Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

NẺO ĐỜI (phần cuối)

Vậy là hết quyển sách.
Trót đưa lên và cố gắng mãi mới đưa trọn.
Cảm ơn những ai đã chịu khó đọc. VA



VINH ANH
                                             NẺO ĐỜI
                                                                                                                                                      tiểu thuyết


39. Kết

Lạng Sơn. Thị xã. Nhà ga. Con đường nhựa bóng loáng và to gấp nhiều lần ngày xưa. Ngọn núi bên nhà ga và nhà thờ cổ kính, có giếng Tiên không bao giờ cạn, mát lạnh, có bàn cờ để các ông Tiên giải trí. Trèo lên và thấy toàn bộ thị xã trong tầm mắt. Những cặp mắt ôm tất cả thị xã với sự âu yếm. Mái trường Văn hóa Quân đội ngày xưa nay là Bộ chỉ huy quân sự thị xã. Ao cá vẫn đây, khẩu pháo phía cửa Nam vẫn đó,  những chứng tích, kỷ niệm của một thời về ngôi trường bị thu hẹp lại hay dấu ấn trong ta đã bị thời gian xóa nhòa? Phía sau kia vẫn là thành nhà Mạc, người ta vừa phá đi, vừa xây lại. Không thấy bức tường dày dặn như thành, như lũy được xây từ đời nảo đời nao. Chỉ biết hồi đó, những lớp gạch phía trên đều bị vỡ, sứt mẻ và cho ta cảm giác như là nó đã tồn tại từ rất xa xôi. Bức tường đó phân chia ranh giới nhà trường với ngoài thành. Những đêm đông rét buốt, học viên vẫn thay nhau đứng gác trước các ngọn gió căm căm từ phương Bắc. Một khẩu súng và năm viên đạn. Bàn giao gác cho nhau phải lắc từng viên ngộ nhỡ là đạn rỗng ruột. Nhắc nhau cảnh giác với những ánh đèn lấp loáng trên đồi, nơi ngày xưa, có lẽ là hồi thế chiến thứ hai, quân Nhật bỏ lại mấy khẩu pháo và những cái lô cốt với những tảng xi măng dày vài chục phân nằm ngổn ngang, tan hoang.

Cũng chẳng còn sân bóng bên dãy doanh trại toàn nhà tranh, nơi tiểu đoàn đóng quân. Nhưng lại cảm thấy, vẫn như từ đâu đó, vang lên những tiếng hô “Một hai, một hai, một hai, đi đều bước…” của từng trung đội, tiểu đội tân binh học đội ngũ, những bước đi đầu tiên của đời lính.  

Mất rồi một thị xã chìm trong tiếng ve mỗi mùa phượng nở, không còn sự cổ kính, rêu phong với sự bình yên khiến tâm hồn tĩnh lặng được nữa. Cũng không tìm thấy rạp chiếu phim Hòa Bình, gần cầu Kỳ Lừa mà cánh lính thường ra xem những tối thứ bảy. Nhớ nhất những tiếng cắn hạt dẻ mỗi khi tắt đèn bắt đầu buổi chiếu. Tiếng hạt dẻ bị cắn nứt vỏ lách tách vang lên đầy ngập không gian rạp chiếu, nghe như tiếng mưa lắc rắc, hay tiếng mổ của những chú chim trên mái tôn. Dân trí và nếp sống văn hóa một thời là thế! Nhưng mà nhớ, mà yêu. Trạnh lòng lắm nếu ai nặng lời chê bai vì những tiếng kêu đó. Đó là thời chúng ta chỉ có khả năng mời nhau hạt dẻ, hạt dưa.

Cầu Kỳ Lừa cũng là cây cầu mới. Sáu tỉnh biên giới phía Bắc còn chịu thêm một cuộc chiến tranh nữa. Bây giờ mới thực sự hồi sinh. Ngôi chùa bên phía bắc cầu Kỳ Lừa vẫn nằm ẩn dưới những bóng cây sum xuê và phía dưới là dòng Kỳ Cùng. Mùa này đang là mùa mưa, nước đỏ quạch. Con sông duy nhất ở nước ta chảy theo hướng tây bắc-đông nam, ngược lên phía bắc sang Trung Quốc. Nhưng ngôi chùa như đã mất đi vẻ tĩnh mịch u trầm bởi sự ồn ào phố xá.

