Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

Bạn thiếu sinh quân

Bạn thiếu sinh quân
Ghi chép tản mạn

Bọn chúng tôi ít có điều kiện gặp nhau. Sau năm chục năm, cả tiểu đoàn 1 ngày đó với 6 đại đội, khoảng 600 con người gì đó, không có nổi một mạnh thường quân. Tuy rằng lứa 600 đứa chúng tôi ngày đó cũng có người thành đạt cả về đường tiền tài, cả về đường quan lộ. Nói thế cũng hơi oan với mấy bạn, mấy bạn đó đều cùng đại đội với tôi. Thời kỳ còn đương chức, quyền uy trong tay, các bạn ấy cũng tổ chức cho chúng tôi gặp nhau được một đôi lần. những lần đó, bạn bè đến khá đông đủ. Một phần cũng bởi là những lần đầu gặp nhau sau nhiều năm xa cách nên nó đông đủ. Về gặp nhau là về gặp lại những ngày xưa thơ ngây, niên thiếu, thời đẹp đẽ nhất của một đời người mà lị.
Sau này cứ thưa dần. Trường, một bạn cùng học, hiện làm ăn tận Cao Bằng (mà từ Cao Bằng về Hà Nội để gặp nhau đâu dễ), nói: “Đường thì xa, sức thì yếu, tình cảm có chiều nhạt phai…”. Tôi nghe và thấy đau đau. Đúng! Phần vì xa xôi cách trở, phần vì già, phần thì vì kinh tế, phần thì vì gặp mãi có khi cũng nhàm. Tôi nói vậy không hiểu có đúng không? Nhàm thành ra chán. Gặp gỡ đôi khi chỉ là nghĩa vụ, không còn cái hồ hởi tươi trẻ nữa. Gặp nhau ít nói chuyện thời xưa mà lại nói chuyện thế sự ngày nay. Kiểu mấy ông già ý mà. Nói để mà nói, nói cho xả, cho hả… Một thời chưa xa, chúng tôi đâu có thế… Ừ, cái ngày chưa xa đó bây giờ còn lưu lại trong chúng tôi chỉ là những kỷ niệm đẹp. Nhiều bạn trong chúng tôi muốn lưu giữ nó.
Cái từ “bạn” bây giờ cũng có nhiều kiểu hiểu lắm. Cuộc đời muôn ngả. Đi nhiều nơi, gặp nhiều người và có thể trong muôn ngả cuộc đời đó, may ra cũng tìm được đôi ba người thân thiết. Vẫn muốn so sánh với bạn bè ngày xưa, hồi con thơ ngây ấy. Một điều gì đó nao nao, khiến lòng mình rộng mở, thấy đẹp lại cái ngày xanh… Bạn bè ngày đó thật đáng quý. Đáng quý không chỉ vì không bao giờ có nữa mà là tình bạn ngày đó, cứ mỗi lần nghĩ đến, ta thấy ta trong sạch. Cái nghĩa trong sạch bây giờ nghe chừng rất hiếm. Chính vì thế làm lòng ta nao nao, chính vì thế mà ta yêu quý bạn bè thủơ xưa ấy.
Tôi chơi với bạn không nhiều, cũng không có nhiều bạn thân. Cái nghĩa của từ “thân” cũng tuỳ mỗi người hiểu. Không hiểu nói như vậy mình có khắt khe với bạn bè quá không? Anh em cùng một mẹ đẻ ra cũng mỗi người mỗi tính, huống hồ chúng ta từ khắp nơi hội lại và rồi từ đó trở nên bạn bè. Nếu có thể nói, bỗng nhiên thành bạn bè. Vậy là trở thành bạn bè cũng do trời xui đất khiến.
Một trong những thằng chơi thân với tôi là thằng Ngân. Ngân nhập ngũ với tôi cùng một ngày, lại cùng học với nhau bảy năm trời. Bảy năm đâu có ít. Hồi xưa thân lắm, ăn ngủ lúc nào cũng có nhau, việc gì của nhau cũng biết, từ gia đình đến yêu đương, đều thổ lộ được với nhau. Vậy là thân chứ gì! Ấy vậy mà khi ra trường, mỗi đứa mỗi nơi. Cuộc sống trôi dạt, ít gặp nhau. Vậy là nhạt dần. Những cái “thân” của thời thơ ngây tươi trẻ chỉ còn là kỷ niệm. Đôi khi nó là kỷ niệm rất xa chứ không phải là chưa xa nữa. Nhạt đến nỗi nó ở xa tít mù tắp về, hẹn đến chơi, bù khú với nhau một bữa… Không thành. Tức mình gọi điện, nghe nó thanh minh. Không thèm nghe. Mắng nó té tát một hồi. Nó cười trên điện thoại. 
Và thế là từ đó, lâu lắm rồi, không gặp nhau nữa. Có đúng là nhạt phai rồi không? Có thể. Có thể là về già hết thân rồi nhưng vẫn còn lưu lại trong nhau những kỷ niệm đẹp. Có đẹp và có vị tha. Chỉ khi ta trẻ hoặc ta nghĩ về kỷ niệm thời trẻ, ta mới có lòng vị tha với bạn bè. Quý là quý chỗ đó. Chẳng có gì thay thế nổi tuổi trẻ là ở chỗ đó.
Thực ra, lòng vị tha đâu chỉ có trong thời tuổi trẻ. Nhưng thời trẻ, lòng vị tha vẫn nhiều hơn và nếu con người biết nuôi dưỡng, lại ở trong một điều kiện sống phù hợp, tính cách đó sẽ được phát triển và sẽ có thể đi suốt cuộc đời, kể cả sau này nếu có gặp những điều không thuận lợi cho cuộc sống cá nhân.
*****
Lớp thiếu sinh quân chúng tôi không có mạnh thường quân với đúng nghĩa của nó nhưng có anh hùng. Cũng với đúng nghĩa của nó. Tuy được công nhận có muộn mằn nhưng chúng tôi, những người bạn cùng học với người anh hùng đó, khi nói về anh, cũng đôi chút tự hào: “Ừ, thằng đó, ngày ấy, cùng ở với chúng tớ…”. Ra cái vẻ mình cũng có những người bạn tiếng tăm đấy…
Thực ra với anh, Hoàng Kim Giao-người anh hùng mà tôi nói tới, (Anh hơn tuổi tôi và học trên tôi một lớp) tôi không có nhiều kỷ niệm. Anh chỉ ở với lớp chúng tôi quãng một năm rồi vào đại học Tổng hợp ngay. Chúng tôi xa nhau từ lâu lắm rồi, ngày mà cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc còn chưa xảy ra. Ngày đó, lứa chúng tôi, lớp thiếu sinh quân tiểu đoàn 1 ấy, không mơ vào đại học trong nước nhiều đâu, mơ là mơ được đi Liên-Xô học kia. Vậy là anh Giao vào đại học Tổng hợp, một năm sau, tôi đi Liên-Xô. Chúng tôi bặt tin nhau từ đó.
Ba mươi năm sau, năm 1990, cuộc hội ngộ đầu tiên lớp thiếu sinh quân tiểu đoàn 1 chúng tôi. Chúng tôi hầu như đã trưởng thành “hết cỡ” cả rồi, hầu như tất cả đã vào tuổi “tri thiên mệnh”. Ở cuộc gặp đó, chúng tôi nói nhiều về các bạn đã mất. Lần đầu tiên gặp lại nhau đông đủ mà. Anh Giao cũng ở trong số đó, nhưng ngày đó, chúng tôi chỉ biết sơ sơ về trường hợp hy sinh của anh mà thôi.
Sau này, đất nước nhiều thay đổi và có điều kiện hơn, công lao của anh với đất nước được lớp người cùng lứa với anh xem xét, đề nghị. Anh được tuyên dương là anh hùng trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cụ thể hơn, anh là những người thuộc lớp đầu tiên góp công trong việc phá bom từ trường, một loại bom mà trong chiến tranh, đế quốc Mỹ sử dụng và gây nhiều khó khăn cho quân và dân ta. Anh đã hy sinh trên chiến trường khu bốn năm 1968, thời kỳ chiến tranh đang vào giai đoạn ác liệt nhất.

Chuyện được truy tặng anh hùng của anh Giao có lẽ cũng “kinh qua nhiều gian khổ”. Sự tích và chiến công anh hùng của anh được phát hiện và phát động cùng những ngày mà thanh niên cả nước sôi nổi thảo luận và học tập cùng với các tấm gương Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thuỳ Trâm… Những ngày đó, không hiểu sao, tên và chiến công của anh ít được nhắc đến. Tôi đã được tiếp xúc với chị Thái, em ruột của anh Giao, người có công làm cho những chiến tích và thành tựu nghiên cứu khoa học của anh trai mình được rõ ràng và được công nhận. Và tới hôm nay, tôi nghĩ, dù thể xác anh đã hoà tan vào tiếng bom nổ, dù có muộn mằn nhưng linh hồn anh chắc đã mãn nguyện. Chúng tôi, những người bạn của anh ở đại đội 20 cũng đã có dịp đến nghĩa trang liệt sĩ ở quận Ngô Quyền thắp cho anh nén nhang, dẫu rằng dưới mộ chỉ là nắm đất người em gái anh mang về từ hố bom anh hy sinh nơi mặt trận khu bốn.*

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

Bạn cũ từ mùa nắng

Bạn cũ từ mùa nắng
Bất ngờ gặp lại người xưa

Miền Bắc nước mình có 4 mùa rõ rệt. Chẳng hạn, cái rõ rệt đó có thể cho ta nhớ về mùa thu chẳng khác gì nhớ về mùa hạ. Thực ra, với người Bắc, thì mùa nào ở miền Bắc cũng có cái đáng nhớ và đáng suy ngẫm. Người đời nói nhiều về mùa thu với lá vàng, nắng cũng vàng nhưng nhạt, cái nhạt nắng cho thấy cái nhẹ của nắng, đố ông nào yêu nắng mùa thu mà cân đong đo đếm được độ nặng nhẹ của nắng đấy. Mùa đông với sương và rét, cái co quýt, suýt xoa là cái thú của mùa đông, mùa đông cho thấy rất cần hơi ấm của tình cảm và sự sum họp. Mùa xuân thì so với hoa, làm cho đời lúc nào cũng có cái vẻ tươi phơi phới. Còn mùa hạ, mùa hạ có gì để nhớ, để nói. Mùa hạ có nóng và có nắng chăng?
Cái hay nữa của bốn mùa ở miền Bắc là có giao mùa. Giao mùa, trong chừng mực hạn hẹp nào đó, cũng có thể ví nó như tính tình con người. Thí dụ nhé, đang nóng thì lạnh này. Nó có khác gì đang vui thì buồn không? Đang nắng thì mưa này. Nó có khác gì giận dỗi, nghi ngờ, ghen tuông không? Nó là mưa bóng mây đấy, nó là bất chợt đến rồi đi đấy, nó là thoắt ẩn thoắt hiện đấy… cứ tưởng có giao mùa mà nó đến để bàn gia à? Không, nó đến, nó đi, nó quay lại có mấy ai cảm nhận rõ ràng. Người ta chỉ nhận ra là do thấy những cánh lá vàng rơi, chập chờn như cánh bướm trong không gian dìu dịu, ở cái nắng chang chang sém mặt người hay cái rét căm căm lùa qua khe liếp, cũng như bồi hồi bắt gặp những cặp má ửng hồng trong gió xuân mà thôi.
Bây giờ, thời hiện đại, thì biết thêm, sau những gì cái con người tham lam, độc ác, ích kỷ mà chúng ta là tác nhân, đã đối xử không phải với thiên nhiên, nên mới sinh ra chuyện, mà những người theo dõi nó gọi là “biến đổi khí hậu”. Chuyện khí hậu cũng là chuyện thời thế, là chuyện tưởng xa mà gần, gần mà xa, nó sát ngay ta mà ối người cứ nghĩ nó xa vời, tỉ như cái chuyện Thủ đô ngàn năm văn vật của chúng ta, định hạ sát hơn bảy nghìn cây xanh. Chuyện nó xảy ra với một vạn lý do, lý do nào cũng vì bắt nguồn từ cái con người tham lam, cũng chẳng muốn nói ở đây.
Mùa hạ là mùa nắng, còn với hắn là mùa chia ly. Sau này, cuộc đời của hắn cho hắn cái cảm nhận như vậy. Chia ly thì buồn, thì đau, có cái đau tiếc nuối chỉ dần dần hiện ra, lâu lâu tưởng đã lãng quên rồi mới hiện ra. Chứ chia ly không phải cái đau thể xác, không hẳn là cái đau thể xác thì đúng hơn, vì chia ly nhiều lúc cũng buốt nghẹn lắm. Cái đau đó nó âm ỉ, dai dẳng, đôi khi còn thấy ấm ức, nghẹn ngào. Nào mấy cuộc chia ly mà có tiếng cười rộn rã? Thậm chí thời hắn, nếu có cười đi chăng nữa thì cũng chỉ là gượng gạo mà thôi, có trực tiếp nhìn được thì mới thấy những nụ cười ấy nó héo hắt, xơ xác, thảm thương lắm.
Nhưng héo hắt, xơ xác, thảm thương kia là dành cho những cuộc chia ly sau này, cuộc chia ly mà hắn nói đến trong chuyện này không phải, chỉ dính tí chút, nếu có, ở phần cuối câu chuyện.
Hắn nhớ mùa nắng năm đó. Năm đó với hắn xôn xao lắm. Xôn xao, nghe có vẻ như nói lệch về phía con người, về khía cạnh tình cảm, đã nhận ra rung động của con tim. Đúng nghĩa chia ly ngày đó làm xáo động tâm hồn, nhất là những tâm hồn còn trong veo, tinh khôi. “Cái” chia ly diễn ra khi những con mắt to tròn ngây thơ kia chưa định rõ hướng đi của mình trên đời. Đúng nghĩa chia ly ngày đó là bịn rịn, là nhớ nhung, lưu luyến và hơn nữa… có trong đó, đâu đó bắt gặp cả những cái nhìn ấm áp, có trong đó những ánh mắt cháy bỏng, và vẫn rất học trò, cứ trong veo như mây trời, như long lanh sương mai.
Còn có cả những dòng lưu bút để đời, trong trang sổ ghi bởi dòng chữ mực tím đó, có những cánh hoa ép khô… Những thứ đó, lưu cho ta cái rạo rực bồi hồi và những luyến tiếc về sau. Cái “sau” đó có thể là mười năm, hai mươi năm, thậm chí lâu hơn… để bỗng khi nào đó có dịp nhìn lại hay bất chợt bắt gặp. Bắt gặp để rồi trong ta dâng lên phút giây bồi hồi, xao xuyến. Mùa nắng đó là mùa nắng của “vĩnh biệt chim câu”. Đó là tên một bộ phim Nga nói về chia ly tuổi học trò. Tuổi đó, bọn Tây nó yêu nhiều rồi nhưng bọn Ta chỉ dấm dúi thôi, cái dấm dúi đó làm cho sắc màu học trò huyền ảo thêm, mê ly thêm. Chẳng phải đứa nào cũng trải qua đâu. Vậy nên, với một số đứa, nó càng huyền ảo, càng mê ly chứ sao.
Hắn nhớ đôi bím tóc tết đuôi sam tung tẩy, phất phơ của nó. Hắn chỉ nhìn thôi. Nhìn và chưa một lần nói với ai là hắn nhớ hay hắn thích. Hắn cứ thích lặng thầm không chia sẻ như vậy. Hình như chẳng mấy đứa con gái có mái tóc như nó. Hình như cứ mỗi lần ngang qua, (hắn ngang hoặc nó ngang) hắn lại thấy mùi thơm là lạ, thoang thoảng. Cái mùi mà sau này hắn nói với nó là mùi “con gái bay lả bay la”. Hình như bấy giờ hắn mới bắt đầu cảm nhận được thế nào “là tóc dài ơi, tóc dài”. Hình như bây giờ hắn cũng mới chập chững tìm hiểu để biết thế nào là tóc mây hay suối tóc.  
Hắn cũng nhớ cả đôi bàn tay. Hắn chưa bao giờ đụng vào tay ai huống hồ là tay nó. Nếu cầm  được tay ai đó thì đã tạo thành nhớ thương mất rồi. Bàn tay ấy, theo hắn, đẹp lắm. Hắn chẳng nói gì hơn được ngoài từ “đẹp”. Hắn không thể hiểu được vì sao nó lại đẹp và sao lại ấn tượng với hắn thế. Hắn, đầu tiên, chú ý đến ngón tay chứ không phải bàn tay. Cái hôm đó, chỉ một ngón tay của bàn tay ấy, và một điểm trong một bài hình, mà nó lên bảng giải. Cái ngón tay và cái “điểm” trên bài toán hình ấy như dính lại với nhau làm hắn không nhận ra khoảng cách. Từ bất chợt nhận ra cái khác thường trong cái bình thường, khiến hắn càng chú ý đến nó.
Ồ, nhưng có lẽ đều không phải. Cái hắn nhớ về nó là cái gì mông lung mà cũng lại bâng quơ hơn, có dịu ấn tượng, có đằm thắm, nín lặng mà lại nghe được âm thanh, âm thanh đó hắn cảm nhận được hơn là nghe được. Cái đó là cái thăm thẳm, thăm thẳm và lắng sâu. Lắng sâu như tâm hồn ấy. Với hắn, tâm hồn là cái khó nói nhất, cũng trìu tượng và cả mênh mông nữa, mênh mông như đại dương. Đúng rồi, người ta vẫn bảo mênh mông như đại dương! Và hắn đã tìm ra từ gần như ý, mắt nó thăm thẳm như đại dương. Nhưng rồi nghĩ lại, hắn không vừa ý. Hình như to tát quá mà hắn chẳng bao giờ muốn chuyện thành “đao to búa lớn”. Vậy nó là cái gì nhỉ? Cứ để đó rồi ngẫm nghĩ thêm.
Cuối cùng thì hắn cũng nghĩ ra, đó chính là sự dịu dàng. Vậy ra bàn tay, ánh mắt, mái tóc ở nó đều có cái tên chung là dịu dàng. Cái dịu dàng rất đỗi con gái.
Vậy thì còn gì mà hắn không nhớ nhỉ? Thế nghĩa là thế nào? Thế nghĩa là hắn nhớ người ta, tức là nhớ nó rồi í. Cũng không phải lúc nào cũng nhớ đâu, chỉ thi thoảng thôi, như cơn gió mát thổi qua thôi, nhưng mà mỗi lần nghĩ tới, hắn thấy thinh thích. Hắn mỉm cười một mình có lẽ trông rất vô duyên. Hắn bỗng ngượng, như bị bắt quả tang làm chuyện sai.
Rồi những ngày cuối của năm học dần đến. Cứ qua một ngày, quyết tâm của hắn đến gặp nó càng rõ hơn nhưng quả núi phải vượt qua cũng cao thêm. Sắp tới là những ngày nghỉ để đón mùa hè nóng nực, nó sẽ về quê với ông bà. Hắn nghĩ cách. Mãi rồi cũng nghĩ ra, cách muôn thuở của học trò là lấy cớ mượn sách.
Nói thêm về sách. Cả lớp phải công nhận hắn là đứa ham đọc. Vớ được cuốn sách nào cũng đọc. Sách là của hiếm, chẳng mấy khi gặp được người có sách để mượn, có mượn cũng chỉ được một, hai ngày. Chỉ lên thư viện mới có. Ngay từ hồi lớp năm, hắn phải hy sinh những ngày hè, một tuần hai buổi, đi dạy bình dân học vụ, để lấy chứng nhận và được làm thẻ đọc sách tại chỗ ở thư viện thành phố. Nhờ đọc sách, hắn biết được nhiều thứ mà bọn cùng trang lứa không biết. Thí dụ như: một lần nắng chiếu vào qua ô cửa sổ, chỗ bọn con gái ngồi. Bọn con gái sợ nắng, sợ đen (chắc thế) bỏ hết tay áo xuống và che mặt. Hắn ra đóng cửa kính, buông câu lửng lơ: “An toàn rồi… chỉ nóng thôi”. Tất cả ngơ ngác. Riêng thày giáo thì cười. Thày ra luôn câu hỏi cho cả lớp: Tại sao? Cả lớp thộn mặt. Hắn đứng lên: “Thưa thày, tia tử ngoại bị thủy tinh chắn lối vào rồi ạ… vì vậy ra ngoài nắng, người ta hay đeo kính và … không làm đen da”, hắn nói tưng tửng chẳng nhìn đứa con gái nào.
Thời của hắn không có chuyện học thêm nếm trong mùa hè. Bọn ở quê thì tùy theo sức, nhưng đa phần chúng đều ruộng đồng giúp bố mẹ. Bọn thành phố rảnh rỗi hơn, chúng lang thang khám phá mọi ngõ ngách nơi chúng sinh sống. Cũng rất nhiều đứa về quê. Quê vẫn là chốn để thương để nhớ gửi về. Hắn không có ông bà ở quê, hắn ở lại thành phố với thú vui đọc sách và vùi đầu vào sách.
khi cái nắng đổ lửa của mùa hè sắp trôi qua, trôi qua trong tiếng nức nở ve sầu, nức nở đến sốt ruột bởi tiếng kêu ra rả liên hồi dàn đồng ca bất tận. Hắn nhớ đã đọc đâu đó, bảo tiếng ve cũng như tiếng lòng. Ngẫm ra, tuổi học trò, nhiều kẻ mắc vào “tiếng lòng nức nở” đó lắm.
Rồi thật không ngờ, hắn nhận được thư của nó. Nó nói “nó nhớ trường, nhớ các bạn và nhớ hắn”. Và nó tâm sự: “chẳng có gì êm đềm và bình yên hơn nơi miền quê tít tắp này. Rừng và núi là hai đặc sản của quê ngoại nó. Nó nói về con sông. Con sông y hệt giải lụa xanh, lặng lờ, êm đềm chảy qua bao ghềnh đá, chắt lọc bao tinh túy nơi thung sâu, rồi xuất hiện để tô điểm cho đôi bờ xanh ngát. Đôi khi thấy bên sông ngát màu trắng của lau. Màu trắng đó tạo ra một tấm thảm tuyệt vời dưới vòm trời xanh lộng gió. Nếu lắng tai, sẽ nghe được tiếng thì thầm của gió, tiếng khúc khích của nước chảy và tiếng ru của đại ngàn. Và có điều hơn cả mọi điều, nó mời hắn lên chơi: “cậu sẽ được bổ xung thêm vốn liếng để biết về núi rừng Yên Thế và hùm xám Yên Thế.”
 Quê ngoại của nó đâu có xa, khó khăn gì mà không tới được.

Vinh Anh-25/5/20

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

Dòng sông vương vấn một loài hoa

Dòng sông vấn vương một loài hoa
Tặng người hát "Nỗi buồn sông Gianh"

Đó là con sông lớn, con sông lịch sử. Hôm nay, hắn ngồi lặng nghe một ký sự bằng hình ảnh về nó, bỗng nhớ. Có cái gì đó buồn buồn chắn ngang nỗi nhớ. Cái chắn ngang đó là một kỷ niệm. Kỷ niệm về con sông gần với sông Gianh lịch sử, kỷ niệm về người con gái, người con gái sông ở bên nhánh của sông Gianh. Sông Gianh nổi tiếng vì có hơn hai thế kỷ là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có nửa thế kỷ “nồi da nấu thịt”. Nổi tiếng vì chứng kiến nỗi buồn nhiều thế hệ. Còn sông be bé bên sông Gianh này thì nhỏ bé, đẹp kín đáo, kín đáo từ vị thế nhỏ nhoi, không mấy ai biết tới, kín đáo tới cả địa hình nó chảy qua, toàn luồn lách qua những ghềnh đá lúp xúp, lô nhô, lởm chởm. Tất cả những nơi nó chảy qua, cái đẹp của nó mang lại là màu xanh êm đềm, màu xanh bình an, màu xanh của trẻ trung.
Sau này lấy vợ, vợ hắn hát rất hay, trong đó có bài “Nỗi buồn sông Gianh”, hắn rất thích nghe. Nghe về sông Gianh và nhớ về nhánh sông nhỏ bên dòng Gianh ngày ấy.“Sông Gianh ơi, đã bao lần xao xuyến lòng tôi, dòng nước trôi, chốn xa xôi như mối tình của ta vơi đầy…” vợ hắn hạ giọng ngọt ngào và thăm thẳm buồn, đúng tâm trạng hắn ngày xưa đó. Nỗi buồn xao xuyến, đúng thật, rất tâm trạng, rất chơi vơi. Hắn đang hòa vào dòng sông ngày đó, cái dòng lững lờ mà sao thương nhớ. Có phải thương nhớ vì nó quá êm đềm. Êm đềm để đến nỗi không cảm thấy chiến tranh, không nghe tiếng bom nổ.
Sông Gianh là con sông lớn nhất tỉnh và chỉ chảy trong phạm vi tỉnh. Khúc sông mà hắn gửi ký ức nhớ thương vào đấy là một đoạn hẹp, hẹp hơn nhiều cái đoạn trên đường 1, có lẽ từ phía đầu nguồn. Bến sông, mà ngày đó, người nối người, vẫn đêm đêm chờ đợi qua, qua cái cửa tử, rất rộng, nó đã gần tới biển. Đêm tối nhìn mặt sông, chỉ thấy mênh mang như biển cả. Ra giữa dòng là gió với tiếng sóng oàm oạp vỗ thân phà, chẳng thấy đâu là bờ. Một thoáng phó mặc số phận.
Lần đầu vượt sông, hắn cũng sợ, ngồi bên đường ngay cửa hầm để chờ phà đến mà đầu óc căng như dây đàn, tai ngỏng lên như tai chó để lắng nghe tiếng máy bay. Nhìn ánh đèn dù lơ lửng đâu đó phía xa, hắn mong bọn thả đèn dù đừng thả ở bến đây, thả tại bến này thì chắc chết nhiều lắm. Hắn nghĩ thế và hắn mong cái sự bình an. Hắn tự an ủi, lần đâu ai chả sợ. Hắn ngồi mép đường quốc lộ, bên cạnh một căn hầm chữ A, hầm tránh bom đạn ở đây nhiều lắm. Im lặng nghe mấy người ngồi quanh đó nói chuyện bom đạn. Họ nói với nhau nghe tự nhiên, giọng nặng đặc xứ bọ, kỳ thực chẳng ai quen ai: máy bay đến, nếu có bom, chui vào được trong hầm là cầm chắc cái gáo còn nguyên. Có mấy khi sập hầm và quả bom “cả cái”, rơi trúng hầm đâu. Hắn yên tâm, tự dưng xích lại gần cửa hầm thêm một chút.
Chuyến đi đó ngay đêm đầu đã phải chờ, ngồi bờ bắc chờ phà qua bờ Nam, trời tối thui. Như bao người lính từng trải, hắn nhảy xuống và việc đầu tiên là ngó mắt tìm hầm. Kỹ năng bảo toàn cuộc sống học được của những người quen bom đạn là thế. Người đứng, người ngồi dọc theo đường quốc lộ, tất cả đều tụ tập nơi các cửa hầm. Thỉnh thoàng còn có ánh đèn pin bé xíu bằng hạt đậu, để che bớt ánh sáng, rõi xuống dưới hầm như ngầm kiểm tra độ vững chãi nữa.
Thật không gì sốt ruột bằng chờ đợi nơi bến phà thời chiến tranh phá hoại. Đâu đó, có ai thì thầm nói chuyện cũng chỉ để đỡ sốt ruột, bớt lo lắng và chờ cho thời gian mau qua. Thời gian qua tức là cũng đã qua cái đoạn chờ đợi một chút, kéo con phà lại gần, để cái sự chờ đợi mau đến. Một trong những cái dở của tổ chức bến phà thời đó là thông tin. Tin này là tin bao giờ thông phà, bao lâu nữa phà đến. Bến là đây, nhưng ban ngày phải đánh chìm xuống sông và đem giấu phà ở một nơi khác, xa lắm. Xa và kín đáo để máy bay nó không mò tới mà bắn phá được.
Thỉnh thoảng lại có một chiếc xe ù ù nặng nề đỗ nối vào cuối đoàn xe và những bước chân nhảy xuống, rồi hỏi han chuyện phà, chuyện chờ đợi, chuyện bom, chuyện máy bay, chuyện bắn phá. Người lạ nước lạ cái từ phía hậu phương đến muốn biết nhiều lắm nhưng tin tức chỉ toàn là truyền miệng nhau thôi. Vẫn tự lo cho mình là chính. Chỗ này là quân ta, là đồng bào ta nhưng khi chuyện chết chóc chưa xảy ra, vẫn là người dưng, ai có thân khắc phải tự lo.
Rồi tin không có phà đêm nay loan ra kèm theo là tiếng ồn ào rộ lên một lúc. Lý do được nói ngắn gọn: phà bị thủng. Ai cũng thất vọng và ai cũng chấp nhận, không chấp nhận mà được! Thời chiến là thế. Kêu ai? Việc ông quan trọng ư, ông đi mà làm. Chúng tôi chỉ là thằng gác bến. Nếu ông thuộc cỡ to to, cỡ nào đó thì tùy, ông là sếp của ngành giao thông, ông đưa giấy giới thiệu và cũng sẽ được giải thích. Còn nếu ông muốn qua sông ngay, cũng tùy. Hắn đi phà Gianh nhiều lần, chưa được hưởng cái phúc đấy.
Đoàn 3 chiếc xe Hoàng Hà Tàu của hắn, mệt mỏi sau gần đêm thức trắng, phải tìm chỗ nghỉ ở đâu đó. Đó có thể là nơi an toàn hơn gần bến. Còn chỗ nghỉ, đơn giản thôi, hai bên đường muốn đỗ đâu thì đỗ, ngủ đâu thì ngủ. Nhớ ngụy trang xe cho kỹ. Đoàn của hắn đi lên phía Bắc độ chục cây số rồi rẽ vào một làng nhỏ, dừng xe, hạ trại. Trời chưa sáng, mắc võng ngủ. Ngày mai còn dài. Thời gian và nhiệm vụ đều phụ thuộc vào phà. Có ai nói nhiệm vụ quân sự mà thế ư? Ôi, thời chiến! Trăm lý do, ngàn lý do để phân bua, giãi bày, thanh minh. Những gì vướng cứ đổ vào chiến tranh, hoàn cảnh khách quan nó thế, phải chấp nhận thôi. Có những điều rất đơn giản nhưng trở nên phức tạp vì cái “trở đi mắc núi, trở về mắc sông” này đấy. Nào ai muốn ăn chực nằm chờ thế này đâu.
Hắn đang say giấc thì thấy võng lay mạnh. “Ngủ chi mà ngủ say rứa?” Hắn lăn mình xuống võng, nhanh như một lính trinh sát, rồi nghe thấy tiếng cười con gái: “Vô trong nhà ngủ …anh bộ đội”. Hắn tỉnh hẳn. Trước mắt là hai cô gái thật. Có lẽ là gái “ba đảm đang hay gái hai giỏi” gì đấy. Thì đâu trên đất này chẳng: “thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang…” Hắn nghĩ nhanh và cũng nhận nhanh ra nét trẻ trung của hai cô. Với tuổi hai mươi của hắn, cô gái nào cũng hấp dẫn và cũng đẹp. Có điều cho đến giờ, hắn vẫn không biết thế nào là yêu. Nhưng hắn nhận ra ngay, hai cô gái này đẹp thật. Hắn đứng lên, vươn vai: “Ô, mặt trời đã lên rồi a…” Hắn nhìn theo bóng hai cô gái và thấy gần ngay đó, một căn nhà lá, nhỏ như cái chuồng chim, một túp lều đúng hơn. Hắn đi lại đây nhiều lần nên chẳng lạ. Đúng ra chỉ gọi là chỗ che nắng, che mưa.
“Vào nhà đi chú…”. Hắn chui vào nhà. Đúng là phải chui và còn đang định thần nhìn căn nhà thì cô gái ôm chầm lấy hắn. Cô gái ôm rất chặt. Hắn không thoát ra khỏi vòng tay cô. Cô gái sờ vào mặt hắn và hôn lên mắt, lên môi hắn tới tấp như mưa. Lần đầu hắn được một cô gái ôm hôn với cách bốc lửa rừng rực và cuồng nhiệt như vậy. Hắn chết lặng, tê dại trước sự thể hiện tình cảm quá bất ngờ. Một lúc sau, cô gái mới buông hắn ra. Cô sửa lại mái tóc bị sõa xuống sau lần yêu đầu tiên. Hắn nhìn cô và nuốt nước bọt. Thèm muốn và sợ hãi. Ngực hắn vẫn còn đập thình thịch. Cô gái như đã nhận ra hắn còn quá trẻ. Cô đang lấy lại sự bình tĩnh sau những chờ đợi và những khát khao. Rồi chính cô lại là người phá vỡ cái im lặng ngượng ngùng: “Cho chị xin lỗi, chú còn trẻ quá… chị thì đã… mà chú không phải lái xe…” Cô gái thoắt biến nhanh như một cái bóng. Hắn chỉ nhận kịp ra bộ ngực tròn căng trong làn áo nâu non, giọng cô còn rung rung mà mới khoảnh khắc trước, thân hình chắc mẩy ấy, đôi cánh tay ấy còn ôm, còn ghì chắc lấy hắn, khiến hắn không gỡ nổi.
Khoảng nửa tiếng sau, cô gái nhỏ chui vào nhà. Nghe tiếng động, hắn ngồi dậy từ chiếc giường ngắn cũn, nằm thẳng thì thò chân ra ngoài. Cô gái trẻ đang đứng bên giường: “Chị em bảo về lo cơm nước cho các anh. Anh có đói không? Các anh có mấy người?” Hắn nhận ra, cô bé này còn quá trẻ, phải kém hắn đến ba, bốn tuổi.
Hắn không trả lời cô bé. Cơm lính thì lo gì. Nhưng bỗng nghĩ đến ruốc mặn với ca-la-thầu hắn thấy thèm rau. “Không lo đâu em, cho bọn anh ít rau lang ngoài vườn kia nhé” “Tưởng chi, cái đó thì để em hái cho. Các anh thèm rau phải không?” “Ừ…thèm lắm…”.
Vậy là nhoáng cái nấu xong bữa cơm. Cô gái ý tứ không ngồi ăn, hắn ép phải ngồi cùng. Chuyện khi ăn cho hắn biết thêm hoàn cảnh hai chị em. Cô chị mới lấy chồng thì chồng đi B biệt vô âm tín. Không một tin báo về. Vậy là vò võ ba năm. Nhiều lúc chị như điên. Cười nói và hát. Làm những việc khó nói ra với người ngoài. Những lúc đó, chị ôm em rất chặt, ôm đến nghẹt thở, không thể cựa quạy. Sau đó thì chị lại bình thường, lại nhớ chồng và thương em hết mực. Em thương chị lắm, làng này chưa thấy ai khổ như chị em. Đủ mọi nỗi dằn vặt, dày vò.
Hắn ngồi ăn và nghe chuyện cố bé. Hắn thông cảm với hành động vừa rồi của cô chị. Thật cay đắng cho lòng chung thủy. Hắn nghĩ về phụ nữ. Cuộc chiến nào thì người phụ nữ cũng mang nhiều nỗi đau nhất, nỗi đau thể xác, nỗi đau tâm can, nỗi đau cuộc đời. Người đời vô tình nhiều hơn người thông cảm. Liệu rồi chị sẽ thế nào?
Sau bữa cơm và ngủ một giấc rõ dài đến khoảng hai giờ chiều, không biết làm gì, hắn lên rú, định bụng sẽ ra suối tắm. Sáu giờ ăn cơm chiều rồi còn chuẩn bị xe cộ ra bến phà. Đường lên rú nhìn không xa mà đi miết không tới. Hắn ngồi ngắm dòng suối chảy qua làng. Con suối nhỏ nước trong veo và khá sâu, có chỗ rộng hơn con sông làng quê hắn. Sông quê hắn hiền hòa chẳng khi nào nổi sóng nổi gió. Con suối ở đây bắt nguồn từ những hòn núi xanh rì, nhìn tưởng gần mà đi miết không tới đó. Suối chảy qua những kè đá, tảng đá, tường đá. Đất hang động có khác, đâu cũng thấy đá là đá.
Hắn cởi bỏ áo quần, bơi ra tảng đá to như tấm phản ngoài xa và lại leo lên nằm, nhìn lên ngọn núi phía xa.
Chiến tranh không có ở đây, bom đạn không có ở đây. Chưa khi nào hắn cảm thấy cuộc sống cần thật nhiều những mảnh đất bình yên như thế này. Ở tuổi hắn, cũng cảm nhận được nỗi khát vọng hòa bình. Bàu trời trong xanh, ngọn núi cao xanh, nước dưới dòng suối cũng xanh ngắt màu mây, xanh đến cả đám cỏ lác lẫn với từng đám hoa xấu hổ trên sỏi đá. Loài hoa chỉ mọc ở những nơi khô cằn và tự dấu mình lại khi có va đập. Sỏi đá cũng nở hoa và dễ thương làm sao! Nhưng sao lại phải sống khép mình như vậy hở hoa? Và hắn so cô gái đã ôm hắn với khóm cây xấu hổ. Có gì đó giống nhau. Cô đứng một mình thì mơn mởn, tươi xanh, khao khát, còn khi va đập lại xấu hổ. Bông hoa thoáng sắc hồng, sắc tím, thấy cả chút óng ánh, rất đẹp nhưng mong manh trước gió. Cô ấy đang khao khát và xấu hổ với chính lòng mình. Tâm hồn cô có khép lại? Nếu có thì cái sự khép lại ấy cũng rất đẹp, đẹp một cách trinh nữ.
Vậy mà, hắn nghĩ về những lời hô hào trong các cuộc họp, những khẩu hiệu được cắt dán mỗi khi đến ngày tiễn đưa trai làng lên đường và thấy vô nghĩa với những từ ngữ “ra sức, quyết tâm, phấn đấu, cương quyết, triệt để…”Ôi, tất cả, với hắn, bỗng nhiên đều giả dối. Chắc cả với cô gái kia nữa. Tiếng cô em “Các anh thấy đấy, ở làng đâu còn trai tráng. Tất cả đều không nhập ngũ cũng tìm cách đi nghề, chỉ còn toàn đàn bà với con gái giữ quê…” Chua xót làm sao!
Ở đây, có người con gái mơn mởn thanh xuân, tràn trề nhựa sống, đang hàng ngày trông ngóng, mong chồng từ chiến trận, từ một nơi xa lắm trở về. Họ, những người đàn bà, cần lắm, cần đến khao khát, cần đến cháy bỏng một tình yêu, một cái ôm chặt, một nụ hôn, một lời yêu thương, thậm chí chỉ là một tiếng nói, một dáng hình. Thanh bình thế này mà sao miền yêu không có, tìm kiếm miền yêu đó ở đâu? Hay đây là ảo mộng thanh xuân? Đúng rồi, đây là ảo mộng. Thế hệ hắn sống bằng ảo mộng quá nhiều. Vẻ đẹp cuộc đời đều đã bị phóng đại, tô vẽ và rất trìu tượng với mơ hồ. Nhưng lạ, con người trong guồng đó cứ hăm hở, nhiệt tình lao theo, lao theo cái suy nghĩ và con đường không phải do mình chọn mà là con đường với hướng đi được vạch sẵn, để đến với giấc mơ, đến với cái mơ ảo, vô hình.
Hắn ngồi giữa đám bụi cây xấu hổ mọc trên sỏi đá, cặm cụi gỡ đám cỏ may bám chạt gấu quần. Vớ vẩn nghĩ về loài hoa dại này rồi nhớ lại cái ôm đến nghẹt thở của cô gái, hắn ngỡ ngàng khi được cô gái ôm hôn. Hắn cảm nhận được hơi thở của cô và cà bộ ngực ấm mềm của cô truyền sang. Có cái gì đó thèm muốn, tiếc nuối trào lên, hơi thở hắn bỗng gấp gáp hơn, ngàn ngạt hơn…
“Ồ… anh… chú… ngồi đây làm chi…?” “Anh vừa tắm… Bơi ra kia rất thích” “Ồ, anh ra tận đó cơ à, chỗ Cô tắm ở đó đấy… “Cô nào?” “Cô thiêng lắm đấy… Em kể anh nghe: Ngày xưa, lâu lắm rồi, Hoàng tử xứ Chăm đi đánh trận có qua đây. Ở đây, hoàng tử gặp một sơn nữ con của thần núi. Sơn nữ vô cùng xinh đẹp, hai người có tình ý với nhau. Hoàng tử hẹn với sơn nữ sẽ về sau chiến trận. Hoàng tử tháo một sợi đây mà chàng luôn đeo ở cổ, đeo vào cổ sơn nữ và hái những bông hoa rừng đẹp nhất, tặng nàng, như một bằng chứng của lời ước hẹn, rồi chàng lên đường. Nhưng rồi mãi mãi chàng không quay lại. Những bông hoa rừng mà chàng tặng ngày nào đã héo khô, sơn nữ rải xuống đất, nơi đã cùng hoàng tử thề bồi lời hứa trăm năm. Gió đã mang những cánh hoa khô đi khắp nơi, và ở đó mọc lên một loài hoa, người đời gọi là hoa trinh nữ. Anh thấy không, khắp nơi đây, tuy sỏi đá nhưng chỗ nào cũng có hoa. Hoa có gai vì sơn nữ đã hứa hôn với hoàng tử, như một lời cảnh báo, người con gái này đã có người thương. Anh thấy đấy, có ai hái hoa trinh nữ về cắm bình đâu, đụng vào là đau và lá cây sẽ khép lại… Sơn nữ vào rừng, sợi dây hoàng tử đeo vào cổ cô biến thành những sợi dây rừng, chằng chịt, đan xen, quấn quít với nhau, chỗ đây là bãi hoa trinh nữ rộng nhất, anh thấy chưa… bạt ngàn hoa…”
Hắn ngồi im nghe chuyện cô bé như trẻ con nghe chuyện cổ tích. Hắn kéo cô bé sát lại cùng ngồi bên những khóm hoa xấu hổ. Hắn quơ tay định hái một bông để cài lên mái tóc cô bé nhưng chạm vào gai, đau ngột ngột. Những cánh lá xanh từ từ khép lại, rất dịu dàng và nhẹ nhàng như đôi bàn tay búp măng đan vào nhau. “Thấy chưa, đừng đụng đến hoa, hoa có người thương, người chờ rồi đó… anh” “Thế còn em, em có ai chờ, ai thương chưa?” Cô bé quay đi, không trả lời. Hắn nhè nhàng xoay người cô bé lại, đặt một chiếc hôn rất dịu dàng lên đôi môi cô. “Em và anh hãy cùng giữ lấy buổi chiều yên bình này nhé… Chiến tranh… hoàng tử phải rời sơn nữ đây…” Hắn đứng dậy, kéo cô bé cùng đứng lên. Bỗng hắn chợt nghĩ, cả chị và em, hắn đều được hôn, rồi hắn sợ cái điều xấu xảy ra. Hắn không có một lời hứa nào với cô bé. Chỉ nắm tay cô thật chặt.
Dòng sông nơi đây hắn đã từng vấn vương, nay lại thêm một loài hoa vấn vương nữa. Mỗi chuyến đi đều để lại trong ta một nỗi vấn vương, lẽ nào có thể quên.

Vinh Anh-16/5/20

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

Vài kỷ niệm về bố



Vài kỷ niệm về bố

Trong 6 đứa con, ông bố mình yêu nhất con trưởng. Mình là con thứ, mình không được ông chiều nhưng lại được hưởng “lộc” của ông nhiều nhất. Đường đời của mình, nếu có lúc nào đó gọi là gập ghềnh, luôn thấy có ông đứng ra che chắn. Thậm chí nhiều năm sau, khi mình đã kinh qua đủ chuyện, biết mình công việc rất tốt mà vẫn không lên quân hàm, biết ông sếp trưởng của mình vốn là bạn ngày xưa của ông từ khi ở Bộ Tổng tham mưu, ông vẫn muốn “có nhời”với ông ta, bênh vực (nói hay) về mình cơ mà. Chỉ khi mình nói “Không cần đâu, bố ạ” ông mới thôi, bỏ ý định gặp để nhờ vả ông ta “đỡ đầu” cho thằng con. Ông sếp này trong một buổi đứng nói chuyện với mình, có nói “mày giống bố mày nhỉ?” Chẳng hiểu ý ông ấy. Sau này, nhưng tay lái xe phiên dịch ra cho mình “ông ấy bảo anh ngang như bố anh”.
Trong 6 đứa con, mình sống với bố có lẽ ít nhất nhưng dám khẳng định, mình biết nhiều thông tin về bố hơn hết, kể cả khi bố bị tai nạn nguy kịch. Vì sao? Mình từng sống và học cùng với nhiều ông sếp lớn là bạn của bố, lính của bố, thậm chí quen cả cấp trên của bố. Khi đã có những cái “cùng” như vậy, sẽ có dịp biết nhiều về những khoảng riêng của bố mà gia đình không biết. Ai trong đời cũng có một chỗ riêng cho mình là thế.
Ngày bé, mới tiếp quản thủ đô, mình 10 tuổi cùng cô em kế sát lên Hà Nội đoàn tụ gia đình. Nói đoàn tụ là vì khoảng 4 năm, từ 1950-1954, mình và em gái phải về Hải Phòng để ông bà nội nuôi. Mẹ một nách không nuôi nổi 4 đứa con, lại có một đứa mới đẻ. Bấy giờ đói và chắc chắn nuôi 4 đứa khó hơn nuôi 2 đứa.
Lúc đó ở Hà Nội đang có triển lãm nói về sự trưởng thành của quân đội, người đi xem đông lắm, mình đi xem ít nhất là 2 lần. Đứng một mình, im lặng nghe đi nghe lại lời của người thuyết minh, nói về các anh hùng, trong đó có Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện… nghe đi nghe lại mà lúc nào mắt cũng rưng rưng vì những hành động anh hùng của các anh ấy.
Rồi bố bị tai nạn xe hơi. Bị chấn thương sọ não., là một trong hai ông cán bộ trung đoàn bị nặng nhất. Ông kia thì tỉnh táo, nhưng nằm liệt. Bố thì “bất tỉnh nhân sự”, mê man, không biết gì hết, mê man… Xe đón mình và mẹ từ số 6 Hàm Long mà vòng vèo khắp Hà Nội, nửa tiếng sau mới đến được nhà thương Đồn Thủy, bệnh viện 108 bây giờ. Lái xe Điên mới về Hà Nội mà.
Phải mất 2 tuần sau, bố mới tỉnh lại, mắt đỏ ngầu, trông rất dữ. Mình rất sợ khi nhìn vào mắt bố. Hình như bố chỉ nhận ra mỗi mẹ, không biết ai khác, kể cả mình, thằng con đã khóc bao nhiêu lần mỗi khi bên giường bệnh. Từ đó cho đến3, 4 năm sau, bố vẫn bị cái gọi là di chứng “chấn thương” sọ não đó hành hạ. Mỗi lần bố lên cơn, như động kinh, bọt mép sùi ra, với lại đạp, giãy, không thể nào giữ nổi. Những lúc đó, mẹ chỉ hét toáng lên, quát mình giữ bố cho chặt.
Sau vụ tai nạn, bố được đi an dưỡng ở Sầm Sơn. Cả nhà ăn theo.
Hồi nghỉ ở Sầm Sơn, 1955, mình được nghe bố kể nhiều chuyện về chiến dịch Điện Biên, trận chiến mà bố tham gia từ đầu và ông rất tự hào vì có lễ ông suýt chết khi quả lựu đạn của phía bên địch quăng ra trước mặt, nhưng không nổ. Mình biết chuyện này qua bức thư bố viết về cho mẹ, sau chiến thắng Điện Biên. Bố kể cho mình chuyện anh hùng Phan Đình Giót, lấp lỗ châu mai, anh Giót đã ngã xuống cách lỗ châu mai vài ba mét, làm thế nào mà lấy thân mình lấp được? Bố nói chuyện đó cho mình nhân kể chuyện về Điện Biên, ngày đó mình có điều kiện đọc 3 tập “Người người lớp lớp” trong tủ sách của thư viện nhà an dưỡng. Với lứa tuổi mình, đọc như vậy, ngày đó là của hiếm. Có lẽ vì thế, bố kể cho mình chuyện anh Phan Đình Giót? Giờ nghĩ, đoán vậy thôi, chứ tính ông bố mình “khó có cái sâu sắc” lắm.

Chuyện khác.
Chuyện xảy ra khi đã có con Hà, con Hạnh còn chưa đẻ. Nhà ở 45 Lý Thường Kiệt. Hồi chuyển từ ngõ 19 Hoàng Văn Thụ về đây, mình đang học để thi từ lớp 4 vào lớp 5. Hồi lớp 4, ban đầu học ở trường Điện Biên. Học trường tư vì mẹ không đồng ý cho học lớp ba, ở trường Nguyễn Văn Tố, sau khi mình đỗ đầu ở trường này. Sau mẹ có người quen,  xin cho vào trường Hưng Đạo. Đây chính là nơi mà mình chăm mẹ đẻ con Hà. Ngày đó, bố thì ở Hà Nội, ông anh thì ở Trung Quốc, chuyện xảy ra khoảng 1957-1958. Ngày đó trong nhà như chỉ có mẹ và mình, chỉ có một mình, nên mình nhớ. Hình bóng cô em gái và thằng em trong mắt mình, không là gì. Hai đứa đó chỉ có rửa bát. Cô em có trách nhiệm phải nấu một bữa cơm khi mình đi học. Cũng may là hai đứa biết nấu cơm thì phân ra hai buổi học. Mẹ đi làm về chỉ có việc ngồi xơi cơm mà thôi. Ngày đó ăn uống có gì đâu. Lạc rang và rau muống luộc là hai thứ mình nhớ nhất.
Chăm mẹ đẻ là như thế nào. Mình đưa mẹ đi đẻ ở nhà hộ sinh tư. Sau này, con Hạnh cũng ra đời ở nhà hộ sinh đó. Nhà hộ sinh đó ở phố Cát Dài. Hình như mẹ chỉ nằm ở đó có ba ngày thì về. Ba ngày đó, mình phải đến đưa cơm cháo mà mình nấu từ nhà. Cơm thì dễ, còn thức ăn thì mình tự mua. Chủ yếu là thị nạc dim, đôi khi làm ruốc. Mình mua cả cá của mấy bà người Tàu, chuyên đội thúng đi bán hàng sáng. “Mải ủy mẩu?” là tiếng rao bán cá của các bà ấy. Kho cá, hoặc dim với muối , mắm. Cũng đôi lần làm cả ruốc cá nữa. Hai tháng mẹ nghỉ đẻ, toàn một tay mình chăm. Giỏi không? Con Hà lớn lên từ bàn tay mình. Cho nó ăn, cho nó ngủ hàng ngày. Nó luôn ngủ với ông anh. Ông anh vừa học bài, vừa cơm cháo và cho em ăn bột. Có lần mùa rét, ôm em ngồi cạnh bếp than cho ấm. Chẳng hiểu sao con bé khóc giãy lên, khóc mãi. Mãi sau mới biết nó bị bỏng ở cẳng chân. Cái chân bé tí của nó có một vết phổng nước, dài bằng cả ngón tay. Nó bị bỏng như vậy là nặng và rất đau. Vậy mà mình dỗ được. Trưa, mẹ về không thấy nó khóc nữa, nên mình cũng không bị mắng. Mình xót con em, nhìn vết phỏng cứ trào nước mắt. Sau này đi bộ đội, mỗi lần về nhà, đều vạch chân nó lên xem vết sẹo có mờ đi không.
Nhà 45 Lý Thường Kiệt là nhà thuê, thuê của ai không biết. Đầu tiên chỉ có riêng nhà mình, rộng thênh thang, phải đến sáu bảy chục mét vuông. Trước khi vào nhà là một mảnh sân, cỡ trên 20 mét, tiếp nối là nhà ở. Nhà xây một tầng, trần cao, thông thống từ đầu vào đến đầu ra. Phía sau đó là cả cái sân rộng, mình vẫn đá bóng làm từ giấy vụn cuộn lại, cái Hà lớn dần, lẫm chẫm biết đi, bắt nó làm gôn. Bọn thằng Pha, thằng Thăng cũng đã đến đây chơi với mình. Có lần nó đang giữ gôn thì nó ị, phải hoãn cuộc chơi. Cũng chính từ cái sân bóng này, mình tích cóp mãi mới đủ tiền mua quả bóng cao su để đá thay bóng giấy, vậy mà ông em, ngay cú đá đầu tiên, đá bay quả bóng sang lối chuyên đi lấy phân thùng của nhà vệ sinh. Chẳng hiểu sao, lối sang đó mình rất sợ và đành ngậm ngùi. Biết chuyện này, bố và mẹ đều im. Bố thì nói đại ý về cái tiếc của mình còn thằng em thì sợ không dám nhìn ông anh. Ngày đó nghèo đến nỗi, cả bố và mẹ đều không hề nghĩ đến chuyện mua đền cho mình quả bóng khác hay tầm thấu hiểu của bố mẹ cũng hạn chế. Chung quy là do nghèo,  bó mất cái khôn.
Tiếp nối cái sân là một chiếc hầm tránh máy bay, nghe nói xây từ hồi quân đồng minh ném bom. Hầm chắc chắn và có cả đường điện dẫn vào trong. Trong hầm cũng ngóc ngách. Lúc nhà mình về chỉ có mấy mẹ con, đêm đêm còn lập lòe đom đóm trên nóc hầm. Buổi tối không dám ra ngoài đi đái, đái luôn ra sân. May mà hai bên bức tường, người chủ cũ thiết kế đổ đất trồng hoa. Đái vào đất, trồng hoa càng tốt.
Mình chui vào hầm khám phá. Phía cửa hầm toàn gạch vỡ chắn lối. Bỏ qua, đốt đóm vào tiếp bên trong. Hầm ngập nước. Mình dò dẫm và phát hiện ra hệ thống dây điện trên mọi ngóc ngách, nay bỏ phí. Vậy là có kế hoạch gỡ dây điện bán đồng nát. Kế hoạch được mình nhanh chóng thực hiện. Bán bao nhiêu dây điện mà chỉ được có sáu hào. Thằng em ngô nghê không biết gì hết, mẹ càng không. Có lẽ nhờ có số tiền đó mới mua được quả bóng cao su, to bằng nắm tay và ngay cú sút đầu tiên, ông em đá văng mất. Của thiên trả địa. Sau này mới ngộ ra, thằng này chuyên phá mình.
Nơi đây, bố đã đưa ông Lê Quảng Ba, sếp nhớn của bố, về chơi. Ông không ở lại lâu, kiểu như chỉ đáo qua cho biết. Nhà rộng mà chẳng có bàn ghế, không có chỗ để ông ngồi. Ông đứng, rồi đi đi lại lại cái căn nhà rộng thênh thang, không có tường vách phân chia gì hết. Ông dừng chỗ tường, ngay đó treo caí bằng huân chương chiến công của bố. Đó là cái đáng treo và đáng khoe nhất, mà chắc bố cũng thích khoe. Ông Ba ra ngắm cái bằng, lẩm bẩm: “huân chương chiến công”, rồi ông đi. Mình nhớ ông, vì đọc sách về cách mạng (ngày bé mình mò mẫm đọc rất nhiều sách về cách mạng và những tấm gương đó, có tác động phần nào đến mình) . Ông là người cùng Võ Nguyên Giáp tổ chức ra đội chiến sĩ Giải phóng quân gồm 34 người lính đầu tiên của quân đội ta, oách lắm. Có khi ngày đó ông còn là lãnh đạo to to nữa ấy chứ. Lại còn nhớ ông là người dân tộc nữa hoặc bây giờ vẫn nghĩ ông là người dân tộc. Dân tộc mà làm to gớm. Bố mình cũng nể.
Mẹ vẫn bảo: “Bố mày rất chiều các con, không bao giờ đánh đứa nào hết”. Nhưng ở cái nhà này, bố đã ra lệnh mình nằm lên giường và quất mình hai hay ba roi gì đấy. Sự việc như vầy:
Trước đó cả tháng trời, mẹ và mình giận nhau. Đầu cua tai nheo quên rồi. Chỉ biết rằng, mình không nói năng gì và mẹ cũng không nói năng gì. Bố ở Hà Nội. Cả tháng trời vạ vật ăn bữa đói, bữa no. No là nhờ cơm hàng xóm. Mẹ không nấu cho mình. Dạo đó, cái nhà rộng mênh mông kia đã có thêm chủ mới. Họ ở phía ngoài, nhà mình phía trong. Vệ sinh vẫn chung ở phía trong, nước máy vẫn chung ở phía ngoài. Không hiểu sao mà mình sống được cả tháng trời như vậy. Chỉ nhớ nhờ bà hàng xóm, hay cho mình cái ăn. Có lần bà nói với mình: “sao mẹ mày ác như mẹ ghẻ”. Nghe và thấy tủi thân.
Rồi bố ở Hà Nội về. Mình biết ngày bố về và sợ từng ngày, đếm từng ngày, từng ngày. Liệu bố có nghe mẹ kể tội không? Chắc có. Mình xác định chẳng cãi, nhận tội. Nhưng bố chẳng nói gì chỉ hầm hầm nhìn mình, trông rất dữ. Cứ tưởng là qua.
Rồi có chuyện phải đi lấy cái ảnh, ảnh chụp ở hiệu ảnh trên phố Hoàng Văn Thụ hay Cầu Đất gì đấy. Cái ảnh thế nào mình cũng không nhớ. Mẹ sai bố đi lấy. Có lý do về bức ảnh chụp. Hình như là phải sửa sang cho vừa ý mẹ. Đến đó phải nói với chủ hiệu về cách sửa sang. Bố không đi, sai mình. Mình ngại vì phải giảng giải cái lý với người chủ. Vậy là ông bố được dịp cởi bỏ cơn tức. Mọi cái ấm ức bây giờ mới bùng phát. Ông bẻ cái cần câu mà mình cũng mua bằng tiền tích cóp của mình ra làm đôi và quật vào đít mình hai ba roi. Mình nhát, khóc thét, kêu váng. Ông bố xả xong cơn tức thì tha còn bà mẹ chắc vừa lòng. Mình thì ấm ức nhớ đời. Chẳng hiểu ông anh nghĩ gì vì mình nhớ, ngày mình bị đòn, có mặt ông anh.
Ờ mà sao cái chuyện bị đói cả tháng trời, vai trò thằng em và ông anh ở đâu nhỉ? Không nhớ. Chỉ nhớ một điều, sau đó mình đủ tiền mua cái bút máy Tàu, tiền này có là được từ tiền ăn sáng cả tháng. Bút thường thôi, không phải Kim tinh hay Anh hùng gì hết. Nhưng mà có bút để viết, sướng âm ỉ mãi.
Nói nhỏ nhé, mình rất tiếc tiêu tiền và hầu như không xin tiền mẹ đóng học phí. Tiền của mẹ và mọi người cho đều để dành, dùng để đóng mất mất đâu hai tháng học lớp 4, rồi sau đó vào trường công, không mất tiền học phí. Lên cấp 2, mất 3 năm học trường tư, mỗi tháng đóng học phí đều xin mẹ. Có điều, mình học không dốt. Thậm chí nhiều lần, cả ba năm học, có những vụ đột xuất. Lớp 5, được phần thưởng cuối năm. Bài văn hay được đọc trước lớp này, giải toán duy nhất chỉ có mình giải được toàn bộ bài kiểm tra này. Ai tiếc tiền cho những đứa con như thế.
Trong học hành, mình tự xác định mua những thứ gì cho học tập. Giấy viết mình mua loại giấy đen, khổ to, loại w, rọc đôi, vậy là được hai quyển vở. Phần trên và dưới tập giấy nhà sản xuất để trống hơi nhiều, mình còn dùng bút chì và thước kẻ, kẻ thêm mỗi trang được hai hoặc ba dòng đấy. Đại loại mẹ tìm được đứa quản lý tiền của như mình hơi khó. Chẳng thế, ngày mới về Hà Nội, cả nhà 4 mẹ con, toàn ăn vào tiền tiếp tế của bà Hải, hai bà chị của mẹ, hai ông anh của bố. Cậu Thiện, em mẹ lên gặp chị cũng cho. Nhưng có lẽ không nhiều, lại phải trả tiền thuê nhà, một căn hộ khá rộng ở 88 Lê Văn Hưu, chắc không rẻ. Có lẽ vì không đủ tiền, nên sau đó mới phải dọn về 6 Hàm Long, trong ngõ, buồng chỉ rộng 6 mét. Bố vẫn nhắc, chúng mày phải chơi dưới gầm giường.
Còn có lần, mình và mẹ đã phải tính xem ăn cái gì cho đủ một tuần, sao cho đến ngày đó, sẽ nhận được tiếp tế từ Hải Phòng. Mẹ có nhắn cho ông bà. Bố những ngày này chưa có lương. Tất cả chuyện về học hành, bố chỉ quan tâm đến kết quả thi lần cuối năm lớp 7, bố có gặp trực tiếp hiệu trưởng, thày Bảy, và bố cũng tạm hài lòng. Cái hài lòng không mĩ mãn về thằng con. Bố muốn mình phải giỏi như thằng Bình, thằng đó sau này học Bách Khoa và được giữ lại làm giảng viên.

Chuyện khác2

Thêm chuyện nữa, chuyện này đúng chỉ có mình với bố liên quan.
Học xong đại học, về nước, thằng nào cũng muốn có một chỗ tươm tươm. Mình cũng vậy.
Nhớ tối hôm được nói mấy câu với ông Võ Nguyên Giáp về tình hình đất nước sau Mậu Thân. Ông chú mình quen, bố trí cho mấy đứa gặp ông ở trong khuôn viên sứ quán (ông Giáp đi trong khuôn viên nói chuyện, để những trao đổi của ông với sứ quán không bị nghe lén.) Ông Giáp hỏi bọn mình: “Các cháu thấy Đại tướng thế nào?” Bọn mình nhao nhao trả lời câu đã được “bơm” trước: “Đại tướng còn rất khỏe, còn chỉ huy và lãnh đạo quân đội đánh thắng giặc Mỹ…”. Ông cười và bắt tay từng người, rồi chia tay.
Nói chuyện đó để nói cái điều: với riêng mình, sau tốt nghiệp, mình lưỡng lự giữa đi chiến đấu và về trường làm công tác giảng dạy. Lúc thì nghĩ, sắp kết thúc chiến tranh rồi, phải có chút gì cống hiến. Lúc thì nghĩ, vào chiến trường sống chết khó biết, khổ cực là chắc, thà cứ bảo mẹ nói với “chú ấy”, một câu là xong. Chú ấy là ông ở sứ quán Tàu, giữ trọng trách và phân công công việc cho bọn cán bộ kỹ thuật.
Nhưng mình không nhờ vả, chấp nhận rủi ro khi phân công công tác. Và mình được phân về Hà Nội. Sướng quá. Nhưng Hà Nội chỉ là đầu mối, công việc đích thực ở chỗ khác: điểm cuối cùng, mình về là đơn vị chiến đấu. Một đơn vj anh hùng: “Đồng chí về đó, hãy cố vận dụng kết quả học tập và gắng phát huy thành tích của đơn vị…” Ôi chao, ngao ngán cho mấy lời động viên.
Sau khi nhận quyết định, lên cơ quan bố tạm biệt. Bố bảo ra hành lang nói chuyện. Bố rất sốt ruột, chờ mình nói quyết định về đâu. Thấy vẻ mặt của bố bất an lắm. Bố lo. Khi nghe mình nói con sẽ vào chiến trường, bố lặng ngắt một lúc, không nói được gì. Có lẽ cái điều đó là điều bố không mong muốn. Bố là lính, bố biết gian khổ của đời lính, cái sự sống chết của thằng lính chắc chưa phai trong đầu bố. Mình cũng là lính nhưng đến giờ toàn học, chưa va chạm với đời. Bố hỏi khi nào đi? Ngày mai con đi? Nhanh thế, mẹ biết chưa? Biết rồi. Mình nói đại như vậy. Bố lại im lặng. Chưa bao giờ bố như vậy. Bố cũng không muốn có cuộc chia tay vội vã như thế. Mai… mai à? Vâng… Con phải vào đơn vị đón xe. Con đi với một ông trợ lý cán bộ… Bố lại im lặng, mình không muốn giờ phút chia ly này kéo dài, muốn về. Bố loay hoay tháo cái đồng hồ ở cổ tay: “Cho con cái đồng hồ…”. Sau bao nhiêu năm, giờ nghĩ lại, không hiểu bố có nói câu đó không. Chắc cũng có nói một câu gì đó, nhưng chủ yếu chắc là bố muốn có một kỷ niệm cho đứa con sắp phải đi xa và không xác định được ngày về.
Mình thích có đồng hồ thật. Hồi ở Liên Xô về, mua được hai cái, cho cả. Hình như ngày đó bố cũng muốn một chiếc, nhưng mình không cho. Vì một, người mình cho là ông anh nuôi, người miền Nam, đón mình về quê. Khi tắm, quên đồng hồ ở bể tắm, mất. Còn cái nữa cho thằng bạn, đã có ý định từ trước.
Mình đeo đồng hồ bố cho vào tay. Thích thật, thỉnh thoảng nhìn giờ. Nghe tiếng “tút tút” báo giờ của đài phát thanh, không bao giờ quên ngó cái đồng hồ, xem có đúng không. Đó là chiếc Nicler, hình như của Pháp, cũ rích. Mình nhớ có câu “Nicler vừa nghe vừa lắc” nhưng nghĩ đây là của bố cho, chắc tốt.
Cái đồng hồ theo mình đến đâu, không nhớ. Và đúng nó thuộc dạng “vừa nghe vừa lắc”. Tại sao lại “nghe” mà không là “xem” nhỉ?
Nó vừa “nghe vừa lắc” với mình như thế này.
Chiếc đồng hồ đó thật ra vẫn chạy tốt. Chỉ chạy tốt khi ở Hà Nội. Sau nhận quyết định, mình vẫn còn ở Hà Nội nhưng không được về nhà. Lệnh là có xe thì vào đơn vị nhận công tác ngay. Chiếc đồng hồ vẫn chạy tốt.
Nó giở chứng ngay hôm đầu tiên rời Hà Nội. Nhớ cái hôm đó, xe chuyển bánh, đằng sau xe là thằng em, xa dần, mờ dần. Suốt cả tuần chờ đợi, nó đều đến, đến để tiễn ông anh “yên tâm vững bước mà đi…hỡi người mà em yêu”. Có đêm hai anh em nằm ở gầm xe, ngắm sao trời và cùng ngủ, trước khi ngủ bao giờ cũng xem đồng hồ. Trong những lần buộc phải chia ly, mình có nhiều cuộc chia ly lắm, đây là cuộc chia tay ấn tượng nhất. Thú vị lắng nghe tiếng tích tắc của nó và chìm vào giấc ngủ. Hà Nội khi khắp chia xa, tự nhiên quá thân thương. Phía sau kia là thằng em, chắc cũng đang “động” một chút ngậm ngùi. Xe chạy và mình cố níu kéo mọi nét mặt người nhoáng qua. Biết ngày mai thế nào…
Xe nghỉ ở Phủ Lý ăn cơm. Ông trưởng xe lệnh: “Vào nhà dân, mang 2 mớ rau xuống... Từ giờ phút này phải tiết kiệm rau, tối mai không còn rau nữa mà ăn đâu, không bỏ chút nào hết…” Mình bắt đầu ăn cơm lính thật sự từ lúc này. Liếc qua cái đồng hồ “Ố, giật mình, sao bây giờ mới 10 giờ hơn…” Mình lặng lẽ kéo ống tay áo xuống, che cái đồng hồ mới lên đường được 2 tiếng thì sinh sự. Phản động thật. Phản đối đi chiến trường à?
Ăn cơm xong, lên xe, đi tiếp ngay. Ngồi yên rồi lại nhớ cái đồng hồ. Len lén kéo tay áo, nó lại chạy. Thở phào, hy vọng mày đừng kiểu này nữa. Suốt từ đó, cứ lúc nào có dịp, mình lại lén ngó xem mấy giờ, vẫn chạy. Mừng và an tâm bao phủ toàn thân. Cứ vậy cho đến tối, hình ảnh cái đồng hồ, bố, thằng em cứ luẩn quẩn. Mình nghĩ đến thần sắc của bố nhiều hơn là nghĩ về cái đồng hồ. Chắc sẽ có chuyện với nó, linh cảm thế. Lại nghĩ về bố, chắc lúc này, bố lại ăn cơm với lạc rang. Nghĩ thương bố quá.
Ăn cơm tối xong, vẫn chưa được nửa đường, lại đi tiếp. Đường sóc lắm. Mình viết thư gửi cho thằng Giao, kể về chuyến đi của mình. Bức thư đó thằng Giao cho đọc trên truyền thanh nội bộ lưu học sinh trường mình. Nó bảo mày viết hay thế. Chúng nó nghe và cảm phục mày lắm. Đọc thư nó, mình cứ lâng lâng. Tao lính chiến rồi đấy. Và cả chút tự hào vớ vẩn ập đến. Tuổi trẻ khờ dại và đáng yêu làm sao! Ai chẳng có cái khờ dại đó?
Vẫn còn chuyện “Nicler vừa nghe vừa lắc”. Vài tháng sau, một lần đi dã ngoại. Yêu cầu đặt ra là phải như thật. Chiến đấu thế nào thì diễn tập như thế. Chiếc đồng hồ của bố tuy lúc đứng lúc ngủ nhưng, nói chung, vẫn xem được giờ. Xem giờ khi có điều kiện phải có được “tút, tút” đối chiếu. Giờ thì bọn lính biết mình có chiếc đồng hồ oặt oẹo rồi. Nó cũng đã một lần được gửi ra Hà Nội sửa nhưng vẫn chứng nào tật ấy. Cứ như thằng lính ngấm ngầm phản đối phải đi đánh nhau í.
Đi diễn tập thì từng nhóm nhỏ phải tự lo cơm nước. Muốn vậy phải đúng giờ. Bọn lính yên tâm vì đã có đồng hồ của trạm trưởng và có cả một chiếc O-ri-ông-tông to và nặng cỡ hai hòn gạch 2 lỗ, để nghe “tút tút”.
Mình giữ cả đài và đồng hồ nên việc hiệu chỉnh đồng hồ chạy cho đúng đài là chuyện nhỏ. Rồi có lệnh hành quân. Khổ cái điều, lệnh và cái đồng hồ cũng như cái đài nó không thuận cho sự so sánh, đối chiếu giờ giấc xuất quân của đơn vị.
Lúc mọi người chuẩn bị xong xuôi, chỉ chờ đến giờ là xuất phát. Chiếc đồng hồ của mình lại giở chứng. Bọn lính hỏi đến giờ chưa, trạm trưởng, đi thôi… Mình giả vờ không nghe thấy, mở đài tìm nghe “tút tút”. Dò mãi, dò tiếp rồi lại dò. Chỉ ọ ọe tiếng nhiễu từ đài phát ra. Bắt đầu cuống. Bỗng nghe được: “Gơ-va-rít Mac-scơ-va Mac-cốp-skoe vrê-mi-a…” Đài phát thanh Nga ngày đó ngoài báo giờ, còn báo cả phút nữa cơ. Ôi chao, mừng rú. Vậy là thằng này chênh thằng ta bốn tiếng. Đến giờ rồi… lên xe thôi. Mình tự tin, dõng dạc.

Đồng hồ của bố ơi là đồng hồ của bố.
ảnh trên mạng