ sở không coi pháp luật là cái đinh, không coi người dân là chủ đất, cần phải tỏa thuận. Kẻ chống đối phải chết. Quỳnh Phụ Thái Bình năm xưa lặp lại, Thủ Thiêm Sài Gòn lặp lại, Văn Giang Hải Dương lặp lại, Cống Rộc Tiên Lãng lặp lại. Trận đánh đẹp đè bẹp pháp luật. Dân chết bị phanh thây, “quân ta” chết trong bí hiểm và những chứa đựng biết bao  nghi ngờ không được làm rõ. Những người thân còn sống đâu có yên lòng về những cái chết bí hiểm đó.
Lại nhắc lại câu của Phạm Đình Trọng, Tú Bà vẫn còn trinh và pháp luật xứ mình mới thật nghiêm minh làm sao!

Vinh Anh 14/9/20
Ngóng phán xét của luật pháp xứ mình đây


Ảnh kèm lấy trên mạng là đèn dầu chứ không phải đèn trời

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Chờ phán xét (vụ ĐT)

Chờ đợi phán xét của toà
Tôi ngong ngóng một phán xét có lợi cho người Đồng Tâm cũng như ngong ngóng cứ sau mỗi cuộc họp của Ban kiểm tra TW, có thêm mấy ông tướng vào lò ông Trọng.
Có thật sự vụ Đồng Tâm không liên quan đến ông Trọng? Tôi không tin. Hôm qua trên TV, tôi cảm thấy uy ông Trọng còn rất lớn. Ông ngồi nói, chỉ đạo những tầm quan trọng các loại của văn kiện, và phía sau, trùm lý luận Phùng Hữu Phú cứ gật gù, cho tôi cái cảm nhận đó. Các ông ngồi nghe hay bỏ ngoài tai những lời ông Trọng nói, bố giời biết. Nhưng phòng họp lặng ngắt và vì thế, cái uy ông Trọng tôi cho là còn lớn. Chỉ sau đại hội, vì lý do sức khỏe, ông phải nghỉ, lúc đó, mới biết tình cảm thật giả và sự tôn trọng ông Trọng của quan chức xứ này.
Vì thế, vụ Đồng Tâm phải có sự chỉ đạo của BCT.
Tiếc rằng ở xứ ta, Đảng khẳng định mình chẳng bao giờ sai. Luôn luôn sáng suốt.
Đồng Tâm đã đi quá trớn, ngoài kịch bản hoặc ngoài tầm nhìn, dự kiến của BCT và những người chỉ đạo.
Thay đổi tội danh cho 19 người. từ giết người sang gây rối, chống người ti hành công vụ là một bước ngoặt. Từ tội chết chuyển sang tội "hai người đi hàng ba" là một sự thừa nhận.
Tôi tin, Đảng chẳng nhận sai nhưng dần dần sẽ sửa sai. Thời gian bao lâu? Không như CCRĐ, nó sẽ lâu như Nhân văn giai phẩm. Hàng chục năm sau, dần dần thò ra một tí, một tí. Chỉ buồn nếu cả chục năm, lâu quá là lâu cho một sự thay đổi.
Tôi cho rằng sẽ không có án tử hình nhưng ông Hiểu, ông Công, ông Chức... vẫn bị giam cầm để...trả thù chứ không vì công lý.
Mong rằng mọi sự sẽ đừng như vậy với người Đồng Tâm.
Đồng Tâm, từ vùng đất sỏi đá mà tôi từng biết, mãi mãi đi vào lịch sử về một cuộc cách mạng củả những người nông dân "quanh năm chân đất đầu trần"

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

Ngõ nhỏ ngày xưa

Ngõ nhỏ ngày xưa
Nhân ngày khai giảng năm học mới,
 bạn của gấu và voi trong ngõ (có cả bạn gái) cứ đến hỏi ông,
 gấu đâu, voi đâu, khiến ông nhớ hai đứa và nhớ cả ngày xưa.


Hắn từng thổn thức đến“lên men” khi nghe bài hát “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó /đêm nằm nghe trong gió, tiếng sông Hồng thở than…*” Những cái nhỏ mà bài hát nói đến là cái gần gũi, thân thương và có lẽ sẽ đi suốt chiều dài cuộc đời hắn. Hắn là người nặng lòng và mang nợ ngõ nhỏ. Từ khi nào? Từ ngày hắn còn nhỏ. Con ngõ dẫn vào nhà hắn uốn éo lắm, đầy cỏ dại và bẩn nữa. Sau này, chính cái uốn éo làm nên cái điệu đàng của con ngõ. Mà lạ, điều lãng mạn đó chỉ riêng hắn nhận ra. Có lẽ, hắn nhận ra vì tình yêu với nó, tình yêu nơi ngõ nhỏ. Những cái vòng vèo uốn éo đó chính là khúc cong, khúc lượn của dáng điệu thon thả con gái. Cái uốn éo điệu đàng mà thượng đế tạo ra.

Hắn cũng nghe được gió thở than, khi gối đầu lên lớp cỏ mịn màng, nằm ngắm trăng không ngủ, nghe chuyện của các anh lớn. Đó là những đêm nằm bờ đê, nghe tiếng uuu từ trên trời vọng về, những tiếng uuu đó đưa hắn vào giấc ngủ với những tưởng tượng, đam mê. Cảm giác hòa tan với đêm khuya mát lạnh và một cuộc sống bình lặng trôi. Mà sao, lạ, hắn chỉ nhận ra cái trôi hờ hững nỗi buồn, man mác buồn. Gió mát và tinh khôi hương đêm đã cho hắn cảm giác buồn hờ hững đó. Ngày đó, hắn còn mường tượng con sông lặng lờ phía dưới kia đang thầm thì với ai đó. Tiếng thầm thì là “tiếng rất gần**”. Người ta chỉ thầm thì khi ở gần nhau.
Hắn hay kiếm cớ sang nhà nó. Cái uốn éo của con ngõ như che bớt cho hắn cái hồi hộp rất con trai, cái hồi hộp thuở hẹn hò. Và lần nào cũng vậy, vẫn chỉ một hắn với bất đẳng thức hồi hộp, đơn phương. Nó chẳng biết gì hết.
Nó không biết gì hết. Hắn cam đoan là nó hoàn toàn không biết gì hết. Nó vẫn mày tao với hắn vô tư. Mãi lâu sau, khi thân nhau hơn một chút nữa, hắn bảo nó, vậy mới xứng đáng làm anh, được làm anh. Con trai là thế. Nó nhìn hắn, hứ, và quay đi dấu nụ cười, nụ cười rất xinh, nụ cười bỏ bùa hắn từ khi nào đó xa lơ xa lắc, lâu hơn nữa cơ. Mà tại sao hắn biết mình “phải lòng” nó từ hồi đó? Có lẽ tại nó. Chứ cứ như hắn, hắn chẳng bao giờ mê gái.
Cái ngõ nhỏ dẫn đến nhà hắn và nhà nó lối đi đầy cỏ.  Chẳng là ngõ chỉ có vài mái nhà, cách nhau bằng những mảnh vườn hoang, những cây lâu niên thưa thớt mọc chẳng ra hàng lối và cũng um tùm cỏ dại. Hình như nông dân ngày ấy chưa biết tính toán làm ăn trên mảnh đất của mình, nông sản chưa là hàng hóa, vài ba thứ hoa quả chẳng có người mua. Trời mưa phải bấm ngón chân xuống đất và bùn. Nó ngại bẩn, không đi trên lối mòn mà đi vào cỏ, có lần giật bắn người, hoảng hồn vì suýt dẫm phải rắn, hắn thấy và hét toáng lên khi nhìn thấy con rắn, con rắn cũng vọt biến. Nó choàng ôm chặt hắn. Hắn bất ngờ được nó ôm, ngây ngất mãi mấy ngày, người cứ lửng lơ treo vào con sáo diều uuu.

