Vài
kỷ niệm về bố
Trong 6 đứa con,
ông bố mình yêu nhất con trưởng. Mình là con thứ, mình không được ông chiều
nhưng lại được hưởng “lộc” của ông nhiều nhất. Đường đời của mình, nếu có lúc nào
đó gọi là gập ghềnh, luôn thấy có ông đứng ra che chắn. Thậm chí nhiều năm sau,
khi mình đã kinh qua đủ chuyện, biết mình công việc rất tốt mà vẫn không lên
quân hàm, biết ông sếp trưởng của mình vốn là bạn ngày xưa của ông từ khi ở Bộ
Tổng tham mưu, ông vẫn muốn “có nhời”với ông ta, bênh vực (nói hay) về mình cơ
mà. Chỉ khi mình nói “Không cần đâu, bố ạ” ông mới thôi, bỏ ý định gặp để nhờ vả
ông ta “đỡ đầu” cho thằng con. Ông sếp này trong một buổi đứng nói chuyện với
mình, có nói “mày giống bố mày nhỉ?” Chẳng hiểu ý ông ấy. Sau này, nhưng tay
lái xe phiên dịch ra cho mình “ông ấy bảo anh ngang như bố anh”.
Trong 6 đứa con,
mình sống với bố có lẽ ít nhất nhưng dám khẳng định, mình biết nhiều thông tin
về bố hơn hết, kể cả khi bố bị tai nạn nguy kịch. Vì sao? Mình từng sống và học
cùng với nhiều ông sếp lớn là bạn của bố, lính của bố, thậm chí quen cả cấp
trên của bố. Khi đã có những cái “cùng” như vậy, sẽ có dịp biết nhiều về những
khoảng riêng của bố mà gia đình không biết. Ai trong đời cũng có một chỗ riêng
cho mình là thế.
Ngày bé, mới tiếp
quản thủ đô, mình 10 tuổi cùng cô em kế sát lên Hà Nội đoàn tụ gia đình. Nói
đoàn tụ là vì khoảng 4 năm, từ 1950-1954, mình và em gái phải về Hải Phòng để
ông bà nội nuôi. Mẹ một nách không nuôi nổi 4 đứa con, lại có một đứa mới đẻ. Bấy
giờ đói và chắc chắn nuôi 4 đứa khó hơn nuôi 2 đứa.
Lúc đó ở Hà Nội
đang có triển lãm nói về sự trưởng thành của quân đội, người đi xem đông lắm,
mình đi xem ít nhất là 2 lần. Đứng một mình, im lặng nghe đi nghe lại lời của
người thuyết minh, nói về các anh hùng, trong đó có Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót,
Tô Vĩnh Diện… nghe đi nghe lại mà lúc nào mắt cũng rưng rưng vì những hành động
anh hùng của các anh ấy.
Rồi bố bị tai nạn
xe hơi. Bị chấn thương sọ não., là một trong hai ông cán bộ trung đoàn bị nặng
nhất. Ông kia thì tỉnh táo, nhưng nằm liệt. Bố thì “bất tỉnh nhân sự”, mê man, không
biết gì hết, mê man… Xe đón mình và mẹ từ số 6 Hàm Long mà vòng vèo khắp Hà Nội,
nửa tiếng sau mới đến được nhà thương Đồn Thủy, bệnh viện 108 bây giờ. Lái xe
Điên mới về Hà Nội mà.
Phải mất 2 tuần
sau, bố mới tỉnh lại, mắt đỏ ngầu, trông rất dữ. Mình rất sợ khi nhìn vào mắt bố.
Hình như bố chỉ nhận ra mỗi mẹ, không biết ai khác, kể cả mình, thằng con đã
khóc bao nhiêu lần mỗi khi bên giường bệnh. Từ đó cho đến3, 4 năm sau, bố vẫn bị
cái gọi là di chứng “chấn thương” sọ não đó hành hạ. Mỗi lần bố lên cơn, như động
kinh, bọt mép sùi ra, với lại đạp, giãy, không thể nào giữ nổi. Những lúc đó, mẹ
chỉ hét toáng lên, quát mình giữ bố cho chặt.
Sau vụ tai nạn, bố
được đi an dưỡng ở Sầm Sơn. Cả nhà ăn theo.
Hồi nghỉ ở Sầm
Sơn, 1955, mình được nghe bố kể nhiều chuyện về chiến dịch Điện Biên, trận chiến
mà bố tham gia từ đầu và ông rất tự hào vì có lễ ông suýt chết khi quả lựu đạn
của phía bên địch quăng ra trước mặt, nhưng không nổ. Mình biết chuyện này qua
bức thư bố viết về cho mẹ, sau chiến thắng Điện Biên. Bố kể cho mình chuyện anh
hùng Phan Đình Giót, lấp lỗ châu mai, anh Giót đã ngã xuống cách lỗ châu mai
vài ba mét, làm thế nào mà lấy thân mình lấp được? Bố nói chuyện đó cho mình
nhân kể chuyện về Điện Biên, ngày đó mình có điều kiện đọc 3 tập “Người người lớp
lớp” trong tủ sách của thư viện nhà an dưỡng. Với lứa tuổi mình, đọc như vậy,
ngày đó là của hiếm. Có lẽ vì thế, bố kể cho mình chuyện anh Phan Đình Giót? Giờ
nghĩ, đoán vậy thôi, chứ tính ông bố mình “khó có cái sâu sắc” lắm.
Chuyện
khác.
Chuyện xảy ra khi
đã có con Hà, con Hạnh còn chưa đẻ. Nhà ở 45 Lý Thường Kiệt. Hồi chuyển từ ngõ
19 Hoàng Văn Thụ về đây, mình đang học để thi từ lớp 4 vào lớp 5. Hồi lớp 4,
ban đầu học ở trường Điện Biên. Học trường tư vì mẹ không đồng ý cho học lớp
ba, ở trường Nguyễn Văn Tố, sau khi mình đỗ đầu ở trường này. Sau mẹ có người
quen, xin cho vào trường Hưng Đạo. Đây chính
là nơi mà mình chăm mẹ đẻ con Hà. Ngày đó, bố thì ở Hà Nội, ông anh thì ở Trung
Quốc, chuyện xảy ra khoảng 1957-1958. Ngày đó trong nhà như chỉ có mẹ và mình, chỉ
có một mình, nên mình nhớ. Hình bóng cô em gái và thằng em trong mắt mình,
không là gì. Hai đứa đó chỉ có rửa bát. Cô em có trách nhiệm phải nấu một bữa
cơm khi mình đi học. Cũng may là hai đứa biết nấu cơm thì phân ra hai buổi học.
Mẹ đi làm về chỉ có việc ngồi xơi cơm mà thôi. Ngày đó ăn uống có gì đâu. Lạc
rang và rau muống luộc là hai thứ mình nhớ nhất.
Chăm mẹ đẻ là như
thế nào. Mình đưa mẹ đi đẻ ở nhà hộ sinh tư. Sau này, con Hạnh cũng ra đời ở
nhà hộ sinh đó. Nhà hộ sinh đó ở phố Cát Dài. Hình như mẹ chỉ nằm ở đó có ba
ngày thì về. Ba ngày đó, mình phải đến đưa cơm cháo mà mình nấu từ nhà. Cơm thì
dễ, còn thức ăn thì mình tự mua. Chủ yếu là thị nạc dim, đôi khi làm ruốc. Mình
mua cả cá của mấy bà người Tàu, chuyên đội thúng đi bán hàng sáng. “Mải ủy mẩu?”
là tiếng rao bán cá của các bà ấy. Kho cá, hoặc dim với muối , mắm. Cũng đôi lần
làm cả ruốc cá nữa. Hai tháng mẹ nghỉ đẻ, toàn một tay mình chăm. Giỏi không? Con
Hà lớn lên từ bàn tay mình. Cho nó ăn, cho nó ngủ hàng ngày. Nó luôn ngủ với
ông anh. Ông anh vừa học bài, vừa cơm cháo và cho em ăn bột. Có lần mùa rét, ôm
em ngồi cạnh bếp than cho ấm. Chẳng hiểu sao con bé khóc giãy lên, khóc mãi.
Mãi sau mới biết nó bị bỏng ở cẳng chân. Cái chân bé tí của nó có một vết phổng
nước, dài bằng cả ngón tay. Nó bị bỏng như vậy là nặng và rất đau. Vậy mà mình
dỗ được. Trưa, mẹ về không thấy nó khóc nữa, nên mình cũng không bị mắng. Mình
xót con em, nhìn vết phỏng cứ trào nước mắt. Sau này đi bộ đội, mỗi lần về nhà,
đều vạch chân nó lên xem vết sẹo có mờ đi không.