Nói đến địa danh Kỳ Lừa phải nói đến chợ Kỳ Lừa và các toán nam nữ dân tộc mỗi phiên chợ lại rủ nhau đứng hát. Hát lượn, hát sli. Chắc chắn đó là những bài hát nói về tình yêu, những lời tỏ tình, âu yếm, hẹn hò và chắc chắn lời của câu hát rất thiết tha, tình tứ. Cứ nhìn sắc mặt các cô gái thì biết, cô nào cũng giống nhau, má hồng hây hây, áo chàm màu núi, vấn khăn và nhỏ như nhau, dấm dúi thụi lưng nhau, nép vào lưng nhau và cười. Ngày đó, ba chàng ngự lâm có đề nghị Sen hát, nhưng cô ấy ngượng, chỉ dịch lại lời hát mà thôi.

Những năm đó, tất cả có thể còn goị là nhỏ, lại sinh vào thời buổi đói kém, ấn tượng nhất với các chàng lính trẻ chỉ là đồ ăn. Những bữa ăn đói, lưng lửng dạ nên đã có những vụ trộm xu hào, bí đỏ và cả cá nữa để đêm đến, rủ nhau nấu ăn bổ sung cho phần dạ dày còn trống. Đói thì ít thôi nhưng thích là vì tìm được cái ăn và cái thú chơi, nghịch ngợm. Phụ cấp năm đồng mà còn phải gửi tiết kiệm, xà phòng, thuốc đánh răng cũng mất toi hai đồng. Đại loại lính năm đồng chỉ còn được tiêu ba đồng. Mỗi chủ nhật được tiêu một đồng. Hóa đơn chi tiêu cũng đơn giản, phở chua năm hào, vé xem phim hai ba hào, hoa quả là số còn lại. vậy mà không hiểu sao, mỗi lần về phép, vẫn mua được khối thứ, mận, quýt, và đặc biệt là đào Mẫu Sơn. Ấn tượng món ăn ngon nhất là món phở chua. Đó là loại phở hổ lốn có nguồn gốc của đồng bào Lạng Sơn pha với cách chế biến gia vị của các chú Tầu. Bát phở chua có nhiều thứ, có thịt lợn, xá xíu, lạc, hành, ớt cay, ít rau sống và tất nhiên là phải có dấm nó mới chua được. Phở chua không cho nhiều nước. Trộn tất cả lên và lấy thìa đũa xúc gắp như phở dưới xuôi. Bây giờ ăn lại không thấy ngon bằng hồi đó, hồi đói kém đó miếng ăn nào chả ngon. Miếng ngon nhớ lâu là thế!


Bên Kỳ Lừa vẫn còn đó trường học Đông Kinh của Sen. Cô bé đã lớn lên dưới mái trường đó và ngày trở lại thì thành cô giáo của trường. Cô bảo em chỉ có ba trường để nhớ, ba trường để lại dấu ấn cho đời em, trường Đông Kinh, trường Văn hóa Quân đội và trường Sư phạm.

Nhưng với nhóm lính ngự lâm, bản của gia đình Sen ở mới là nơi đáng nhớ nhất. Lần trở về này, Ngân đi cùng với Hà. Nhân hàng năm vẫn về. Còn Sen thì thường xuyên. Mỗi lần về quê với Nhân, Sen thường để xe ở nhà người quen để đi bộ. Cô cùng Nhân theo con đường ngày xưa, qua dòng suối nước trong vắt có cọn nước xoay suốt ngày đêm. Cọn nước có dáng hình người con gái đang tắm. Cọn nước không già đi, không cũ đi, chẳng  hề hỏng hóc, cứ vậy xoay tròn không biết mệt mỏi. Không biết bao nhiêu gia đình ăn nước của dòng suối này và riêng của cọn nước. Dẫu rằng bây giờ, nhiều nơi dùng nước máy, nước giếng khoan. Sen đi lên trên một đoạn, đến giữa dòng, cởi xống áo, xỏa tóc tắm. Nhớ lần đầu tiên nhìn Sen tắm, Nhân đứng bên và bảo “ nàng tiên tắm suối nơi hạ giới”. Nàng tiên tắm nước con suối này nên nàng tiên trẻ mãi, đẹp mãi và con suối này được nàng tiên tắm cũng mãi mãi trong lành. Sen ngâm mình nới sâu nhất, nước trong nên chỉ nhìn thấy là da trắng bị sóng nước dập dờn loang ra. Sen nhô đầu lên mặt nước gọi Nhân xuống cùng tắm. Anh ôm chặt eo Sen và hôn lên khắp mặt cô, những nụ hôn cũng trong vắt, ngọt ngào.

Có thể vì kỷ niệm lần đầu đó mà lần nào về, cô cũng đều ra đây tắm cùng Nhân. Cô bảo, làm như thế để anh không bao giờ quên đường về bản.

Và ai đến xứ Lạng lại không đến với nàng Tô Thị-biểu tượng của lòng chung thủy của phụ nữ Việt. Ngọn núi nàng Tô Thị gần với hang động nổi tiếng là Tam Thanh và Nhị Thanh. Hà và Sen như gặp lại thời con gái thơ ngây xa xưa. Theo tên động, các cô hét thử xem có đúng là Tam Thanh và Nhị Thanh hay không.

Nhưng mê mẩn lòng người chính là cảnh sắc êm đềm của “đệ nhất bát cảnh danh thắng”. Nhân giới thiệu: “Nơi đây là một dãy những hòn núi đá mới được quan Trấn đốc Ngô Thì Sỹ phát hiện và cho tôn tạo vào khoảng nửa cuối thế kỷ mười tám. Ông cũng là người có công phát hiện ra nhiều cảnh đẹp của Lạng Sơn-Trấn doanh bát cảnh-và Nhị Thanh đây là đệ nhất bát cảnh. Chúng mình có thể chui qua hang, dài khoảng nửa cây số, bên dưới là dòng suối Ngọc Tuyền, thông sang bên kia là nhìn thấy động Tam Thanh. Sau khi phát hiện, ông cho xây chùa Tam Thanh trong lòng động Tam thanh. Chùa Tam giáo thờ Khổng tử, Lão tử và Phật thích ca”.

Nhìn ra xa, bao vây chung quanh là những ngọn đồi thoai thoải chạy xa tít tắp, những quả đồi mà ba chàng ngự lâm đã từng trèo lên hái sim và thanh thản nằm ngửa nhìn trời xanh, nói chuyện cuộc đời. Nhân lom khom vạch cỏ nói với Sen và các bạn: “Anh tìm kiếm những dấu chân ngày xưa của ba đứa…”. Sen và Hà cùng che miệng cười, nụ cười sung sướng hạnh phúc xen lẫn cả những bao dung, đồng điệu. Chỉ những con người vừa ra khỏi cảnh bom đạn mới thấy được hưởng giờ phút thanh bình hôm nay thật kỳ diệu và chẳng khác gì đang đi trong mơ. Những tấm đệm cỏ xanh rờn che phủ, trải khắp các quả đồi,  không khí thoáng đãng, mát mẻ, trong sạch chẳng khác gì một vùng ôn đới xa xăm, nơi mà mấy trăm năm nay, người dân không hề nghe thấy âm thanh của tiếng đại bác. Và ta bỗng muốn hét lên bầu trời cho thỏa nguyện ước “Cuộc đời ơi, đây chính là khúc nhạc, là tiếng ca, là tình yêu… Hạnh phúc quá cuộc đời, ta muốn ôm chặt ngươi mãi mãi”

Và Hà đã làm như vậy, cô ngửa mặt lên trời, hét to: “Vĩnh biệt chiến tranh, ngươi là một sự rồ dại. Chúng ta cần thanh bình, cần trời xanh và cần hạnh phúc”. Tiếng cô vang qua các quả đồi. Tiếng hạnh phúc của cô kéo dài nên nghe như thấy tiếng núi đồi vọng lại. “Hạnh phúc, hạnh phúc, ha…hạnh, phu…phúc”. Mọi người ngạc nhiên, đúng ba lần tiếng “hạnh phúc” của núi rừng đáp lại. Sự huyền diệu của đất trời xứ Lạng.

Cả bốn người nằm trên mượt mà cỏ xanh, tâm hồn thảnh thơi, bay bổng, nơi địa đầu của Tổ quốc, tận hưởng không gian bình yên.

 
ảnh internet
                                                                             Bắt đầu ngày 1/ 9/ 2011

Xong ngày 16/ 11/ 2011.

                        VINH ANH

                         Sửa xong ngày 25/3/2012

 

 

 

Ghi chú:

(1) Pa-ven Nhân vật trong “Thép đã tôi thế đấy”

(2) “Lão đầy tớ” thơ Tố Hữu: “và lão cười khoan khoái/ lão ngồi mơ nước Nga”

(3) “Bão táp Vương triều Trần” tên tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải

(4) Lời bài hát của Huy Du

(5) Thơ Nguyễn Phan Hách

(6) Thơ “Lính mà em”

(7) Thơ Nguyễn Đình Thi

(8) Dựa vào truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều

(9) Thơ Nguyễn Mỹ

(10)

(11) Thơ Lý Phương Liên

- Nhiều ý trong tập sách có sử dụng từ “Từ điền danh ngôn Đông Tây” của Thanh Vân Nguyễn Duy Nhương

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét