Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

Những phát ngôn thiếu não... của các vị gọi là lãnh đạo

Những câu phát ngôn thiếu não hay thổ thiển, kệch cỡm của các vị gọi là lãnh đạo

Những năm còn quan hệ tốt với Thụy Điển, nghe nói (kẻ viết bài này chỉ toàn là nghe nói thôi), người Thụy Điển có làm một bộ phim tài liệu về Việt Nam, với nhan đề: “Một đất nước không thể hợp tác”. Thời đó làm gì có internet mà soi mói. Nghe nói vậy và biết vậy. Chỉ tiếc cái điều, người ta ủng hộ mình như thế, vậy mà nỡ lòng nào làm người ta mất đi cái niềm tin, để người ta phải làm phim, quay cảnh ăn cắp, ăn trộm đủ kiểu chỉ để cho bữa cơm của con nó có cái đư vào mồm. Gần đây lại nghe đâu bà Phạm Chi Lan (Nghe nói, bà là một người đàn bà làm quản lý kinh tế giỏi) cũng có nói đại ý, bạn đồng nghiệp của bà ấy nói “ Dân tộc Việt là một dân tộc không chịu phát triển”. Hàm cái ý, giúp mãi, dạy mãi mà vẫn chứng nào tật ấy, tất cả như nước đổ lá khoai!
Chuyện vừa mới đây, còn mới toanh, cũng muốn buông xuôi, nhổ bọt: “Mặc mẹ nó!”. Ai lại, đường đường là đô trưởng một thành phố có danh hiệu “Thủ đô vì hòa bình” ấy vậy mà có một phát biểu rất quái thai,  nghe nói là trả lời ở Hội đồng Nhân đân gì cơ đấy. Thời nay là thời @. @ là chỉ bọn trẻ, @ cũng là chỉ thời đại số, thời đại đưa thành phố mình tiến đến thành phố văn minh và thông minh. Vừa nói một cái là người ta móc ra ngay được, chỉ vào mặt ông: “Đấy, cái này là cái gì?” Cái ngu si hay là cái dốt nát? Mà ông là đô trưởng, ông nói vậy thì dám nhìn ai?
Cũng lại nhớ, cấp dưới của ông Đô trưởng, giữa hội trường Diên Hồng, dám nói là Cụ Kình, một lãnh tụ nông dân ở thôn Đồng Tâm, bị đánh gãy chân là do con cháu của cụ gây nên. Toàn là miệng nhà quan nói ra cả, câu nào câu ấy cứ muốn (giết) chết tại chỗ cho nó hả cơn.

Nói thêm cái câu của ông đô trưởng. Tôi là dân đen, không phân biệt cách nào làm tốt, cách nào làm dở được. Tất cả phải được chứng minh cho dân đen biết. Người Nhật đã chứng minh, ông đô trưởng cũng phải chứng minh. Giờ thì họ huỵch toẹt ra rồi, họ giúp miễn phí đến kỳ hết thối dòng sông và cả cái ao làng Hồ Tây nữa, cũng là Hà Nội đỡ thối đấy. Các ông chuẩn bị ban bệ để tiếp nhận và quản lý đi. Cứ nhận đi, tiền nong rồi kiểu gì mà các ông chẳng chút ít xơ xẩm. Đây là dân đen cứ nói thật. Nhưng xin nhớ là chỉ chút ít thôi, đừng tăng vốn gấp đôi như anh Cát Linh-Hà Đông nhé. Thằng Tàu và thằng Nhật là hai thằng khác nhau đấy, đô trưởng ạ.

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Tuổi nào em trở thành thiếu nữ

Tuổi nào em trở thành thiếu nữ?
Bất ngờ lục tìm được cái ảnh cưới cũ, phịa chuyện tặng em.
Bởi nhớ câu “tình chỉ đẹp khi còn dang dở… Hồ Zếnh

Vẳng vẳng nghe được câu hát từ bài “Mối tình đầu”trong sớm thu. Chợt nhớ và tự hỏi mình “Tuổi nào em trở thành thiếu nữ”?
Một thời gian quá đẹp của chúng mình. Ngày đó, em còn rất trẻ con, còn tôi, tôi đương nhiên, đương nhiên người lớn hơn em. Người lớn như tôi không chơi với trẻ con. Nhớ có lần, tôi còn đưa cho em cuốn sách thiếu nhi và nói, em đọc đi, phải đọc hết đấy nhé.
Chẳng biết từ khi nào tôi để ý đến em. Có thể là từ buổi chiều tắm sông hôm đó, tôi cùng bạn bè nhảy từ lưng trâu xuống, bắt gặp bọn con gái cũng tắm, thấy đứa nào cũng kéo quần cao trên ngực, như thể muốn che cái gì đó. Sau này tôi cố nhìn mà không thấy gì cả. Chắc chỉ làm bộ, muốn chứng tỏ mình là con gái mà thôi. Con gái có nhiều điều ý nhị lắm.
Rồi tự dưng, bỗng nhận ra em đã lớn. Có lẽ là do gặp ánh mắt em. Chẳng hiểu sao tôi nghĩ, cái nhìn đó là để cho tôi.
Tôi nhớ hôm đó, tựu trường chưa được bao lâu, chắc độ tháng 10. Bọn tôi lớp lớn và đa số là con trai, chơi ở sân trường. Bọn con gái ngày đó chỉ ngồi ba dãy bàn, hơn chục đứa, còn ít lắm, túm tụm ngồi trong lớp.
Thế rồi mưa. Mưa ào xuống rất nhanh. Bọn con trai chạy nháo nhào. Tôi chạy vào lớp của em và hôm đó, bỗng thấy em khác thế, lớn nhanh thế, thay đổi nhiều thế.
Tôi như bị thôi miên, nhìn em không chớp, sau đó mới thấy ngượng. Còn em, em làm ngơ, coi như chẳng quen biết gì hết. Tôi thấy một phút xao động, đâu đó trong lồng ngực phập phồng. Giả vờ lơ láo để quay lại nhìn về phía em, chỉ thấy bím tóc đuôi sam ngúng nguẩy. Có lẽ hôm đó, trong mắt tôi, em trở thành thiếu nữ. Có cái gì đó hấp dẫn khiến người ta cứ phải đưa mắt tìm, kiểu nhìn đó người đời bảo là nhìn trộm. Nhìn mà không dám nhìn lâu, lại đánh mắt đi chỗ khác ngay. Bâng quơ một cái nhìn là thế! Bâng quơ một ánh mắt là thế! Bâng quơ một nỗi lòng là thế!
Tan trường. Tôi nhìn về phía lớp em. Sao vẫn chưa thấy bọn học trò nhốn nháo khi trống báo tan học. Bọn bạn gọi tôi. Tôi nấn ná muốn làm cái gì đó. Chúng nó lại gọi. Ừ, đợi tớ tí, về thì về. Về mà vẫn như muốn chờ, muốn đợi, muốn biết xem có thật thờ ơ hay không.
Từ hôm đó, tôi nhận ra, em thờ ơ thật, không quan tâm đến tôi, lảng tránh tôi. Chẳng hiểu có phải cố tình làm cao không. Còn tôi, tôi luôn nghĩ về ánh mắt, muốn tìm lại ánh mắt hôm đó, muốn tìm lại dáng vẻ hôm đó của em. Ánh mắt lạ lắm. Khó nói. Nó xuất hiện nhanh lắm, như tia chớp, như ánh sao. Tôi nghĩ hay là mình tưởng tượng ra, rằng như, em muốn nói gì đó với tôi. Có thể, một lời nói thể hiện sự quan tâm: “Này, lau cái đầu đi, ốm đấy!” cũng có thể là: “Sao lại chạy vào đây, nhầm lớp rồi… dơ chưa…” Nhưng chẳng có gì xảy ra. Chưa hết mưa, nhưng đã vào tiết mới, phải chạy về lớp mình. Vẫn nhớ quay lại nhìn mấy bàn con gái. Gặp ánh nhìn của em. Lại xôn xao.
Từ hôm đó tôi bắt đầu để ý mọi thứ, người đời gọi là làm dáng. Sạch sẽ, chau chuốt hơn. Cái chau chuốt học trò rất đáng yêu. Này nhé, lướt qua gương, cầm cái lược hay đưa tay vuốt vuốt mái đầu… Ồ, chỉ thế thôi. Cũng cốt để làm em chú ý. Buồn cười nhỉ? Em thì lúc nào trông cũng sạch sẽ, mái tóc rất gọn gàng, đuôi sam vẫn ngoe nguẩy, lắc đều rất nhẹ sau lưng. Tôi cảm thấy em tết một cái đuôi sam, nó dày dặn, thiếu nữ hơn, hai cái trông trẻ con nhí nhảnh, chưa lớn. Thật đấy. Tuổi nào em trở thành thiếu nữ, tôi không biết.
Cái xôn xao trong tôi được nuôi dưỡng bằng sách chứ không phải đi tìm ánh nhìn nữa. Nhớ lần đầu tiên thấy em đọc sách, hôm sau đưa cho em cuốn sách thiếu nhi, bảo đọc đi. Lần này khác, thấy cuốn sách dày dặn, tôi hỏi em đọc gì? Em chìa bìa sách cho tôi xem. Ôi, em đã đọc sách loại này cơ à? Thì sao? Em vặn lại tôi. Tôi hỏi em đọc đến đâu rồi, em thấy hai cô gái Katia và Đa-sa thế nào?(nhân vật trong cuốn hai chị em của A. Tôn-xtôi). Rồi tôi lấy giọng đọc câu kết của cuốn sách, cố thật truyền cảm: “Năm tháng trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét và chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…” Tôi kéo dài câu cuối “chan chứa tình yêu thương”. Em sững người, ngạc nhiên, hỏi như để hỏi, anh đọc rồi à? Tôi vênh: đọc hơi nhiều đấy. Em bĩu môi không nói, quay mặt về phía khác. Tôi không ngờ sách lại có tác dụng như vậy. Giờ thì quan hệ giữa tôi và em không gọi là xôn xao ban đầu nữa mà là thân mật, cái thân mật rất khó gọi tên chính xác. Tôi thích, tôi nhớ hay tôi yêu em… Chịu, không thể trả lời. Ngày nào tôi và em cũng có thể gặp nhau. Sách là cầu nối tri thức của nhân loại, sách cũng là cầu nối tình yêu. Tôi cứ mạnh miệng bảo đấy là tình yêu.
Nhưng ngoài sách, còn có một thứ khác, vô cùng quan trọng nối tôi và em. Đó là những bức của tôi viết cho em, thư viết tay, bằng cách nào đó để em đọc được. Tôi viết hàng ngày, kiểu nhật ký, nói về những chuyện xảy ra trong ngày. Cũng có những bức thư qua bưu điện. Tôi viết đủ thứ chuyện, chẳng hạn như chuyện tập bơi, tôi bắt chuồn chuồn thế nào, cho chuồn chuồn cắn rốn ra sao. Gặp tôi, em cười nắc nẻ, đòi xem chỗ bị chuồn chuồn cắn. Lạ thế, em rất tự nhiên kéo áo tôi lên, tôi đẩy tay em ra, không ngượng à, em như mới chợt nhớ.
Có một lần, tôi cao hứng bàn về tuổi thanh xuân, tuổi trẻ, sự cống hiến và hy sinh. Cũng nhân cái cao hứng đó, tôi trích dẫn Ô-xtrôi-côp-xki “Đời người chỉ sống có một lần…”. Lần đó em trả lời bằng thư “Có phải là anh không? Đừng triết lý, ông cụ non… của em” Tôi thích thú cái “của em” nhưng bất ngờ vì sự sâu lắng và cũng cảnh giác hơn, không dám “ra cái vẻ” nữa.
Thời gian trôi nhanh như thế nào, tôi không nhận ra nữa. Tôi không bao giờ nghĩ là tôi sẽ xa em. Nhưng số phận là vậy. Tôi và em xa nhau trong cái lý do mờ ảo, trong cái bâng khuâng gió thu và mùi hương dạ lan, trong cái “ví dầu” chúng mình không nên duyên thì cũng có cái “ví dầu” vậy  chúng mình vẫn còn nỗi nhớ.
Tôi không gửi những trang ghi chép như nhật ký, như những bức thư của tôi cho em (mà có lần em nói anh viết hay thế). Tôi giữ cho riêng tôi. Tôi cũng không đọc lại. Tôi biết là tôi nhớ hết. Chỉ có duy nhất một điều “không ai hiểu vì sao tình yêu tan vỡ như hoa thơm đầu mùa, tàn theo gió mùa thu…” Nếu đấy được gọi là “tình yêu”.
Hình như đến tận hôm nay, chúng tôi chưa bao giờ được tay trong tay của nhau.

         Vinh Anh-3/11/19







Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

Nhớ làng

Nhớ làng  
Ăn cơm mẻ bát xứ người,
vẫn còn canh cánh góc trời chân quê.

Đó là ý nghĩ đột nhiên, bột phát đến lúc đang xem cái ảnh về Hà Nội xưa, Hà Nội cách đây cả trăm năm. Mải mê nhìn những rêu phong cổ xưa, lan man và bỗng nghĩ về làng, cái làng không phải là nơi tôi sinh ra, cũng không nhiều gắn bó, nhưng là nơi quê cha đất tổ, về nơi đó, tôi vẫn được đón tiếp như những người thân. Thực ra, tôi đâu có sống nhiều ở làng, nghĩa là ở quê ấy, ở quê mình ấy. Cái làng quê đó của tôi, bình thường, nó chỉ  tồn tại trong đầu như một dấu chấm bé xíu thôi. Làng ở đây là những làng quê, nơi tôi đã được sống trong suốt mấy chục năm rong ruổi. Những nơi đó cũng là những dấu chấm bé xíu, đã tồn tại trong đầu tôi cho đến hôm nay.

Hóa ra, cái Hà Nội hào hoa cách đây cả trăm năm cũng là cái làng, mà khi nghĩ về nó, nó cũng chỉ như một cái chấm nhỏ xíu. Nhìn cái ảnh xưa, thấy Hà Nội rất “làng” và vì thế thấy yêu, yêu vì lẽ thấy nó đơn sơ, vì đơn sơ nên thấy thân thiết, gần gũi. Bởi vì lẽ, cái hào nhoáng hôm nay nó dễ trở nên xa cách. Cứ ngẫm mà xem, gặp người đơn giản, mộc mạc, chất phác, chân quê sẽ dễ nói chuyện hơn ông com-lê, kính trắng, cà vạt, cổ cồn. Đúng vậy không?
Cái nhớ làng hóa ra cũng thật giản dị, đó chính là nỗi nhớ về cái thanh bình, cái yên ả, cái ngày xưa của một miền quê yên tĩnh mà ngày còn bé tí teo, tôi được hưởng. Cái ảnh ngày xưa cho tôi nỗi nhớ đó. Đó là con đường làng bằng đất quanh co đầy cỏ dại, qua một con sông nhỏ bằng một chiếc cầu tre đơn sơ, ẽo ợt. Có thể từ đó nối dài thêm con đường, vươn ra ngoài tầm lũy tre, mắt người quê nhìn được xa hơn.
Bóng những người đàn bà váy chùng thâm, bạc màu và hình ảnh các cô gái làng chiều chiều gánh nước ngoài bến sông cho tôi nhận ra sự an phận nhưng thanh bình của người quê bên bến quê. Tôi nhớ về cái nghèo, cái nghèo cứ lộ ra từ đống rạ, đống rơm đến cái chum cái vại; từ cái chõng tre đến mái gianh tiều tụy hay vài con gà túc tắc, lẫm chẫm bới đất kiếm ăn… Cái nghèo nhìn thấy từ vài cây cau gầy guộc trơ trọi vươn lên trời như đòi sự sống, đòi ánh sáng… Cái nghèo từ mấy đứa trẻ đang nghịch đất trước sân… Cái nghèo từ bến sông với con thuyền nan cũ kỹ, nằm im ắng, nghe ngóng mặt nước lặng lờ… Ôi, nhớ thế… làng ơi… Tất cả đều toát ra cái quê mùa, cũ kỹ từ ngàn đời, nó hòa vào thân thể ta, ngấm đẫm vào máu thịt ta từ khi nào thế nhỉ? Không biết!
Nhớ về làng ngày thơ bé thì những đêm trăng sáng chơi trận giả, là không thể quên. Tổ chức được buổi chơi công phu lắm, công phu là phải chia bên địch-ta cho công bằng. Bọn trẻ choai choai đủ các loại tuổi, đứa bé nhất chỉ mới lên bốn, lên năm, đứa lớn đã gộc ghệch mười ba, mười bốn. Đứa nào cũng có công việc. Bọn nhỏ cho ở nhà làm chân lon ton, vặt vãnh như liên lạc, thằng lớn là chỉ huy, hò hét ra lệnh oai phết. Sẩm tối lò dò, lom khom đi tìm chỗ mai phục trên thảm cỏ để bắt quân địch làm tù binh, đứa nào cũng được trang bị súng bằng sống là chuối, mỗi lần cho nổ phải vuốt tay trên sống lá, phát ra tiếng kêu rốp rốp, đứa khéo tay thì tạo ra súng có tiếng kêu to và giòn. Nhiều đứa bị muỗi đốt không dám kêu, bí mật mà. Trận đánh cuối cùng là trận xung phong, hai bên địch ta ào lên, gào thét. Lá ngụy trang rung rinh, rùng rùng, roàn roạt, tiếng hô xung phong ầm cả góc trời. Rồi vật nhau, rồi bắt tù binh và hò hét. Kết quả chẳng thắng chẳng thua, chỉ có tiếng gào thét, tranh cãi của mấy thằng lớn gộc ghệch, bọn bé có đứa còn khóc vì bị ngã đau. Bây giờ nghĩ lại, thấy sao mà yêu thời trẻ thơ thế.
Ngoài ra còn nhiều trò chơi lắm. Đánh khăng, chơi đáo cũng là những trò chơi mà tôi thích. Nhưng thích hơn là bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi. Chẳng hiểu sao, tất cả bọn trẻ chúng tôi đều tin như vậy. Tôi đã dùng nhựa mít gắn vào đầu gậy, bắt được con chuồn chuồn ngô to tướng. Bắt được rồi vén áo lên, cứ dập dờn cho nó cắn rốn mà lại sợ đau. Cũng có lúc liều cho nó cắn, thấy ngưa ngứa, nhoi nhói lại vội giật ra, có lẽ vì chưa bị chuồn chuồn cắn thật đau, nên tôi không biết bơi. Sau này học bơi, cứ bì bụp, đập nước tung tóe mãi mới nhích được một chút dưới nước, cũng gọi là biết bơi.
Sau những năm tháng ngắn ngủi đó, tôi rời làng ra phố. Bọn trẻ ở phố cũng có đánh đáo, chơi khăng. Đánh đáo thì bọn phố thiện nghệ hơn, chơi khăng thì bọn quê ăn đứt bọn phố. Mấy trò đó bây giờ không còn nữa. Bọn trẻ bận học và nhiều trò tân tiến chứ không quê mùa, dân dã như bọn tôi ngày xưa. Các trò xưa của tôi đã mất theo cái làng xưa nghèo khổ rồi. Cái bến sông cũng mất, cái đồi đánh trận giả cũng mất. Người ta bảo làng quê đi lên, còn tôi thì nghĩ đến bến sông xưa, cứ thấy tiếc, tôi chỉ nghĩ đến cái đã mất. Tôi nhìn lại, chẳng thấy làng tôi nữa. Cái lũy tre làng cũng chỉ còn vài cụm thưa thớt, không ken dày đặc, râm mát cho mọi ngõ ngách bụi bặm và lổn nhổn sỏi đá, mà những đúa trẻ chân trần như tụi chúng tôi chẳng hề sợ. Nếu chẳng may đạp phải gai thì nhảy nhảy mấy bước rồi cắn răng rút ra, tuyệt không như mấy đứa thành phố, mỗi lần về cứ nhún chân, chăm chăm nhìn xuống đất vì sợ. Có thể vì thế mà tầm nhìn người làng tôi đã xa hơn?
Với tôi, nói về làng là nói về cái xưa, ẩn dấu trong tôi “làng” là cổ tích, như chuyện về công chúa và hoàng tử, như chuyện kể về phù thủy độc ác và bụt hiền hòa chuyên hiện ra giúp người khó. Làng với tôi là kho tư liệu về gia đình và hàng xóm, những cô dì chú bác và bất cứ ai, bất cứ điều gì xảy ra với người làng, cứ về hỏi “làng” là biết mọi sự. Mọi chuyện xảy ra, tôi đều có thể liên hệ với cái xưa, dẫu tôi sống ở làng không lâu, mọi người đã coi tôi là cư dân của phố thị, của những cái gì mà người ta (hay là tôi nghĩ nhỉ) nghĩ là sang hơn, giàu có hơn, văn minh hơn. Nhưng mà tôi vẫn nhớ làng, lạ là thế. Có lẽ chính vì những lý do đó mà tôi nghĩ, làng là phải cũ kỹ, cổ kính rêu phong và phải chứa đựng vô cùng tận những câu chuyện bí ẩn.
Làng với tôi cũng luôn là nơi chốn đi về, là chỗ dựa và luôn tỏa bóng mát, che chở cho cư dân của làng. Như bao làng khác ở xứ này, làng tôi có một cây đa rất to, lâu lắm rồi, các cụ ai cũng nói, từ khi sinh ra, đã có và nó cũng đã rất to. Tôi và mọi người đều rất thích ngồi nghỉ ở cây đa xum xuê, đầy những chuyện linh thiêng, sừng sững đứng ở đầu làng, nơi có bà Còng với cái chõng tre, mấy cái bát xam xám màu gio, ngồi bán nước vối.
Tôi rất nhớ bà, bà hay cho tôi những quả táo đã héo, xâu trên một cái que dài hơn gang tay hay những quả dâu da xoan cũng héo hắt, nhăn nhúm và chua loét, chẳng ai mua. Vậy mà thích lắm. Tôi ngồi ăn và nghe bà nói chuyện xửa xừa xưa, những chuyện ngày nay nhưng nghe như cổ tích và cả những chuyện chả liên quan gì đến tôi, vậy mà bà cứ kể, bà có trí nhớ tuyệt vời về mọi sự xảy ra trong làng. Bà hay liên hệ cách hành xử của người trong chuyện với những lý lẽ của chuyện cổ tích và rút ra cái điều đáng phải làm. Bà nói và tôi nghe, bà cứ nhỏ nhẹ,êm êm rót vào tai tôi. Vậy nên tôi biết rất nhiều chuyện của làng. Bà và cây đa là chứng nhân của làng tôi đấy.
Tôi nhớ nhất, sau mỗi khi bà kể chuyện cho tôi, bà lại chép miệng: kiếp người khổ lắm cháu ạ! Tôi chưa hiểu hết ý của bà, nhưng tôi thấy bà nghèo khổ mà lại tốt bụng và tôi thương bà. Bà và tôi chỉ quan hệ có thế nhưng sau này, mà mỗi khi về đến làng là tôi bồi hồi, nhớ bà rơm rớm mắt.
Thời bé, tôi có nhiều ước mơ mỗi khi nghe bà Còng kể xong một câu chuyện, tôi ước mình sẽ giống như nhân vật đáng yêu trong chuyện bà kể. Toàn ước mơ đẹp. Bà Còng có cô cháu gái sống chung, ngang tuổi tôi, tôi không mấy khi giáp mặt nó, nó lúc nào cũng bận rộn với công việc. Đất bãi ven sông và rất nhiều đất ruộng khác, là của ông nội tôi, ông cho người cùng quê cấy rẽ, có người trong họ làm quản lý, đến kỳ thu hoạch nộp tô cho ông, nó cùng người làng làm việc ở đó. Bà nhặt nó về từ gốc đa trong một đêm rét buốt, còn đỏ hỏn. Người làng bảo nó xinh mà số phận khốn khó. Và tôi từng ước, sau này lớn lên, tôi sẽ lấy vợ siêng năng và xinh như nó. Cái quan niệm “xinh” của tôi ngày đó là sự chăm ngoan, nghèo khổ và tốt bụng, như cô Tấm ấy.
Con bé tên là Mơ. Bà Còng đặt tên cho nó với ước mong nó sẽ là nguồn vui, ước vọng và mãi là giấc mơ của bà. Bà vui vì có người quấn quít bên cạnh, có người để săn sóc. Tôi sau này mới biết, nhiều chuyện bà kể cho tôi chỉ là những giấc mơ của bà, những chuyện như cổ tích mà bà “tích cóp, chắt chiu” lại từ cuộc sống. Bà cứ âm thầm như vậy sống với cái Mơ, giấc mơ của bà.
Nhưng nhớ về làng thì không thể không nhớ về những ngày mùa. Những ngày đó, làng rộn ràng, tất bật nhưng chan hòa không khí đầm ấm, vui vẻ. Những nụ cười rạng rỡ của những người chủ gia đình, những ánh mắt long lanh của các cô gái, những cặp má hây hây, đôi môi đỏ trong nhớp nháp mồ hôi mà cứ rạng ngời. Có phải những lời hẹn ước của tình yêu sau ngày mùa sẽ thành hiện thực? Nhưng đậm hơn, lan tỏa hơn là mùi thơm rơm rạ ngập tràn mọi ngóc ngách, cái mùi thơm no ấm. Lẫn với mùi rơm là mùi cơm mới bên bếp lửa, mái tranh. Mùi cơm mới có ý nghĩa đặc biệt với những người làm ra hạt lúa. Từ lâu, tôi đã nhận ra vẻ mặt hạnh phúc, tự hào, sung sướng của những người nông dân chất phác khi bưng bát cơm mới ngày mùa lên miệng. Tôi cũng còn nhận ra mùi cơm mới có mùi khác lạ, cái khác lạ của niềm hạnh phúc, dẫu chẳng bền lâu, chỉ vui chớp nhoáng trong mấy ngày mùa.
Con bé Mơ cũng tất bật trong đám trẻ đi mót lúa ngoài ruộng. Phần mót này là của riêng nó, nó nuôi gà. Đàn gà ngày mùa cũng no đủ hơn, con nào con đấy trông đều đẹp mã, béo tốt, rất ngon mắt. Cái Mơ nó đã tính bán đàn gà để may cho bà Còng cái áo bông, cái áo rất cần cho bà nó trong những ngày đông tháng giá sắp tới. Có điều buồn xảy ra với nó và cả với tôi, bà Còng mất trước khi có được chiếc áo bông mới mà nó dự định mua tặng bà. Cũng là một kiếp người, tôi nhớ lại câu nói của bà. Số bà cứ vậy lận đận đến tận khi chết. Chẳng rõ bà vui được mấy năm, từ ngày nào con bé Mơ có ý thức được về cuộc sống chung, cần có nhau, của hai bà cháu.
Sau đó, tôi ít về làng. Cuộc đời đưa tôi đi nhiều nơi. Tôi được sống trong rất nhiều làng xóm khác nhau của đất này. Tôi thấy mọi nơi đều có nét nhang nhác giống nhau. Hay là tôi đã hòa cuộc sống từ cái làng của tôi vào mọi cái làng của cả nước. Nhưng chỉ biết, mỗi khi nhớ về làng, không bao giờ tôi quên được bà Còng và cái Mơ. Tôi mong những câu chuyện như cổ tích của bà sẽ được thực hiện ở cuộc đời cái Mơ. Bà vẫn nói với tôi: “ Ở hiền gặp lành cháu ạ”.

Vinh Anh-1/11/19



Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2019

Vị phố


Vị phố

Lâu lắm rồi không lên phố. Phố ở đây là phố đông, nơi mình không quen biết ai, là người dưng của tất cả, mọi hành động của mình chẳng sợ bắt gặp những cặp mắt hay nhòm ngó, tất cả mọi thứ đập vào mắt đều có thể nhìn ngắm đến chán chê như tò mò, như ngớ ngẩn, ngạc nhiên. Vậy mà, dẫu là dân kề cạnh nơi phố đông, dù không đến nỗi như dân phố thị miền xa, vẫn cảm thấy lạ, vẫn rất nhiều điều muốn ngó nhìn và với riêng mình, còn muốn tìm hiểu thêm.
Cảm giác từ bao giờ mình xa lánh phố đông, nơi ồn ào với bụi bặm phố phường cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng và vào ngưỡng tuổi mình, mình còn cố tình xa lánh vì phải nhìn thấy nhiều thứ kệch cỡm, khó lọt mắt. Tự thấy mình đã trở thành “cổ kính”, không thuận nữa với những gì người đời gọi là đương đại.
Phố đông đây nó xô bồ, khác cái nhàn tản văn minh của phố cổ mà chúng ta “học” được từ phố đi bộ Arbat ở Mát-scơ-va hay từ một nơi nào đó khác mà mình mong được đến. Đến đây thấy phố đi bộ của ta chưa đạt đến cái ngưỡng văn minh đâu. Chẳng phải chê, cứ tưởng như ta đang chập chững, đang học. Cái gọi là văn hóa Việt, bị văn hóa thương trường kèm lẫn tính cách kiểu phố thị lấn át. Người đi bộ thấy ồn ào nhiều hơn, giải trí nhiều hơn và tất nhiên, ít có điều kiện chiêm nghiệm để ngẫm về văn hóa Việt, về kiến trúc cổ hay những món ăn đã từng nổi danh, được nhâm nhi trong khung cảnh vừa đủ độ "xưa".
Thêm một chút nữa. Phố đi bộ của ta, thực ra, cũng là nơi phục vụ cho việc giải quyết thiếu điều kiện vui chơi cho thành phố. Những ngày cuối tuần nhàm chán, tầng lớp trung lưu, viên chức của dân một nước đang phát triển, đang “ngóng cổ” hướng nhìn cách sống của lân bang và học theo.
Bỗng hoài cổ, muốn được nghe tiếng leng keng tàu điện khi ngồi dựa lưng bên một gốc cây, lơ đãng nhìn nét cong cầu Thê Húc, để hồn lắng vọng tiếng leng keng. Thấy lại cái tất bật một thời vất vả, một thời bươn bả, một thời ắp đầy những nỗi lo cơm áo. Vị phố ngày đó ùa về. Nơi đây, ta từng ngồi gặm chiếc bánh mì đổi từ 225 gram tem gạo, thay bữa cơm chiều, chẳng pa-tê giò chả gì hết mà vẫn xong. Rồi nhận ra, cái đói khát trong vinh quang ngày đó mà nuôi dưỡng được con người ta, tâm hồn con người ta, nuôi dưỡng được cả cái tự hào rất trìu tượng vu vơ “hạt gạo chia ba” nữa. Thật kỳ lạ và tự ngẫm, cái đó là cái gì? Xin bạn đừng giảng giải, chỉ ai có cái ngày xưa đó mới ngẫm và lý giải được nó mà thôi.
Thoáng như thấy vắt vẻo lọn tóc đuôi sam của một cô bé chưa được gọi là thiếu nữ trong bộ váy diêm dúa. Nhận ra cái nhí nhảnh ngày xưa của bọn con gái cùng lớp, chúng nó đều vắt vẻo đuôi sam. Bọn tóc dài ngày xưa đều thế. Mộc mạc ư? Không, duyên dáng lắm! Chính em của ta ngày xưa cũng vậy. Ta yêu em cũng từ cái vắt vẻo này à? Hỏi mà không biết trả lời có đúng không? Chắc là chẳng vì cái đuôi sam đâu. Ở em có nhiều thứ đáng yêu chứ!
Chạy không thoát khỏi ngày xưa, cái cũ xưa cứ chen vào cái hiện tại. Chỗ kia, trước cổng chợ Đồng Xuân, nơi ngày xưa là chỗ đường tàu điện tránh nhau, vòng trong vòng ngoài là người đứng, người ngồi đang nghe hát xẩm. Thật khéo chọn chỗ. Tiếng hát cô bé “xẩm tàu điện, xẩm chợ quê”, mình quen lắm. Lại nhớ cô bé với nét mặt lạnh, không biểu lộ sắc thái tình cảm, mà mỗi khi nó cất giọng, lại như thấy rõ nỗi lòng ai oán cùng nỗi xót xa. Nhưng lúc này nghe, không còn thấy dư vị của tiếng than trong lời ca, dù vẫn là lời ca ấy, không thấy nỗi xót xa, dù đời vẫn đầy oan trái. Vậy là mất cái thấm đậm của nỗi lòng mang nặng ngày xưa trong cái hôm nay rồi. Chăm chú nhìn người hát, người nhị, người cầm nhịp hay cầm chầu gì đấy mà tôi không rõ, thấy họ biểu diễn tự tin, sáng sủa quá… không đúng cái ngày xưa của cô bé. Bất đắc dĩ quay đi, muốn tìm cái rầu rĩ, lạnh lùng của con bé gày gò, hơn chục tuổi chứ mấy, mà nó ca “thuở trời đất nổi cơn gió bụi…”mới não nề, da diết, trách móc làm sao… Đấy mới là hồn của xẩm chứ. Bây giờ không còn xẩm, người ta chỉ diễn lại tích xưa mà thôi. Nghĩa là nó nhạt. Trong mình vụt thoáng ý nghĩ, chỉ có nghèo mới sinh ra xẩm. Đấy, con bé gày gò, cầm cái nón mê, mặt lạnh vô hồn, quần áo vá víu, đi vòng quanh đám người đứng nghe. Nó lướt qua mình, mình đã cầm sẵn đồng xu trong túi, nhưng nó lướt qua, không thèm nhìn. Nhìn mặt nó, nghĩ, nó coi mình là trẻ con. Đúng thôi, nó hát để kiếm ăn còn mình thì đang sống nhờ bố mẹ.
Cái vị phố này có gì đăng đắng, khó nói. Nó là gì, là cái hồn, cái tinh túy đã nhạt mất rồi, đúng không?
Lại lững thững hít hà hương vị phố phường. Không hít cũng phải hít. Cái mùi kích thích dạ dày. Cái mùi luôn lảng bảng trên phố đi bộ, nó quyện vào trong hơi thở, phảng phất trong mọi tán cây. Mình không thích không gian ẩm thực ồn ào, nó mang dáng vẻ phàm tục với hình ảnh của những ông bụng bia, mà ngày xưa bọn trẻ con mình thường hát nhại từ bài hát rất hay “hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ” thành “bụng ông to như cái thùng nấu phở…” Vậy mà không thoát. Cả dọc phố bày la liệt bàn ghế với đám trẻ, rất trẻ, ngồi uống trà sữa và sinh tố, cả phảng phất mùi thịt nướng nữa. Đâu đó có nhiều đứa cắm mặt vào smart phon, đứa ôm đàn ghi ta bập bùng trong hỗn tạp, bùng nhùng âm thanh phố phường. Ồ, có lẽ phố phường cứ mãi tồn tại trong trẻ trung, náo động thế này đây.
Vị phố nay đã khác xa với hương xưa mà mình đeo đẳng suốt cuộc đời. Cuộc đời mình sóng gió hơn chúng nó và bây giờ, cái mình cần đến là sự yên ả. Đó là điều an ủi để che giấu sự già cỗi, không bắt kịp nhịp đời. Biết vậy để tự tặng cho ta bàu trời riêng, ta có cuộc đời của ta. Rồi gật gù, bọn trẻ kia là sự nối tiếp. Thế hệ nào cũng có sự nối tiếp của nó, triết lý chưa?
Chưa hết chốn ồn ào với những gương mặt phồn thực, tôi thấy một bà mẹ ăn mặc đúng cách tân kỳ, váy ngắn bó khuôn hình nhưng được cắt xẻ để hở gần hết chiếc đùi trắng ngà, cổ rộng, thơm mùi nước hoa, giọng miền Trung không lẫn, nhắc cậu con giai bé xíu: “Coi chừng, té đó…” Lặng ngắm cậu bé mải chạy đang chơi trốn tìm, một trò chơi ưa thích của trẻ nhỏ, nghĩ về một Hà Nội pha tạp. Sự pha tạp thể hiện nét văn hóa vùng miền mang về đất kinh kỳ. Đa dạng là lời khen còn phía sau đó là sự hỗn tạp, đầy những nét thể hiện sự thủ cựu, khó sửa đổi. Mơ hồ nhận ra sự phức hợp của đa nhân cách. Xấu ư? Không hẳn, nhưng, hình như có phần không đẹp. Nói to, nói tục, nói ngọng và vô số điều khác nữa chứ… nó làm cho vị phố thiếu vắng sự nhuần nhị, thiếu mùi thơm hoa nhài, dù chỉ thoang thoảng nhẹ thôi, man mát thôi, để người ta hiểu, đó là sự ý nhị, một nét văn hóa.
Rồi cũng phải về. Về với phố thị, xóm nhỏ nơi mình sống. Một không gian thoáng đãng, một mặt hồ mờ ảo, một cơn gió lướt nhẹ qua mặt và những cái gật đầu thay cho lời chào. Nơi đây, mình thấy gắn bó. Đậy mới thất là vị phố của mình.


Vinh Anh-28/10/19