Nhà 45 Lý Thường
Kiệt là nhà thuê, thuê của ai không biết. Đầu tiên chỉ có riêng nhà mình, rộng
thênh thang, phải đến sáu bảy chục mét vuông. Trước khi vào nhà là một mảnh
sân, cỡ trên 20 mét, tiếp nối là nhà ở. Nhà xây một tầng, trần cao, thông thống
từ đầu vào đến đầu ra. Phía sau đó là cả cái sân rộng, mình vẫn đá bóng làm từ
giấy vụn cuộn lại, cái Hà lớn dần, lẫm chẫm biết đi, bắt nó làm gôn. Bọn thằng
Pha, thằng Thăng cũng đã đến đây chơi với mình. Có lần nó đang giữ gôn thì nó ị,
phải hoãn cuộc chơi. Cũng chính từ cái sân bóng này, mình tích cóp mãi mới đủ
tiền mua quả bóng cao su để đá thay bóng giấy, vậy mà ông em, ngay cú đá đầu
tiên, đá bay quả bóng sang lối chuyên đi lấy phân thùng của nhà vệ sinh. Chẳng
hiểu sao, lối sang đó mình rất sợ và đành ngậm ngùi. Biết chuyện này, bố và mẹ
đều im. Bố thì nói đại ý về cái tiếc của mình còn thằng em thì sợ không dám
nhìn ông anh. Ngày đó nghèo đến nỗi, cả bố và mẹ đều không hề nghĩ đến chuyện
mua đền cho mình quả bóng khác hay tầm thấu hiểu của bố mẹ cũng hạn chế. Chung
quy là do nghèo, bó mất cái khôn.
Tiếp nối cái sân
là một chiếc hầm tránh máy bay, nghe nói xây từ hồi quân đồng minh ném bom. Hầm
chắc chắn và có cả đường điện dẫn vào trong. Trong hầm cũng ngóc ngách. Lúc nhà
mình về chỉ có mấy mẹ con, đêm đêm còn lập lòe đom đóm trên nóc hầm. Buổi tối
không dám ra ngoài đi đái, đái luôn ra sân. May mà hai bên bức tường, người chủ
cũ thiết kế đổ đất trồng hoa. Đái vào đất, trồng hoa càng tốt.
Mình chui vào hầm khám
phá. Phía cửa hầm toàn gạch vỡ chắn lối. Bỏ qua, đốt đóm vào tiếp bên trong. Hầm
ngập nước. Mình dò dẫm và phát hiện ra hệ thống dây điện trên mọi ngóc ngách,
nay bỏ phí. Vậy là có kế hoạch gỡ dây điện bán đồng nát. Kế hoạch được mình
nhanh chóng thực hiện. Bán bao nhiêu dây điện mà chỉ được có sáu hào. Thằng em
ngô nghê không biết gì hết, mẹ càng không. Có lẽ nhờ có số tiền đó mới mua được
quả bóng cao su, to bằng nắm tay và ngay cú sút đầu tiên, ông em đá văng mất. Của
thiên trả địa. Sau này mới ngộ ra, thằng này chuyên phá mình.
Nơi đây, bố đã đưa
ông Lê Quảng Ba, sếp nhớn của bố, về chơi. Ông không ở lại lâu, kiểu như chỉ
đáo qua cho biết. Nhà rộng mà chẳng có bàn ghế, không có chỗ để ông ngồi. Ông đứng,
rồi đi đi lại lại cái căn nhà rộng thênh thang, không có tường vách phân chia
gì hết. Ông dừng chỗ tường, ngay đó treo caí bằng huân chương chiến công của bố.
Đó là cái đáng treo và đáng khoe nhất, mà chắc bố cũng thích khoe. Ông Ba ra ngắm
cái bằng, lẩm bẩm: “huân chương chiến công”, rồi ông đi. Mình nhớ ông, vì đọc
sách về cách mạng (ngày bé mình mò mẫm đọc rất nhiều sách về cách mạng và những
tấm gương đó, có tác động phần nào đến mình) . Ông là người cùng Võ Nguyên Giáp
tổ chức ra đội chiến sĩ Giải phóng quân gồm 34 người lính đầu tiên của quân đội
ta, oách lắm. Có khi ngày đó ông còn là lãnh đạo to to nữa ấy chứ. Lại còn nhớ
ông là người dân tộc nữa hoặc bây giờ vẫn nghĩ ông là người dân tộc. Dân tộc mà
làm to gớm. Bố mình cũng nể.