Nhà hắn có hai cây ăn qủa rất quê kiểng, đó là cây dâu sa xoan và cây khế chua. Hình như tự nó mọc lên, chẳng ai chăm sóc. Cây dâu da xoan mọc lệch bên cổng ra vào nhưng lại chìa cả nửa thân ra ngoài ngõ, chi chít, lúc lỉu quả. Bọn trẻ con cỡ tuổi hắn và cả người lớn nữa, vặt trụi khi quả nó mới thành từng chùm xanh lúc lắc theo gió. Còn cây khế mọc sát cửa sổ phòng ngủ và học của hắn với thằng em, phía sau vườn. Nhà nó có cây ổi găng rất sai quả, rất dòn, nhiều đến nỗi ổi chín rụng xuống đầy gốc. Hắn thường mang dâu da và khế đến đổi lấy ổi. Khi chưa có ổi, hắn cho không nó. Hắn chả tiếc tẹo nào nhưng thằng em hắn nhắc, nhớ đòi ổi đấy. Có hôm nó nói, nhà mày chả ra làm sao, nhà toàn con trai, thì trồng hai cây chua loét. Hắn toét miệng, chẳng hiểu nó nói ý gì.
Cây khế xòe lá cành vào cửa sổ phòng ngủ của hắn, hắn rất thích, cứ để nguyên như vậy cho đến khi lá có dấu hiệu bị héo, không khi nào đóng cửa. Một chút màu xanh cũng làm tâm tính vui vẻ hơn. Sáng sáng, bọn chim sâu, với bộ lông như màu xanh như lá khế, nhảy nhót và chí chóe cãi nhau, đánh thức hắn. Hắn dụi mắt, nằm im trên giường, ngắm tụi chim, thích lắm, nhất là nghe nó hót gọi bạn, khi líu lo, khi lanh lảnh trong vắt như nước suối trên núi bà Mãnh. Bé con mà sao tiếng to thế. “Con cái”, hắn nghĩ thế, khi con bạn tìm đến, vừa sà xuống bên, nó lại bay đi mất. Hắn khẳng định, đúng là con cái, đúng là “hứ” rồi quay mặt đi, như nó.
Nhà nó cuối ngõ, không xa nhà hắn nhưng lối đi thì ngoằn ngoèo, lại cách một con mương và một chút nữa là đường cái quan. Vậy là gần nhà xa ngõ. Cũng nhiều lần đi tắt, hắn lội mương sang nhà nó. Có hôm hắn ngã ướt hết vì bước hụt, nước sâu, uống mất mấy ngụm nước. Nó biết và nói như ra lệnh, lần sau không được đi tắt. Đi tắt tao cấm cửa. Chẳng hiểu sao, cái thằng bướng có xoáy trên đầu như hắn, (hắn có những hai xoáy trên đầu) lại tuân lệnh nó dễ dàng thế.
Nhà nó nhìn ra cánh đồng. Cánh đồng vào vụ lúa chín nhìn sướng con mắt. Nhưng hắn thích nhất là vào độ cây lúa óng ả, mướt mà. Các cụ bảo lúa vào thời con gái. Cứ cái gì đẹp là con gái. Hắn thấy tức tức khó chịu. Bố mẹ nó vất vả vì ba đứa lắt nhắt phía sau, đứa nào cũng nó bế ẵm, làm nó vất vả theo. Nó về nhà chẳng học hành gì được nhưng trí nhớ cực kỳ, vào hàng cao thủ. Nó thuộc lòng tất cả các bài văn vần, mà có lẽ, hắn biết, không hề mó đến sách. Việc lớn, việc nhỏ trong nhà một tay nó cáng đáng. Con gái đầu lòng, người quê bảo, ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng là thế. Nhiều lúc hắn ái ngại cho nó. Hắn gọi nó là “bà cụ non của tôi”. Nó cười, xinh ơi là xinh.
Bên cạnh nhà nó còn có cái đầm rất rộng. Bọn trẻ trâu cứ vượt qua đường cái quan là đến mương, đến đầm. Chẳng ai quản lý cái đầm đó. Hắn bơi giỏi nên hay sang đó tắm và đôi lúc, ngồi gốc tre câu cá, chiều tối đi đặt vó bắt tép. Hắn hướng dẫn nó đặt vó. Nó bảo tao biết, nhìn thoáng tao biết, không phải dạy, khiến hắn cụt hứng. Nó rất chi là bướng với hắn, cứ như là cố ý gây sự với hắn.
Đáng nhớ nhất là một năm mưa bão. Đường cái quan ngập nước. Mãi sau mới nghe nói là vỡ đập, nhiều người chết. Nó cũng suýt chết độ đó. Sự việc là, chiều hôm mưa bão đó, nó ngồi vắt vẻo trên lưng trâu về nhà. Mưa bão thì trâu cũng vẫn phải ăn. Nó đi chăn trâu trong mưa, hình ảnh đẹp “Ai bảo chăn trâu là khổ” vì mưu sinh của ông nhà thơ nào đó. Thì đây đúng là khổ, chẳng có mơ màng được gì đâu. Con trâu nó ngồi vắt vẻo đang yên lành tử tế bỗng lồng lên, hất văng nó xuống đầm. Hóa ra con trâu bị hụt do bờ vẫn đi, bị nước chảy, lở mất quãng giữa. Nó chìm nghỉm dưới đầm. Hắn nghe mọi người hét nhau í ới trên đường cái, cũng lao ra xem. Biết chuyện, hắn lao ngay xuống đầm, chỗ con trâu hất nó. Ngụp lặn một hồi, hắn dẫm phải nó, hai tay bế nó lên, nhờ mọi người trên bờ giúp. Vậy là nó thoát chết đận ấy. Vì thế, có lẽ, mà sau này, hắn vẫn thấy nó đọc bài thơ, ai mơ màng…
Thời gian trôi, hắn lớn và nó cũng lớn. Nó bỏ học từ hồi hết cấp hai, sau đận suýt chết. Hắn được gửi người bà con ngòai thành phố.  Thi thoảng về, thấy ngõ nhỏ ngày xưa mỗi ngày một khác. Hỏi nhà nó, hắn không nhận ra. Tìm nó, thấy nó đẹp rực rỡ như một phu nhân. Hỏi mấy con, nó bảo hai đứa, Còn cậu, học gì, làm gì, đi đâu, ở đâu, lấy ai, tớ biết hết, không cần nói. Tớ vẫn nhớ cậu.
Hắn bỗng nhận ra, nhà nó vẫn có ba cây ngày xưa của hắn và nó, cây ổi găng, cây khế và cây dâu da xoan. Ngõ thì không còn dấu vết. Nó chỉ cái đầm và bảo, tớ đấu thầu, giữ lấy cái đầm này. Hắn trầm ngâm, cái ngõ nhỏ ngày xưa bay lảng vảng trước mắt hắn.


*Bài hát Hà Nội và tôi của Lê Vinh
**Lời bài hát của Tôn Thất Lập

Vinh Anh 8/9/20

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2020

Về "Câu hỏi nghiêm túc... của Phạm Đoan Trang"

Về “Câu hỏi nghiêm túc về hoạt động đấu tranh dân chủ của Phạm Đoan Trang”

Một cái tút khoảng 600 chữ, đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người tầm tầm trẻ, tầm tầm về lý luận, tầm tầm về sự đã phần nào “tôi luyện”qua các cuộc đấu tranh hoặc xuống đường quan tâm. Tôi cũng trong dạng tầm tầm đó. Tôi đã nói về vấn đề nghiêm túc này.
Tôi dùng chữ “tầm tầm” không phải chê bai những người tham gia ý kiến vào bài viết của Đoan Trang mà ý muốn so với các cây đa, cây đề đã vững vàng như Quang A, Chu Hảo, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung, Lề Văn Giàu, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai… Cái so của tôi đặt ra câu hỏi: “Tại sao các cây đa cây đề đó không có ý kiến về nhận xét đánh giá của Đoan Trang? Trong khi thật sự lúc này, chúng ta cũng rất cần một sự “tập trung”.

Tôi đã có bài viết sau sự kiện thoái Đảng của Chu Hảo, Nguyên Ngọc và trước đó là Tương Lai. Tôi có đặt câu hỏi về sự “thoái”muộn mằn này. Liệu các ông đó có còn thấy ảnh hưởng của mình trong Đảng? Nếu vì vậy mà các ông cứ chần chừ việc “thoái”, tôi cho rằng các ông đã nhầm. Từ lâu, các ông đã bị coi không là đảng viên mà thậm chí, còn bị coi là phần tử chống đối nguy hiểm là đằng khác.
Đoan Trang cho rằng về cuộc đấu tranh của giới dân chủ ở Việt Nam lâu nay lâm vào sự chia rẽ, mất đoàn kết không được “tập trung dân chủ” như cộng sản, cứ phát động tổ chức là y như có người bàn lùi, cản phá. Cái sự chia rẽ, mất đoàn kết có thật sự nặng nề như Đoan Trang nghĩ không? Tôi không cho là nặng nề mà đó là tất yếu. Vì sao?
Chúng ta xuống đường đấu tranh ôn hòa và cứ mong bằng cách ôn hòa, chúng ta sẽ tăng cường được lực lượng. Những Quang A, Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Tương Lai, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Đõ Trung Quân, Bọ Lập… là những đầu tàu, có thể lôi kéo số đông quần chúng. Nhưng rồi phía chính quyền đã tìm được cách đối phó. Thế hệ cây đa, cây đề chỉ bị động chạm sơ sơ. Thế hệ vào độ chín bị bắt bị tù gần hết, một số phải lưu vong. Phong trào lâm vào thoái trào và cứ mỗi dịp có chuyện, tất cả những ai còn có tác dụng với số muốn tham gia mà chưa đủ dũng khí cần thiết, đều bị bánh canh. Không một cuộc đấu tranh đáng kể nào nổ ra được nữa, từ sau vụ Formosa. Những Thúy Hạnh, Trương Dũng, Huỳnh Ngọc Chênh, Bích Phượng, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Chí Tuyến, Lê Hoàng, Phạm Minh Vũ… chỉ đấu tranh lẻ tẻ và chiến đấu trên mạng, trên fb mà thôi. Những cuộc biểu tình chỉ là những trận “tập kích” nhỏ.
Tôi không cho là mấy cái lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để nhận tiền nước ngoài là lớn, những nhân vật đó sớm muộn sẽ lộ diện. Việc chiếm đoạt, xà xẻo tí chút lạm dụng dùng riêng chỉ là số ít. Còn như cổ xúy bạo lực, cơ hội chính trị, bạc bẽo phản bội đồng đội… có chăng cũng chỉ là … muỗi, tôi chưa thấy vụ nào nghiêm trọng.
Sự chia rẽ, mất đoàn kết tôi thấy ở chỗ khác: đó là việc phê phán Đoan Trang ngu ngơ, tin vào bạn bè và như có phần nói vống lên về tội cả tin cho cô (đây là cách hạ thấp uy tín Đoan Trang); những chê bai có tính kỳ thị vùng miền; việc phê phán Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, coi cô như là kẻ ăn cháo, đá bát và đôi bài bới móc chuyện riêng về cô, cũng mục đích hạ uy tín cô, khi những người được bảo lãnh ra nước ngoài, cô là người sớm đóng vai trò cá nhân sớm hơn cả; những thực hư về chuyện bồi bút, lá mặt lá trái qua các bài viết của cây bút Người buôn gió về Ô-sin Huy Đức, về Bọ Lập, về nhà báo chuyên theo dõi các BOT bẩn… Đó mới là những chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ phong trào đấu tranh đòi dân chủ. (Quả thật nói những chuyện về Mẹ Nấm ngày hôm nay đang ở Mỹ hay đọc những phản biện của Hiếu buôn gió về Ô sin, tôi cũng chẳng biết đâu là thật giả để ủng hộ hay phản đối). Đó là sự thành công của sách lược đấu tranh với phong trào dân chủ của chính quyền.
Khi phong trào đấu tranh đang trong thời kỳ thoái trào, trầm lắng, tôi thấy cái thực sự thiếu là ngọn cờ. Những cây đa, cây đề đã hoàn thành sứ mệnh, những bài viết dài dằng dặc của Nguyễn Trung hay Tương lai chỉ là những cái ngẫm của những ông già, chắt lọc từ cuộc đời của chính các ông, giới trẻ không mấy người đọc các ông đâu. Và cho dù có đọc, cũng không có cơ vận dụng. Đó là những mớ lý thuyết kinh điển chỉ có thể có tác dụng trong học viện. Ngược lại, những bài viết dài mà phân tích với lý lẽ sắc nhọn, rõ ràng như 2 cộng 2 là 4 của Hoàng Xuân Phú lại thu hút được nhiều người đọc và tác dụng lớn hơn nhiều( tôi nghĩ thế)  Vì sao? Vì bài của ông viện sĩ toán gần gũi hơn sự cao siêu. Ông Hoàng Xuân Phú gần phong trào hơn, hiểu cái cần của phong trào hơn các cây đa cây đề.
Vậy khoảng ba chục hội này hội khác được tuyên bố thành lập có tác dụng gì? Tôi cho rằng, dẫu tên gọi khác nhau, cũng vẫn chỉ một mục tiêu đòi dân chủ, cũng chỉ như một hội. (Đừng cho là còn có những thứ khác nữa như bảo vệ môi trường phản đối Formosa hay bảo vệ cây xanh. Những phong trào này cũng vẫn là những con người đó làm nòng cốt). Vậy nên, tôi thấy cái chia rẽ hay không nhất trí gì đó, không thật nặng. Nó chỉ là mâu thuẫn về cách tiến hành và vì chưa có ngọn cờ đủ tầm, nên nó vẫn “cá mè một lứa” như ngày đầu xuống đường, chưa biết ai với ai, chỉ quen mặt mà không biết tên.
Tôi lại nghĩ đến Trần Huỳnh Duy Thức.

