Vậy là hết quyển sách.
Trót đưa lên và cố gắng mãi mới đưa trọn.
Cảm ơn những ai đã chịu khó đọc. VA
VINH ANH
NẺO ĐỜI
tiểu thuyết
Mất rồi một thị xã chìm trong tiếng ve mỗi mùa phượng
nở, không còn sự cổ kính, rêu phong với sự bình yên khiến tâm hồn tĩnh lặng
được nữa. Cũng không tìm thấy rạp chiếu phim Hòa Bình, gần cầu Kỳ Lừa mà cánh
lính thường ra xem những tối thứ bảy. Nhớ nhất những tiếng cắn hạt dẻ mỗi khi
tắt đèn bắt đầu buổi chiếu. Tiếng hạt dẻ bị cắn nứt vỏ lách tách vang lên đầy
ngập không gian rạp chiếu, nghe như tiếng mưa lắc rắc, hay tiếng mổ của những
chú chim trên mái tôn. Dân trí và nếp sống văn hóa một thời là thế! Nhưng mà
nhớ, mà yêu. Trạnh lòng lắm nếu ai nặng lời chê bai vì những tiếng kêu đó. Đó
là thời chúng ta chỉ có khả năng mời nhau hạt dẻ, hạt dưa.
ảnh internet
Trót đưa lên và cố gắng mãi mới đưa trọn.
Cảm ơn những ai đã chịu khó đọc. VA
VINH ANH
NẺO ĐỜI
tiểu thuyết
39. Kết
Lạng Sơn. Thị xã. Nhà ga. Con đường nhựa bóng loáng và
to gấp nhiều lần ngày xưa. Ngọn núi bên nhà ga và nhà thờ cổ kính, có giếng
Tiên không bao giờ cạn, mát lạnh, có bàn cờ để các ông Tiên giải trí. Trèo lên
và thấy toàn bộ thị xã trong tầm mắt. Những cặp mắt ôm tất cả thị xã với sự âu
yếm. Mái trường Văn hóa Quân đội ngày xưa nay là Bộ chỉ huy quân sự thị xã. Ao
cá vẫn đây, khẩu pháo phía cửa Nam vẫn đó,
những chứng tích, kỷ niệm của một thời về ngôi trường bị thu hẹp lại hay
dấu ấn trong ta đã bị thời gian xóa nhòa? Phía sau kia vẫn là thành nhà Mạc,
người ta vừa phá đi, vừa xây lại. Không thấy bức tường dày dặn như thành, như
lũy được xây từ đời nảo đời nao. Chỉ biết hồi đó, những lớp gạch phía trên đều
bị vỡ, sứt mẻ và cho ta cảm giác như là nó đã tồn tại từ rất xa xôi. Bức tường
đó phân chia ranh giới nhà trường với ngoài thành. Những đêm đông rét buốt, học
viên vẫn thay nhau đứng gác trước các ngọn gió căm căm từ phương Bắc. Một khẩu
súng và năm viên đạn. Bàn giao gác cho nhau phải lắc từng viên ngộ nhỡ là đạn
rỗng ruột. Nhắc nhau cảnh giác với những ánh đèn lấp loáng trên đồi, nơi ngày
xưa, có lẽ là hồi thế chiến thứ hai, quân Nhật bỏ lại mấy khẩu pháo và những
cái lô cốt với những tảng xi măng dày vài chục phân nằm ngổn ngang, tan hoang.
Cũng chẳng còn sân bóng bên dãy doanh trại toàn nhà
tranh, nơi tiểu đoàn đóng quân. Nhưng lại cảm thấy, vẫn như từ đâu đó, vang lên
những tiếng hô “Một hai, một hai, một hai, đi đều bước…” của từng trung đội,
tiểu đội tân binh học đội ngũ, những bước đi đầu tiên của đời lính.
Mất rồi một thị xã chìm trong tiếng ve mỗi mùa phượng
nở, không còn sự cổ kính, rêu phong với sự bình yên khiến tâm hồn tĩnh lặng
được nữa. Cũng không tìm thấy rạp chiếu phim Hòa Bình, gần cầu Kỳ Lừa mà cánh
lính thường ra xem những tối thứ bảy. Nhớ nhất những tiếng cắn hạt dẻ mỗi khi
tắt đèn bắt đầu buổi chiếu. Tiếng hạt dẻ bị cắn nứt vỏ lách tách vang lên đầy
ngập không gian rạp chiếu, nghe như tiếng mưa lắc rắc, hay tiếng mổ của những
chú chim trên mái tôn. Dân trí và nếp sống văn hóa một thời là thế! Nhưng mà
nhớ, mà yêu. Trạnh lòng lắm nếu ai nặng lời chê bai vì những tiếng kêu đó. Đó
là thời chúng ta chỉ có khả năng mời nhau hạt dẻ, hạt dưa.
Cầu Kỳ Lừa cũng là cây cầu mới. Sáu tỉnh biên giới
phía Bắc còn chịu thêm một cuộc chiến tranh nữa. Bây giờ mới thực sự hồi sinh.
Ngôi chùa bên phía bắc cầu Kỳ Lừa vẫn nằm ẩn dưới những bóng cây sum xuê và
phía dưới là dòng Kỳ Cùng. Mùa này đang là mùa mưa, nước đỏ quạch. Con sông duy
nhất ở nước ta chảy theo hướng tây bắc-đông nam, ngược lên phía bắc sang Trung
Quốc. Nhưng ngôi chùa như đã mất đi vẻ tĩnh mịch u trầm bởi sự ồn ào phố xá.
Nói đến địa danh Kỳ Lừa phải nói đến chợ Kỳ Lừa và các
toán nam nữ dân tộc mỗi phiên chợ lại rủ nhau đứng hát. Hát lượn, hát sli. Chắc
chắn đó là những bài hát nói về tình yêu, những lời tỏ tình, âu yếm, hẹn hò và
chắc chắn lời của câu hát rất thiết tha, tình tứ. Cứ nhìn sắc mặt các cô gái
thì biết, cô nào cũng giống nhau, má hồng hây hây, áo chàm màu núi, vấn khăn và
nhỏ như nhau, dấm dúi thụi lưng nhau, nép vào lưng nhau và cười. Ngày đó, ba
chàng ngự lâm có đề nghị Sen hát, nhưng cô ấy ngượng, chỉ dịch lại lời hát mà
thôi.
Những năm đó, tất cả có thể còn goị là nhỏ, lại sinh
vào thời buổi đói kém, ấn tượng nhất với các chàng lính trẻ chỉ là đồ ăn. Những
bữa ăn đói, lưng lửng dạ nên đã có những vụ trộm xu hào, bí đỏ và cả cá nữa để
đêm đến, rủ nhau nấu ăn bổ sung cho phần dạ dày còn trống. Đói thì ít thôi
nhưng thích là vì tìm được cái ăn và cái thú chơi, nghịch ngợm. Phụ cấp năm
đồng mà còn phải gửi tiết kiệm, xà phòng, thuốc đánh răng cũng mất toi hai
đồng. Đại loại lính năm đồng chỉ còn được tiêu ba đồng. Mỗi chủ nhật được tiêu
một đồng. Hóa đơn chi tiêu cũng đơn giản, phở chua năm hào, vé xem phim hai ba
hào, hoa quả là số còn lại. vậy mà không hiểu sao, mỗi lần về phép, vẫn mua
được khối thứ, mận, quýt, và đặc biệt là đào Mẫu Sơn. Ấn tượng món ăn ngon nhất
là món phở chua. Đó là loại phở hổ lốn có nguồn gốc của đồng bào Lạng Sơn pha
với cách chế biến gia vị của các chú Tầu. Bát phở chua có nhiều thứ, có thịt
lợn, xá xíu, lạc, hành, ớt cay, ít rau sống và tất nhiên là phải có dấm nó mới
chua được. Phở chua không cho nhiều nước. Trộn tất cả lên và lấy thìa đũa xúc
gắp như phở dưới xuôi. Bây giờ ăn lại không thấy ngon bằng hồi đó, hồi đói kém
đó miếng ăn nào chả ngon. Miếng ngon nhớ lâu là thế!
Bên Kỳ Lừa vẫn còn đó trường học Đông Kinh của Sen. Cô
bé đã lớn lên dưới mái trường đó và ngày trở lại thì thành cô giáo của trường.
Cô bảo em chỉ có ba trường để nhớ, ba trường để lại dấu ấn cho đời em, trường
Đông Kinh, trường Văn hóa Quân đội và trường Sư phạm.
Nhưng với nhóm lính ngự lâm, bản của gia đình Sen ở
mới là nơi đáng nhớ nhất. Lần trở về này, Ngân đi cùng với Hà. Nhân hàng năm
vẫn về. Còn Sen thì thường xuyên. Mỗi lần về quê với Nhân, Sen thường để xe ở nhà
người quen để đi bộ. Cô cùng Nhân theo con đường ngày xưa, qua dòng suối nước
trong vắt có cọn nước xoay suốt ngày đêm. Cọn nước có dáng hình người con gái
đang tắm. Cọn nước không già đi, không cũ đi, chẳng hề hỏng hóc, cứ vậy xoay tròn không biết mệt
mỏi. Không biết bao nhiêu gia đình ăn nước của dòng suối này và riêng của cọn
nước. Dẫu rằng bây giờ, nhiều nơi dùng nước máy, nước giếng khoan. Sen đi lên
trên một đoạn, đến giữa dòng, cởi xống áo, xỏa tóc tắm. Nhớ lần đầu tiên nhìn
Sen tắm, Nhân đứng bên và bảo “ nàng tiên tắm suối nơi hạ giới”. Nàng tiên tắm
nước con suối này nên nàng tiên trẻ mãi, đẹp mãi và con suối này được nàng tiên
tắm cũng mãi mãi trong lành. Sen ngâm mình nới sâu nhất, nước trong nên chỉ
nhìn thấy là da trắng bị sóng nước dập dờn loang ra. Sen nhô đầu lên mặt nước
gọi Nhân xuống cùng tắm. Anh ôm chặt eo Sen và hôn lên khắp mặt cô, những nụ
hôn cũng trong vắt, ngọt ngào.
Có thể vì kỷ niệm lần đầu đó mà lần nào về, cô cũng
đều ra đây tắm cùng Nhân. Cô bảo, làm như thế để anh không bao giờ quên đường
về bản.
Và ai đến xứ Lạng lại không đến với nàng Tô Thị-biểu
tượng của lòng chung thủy của phụ nữ Việt. Ngọn núi nàng Tô Thị gần với hang
động nổi tiếng là Tam Thanh và Nhị Thanh. Hà và Sen như gặp lại thời con gái
thơ ngây xa xưa. Theo tên động, các cô hét thử xem có đúng là Tam Thanh và Nhị
Thanh hay không.
Nhưng mê mẩn lòng người chính là cảnh sắc êm đềm của
“đệ nhất bát cảnh danh thắng”. Nhân giới thiệu: “Nơi đây là một dãy những hòn
núi đá mới được quan Trấn đốc Ngô Thì Sỹ phát hiện và cho tôn tạo vào khoảng
nửa cuối thế kỷ mười tám. Ông cũng là người có công phát hiện ra nhiều cảnh đẹp
của Lạng Sơn-Trấn doanh bát cảnh-và Nhị Thanh đây là đệ nhất bát cảnh. Chúng
mình có thể chui qua hang, dài khoảng nửa cây số, bên dưới là dòng suối Ngọc
Tuyền, thông sang bên kia là nhìn thấy động Tam Thanh. Sau khi phát hiện, ông
cho xây chùa Tam Thanh trong lòng động Tam thanh. Chùa Tam giáo thờ Khổng tử,
Lão tử và Phật thích ca”.
Nhìn ra xa, bao vây chung quanh là những ngọn đồi
thoai thoải chạy xa tít tắp, những quả đồi mà ba chàng ngự lâm đã từng trèo lên
hái sim và thanh thản nằm ngửa nhìn trời xanh, nói chuyện cuộc đời. Nhân lom
khom vạch cỏ nói với Sen và các bạn: “Anh tìm kiếm những dấu chân ngày xưa của
ba đứa…”. Sen và Hà cùng che miệng cười, nụ cười sung sướng hạnh phúc xen lẫn
cả những bao dung, đồng điệu. Chỉ những con người vừa ra khỏi cảnh bom đạn mới
thấy được hưởng giờ phút thanh bình hôm nay thật kỳ diệu và chẳng khác gì đang
đi trong mơ. Những tấm đệm cỏ xanh rờn che phủ, trải khắp các quả đồi, không khí thoáng đãng, mát mẻ, trong sạch
chẳng khác gì một vùng ôn đới xa xăm, nơi mà mấy trăm năm nay, người dân không
hề nghe thấy âm thanh của tiếng đại bác. Và ta bỗng muốn hét lên bầu trời cho
thỏa nguyện ước “Cuộc đời ơi, đây chính là khúc nhạc, là tiếng ca, là tình yêu…
Hạnh phúc quá cuộc đời, ta muốn ôm chặt ngươi mãi mãi”
Và Hà đã làm như vậy, cô ngửa mặt lên trời, hét to:
“Vĩnh biệt chiến tranh, ngươi là một sự rồ dại. Chúng ta cần thanh bình, cần
trời xanh và cần hạnh phúc”. Tiếng cô vang qua các quả đồi. Tiếng hạnh phúc của
cô kéo dài nên nghe như thấy tiếng núi đồi vọng lại. “Hạnh phúc, hạnh phúc,
ha…hạnh, phu…phúc”. Mọi người ngạc nhiên, đúng ba lần tiếng “hạnh phúc” của núi
rừng đáp lại. Sự huyền diệu của đất trời xứ Lạng.
Cả bốn người nằm trên mượt mà cỏ xanh, tâm hồn thảnh
thơi, bay bổng, nơi địa đầu của Tổ quốc, tận hưởng không gian bình yên.
Bắt đầu ngày 1/ 9/ 2011
Xong ngày 16/ 11/ 2011.
VINH ANH
Sửa xong ngày 25/3/2012
Ghi chú:
(1) Pa-ven
Nhân vật trong “Thép đã tôi thế đấy”
(2) “Lão đầy
tớ” thơ Tố Hữu: “và lão cười khoan khoái/ lão ngồi mơ nước Nga”
(3) “Bão táp
Vương triều Trần” tên tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải
(4) Lời bài
hát của Huy Du
(5) Thơ Nguyễn
Phan Hách
(6) Thơ “Lính
mà em”
(7) Thơ Nguyễn
Đình Thi
(8) Dựa vào
truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều
(9) Thơ Nguyễn
Mỹ
(10)
(11) Thơ Lý
Phương Liên
- Nhiều ý
trong tập sách có sử dụng từ “Từ điền danh ngôn Đông Tây” của Thanh Vân Nguyễn
Duy Nhương