Mẹ vẫn bảo: “Bố
mày rất chiều các con, không bao giờ đánh đứa nào hết”. Nhưng ở cái nhà này, bố
đã ra lệnh mình nằm lên giường và quất mình hai hay ba roi gì đấy. Sự việc như
vầy:
Trước đó cả tháng
trời, mẹ và mình giận nhau. Đầu cua tai nheo quên rồi. Chỉ biết rằng, mình
không nói năng gì và mẹ cũng không nói năng gì. Bố ở Hà Nội. Cả tháng trời vạ vật
ăn bữa đói, bữa no. No là nhờ cơm hàng xóm. Mẹ không nấu cho mình. Dạo đó, cái
nhà rộng mênh mông kia đã có thêm chủ mới. Họ ở phía ngoài, nhà mình phía
trong. Vệ sinh vẫn chung ở phía trong, nước máy vẫn chung ở phía ngoài. Không
hiểu sao mà mình sống được cả tháng trời như vậy. Chỉ nhớ nhờ bà hàng xóm, hay
cho mình cái ăn. Có lần bà nói với mình: “sao mẹ mày ác như mẹ ghẻ”. Nghe và thấy
tủi thân.
Rồi bố ở Hà Nội về.
Mình biết ngày bố về và sợ từng ngày, đếm từng ngày, từng ngày. Liệu bố có nghe
mẹ kể tội không? Chắc có. Mình xác định chẳng cãi, nhận tội. Nhưng bố chẳng nói
gì chỉ hầm hầm nhìn mình, trông rất dữ. Cứ tưởng là qua.
Rồi có chuyện phải
đi lấy cái ảnh, ảnh chụp ở hiệu ảnh trên phố Hoàng Văn Thụ hay Cầu Đất gì đấy.
Cái ảnh thế nào mình cũng không nhớ. Mẹ sai bố đi lấy. Có lý do về bức ảnh chụp.
Hình như là phải sửa sang cho vừa ý mẹ. Đến đó phải nói với chủ hiệu về cách sửa
sang. Bố không đi, sai mình. Mình ngại vì phải giảng giải cái lý với người chủ.
Vậy là ông bố được dịp cởi bỏ cơn tức. Mọi cái ấm ức bây giờ mới bùng phát. Ông
bẻ cái cần câu mà mình cũng mua bằng tiền tích cóp của mình ra làm đôi và quật
vào đít mình hai ba roi. Mình nhát, khóc thét, kêu váng. Ông bố xả xong cơn tức
thì tha còn bà mẹ chắc vừa lòng. Mình thì ấm ức nhớ đời. Chẳng hiểu ông anh
nghĩ gì vì mình nhớ, ngày mình bị đòn, có mặt ông anh.
Ờ mà sao cái chuyện
bị đói cả tháng trời, vai trò thằng em và ông anh ở đâu nhỉ? Không nhớ. Chỉ nhớ
một điều, sau đó mình đủ tiền mua cái bút máy Tàu, tiền này có là được từ tiền
ăn sáng cả tháng. Bút thường thôi, không phải Kim tinh hay Anh hùng gì hết.
Nhưng mà có bút để viết, sướng âm ỉ mãi.
Nói nhỏ nhé, mình
rất tiếc tiêu tiền và hầu như không xin tiền mẹ đóng học phí. Tiền của mẹ và mọi
người cho đều để dành, dùng để đóng mất mất đâu hai tháng học lớp 4, rồi sau đó
vào trường công, không mất tiền học phí. Lên cấp 2, mất 3 năm học trường tư, mỗi
tháng đóng học phí đều xin mẹ. Có điều, mình học không dốt. Thậm chí nhiều lần,
cả ba năm học, có những vụ đột xuất. Lớp 5, được phần thưởng cuối năm. Bài văn hay
được đọc trước lớp này, giải toán duy nhất chỉ có mình giải được toàn bộ bài kiểm
tra này. Ai tiếc tiền cho những đứa con như thế.