Vinh Anh-5/9/20
Ngày khai giảng để tìm ra những con người mới cho đất nước.





MỘT CÂU HỎI NGHIÊM TÚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU TRANH DÂN CHỦ
Có nhiều ý kiến cho rằng giới đấu tranh dân chủ ở Việt Nam lâu nay chia rẽ quá, mất đoàn kết quá (không “tập trung dân chủ” được như cộng sản), nên không làm nổi việc gì. Cứ có người phát động, tổ chức công việc này là y như rằng có người bàn lùi, có người cản phá.
Điều đó là sự thật. Nó xuất phát từ việc giới đấu tranh có quá nhiều bất đồng, mà càng ngày càng nhiều hơn.
Tôi nhận thấy, trên bề mặt, những bất đồng đó được thể hiện thành sự khác biệt, mâu thuẫn về quan điểm. Tuy nhiên, về bản chất,
chúng là sự khác biệt, mâu thuẫn về giá trị theo đuổi.
Nói cách khác, đó không phải là bất đồng quan điểm. Đó là bất đồng chuẩn mực.
Những người hoạt động xã hội, người đấu tranh dân chủ ở Việt Nam đang bất đồng sâu sắc về những giá trị mà họ theo đuổi (nếu có). “Họ” ở đây bao gồm cả tôi.
Ban đầu, khi mới tham gia phong trào dân chủ, họ chỉ xác định có một đối thủ, một kẻ thù duy nhất là độc tài cộng sản.
Tuy nhiên, theo thời gian, càng ngày họ càng thấy có nhiều vấn đề nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam và trong chính phong trào dân chủ: tham nhũng, dối trá, độc tài, bạo lực. Chúng bộc lộ ra thành những thói xấu rất tệ hại: ăn cắp, lừa đảo, dối trá, fake news, ưa bạo lực, cổ xúy sự kỳ thị - phân biệt đối xử, cơ hội chính trị, bạc bẽo, phản bội đồng đội và bỏ rơi quần chúng.
* * *
Câu hỏi tôi đặt ra và thật sự mong muốn có câu trả lời, là: Phải có thái độ và cách ứng xử như thế nào với những thói xấu, những tệ nạn đó?
- NẾU CHẤP NHẬN chúng, thì chúng đã, đang và sẽ tiếp tục lan tràn; cùng với đó, phong trào dân chủ không thể phát triển được. Những người hoạt động dân chủ – ban đầu vốn được mặc định là hiện thân của những giá trị mới, tốt đẹp hơn cộng sản – sẽ không còn tư cách gì mà đại diện cho những lực lượng tiến bộ chống lại cộng sản.
- NẾU không chấp nhận chúng, nhưng chỉ đơn giản là “KHÔNG ĐỒNG HÀNH” cùng chúng, không làm việc cùng, không giao du với những người có các thói xấu đó, thì sao, kết quả là gì? Rõ là sẽ chẳng thay đổi được gì, mà lại còn rơi vào tình trạng khó tìm được đồng sự.
- NẾU CHỐNG chúng, thì sẽ phải chấp nhận có nhiều hơn một đối thủ cộng sản. Xưa, ta chỉ xác định một kẻ thù là độc tài cộng sản. Nay, nếu muốn chống tất cả những tệ nạn vừa nêu trong phong trào dân chủ nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, ta phải biết là sẽ có thêm rất nhiều kẻ thù. Và nếu ta không đủ mạnh để những giá trị mà ta tin tưởng và theo đuổi được lan rộng, thì nghĩa là phong trào dân chủ Việt Nam sẽ chẳng đoàn kết hơn, mà ngược lại, cứ tiếp tục chia rẽ mãi và lụn bại. Chia rẽ, vì mầm tốt không vươn lên được trong khi cỏ dại ngập tràn khắp lối.

Tóm lại, phải có thái độ và cách ứng xử thế nào với những bất đồng về chuẩn mực, về giá trị theo đuổi?