Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

Xuân rét và sương

 

xuân, rét và sương 

 Hà Nội vào xuân và rét. Cái rét rất Hà Nội làm cho xuân cũng rất Hà Nội. Những người Hà Nội nơi xa chắc cũng nhớ Hà Nội bằng cái rét, cái rét xuân, đặc biệt hơn nữa, nếu cái rét đúng vào độ tết. 
Ngày xưa, hồi mình còn nhỏ, mình rất nhớ cái rét. Ngày đó rét thật, rét tê tái người. Còn không lâu, khoảng bốn chục năm lại đây, mùa rét, mình mặc bảy, tám lần áo, với tất cả những loại chống rét của lính, áo trấn thủ, áo đông xuân và ngoài cùng là áo bông hay áo đại cán bốn túi. Vậy mà vẫn rét. Cả tháng thay quần áo một lần mà cũng chỉ phải thay hai ba cái, hai cái trong cùng và cái ngoài cùng. Rét khiến người ta co cụm lại gần nhau cho đỡ rét. Thời khó khăn là thế. Đói và rét nhưng lại có cái tình ấm áp, gần gũi. Có gần gũi mới có ấm áp. Có gì cũng dễ chia sẻ. Đó là cái rét thời khó khăn, thời cơm độn mì và thịt cá tem phiếu. 
Ngày xưa đó, ra ngoài đường, thi thoảng nhìn thấy những đống tro, lại cảm thấy một chút gì đó ái ngại, một chút cám cảnh mủi lòng cho những số phận thân cò thân vạc. Một chút nghĩ xa, đêm qua, những người phải làm đêm, những người vô gia cư, đã quây quần với nhau bên đống lửa này đây… Đống lửa đêm đông gợi nhiều nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong cái đói, cái rét nhưng đầy những thương yêu. Ngày đó, người với người yêu nhau nhiều lắm. 
Năm nay rét nhiều hơn. Nghe những giải thích về sự biến đổi khí hậu thì đó là do con người gây ra. Con người là sản phẩm của mọi tội ác nhưng con người lại luôn cho mình là cao quý, chẳng có gì hạnh phúc và sung sướng hơn được làm con người. Một điều gì đó gai gai, gờn gợn khi ta nghĩ về ta, về con người.
 Ấn tượng với ngày xưa là đói. Vì đói nên càng rét. Đói rét phải đi liền nhau. Từ lâu, người mình đã quan niệm, tết là quây quần, là đoàn tụ, nên phải lo xa, lo từ khi tết chưa đến, tết còn ở đâu đó xa xa, đó là những bà chủ gia đình. Khoản tiền để dành cho chi tiêu tết là khoản tiền lớn và bao nhiêu cũng thiếu. Những măng, bóng mộc nhĩ nấm hương những đậu xanh, gạo nếp, những lợn gà cũng không thể thiếu…. Ngày xưa, vì đói nên nếu được đoàn tụ, quây quần bên nhau thì phải ăn, phải có cái gì để ăn. Cái ăn cũng phải hơn ngày thường. Ăn thức ăn và ăn cả sĩ diện. Người mình sĩ diện lắm. “Chạy ăn quanh năm, no ba ngày tết”. Tết của xum vầy, đoàn tụ phải được ăn no, ăn ngon. Vui như tết là thế!
 Nhưng tết với bọn trẻ con, ăn cũng thích và chơi cũng thích. Có khi thích chơi hơn thích ăn. Nhưng đấy cũng tuỳ hoàn cảnh. Chẳng có gì cố định, bất biến. Riêng mình, mình thích được chơi và trong túi có những đồng tiền mừng tuổi. Người lớn mất thời gian lo cho ăn uống nhiều hơn. 
Nhưng thú thật, nhớ hơn tất cả, không phải là ăn và chơi mà là rét. Cũng không phải cái ngày còn là trẻ con mà là đã lớn, đã là lính. Ngày đó, mình ăn tết lính với tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Lính ngày đó như vậy. Hầu như là vậy. Câu nói thường xuyên ở miệng các ông cán bộ có quyền nói là tuy ăn tết nhưng vẫn “phải cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu”. Ăn tết cái kiểu như vậy đâu có thú vị. Tết với lính những ngày còn chiến tranh là cái bánh chưng, là hai bữa cơm tươi tắn hơn ngày thường. Cũng có thể là ba bữa nhưng dù ba hay bốn bữa, đều chỉ lưng lửng dạ, chẳng bao giờ có cái thú ăn uống no say cả. 
Đơn vị mình đóng quân ở vùng núi, vừa mới ở chiến trường ra, còn ở chung với dân, vẫn chưa kịp có doanh trại riêng cho bộ đội. Khói lửa chiến tranh, chết chóc và tiếng bom đạn vẫn như cận kề. Lính đã qua chiến tranh là những anh lính đã được tôi luyện, thử thách. Trong đầu ông lính nào cũng có một chút kiêu kiêu, một tí công thần. Đó là sao? Giải thích dễ mà cũng chẳng dễ. Lính là thế. Nghe được thì im, cái hoà hợp có thể được công nhận, không hoặc mâu thuẫn (thực sự là thiệt thòi, mất mát) có thể chấp nhận. Lính dễ nhận phần thiệt thòi để được cái lớn hơn, lớn hơn đó là sinh mạng lính. 
Mình ở nhờ trong gia đình một ông lính cốp, nhà có hai con, một cô chị và một thằng em, thằng em được tiêu chuẩn lính cốp của ông bố, đi học xa. Nhà chỉ còn cô chị, đang học lớp 10. Ông lính cốp đó tết không ở nhà mà như bao người lính khác, cũng trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Vậy là dù lính cốp, nhưng tết nhất cũng chẳng được rẽ qua nhà một ngày. Lính ngày đó sống công bằng hoặc ít ra, mình cũng cảm nhận được cái sự ít có phân biệt.
 Mùa đông đó rét. Rét thế nào cũng chẳng nhớ chỉ nhớ nằm ngủ, rón rén cởi mỗi cái áo ngoài, còn lại cùng thằng bạn, nằm với cái chăn giấy mỏng tang như tờ giấy. Hai thằng hai cái, nằm chung, đắp chung cho đỡ rét. Vậy mà vẫn rét. Mình và thằng Điệp (thằng này chết rồi) co quắp trên chiếc phản ngắn cũn gia đình nhường cho. Vẫn rét, nằm úp thìa ôm nhau, vẫn rét. Rồi bỗng nhiên thèm ăn, vậy là thấy đói, xuống bếp hơ tay vào bếp lửa, chia nhau phong lương khô và gật gà ngủ trong cái thòm thèm của tuổi đang trai.
 Có đêm, thằng bạn-thằng Điệp ấy, thủ thỉ bên tai, ôm chặt mình khi ngủ, mày làm tao nhớ vợ quá, mày có biết vợ thế nào không. Mình chỉ biết vợ là đàn bà, nó bảo mình ngu. Con bé con ông cốp chủ nhà kia nó thích mày mà mày ngu quá con ạ, ở đơn vị này, chỉ mày đủ trình để nó thích thôi. Nhưng mày liệu đấy, dính vào nó là khó gỡ ra lắm. Thằng này bồi thêm, khó lắm đấy… mà sao mày ngu thế hở mày? 
Gần giao thừa tết đó, thằng Điệp biến đi đâu không biết, ở nhà chỉ nhõn mình, buồn quá, xuống bếp ngồi canh nồi bánh chưng với bà chủ nhà, mẹ con bé. Ngọn lửa bập bùng xua gía lạnh, chờ đất trời mang về hơi ấm mùa xuân. Bà mẹ cô bé hỏi chuyện vợ con, gia đình. Mình lơ mơ trả lời, ước cái điều muôn thuở của lính, giá như được về với mẹ. Bà chủ có phần thương thương, tội các chú quá, tết nhất xa nhà, thôi thì vì nước, các chú ở đây với mẹ ... rồi bảo mình ngồi trông nồi bánh, bà đi nằm vì có chứng đau lưng. Vì là nhà ông cốp, nên cũng có bốn cái bánh chưng, phần quà tết ông cốp gửi về từ trong năm cho gia đình. Mình đồng ý ngay vì chỉ muốn ngồi bên bếp sưởi ấm, mong trời sáng để đỡ phải lên giường co ro lạnh lẽo. Buồn lắm, nhớ nhà lắm và vơ vẩn ước có một cô gái… 
Mở cửa ra ngoài, nhìn vào màn đêm, tối như đêm ba mươi. Im lìm tràn ngập làng quê. Làng quê thời chiến, đâu chẳng vậy, chẳng thấy ánh lửa của bếp bánh chưng gì hết. Bỗng con bé xô gió lạnh ùa vào. Vào đây anh, ngoài rét lắm. Con bé nắm tay kéo mình vào nhà, lôi ngay xuống bếp, ngồi đây anh. Tiếng con gái làm nhà bớt hẳn lạnh lẽo và gian nhà ấm hẳn lên. Mình nhìn cô bé trong ánh lửa, thấy ánh mắt con bé long lanh và thấy xôn xao mùa xuân. Cô bé cho mình cầm tay, đôi tay học trò trắng muốt bên đôi tay lính thợ đen nhẻm thô ráp và cứ vậy, ngổi sát bên nhau, chỉ thi thoảng nhìn nhau với ánh mắt rạo rực. Mình muốn nói một câu lãng mạn. Nghĩ, bên một cô học trò phải nói được câu gì hay hay, vậy là cứ đắn đo, chưa biết câu mở đầu. Đợi mãi trong cái nắm tay, cô bé tấm tức dụi tắt bếp: “ Không nấu nữa, cứ ngồi xem nào…” 
Cũng may, chưa quá lâu, thằng Điệp về. Cô bé cứ lặng thinh để mình loay hoay thổi lửa và nồi bánh không bị hỏng. Vậy mà tết đó, trong mình có điều gì đó cứ lâng lâng, bay bay, thấy tiêng tiếc đêm giao thừa trôi nhanh và bốn cái bánh đã chín. 
 Vẫn đôi khi trong mơ, thấy lại đôi mắt long lanh bên bếp lửa và câu nói vùng vằng của cô bé. 
 Vậy đấy, lính mà em! 


 Hôm nay (4 tết) lên xe, ngẫu hứng cả nhà, đi một mạch cho xa, lên cửa khẩu Loóng Sập (Lóng Sập). Thích! Già mà vẫn thích nhưng thằng cháu chỉ mong đến nơi. Nó như mình ngày xưa, không chịu nổi cái không khí bí bách trong xe, nhức đầu, thần kinh nó hơi yếu. Có khi sau này, nó, lại là thằng bé nhạy cảm với cuộc đời. 

Đoạn đường hơn ba chục cây tới cửa khẩu vòng vèo, gấp lượn. Xoay xoả nhiều lúc cũng thấy ghê ghê vì mờ mịt sương và tí tách mưa. Cái sương nhơm nhớp và cái mưa dấm dắt… cho cảm nhận cái đẹp phôi phai gió mưa, mây và mù biên giới. 
Những hạt mưa cho hơi ẩm và rét. Càng gần đích, trời càng mù, nhưng vì đi trong buổi sáng nên không thấy vị buồn mà là cái vị háo hức con trẻ, một chút xao xuyến lâng lâng. Cứ đặt chân lên mảnh đất biên ải là tâm trạng như vậy. Có gì đó thiêng liêng, cảm nhận được sự khó khăn, vất vả, nơi mảnh đất đai mà tổ tiên tốn bao xương máu và mồ hôi khai phá. 
Có đoạn chỉ nhìn xa cỡ hơn chục mét. Thì một cái đánh tay lái, một vòng tay cũng chỉ khoảng đó, xa nữa, ga mạnh hơn , có mà xuống vực. 
Đường leo dốc ngập trong sương. Trong đầu ngập tràn cái thích thú tuổi mười lăm, muốn khám phá. Từng nhánh cây xoè ra trong những mầm những nụ hai bên đường cũng thấy như ta được “một vé” về tuổi thơ. Tuổi thơ, tôi từng khát khao, mơ ước được nghe tiếng vó ngựa nơi biên ải, được đến nơi xa xăm miền sơn cước, nơi tận cùng xứ sở. 
Trên xe, chỉ có mình thức. Đương nhiên có cả thằng con lái xe. Trầm lặng và nhớ. Nhớ ngày xưa cuộc sống rừng rú lắm. Và bỗng nhiên, con đường này đâu có gì khó khăn. Kêu khó chỉ thêm buồn cười. Sống gần tám chục năm trên đời, chỉ có chục năm gọi là lăn lộn với cuộc sống, vậy mà sao thấy quãng đường mình vượt qua khi đó, đơn giản dễ dàng thế. Nó vượt qua như một tất yếu của cuộc sống đời lính trong chiến tranh. Phải tự mình vượt qua. Lúc đó có than vãn cũng chẳng ích gì. Gian khổ đều đã chia hết cho mọi thằng lính. 
Nhưng có cái đặc biệt, đa phần, tất nhiên, không thể là tất cả, thằng lính nào cũng dễ dàng nhận phần gian khổ và chia sẻ tình thương yêu, mà gian khổ là nơi đây, còn tình thương đậm đà nhất, sâu lắng nhất, xảy ra nơi quê nhà. Lại một chút liên hệ, hình như bây giờ, điều đầu tiên, người ta phải nghĩ về mình, sau đó, nếu có chút lương tâm, mới nghĩ về người thân khác. 
 Tết không đến đây nhưng xuân thì đến. Những mầm, những chồi non trên các cây mận, cây đào nổi tiếng vùng cao nguyên đã bật ra những nụ non mơn mởn. Thấy rất nhiều xe ô-tô các loại đổ lên đây, đón cái lạnh khác lạ vùng cao. Lại một chút động lòng khi thấy mờ ảo trong sương, hai người đàn bà dân tộc đang còng lưng gùi củi trên đường. Một lúc sau, cũng mờ ảo trong sương, lại một đôi nữa cũng đang trên đường với những thanh củi dài qúa đầu đè nặng trên lưng. Một hình ảnh về sự duy trì ngọn lửa được nhắc lại trong ngày đầu năm. Ngẫm, để mang ngọn lửa ấm êm hạnh phúc về tới mái nhà riêng là một sự khó khăn. Tự trách, đâu cứ động lòng mới là sống có tình thương. 
Cuộc đời không thật vậy đâu, khi mình nhìn thấy cái biển to tướng, to nhất trong số những biển quảng cáo gặp trên đường, gắn trên đồi : “Toàn dân hợp sức đẩy lùi Cô-vít”. Ôi, cuộc đời, nếu như ta thật hợp sức cùng nhau, đâu có chuyện “que thử” đáng nguyền rủa xảy ra trong ngành y tế. Sống như mình, thấy nhiều cái sự ngậm ngùi. Tình thương với con người như một sự xa xỉ.
 Cả một đoạn đường dài ba chục cây chỉ thấy xe du lịch đi và về. Không có cái háo hức tìm hiểu mảnh đất trập trùng, xa ngái nữa, nhưng lại có cái nao nao. Xa đó, nhưng lạ, lại gần gũi trong tâm thức mỗi người dân Việt. Đến đây vì muốn được đến với những bước chân của ông bà, tổ tiên xưa. Đất đai của chúng ta mà. Cũng hiểu thêm lời vua Trần nói với thần dân về từng thước đất của Tổ quốc. Từng thước đất ở nơi biên cương là có thật, là không ảo, để ai đó mạnh mồm hô hào vì sự giàu mạnh của biên cương, hãy cẩn trọng. 
Nhưng, cảm nhất vẫn là cái đẹp mù sương, cái đẹp có pha chút huyễn hoặc của các nàng tiên áo mỏng, những đôi cánh thiên thần. Ý nghĩ đó cứ lởn vởn, bảng lảng nhẹ như màn sương mù phủ che trước mắt, cái nhẹ rất đỗi bâng khuâng, dìu dịu ngọt ngào như làn môi thiếu nữ. 
Lại nói về nhịp điệu vùng cao. Chuyến đi này ít gặp các nàng sơn nữ. Thực ra, khó phân biệt các nàng lắm. Các nàng nói tiếng Kinh, thậm chí tiếng Anh còn bay bổng hơn mình. Các nàng xinh, cáo ráo và rất “thời đại”. Chữ “thời đại” mình dùng mang ý nghĩa rộng. Các nàng có mặt khắp nơi trên mảnh đất du lịch này. Đừng mang những ý nghĩ xưa cũ về mạn ngược. Thời gian đã thay đổi rất nhiều và ngọn gió tri thức đã lan toả về mọi ngả. Rừng núi có thêm những tiếng chim sơn ca. Các nàng nhảy và hát rất hay trong màu mây, sắc núi với mây mù, phấp phới như những cánh đào cánh mận. Thoảng trong đó, còn nghe thấy tiếng sáo Trương Chi lẫn tiếng sáo Mèo gọi bạn . Tiếng sáo xa xăm từ các ngọn núi trập trùng mờ mịt sương, mang theo cả những âm hưởng ngất ngây, huyền ảo của bầu trời mênh mông, thăm thẳm. Các nàng tiên áo màu rực rỡ bước ra từ trong sương, giọng ca như tiếng chim gọi bạn, vồng ngực nhấp nhô như những mỏm núi với những bắp chân thon tung tăng…
 Ánh mặt trời đang lấp lánh trên cao. 
 Vinh Anh-xuân mưa rền rĩ, mùng 6 tết Nhâm Dần