Trong học hành, mình
tự xác định mua những thứ gì cho học tập. Giấy viết mình mua loại giấy đen, khổ
to, loại w, rọc đôi, vậy là được hai quyển vở. Phần trên và dưới tập giấy nhà sản
xuất để trống hơi nhiều, mình còn dùng bút chì và thước kẻ, kẻ thêm mỗi trang
được hai hoặc ba dòng đấy. Đại loại mẹ tìm được đứa quản lý tiền của như mình
hơi khó. Chẳng thế, ngày mới về Hà Nội, cả nhà 4 mẹ con, toàn ăn vào tiền tiếp
tế của bà Hải, hai bà chị của mẹ, hai ông anh của bố. Cậu Thiện, em mẹ lên gặp
chị cũng cho. Nhưng có lẽ không nhiều, lại phải trả tiền thuê nhà, một căn hộ
khá rộng ở 88 Lê Văn Hưu, chắc không rẻ. Có lẽ vì không đủ tiền, nên sau đó mới
phải dọn về 6 Hàm Long, trong ngõ, buồng chỉ rộng 6 mét. Bố vẫn nhắc, chúng mày
phải chơi dưới gầm giường.
Còn có lần, mình
và mẹ đã phải tính xem ăn cái gì cho đủ một tuần, sao cho đến ngày đó, sẽ nhận
được tiếp tế từ Hải Phòng. Mẹ có nhắn cho ông bà. Bố những ngày này chưa có
lương. Tất cả chuyện về học hành, bố chỉ quan tâm đến kết quả thi lần cuối năm
lớp 7, bố có gặp trực tiếp hiệu trưởng, thày Bảy, và bố cũng tạm hài lòng. Cái
hài lòng không mĩ mãn về thằng con. Bố muốn mình phải giỏi như thằng Bình, thằng
đó sau này học Bách Khoa và được giữ lại làm giảng viên.
Chuyện
khác2
Thêm chuyện nữa,
chuyện này đúng chỉ có mình với bố liên quan.
Học xong đại học, về nước, thằng nào cũng muốn
có một chỗ tươm tươm. Mình cũng vậy.
Nhớ tối hôm được
nói mấy câu với ông Võ Nguyên Giáp về tình hình đất nước sau Mậu Thân. Ông chú
mình quen, bố trí cho mấy đứa gặp ông ở trong khuôn viên sứ quán (ông Giáp đi
trong khuôn viên nói chuyện, để những trao đổi của ông với sứ quán không bị
nghe lén.) Ông Giáp hỏi bọn mình: “Các cháu thấy Đại tướng thế nào?” Bọn mình nhao
nhao trả lời câu đã được “bơm” trước: “Đại tướng còn rất khỏe, còn chỉ huy và
lãnh đạo quân đội đánh thắng giặc Mỹ…”. Ông cười và bắt tay từng người, rồi
chia tay.
Nói chuyện đó để
nói cái điều: với riêng mình, sau tốt nghiệp, mình lưỡng lự giữa đi chiến đấu
và về trường làm công tác giảng dạy. Lúc thì nghĩ, sắp kết thúc chiến tranh rồi,
phải có chút gì cống hiến. Lúc thì nghĩ, vào chiến trường sống chết khó biết,
khổ cực là chắc, thà cứ bảo mẹ nói với “chú ấy”, một câu là xong. Chú ấy là ông
ở sứ quán Tàu, giữ trọng trách và phân công công việc cho bọn cán bộ kỹ thuật.
Nhưng mình không
nhờ vả, chấp nhận rủi ro khi phân công công tác. Và mình được phân về Hà Nội.
Sướng quá. Nhưng Hà Nội chỉ là đầu mối, công việc đích thực ở chỗ khác: điểm cuối
cùng, mình về là đơn vị chiến đấu. Một đơn vj anh hùng: “Đồng chí về đó, hãy cố
vận dụng kết quả học tập và gắng phát huy thành tích của đơn vị…” Ôi chao, ngao
ngán cho mấy lời động viên.
Sau khi nhận quyết
định, lên cơ quan bố tạm biệt. Bố bảo ra hành lang nói chuyện. Bố rất sốt ruột,
chờ mình nói quyết định về đâu. Thấy vẻ mặt của bố bất an lắm. Bố lo. Khi nghe
mình nói con sẽ vào chiến trường, bố lặng ngắt một lúc, không nói được gì. Có lẽ
cái điều đó là điều bố không mong muốn. Bố là lính, bố biết gian khổ của đời
lính, cái sự sống chết của thằng lính chắc chưa phai trong đầu bố. Mình cũng là
lính nhưng đến giờ toàn học, chưa va chạm với đời. Bố hỏi khi nào đi? Ngày mai
con đi? Nhanh thế, mẹ biết chưa? Biết rồi. Mình nói đại như vậy. Bố lại im lặng.
Chưa bao giờ bố như vậy. Bố cũng không muốn có cuộc chia tay vội vã như thế.
Mai… mai à? Vâng… Con phải vào đơn vị đón xe. Con đi với một ông trợ lý cán bộ…
Bố lại im lặng, mình không muốn giờ phút chia ly này kéo dài, muốn về. Bố loay
hoay tháo cái đồng hồ ở cổ tay: “Cho con cái đồng hồ…”. Sau bao nhiêu năm, giờ
nghĩ lại, không hiểu bố có nói câu đó không. Chắc cũng có nói một câu gì đó,
nhưng chủ yếu chắc là bố muốn có một kỷ niệm cho đứa con sắp phải đi xa và
không xác định được ngày về.
Mình thích có đồng
hồ thật. Hồi ở Liên Xô về, mua được hai cái, cho cả. Hình như ngày đó bố cũng
muốn một chiếc, nhưng mình không cho. Vì một, người mình cho là ông anh nuôi,
người miền Nam, đón mình về quê. Khi tắm, quên đồng hồ ở bể tắm, mất. Còn cái nữa
cho thằng bạn, đã có ý định từ trước.
Mình đeo đồng hồ bố
cho vào tay. Thích thật, thỉnh thoảng nhìn giờ. Nghe tiếng “tút tút” báo giờ của
đài phát thanh, không bao giờ quên ngó cái đồng hồ, xem có đúng không. Đó là
chiếc Nicler, hình như của Pháp, cũ rích. Mình nhớ có câu “Nicler vừa nghe vừa
lắc” nhưng nghĩ đây là của bố cho, chắc tốt.
Cái đồng hồ theo
mình đến đâu, không nhớ. Và đúng nó thuộc dạng “vừa nghe vừa lắc”. Tại sao lại
“nghe” mà không là “xem” nhỉ?
Nó vừa “nghe vừa lắc”
với mình như thế này.
Chiếc đồng hồ đó
thật ra vẫn chạy tốt. Chỉ chạy tốt khi ở Hà Nội. Sau nhận quyết định, mình vẫn
còn ở Hà Nội nhưng không được về nhà. Lệnh là có xe thì vào đơn vị nhận công
tác ngay. Chiếc đồng hồ vẫn chạy tốt.
Nó giở chứng ngay
hôm đầu tiên rời Hà Nội. Nhớ cái hôm đó, xe chuyển bánh, đằng sau xe là thằng
em, xa dần, mờ dần. Suốt cả tuần chờ đợi, nó đều đến, đến để tiễn ông anh “yên
tâm vững bước mà đi…hỡi người mà em yêu”. Có đêm hai anh em nằm ở gầm xe, ngắm
sao trời và cùng ngủ, trước khi ngủ bao giờ cũng xem đồng hồ. Trong những lần
buộc phải chia ly, mình có nhiều cuộc chia ly lắm, đây là cuộc chia tay ấn tượng
nhất. Thú vị lắng nghe tiếng tích tắc của nó và chìm vào giấc ngủ. Hà Nội khi
khắp chia xa, tự nhiên quá thân thương. Phía sau kia là thằng em, chắc cũng
đang “động” một chút ngậm ngùi. Xe chạy và mình cố níu kéo mọi nét mặt người
nhoáng qua. Biết ngày mai thế nào…
Xe nghỉ ở Phủ Lý
ăn cơm. Ông trưởng xe lệnh: “Vào nhà dân, mang 2 mớ rau xuống... Từ giờ phút
này phải tiết kiệm rau, tối mai không còn rau nữa mà ăn đâu, không bỏ chút nào
hết…” Mình bắt đầu ăn cơm lính thật sự từ lúc này. Liếc qua cái đồng hồ “Ố, giật
mình, sao bây giờ mới 10 giờ hơn…” Mình lặng lẽ kéo ống tay áo xuống, che cái đồng
hồ mới lên đường được 2 tiếng thì sinh sự. Phản động thật. Phản đối đi chiến
trường à?
Ăn cơm xong, lên
xe, đi tiếp ngay. Ngồi yên rồi lại nhớ cái đồng hồ. Len lén kéo tay áo, nó lại
chạy. Thở phào, hy vọng mày đừng kiểu này nữa. Suốt từ đó, cứ lúc nào có dịp,
mình lại lén ngó xem mấy giờ, vẫn chạy. Mừng và an tâm bao phủ toàn thân. Cứ vậy
cho đến tối, hình ảnh cái đồng hồ, bố, thằng em cứ luẩn quẩn. Mình nghĩ đến thần
sắc của bố nhiều hơn là nghĩ về cái đồng hồ. Chắc sẽ có chuyện với nó, linh cảm
thế. Lại nghĩ về bố, chắc lúc này, bố lại ăn cơm với lạc rang. Nghĩ thương bố
quá.
Ăn cơm tối xong, vẫn
chưa được nửa đường, lại đi tiếp. Đường sóc lắm. Mình viết thư gửi cho thằng
Giao, kể về chuyến đi của mình. Bức thư đó thằng Giao cho đọc trên truyền thanh
nội bộ lưu học sinh trường mình. Nó bảo mày viết hay thế. Chúng nó nghe và cảm
phục mày lắm. Đọc thư nó, mình cứ lâng lâng. Tao lính chiến rồi đấy. Và cả chút
tự hào vớ vẩn ập đến. Tuổi trẻ khờ dại và đáng yêu làm sao! Ai chẳng có cái khờ
dại đó?
Vẫn còn chuyện
“Nicler vừa nghe vừa lắc”. Vài tháng sau, một lần đi dã ngoại. Yêu cầu đặt ra
là phải như thật. Chiến đấu thế nào thì diễn tập như thế. Chiếc đồng hồ của bố
tuy lúc đứng lúc ngủ nhưng, nói chung, vẫn xem được giờ. Xem giờ khi có điều kiện
phải có được “tút, tút” đối chiếu. Giờ thì bọn lính biết mình có chiếc đồng hồ
oặt oẹo rồi. Nó cũng đã một lần được gửi ra Hà Nội sửa nhưng vẫn chứng nào tật ấy.
Cứ như thằng lính ngấm ngầm phản đối phải đi đánh nhau í.
Đi diễn tập thì từng
nhóm nhỏ phải tự lo cơm nước. Muốn vậy phải đúng giờ. Bọn lính yên tâm vì đã có
đồng hồ của trạm trưởng và có cả một chiếc O-ri-ông-tông to và nặng cỡ hai hòn
gạch 2 lỗ, để nghe “tút tút”.
Mình giữ cả đài và
đồng hồ nên việc hiệu chỉnh đồng hồ chạy cho đúng đài là chuyện nhỏ. Rồi có lệnh
hành quân. Khổ cái điều, lệnh và cái đồng hồ cũng như cái đài nó không thuận
cho sự so sánh, đối chiếu giờ giấc xuất quân của đơn vị.
Lúc mọi người chuẩn
bị xong xuôi, chỉ chờ đến giờ là xuất phát. Chiếc đồng hồ của mình lại giở chứng.
Bọn lính hỏi đến giờ chưa, trạm trưởng, đi thôi… Mình giả vờ không nghe thấy, mở
đài tìm nghe “tút tút”. Dò mãi, dò tiếp rồi lại dò. Chỉ ọ ọe tiếng nhiễu từ đài
phát ra. Bắt đầu cuống. Bỗng nghe được: “Gơ-va-rít Mac-scơ-va Mac-cốp-skoe
vrê-mi-a…” Đài phát thanh Nga ngày đó ngoài báo giờ, còn báo cả phút nữa cơ. Ôi
chao, mừng rú. Vậy là thằng này chênh thằng ta bốn tiếng. Đến giờ rồi… lên xe
thôi. Mình tự tin, dõng dạc.
Đồng hồ của bố ơi
là đồng hồ của bố.
ảnh trên mạng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét