Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

Tây Nguyên gặp lại

Tây Nguyên gặp lại


Lần đầu đến với Tây Nguyên, tôi đang thời trẻ trai. Ấn tượng với Tây Nguyên không phải là “tháng ba, mùa con ong đi lấy mật” với hoa cà phê trắng trong tinh khiết mà là đang độ tháng tư, Tây Nguyên khô và nắng. Cái nắng nóng và gió khô khiến bao nhiêu nước trong người bốc thành hơi hết. Bộ quần áo Tô Châu tôi mặc hết ướt rồi khô, nó cứng đơ như mảnh áo mưa bằng ni-lông đã quá đát sử dụng mỗi khi đụng phải cất tiếng kêu rột roạt, có vẻ muốn vỡ ra từng mảnh. Ngày đó là năm 1975, đang trên đường vào chiến dịch Hồ Chí Minh, trong đội hình đoàn quân đang cuộn mình “thần tốc” hướng phía nam, ào ào như gió thổi.
Đến Đồng Xoài, nơi đơn vị tập kết khoảng giữa tháng tư. Trời cao xanh bóng cao su và điều đặc biệt, không có máy bay của đối phương quần thảo, chỉ đôi khi có tiếng pháo tầm xa vọng về, mặt trận trước giờ nổ súng yên ắng để chờ đợi. Tóm lại, thêm một ấn tượng nữa, đó là không khí bình lặng quá đỗi của chiến trường. Nó thật khác với những gì tôi đã trải qua những năm trước. Cái yên tĩnh đó diễn ra cả mấy ngày sau khi chiến dịch mở, đến nỗi những thằng lính như tôi cứ tưởng đây là một cuộc hành quân chuyển địa điểm, hay nếu có thể, đó chỉ là một cuộc diễn tập có hành quân, có xe pháo, có bắn đạn thật mà thôi.
Nói thêm một chút về Tây Nguyên ngày đó. Ngoài nắng và nóng, trước khi tới điểm hội quân, xe tôi đi trong rừng Lào chẳng có ngọn gió nào hết. Suốt khoảng thời gian xe chạy chỉ thấy rừng khộp, rừng le. Loại rừng cằn cỗi còi cọc đó chỉ tăng thêm cảm giác u u bức bối cho sự khô khát. Thêm vào đó là bụi đường khi cuộn bay lên cao, rồi là là bám vào đám cây lá ven đường, bụi như một đám mây màu hồng bồng bềnh đậm đặc, lởn vởn vờn xa xa và loãng tan vào không gian. Bụi tràn ngập vậy những cũng chẳng chú ý lắm đến cái mặt, cái mũi đã bám đầy đất đỏ của đường trường, chỉ khi nhìn cậu lái xe mới bật cười và nghĩ cái mặt tôi cũng thế. Vì thế, mỗi lần xe băng qua một con suối nhỏ (tháng tư đang khô hạn thì làm gì có suối lớn), tôi dừng xe và dùng bi đông khoa khoa mặt nước theo thói quen, nhìn rõ những hạt sỏi, hạt cát đáy suối và vục bi đông xuống lấy đầy hai bi đông nước, một cho lái xe và một cho mình, cũng không quên nhét vào mỗi bi đông một viên thuốc diệt trùng, nghe nói là phòng được sốt rét và không cần nấu sôi. Càng không quên vục mặt, nhấp chiếc khăn vào làn nước mát để xua đi nhất thời cái bụi và cái nóng bức bối. Chẳng hề nghĩ đến chuyện sẽ đau bụng đau bão hay cảm nóng cảm lạnh do thay đổi nhiệt độ đột ngột gì hết. Thật là một thời trẻ trung sôi nổi đến ngu ngơ, dại khờ. Chỉ có tuổi trẻ mới có được cái ngu ngơ, dại khờ và vô tư như thế.
Vẫn nhớ là xe chạy mãi mà không hết những cánh rừng khộp, cứ hết cánh rừng này lại nối tiếp cánh rừng khác. Thật chẳng hiểu những cánh rừng đó có phải là “rừng vàng” không, nhưng mà nhìn nó chán lắm, chán bởi vì rừng khộp đơn điệu chỉ có một vài loại cây cằn cỗi, còi cọc, già nua. Nhìn rừng chỉ thấy xơ xác, nghèo kiệt. Hay khi đó là tháng tư, tháng tư rừng đang oằn mình ra chịu trận với nắng và nắng nên cảm thấy vậy chăng? Ngày đó lính tráng đâu biết đến bảo vệ rừng, vậy mà rừng khộp khô rang như sẵn sàng bốc lửa, vẫn an toàn dưới nắng lửa khô rát. Cái sự “an toàn” này nếu rơi vào tay chính trị mơ mộng nào đó thì sẽ được vẽ vời, nâng lên tính kỷ luật, ý thức cao của lính. Ý thức cao vì nó bảo vệ mạng sống cho chính mình, ngày đó có thằng lính nào được giáo dục hay học tập gì về tình yêu với rừng đâu, may lắm có anh lính học sinh nhớ được câu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Rồi những cánh rừng khộp khô cằn bởi nắng, nghèo kiệt vì thiếu nước kia cũng hết, xe vi vu vào đường 14 hay 19 gì đấy, nơi vừa diễn ra trận đánh trên Tây Nguyên của tướng Hoàng Minh Thảo. Tôi nhận ra chiến trường vừa tan khói súng hồi tháng ba kia từ những chiếc xe tăng, những xe quân dụng chỉ còn trơ bộ khung bị trúng đạn, nằm rải rác bên đường. Vậy là đã sang đất ta rồi, sang lúc nào cũng không biết. Vẫn là rừng nhưng rừng đây có vẻ thâm nghiêm và như màu mỡ hơn. Những cây cổ thụ cao vút lên trời cao và cả gió nữa. Gió phả vào mặt mà thấy tươi roi rói. Được ngọn gió mát phải đổ biết bao nhiêu mồ hôi. Thấy sướng!
Tây Nguyên đây ư? Ngày đó cũng đâu biết gì về Tây Nguyên. Trong đầu chỉ mường tượng ra những anh hùng Núp của Nguyên Ngọc mà thôi. Tây Nguyên với mình xưa là thế.
Cái còn lại trong ký ức đến hôm nay chỉ còn là những cánh rừng. Rừng thâm trầm im ắng và chất chứa những bí ẩn mang đầy cổ tích truyền thuyết. Đâu đó là những cánh chim Đrao hay chàng Đam san dũng mãnh mà tôi cố gắng mường tượng theo định hướng “ta thắng địch thua”. Đã quen với rừng gần chục năm, nhìn thấy những vạt rừng thâm u này thêm vững dạ. Với cánh lính của miền quê nghèo nàn, lạc hậu, rừng luôn là sự chở che, bao bọc. Tôi đã chứng kiến biển lửa mà B-52 ném xuống rừng và nhận ra, bom đạn chẳng bõ bèn gì với rừng hết, may chăng chỉ “rụng được cái lông chân”. Nói vậy đủ biết cái vĩ đại, cái bao la mang tính hùng vĩ, can trường của rừng. Rồi đám cháy kia sẽ bị dập tắt bởi chính mưa rừng và cây rừng, sức sống sẽ hồi sinh tại chính nơi đó, như không hề có chuyện gì xảy ra, y hệt như ta ném một hòn đá xuống biển, chẳng để lại dấu tích gì hết.
Lính Bắc hội quân về đây rất đông. Bạt ngàn khắp mọi cánh rừng đều sắc phục màu lính. Lại một liên tưởng bất chợt: sao cứ phí hoài tuổi trẻ chúng ta nơi đây? Một thoáng dưới bóng cây cao su thôi mà rồi buồn vô hạn vì được tin, một thằng lính mà tôi biết mặt, ở đại đội pháo, bị chết một cách vô nghĩa. Nó chạy nhảy thế nào đó và bị xe xích kéo pháo cán chết. Nó chết với khuôn mặt trẻ măng học trò, còn ham chơi, không chú ý đến những dặn dò của chỉ huy. Ra chiến trận với những khuôn mặt vô tư như đi du ngoạn vậy thì đâu có phân biệt được địch-ta, tà-chính … Nói gì những điều xa xôi về lý tưởng đấu tranh hay sứ mệnh dân tộc.
Vậy là ký ức của hơn bốn chục năm trước với Tây Nguyên toàn là nắng gió, bụi đời với chết chóc chiến tranh. Một ký ức buồn, muốn quên nhưng khó. Nguyên nhân ư? Chỉ vì ngày đó mình còn trẻ. Cái trẻ tạo nên những ấn tượng mới mẻ và đầu tiên trong cuộc đời, nên nhớ rất sâu.
                                                          *****
Lâu quá rồi, xa quá rồi. Chiến tranh đã lùi xa nhưng dư âm thì vẫn còn. Mỗi khi nhắc tới Tây Nguyên không hiểu vì sao, tôi lại chỉ nhớ đến bom đạn chiến tranh, dẫu tôi ít gặp chuyện bom đạn.
Rồi một lần, bỗng nhận ra, tôi nhớ đến Tây Nguyên theo kiểu khác. Nhớ Tây Nguyên không phải bom đạn hồi chiến tranh, mà là Tây nguyên đất đỏ ba-dan. Một thời gian quá dài để rồi mới nhận ra, vùng đất đỏ ba-dan, nơi có cây cao su trồng thành rừng kia, mới là nỗi nhớ khi nghĩ về Tây Nguyên.
Ông bạn một thời cùng là lính rủ vào chơi thăm lại chiến trường xưa. Đánh đấm gì đâu mà cứ tăng cái độ thảm khốc lên để rồi ai cũng tự coi mảnh đất đó là chiến trường máu lửa, ác liệt như là giấy chứng nhận của cuộc đời từng trải. Đã nói ở trên, chiến dịch đó, tôi chỉ coi nó là một cuộc hành quân mà thôi.
Cảm thấy gần gũi hơn với Tây Nguyên vì cái bô-xít. Mở mắt nhìn được cuộc đời với những điều thật của nó cũng nhờ cái trang bô-xit của giáo sư Huệ Chi và ban bè của ông. Vậy là từ bô-xít nên kết Tây Nguyên chứ chẳng phải do có kỷ niệm từ thời chiến tranh với nó. Nói vậy để không vơ vào công trạng cái thời oanh liệt oai hùng mà nếu “có triệu người vui cũng có triệu người buồn” kia.
Ông bạn đón tôi từ cổng chợ Đức Cơ. Không còn dáng vấp khỏe mạnh trai trẻ ngày xưa mà là một ông già sương gió, gày nhẳng, khắc khổ. Tây Nguyên đã nhào lặn và biến đổi lão. Nhưng thấy lão tự tin và đặc biệt, không còn dáng vẻ nheo nhóc ngày gia đình lão Nam tiến nữa. Vậy là lão không đói. Lão đánh đổi sức khỏe và một con người sung mãn sức lực để lấy sự no đủ cho gia đình.
Phải nói thật, các địa danh vùng Tây Nguyên với tôi, không hiểu sao, nó luôn gắn với các trận đánh, cho nên cứ xướng lên một địa danh, là tôi lại nghĩ đến một trận chiến giữa quân giải phóng với quân cộng hòa ngay được. Địa danh Đức Cơ cũng “hao hao” vậy. Chắc nơi đây cũng từng là chiến trường. Đã đánh nhau là có máu đổ, chết chóc. Đứng ở chợ tôi cứ mường tượng ra đâu đó gần đây, năm đó, có trận đánh đó và người chết ở đó… Nó cứ rấm rứt khó ở làm sao ấy. Vì lẽ nào, mà đâu đâu trên mảnh đất này, cũng có thể có người chết? Chắc chắn có nhiều cái chết “bất đắc kỳ tử” mà người chết không kịp hiểu vì sao, linh hồn người chết liệu đã yên ổn nơi vĩnh hằng hay vẫn phiêu diêu đâu đây… Nghĩ và buồn nao nao cho số kiếp con người.
Đức Cơ bây giờ là tên một huyện của tỉnh Gia lai. Đức Cơ có đường 14 và đường 19 chạy qua. Cả hai đường này tôi đã đi qua trong chiến tranh nhưng có qua đoạn Đức Cơ hôm nay không thì không tài nào nhớ được, với lại ngồi trên xe phóng với tinh thần “thần tốc”, thì làm sao mà nhớ nổi. Có điều nhận rõ khác biệt với ký ức ngày xưa, chẳng thấy rừng đâu nữa. Không thấy rừng nên thấy thiếu và cảm tình với cao nguyên xưa cũng giảm.
Huyện Đức Cơ được thành lập theo Quyết định 315-HĐBT ngày 15 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở đất đai và dân số của 4 xã: Ia Krêl, Ia Dơk, Ia Kla, Ia Dom (nguyên thuộc huyện Chư Păh) và 4 xã: Ia Pnôn, Ia Nan, Ia Lang, Ia Kriêng (nguyên thuộc huyện Chư Prông).
Ngày 17-10-1991, theo Quyết định số 691-TCCP của Ban Tổ chức Chính phủ, thị trấn Chư Ty được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Ia Kla và xã Ia Din được thành lập trên cơ sở tách ra từ các xã Ia Krêl và Ia Lang.
Đức Cơ rộng 723,12 km², có 54.339 nhân khẩu (số liệu thống kê năm 2008), nằm giữa hai huyện Ia Grai (phía Bắc) và Chư Prông (phía Đông và phía Nam). Phía Tây của huyện là đường biên giới Việt Nam - Campuchia dài 35 km giáp với huyện biên giới ÔzaĐao, tỉnh Ratanakiri, vương quốc Campuchia.(Theo Wikipedia)
Trong đầu tôi, mấy tỉnh cao nguyên luôn là biên giới vì cứ nghĩ nó chắc chắn là nơi heo hút. Từ thị trấn Chư Ty của Đức Cơ lên cửa khẩu Lệ Thanh, biên giới với Căm-pu-chia khoảng 25 cây số. Vậy là đi. Đi để khám phá cái sự tò mò vốn có trong con người. Đi để chứng tỏ ta đã đặt chân đến. Con người ta có nhiều mong muốn hợp lý nhưng thấp hèn lắm, tôi cũng tạng như vậy. Mặt khác cũng muốn đi là để xem biên giới rừng rú ra sao.
Hồi chiến tranh với Pol-pốt, cũng đã qua Căm, nhưng đi từ mạn Tây Ninh, cũng có lần đi đường thủy, đều xuất phát từ phía Nam. Đây là miền Trung, nên nghĩ nó sẽ khác hơn, vì nghĩ nó vẫn hoang sơ. Nhưng không phải vậy. Cửa khẩu là nơi buôn bán, giao lưu, trao đổi, có thể còn là bộ mặt quốc gia… nên chẳng hoang sơ chút nào, chẳng còn rừng mà ngắm, mà nhớ nữa. (Thể hiện cái hiện đại của nó hôm nay là, đã có một cái cổng biên giới cũng gọi là được rồi nhưng người ta còn đang xây cái mới hoành tráng hơn nhiều (có lẽ muốn oai)) Dọc đường hơn hai chục cây cũng chỉ là đất đỏ ba-dan, được cày lên chuẩn bị trồng cao su hay cà phê. Đất đỏ bám suốt chặng hành trình nên lại nhớ đến bô-xít. Nhớ đến nó nhưng chẳng biết nói cùng ai. May quá, ở đây người ta không nói đến cái đất gọi quỉ quái nào đó mà họ đang đạp dưới chân hàng ngày. Ở đây người ta chỉ nói đến cao su, cà phê, hồ tiêu. Đất cho cao su cà phê tăng thì đất rừng phải giảm thôi. Nếu có màu xanh thì đấy cũng là màu xanh của cà phê với cao su có bàn tay con người, không còn thâm u rừng gia với tiếng nai đêm đêm nữa. Tây Nguyên bây giờ là đất trồng cây công nghiệp. Vùng đất đỏ cao nguyên đang bị cày xới tung lên để làm giàu. Chẳng biết đúng sai cỡ nào, chỉ thấy trong mình mất cái gì đó, nó xưa, nó trầm lắng và cũng mất luôn cả cái huyền bí, thiêng liêng của rừng già.
Các bạn tôi vào đây theo dạng dân di cư tự do. Dân nghèo khắp các vùng quê miền Bắc, từ Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nam, Hà Tây, nhiều nhất là Thanh Hóa, Nghệ An… đổ vào. Nhóm người này kết lại với nhau thân thiết và lấy Tây Nguyên làm quê chung, đất đỏ ba-dan đã kết dính họ. Vậy là rừng bị phá. Ông bạn mời tôi vào chơi cũng có thâm niên áo lính chiến tranh sáu, bảy năm, khi phục viên được nhận một cục mấy tháng phụ cấp trung sĩ, rồi lấy vợ đẻ con. Đất Bắc không nuôi nổi, phải bồng bế cả nhà Nam tiến. Khi vào gom được ít tiền, theo gương người đi trước, mua lại rãy của đồng bào thiểu số bản địa và đôi lúc có điều kiện cũng tham gia… phá rừng, cũng làm cao su, trồng cà phê, hồ tiêu. Những tưởng đổi đời, nhưng người ta có số… Ốm đau, bệnh hoạn, cách trở, ông bạn tôi mất đứa con khiến tôi cứ ân hận vì đã ủng hộ lão Nam tiến. Ông bạn đang trú trong cái nhà rõ to, vốn được dựng lên làm ga-ra, chữa xe tải cỡ lớn, lợp tôn, trống huếch. Vào bên trong, mỗi góc nhà kê một cái giường, như thể những chiếc giường biết tìm chỗ tránh nóng. Với cái nắng tháng tư Tây Nguyên, vào đây, mới thấy và hiểu đúng nghĩa câu nói “nóng như rang”. Cái nóng này thì nhận ra ngay, giống hệt bốn chục năm trước khi xe của tôi chạy qua rừng khộp, rừng le bên đất Lào.
Các bạn tôi ở đây chẳng ai là công chức, cán bộ hết, đều là thường dân đúng nghĩa, đều làm cao su, cà phê, hồ tiêu… Nhớ câu thơ của Nguyễn Long “Đông thì chật, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân/ Quanh năm chân đất đầu trần/ Chát chao qua những vũ vần bão dông”, mà thấy thương cái thường dân chốn heo hút này quá. Họ hết thảy toàn những cảnh đời đã trải qua nhiều nỗi “chát chao”.
 Cư dân nơi ông bạn tôi trú ngụ thường có hai chỗ ở. Một chính, ở nơi dân cư đông đúc, tiện cho sinh hoạt và học tập của con cái, như thị trấn Chư Ty chẳng hạn, một khác, ở ngay tại rãy để tiện bề chăm sóc rãy và chống trộm khi vào độ thu hoạch. Nhà ở thị trấn, thường cách rãy 5-7 cây số, có khi hơn, như rãy của ông bạn tôi, hai cái của ông ấy cách “đại bản doanh” những hai nhăm đến ba chục cây số. Vậy mà nếu không vào vụ hay bị mưa gió, lão ta vẫn sáng đi tối về.
 Tôi muốn “về với thiên nhiên” để hiểu thật về Tây Nguyên, không cưỡi ngựa xem hoa như năm bảy nhăm, nên đề nghị các bạn cho nghỉ ngơi trong rãy, nơi có rừng cao su, có vườn cà phê và hồ tiêu, ba loại cây đã làm đổi đời các bạn tôi.
Nhà trong rãy giống nhà tạm, như lán trại trên công trường, chỗ ở tạm cho công nhân nghỉ ngơi, chỉ đủ cho hai, ba người ở, nhiều nữa thì phải mắc võng. Muốn chống trộm phải gia cố cửa giả, sân vườn cho chắc chắn. Cái gọi là chắc chắn cũng tùy hoàn cảnh kinh tế từng gia đình. Nội thất nói chung sơ sài, tiện nghi không đầy đủ, nhưng TV, quạt máy, bếp ăn, bể chứa nước là những thứ tối thiểu đều có. Để có thể tiêu hết thời gian trong cả một buổi tối và một đêm dài dằng dặc thì chiếc TV và đôi nhà có dàn ka-ra-ô-kê là những đồ vật tạo nên tiếng cười, sự vui vẻ là thứ phải có. Tuy là tạm, nhưng thời gian sống ở nhà tạm không phải ít. Vào vụ thu hoạch hay chăm bón, tưới tắm phải ở lại. Cả khi mưa gió cũng phải ở lại nhà tạm, mà mưa rừng Tây Nguyên thì dai dẳng lắm.
Chủ nhà bày cỗ tiếp khách trong vạt vườn cao su là hàng xóm của ông bạn tôi trên thị trấn Chư Ty. Nói là hàng xóm nhưng nhà ở cách nhau những gần ba cây số, còn rãy của hai nhà ở hai địa điểm rất xa nhau. Vậy mà họ đến với nhau thường xuyên lắm, hầu như tuần nào cũng có vài cuộc vui. Hình như họ cố tạo ra các cuộc gặp để vui, để gắn kết.
Cao su đang thời kỳ cho mủ, cà phê đã ra hoa lần hai. Tiếc vì không được ngắm nhữn bông hoa trắng phau. Thay vào hoa là quả đã nhú đậu bé xíu và chíu chít trên cành, hồ tiêu xanh mướt leo trên những trụ xi măng hoặc trụ cây. Đó là ba khoản thu nhập chính của  dân xa cố hương nơi đây. Hàng năm hai vợ chồng ông bạn tôi với gần mẫu cà phê thu về khoảng 100 triệu. Những gia đình khác có nhiều đất rãy thì thu hoạch nhiều hơn, có gia đình đông con, nhiều rãy thu tới 500 triệu. Vậy là hơn hẳn quê ngoài Bắc rồi. Cái đói năm nào của gia đình ông bạn tôi không còn nữa. Cuộc sống của hai vợ chồng lão đã thay đổi với dáng vẻ tự tin là thế.
Nhưng ngồi giữa rừng cao su, nghe kể chuyện, thấy “chát chao” họ trải qua nhiều lắm. Chuyện mất giá: tiêu đang từ hai, ba trăm ngàn xuống năm chục ngàn một ký là một cú đấm chí mạng. Cao su, cà phê cũng cảnh rớt giá như thế. Rồi thì phân bón giả thật lẫn lộn, rồi thì hạn hán, rồi thì đào ao trữ nước để tưới cho cà, rồi thì sâu bệnh, những gốc tiêu đang mơn mởn bỗng nhiên lụi tàn mà chẳng ai rõ căn nguyên… Nhiều và không lường hết được. Phận thường dân phải chịu hết, chẳng có ai đỡ đần! Tôi nghe từng chuyện và ngấm từng nỗi xót xa … Lão bạn tôi ngồi bên uống hết lon bia như uống cả vào trong nỗi xót xa đắng ngắt vị “chát chao” cuộc đời mà lão đã nếm trải.
Tôi nhìn lão và nghĩ về gốc cây cà phê đã gần cuối chu kỳ cho quả, gốc đầy mấu và xù xì như chân gà Đông Tảo, cành và lá cũng xoăn lại theo nắng gió Tây Nguyên, nhưng như lão ta nói với tôi, những lứa quả cuối đời cây thế này mới ngon. Tôi không sành cà phê và càng không hiểu gì về quãng đời khoảng ba chục năm “cống hiến” của loại cây này, nhưng tôi tin lời lão. Tất cả những “chát chao” đắng cay ngọt bùi đều được chắt lọc theo từng năm tháng, vậy nên những tháng ngày cuối cùng của cây nó quý, nó ngon là đúng thôi. Cũng như lão bạn tôi đây, lão cứ gày nhẳng và như dài ra trong mảnh đất mà số phận gắn bó với lão. Cuộc đời không cho lão cách chọn lựa khác, lão chắt lọc những dầu dãi, thô ráp, khô cháy từ vùng đất đỏ để tạo ra những mật ngọt tinh túy mang hương sắc của vùng đất đặc biệt đầy tiềm năng, lắm âm mưu, nhiều tranh cãi để rồi lão bảo với tôi: “Tôi sẽ gắn bó mãi nơi này…”

Vinh Anh-24/4/2018







Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Tây nguyên gặp lại

Tây Nguyên gặp lại

Lần đầu đến với Tây Nguyên, tôi đang thời trẻ trai. Ấn tượng với Tây Nguyên không phải là “tháng ba, mùa con ong đi lấy mật” với hoa cà phê trắng trong tinh khiết mà là đang độ tháng tư, Tây Nguyên khô và nắng. Cái nắng nóng và gió khô khiến bao nhiêu nước trong người bốc thành hơi hết. Bộ quần áo Tô Châu tôi mặc hết ướt rồi khô, nó cứng đơ như mảnh áo mưa bằng ni-lông đã quá đát sử dụng mỗi khi đụng phải cất tiếng kêu rột roạt, có vẻ muốn vỡ ra từng mảnh. Ngày đó là năm 1975, đang trên đường vào chiến dịch Hồ Chí Minh, trong đội hình đoàn quân đang cuộn mình “thần tốc” hướng phía nam, ào ào như gió thổi.
Đến Đồng Xoài, nơi đơn vị tập kết khoảng giữa tháng tư. Trời cao xanh bóng cao su và điều đặc biệt, không có máy bay của đối phương quần thảo, chỉ đôi khi có tiếng pháo tầm xa vọng về, mặt trận trước giờ nổ súng yên ắng để chờ đợi. Tóm lại, thêm một ấn tượng nữa, đó là không khí bình lặng quá đỗi của chiến trường. Nó thật khác với những gì tôi đã trải qua những năm trước. Cái yên tĩnh đó diễn ra cả mấy ngày sau khi chiến dịch mở, đến nỗi những thằng lính như tôi cứ tưởng đây là một cuộc hành quân chuyển địa điểm, hay nếu có thể, đó chỉ là một cuộc diễn tập có hành quân, có xe pháo, có bắn đạn thật mà thôi.
Nói thêm một chút về Tây Nguyên ngày đó. Ngoài nắng và nóng, trước khi tới điểm hội quân, xe tôi đi trong rừng Lào chẳng có ngọn gió nào hết. Suốt khoảng thời gian xe chạy chỉ thấy rừng khộp, rừng le. Loại rừng cằn cỗi còi cọc đó chỉ tăng thêm cảm giác u u bức bối cho sự khô khát. Thêm vào đó là bụi đường khi cuộn bay lên cao, rồi là là bám vào đám cây lá ven đường, bụi như một đám mây màu hồng bồng bềnh đậm đặc, lởn vởn vờn xa xa và loãng tan vào không gian. Bụi tràn ngập vậy những cũng chẳng chú ý lắm đến cái mặt, cái mũi đã bám đầy đất đỏ của đường trường, chỉ khi nhìn cậu lái xe mới bật cười và nghĩ cái mặt tôi cũng thế. Vì thế, mỗi lần xe băng qua một con suối nhỏ (tháng tư đang khô hạn thì làm gì có suối lớn), tôi dừng xe và dùng bi đông khoa khoa mặt nước theo thói quen, nhìn rõ những hạt sỏi, hạt cát đáy suối và vục bi đông xuống lấy đầy hai bi đông nước, một cho lái xe và một cho mình, cũng không quên nhét vào mỗi bi đông một viên thuốc diệt trùng, nghe nói là phòng được sốt rét và không cần nấu sôi. Càng không quên vục mặt, nhấp chiếc khăn vào làn nước mát để xua đi nhất thời cái bụi và cái nóng bức bối. Chẳng hề nghĩ đến chuyện sẽ đau bụng đau bão hay cảm nóng cảm lạnh do thay đổi nhiệt độ đột ngột gì hết. Thật là một thời trẻ trung sôi nổi đến ngu ngơ, dại khờ. Chỉ có tuổi trẻ mới có được cái ngu ngơ, dại khờ và vô tư như thế.
Vẫn nhớ là xe chạy mãi mà không hết những cánh rừng khộp, cứ hết cánh rừng này lại nối tiếp cánh rừng khác. Thật chẳng hiểu những cánh rừng đó có phải là “rừng vàng” không, nhưng mà nhìn nó chán lắm, chán bởi vì rừng khộp đơn điệu chỉ có một vài loại cây cằn cỗi, còi cọc, già nua. Nhìn rừng chỉ thấy xơ xác, nghèo kiệt. Hay khi đó là tháng tư, tháng tư rừng đang oằn mình ra chịu trận với nắng và nắng nên cảm thấy vậy chăng? Ngày đó lính tráng đâu biết đến bảo vệ rừng, vậy mà rừng khộp khô rang như sẵn sàng bốc lửa, vẫn an toàn dưới nắng lửa khô rát. Cái sự “an toàn” này nếu rơi vào tay chính trị mơ mộng nào đó thì sẽ được vẽ vời, nâng lên tính kỷ luật, ý thức cao của lính. Ý thức cao vì nó bảo vệ mạng sống cho chính mình, ngày đó có thằng lính nào được giáo dục hay học tập gì về tình yêu với rừng đâu, may lắm có anh lính học sinh nhớ được câu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Rồi những cánh rừng khộp khô cằn bởi nắng, nghèo kiệt vì thiếu nước kia cũng hết, xe vi vu vào đường 14 hay 19 gì đấy, nơi vừa diễn ra trận đánh trên Tây Nguyên của tướng Hoàng Minh Thảo. Tôi nhận ra chiến trường vừa tan khói súng hồi tháng ba kia từ những chiếc xe tăng, những xe quân dụng chỉ còn trơ bộ khung bị trúng đạn, nằm rải rác bên đường. Vậy là đã sang đất ta rồi, sang lúc nào cũng không biết. Vẫn là rừng nhưng rừng đây có vẻ thâm nghiêm và như màu mỡ hơn. Những cây cổ thụ cao vút lên trời cao và cả gió nữa. Gió phả vào mặt mà thấy tươi roi rói. Được ngọn gió mát phải đổ biết bao nhiêu mồ hôi. Thấy sướng!
Tây Nguyên đây ư? Ngày đó cũng đâu biết gì về Tây Nguyên. Trong đầu chỉ mường tượng ra những anh hùng Núp của Nguyên Ngọc mà thôi. Tây Nguyên với mình xưa là thế.
Cái còn lại trong ký ức đến hôm nay chỉ còn là những cánh rừng. Rừng thâm trầm im ắng và chất chứa những bí ẩn mang đầy cổ tích truyền thuyết. Đâu đó là những cánh chim Đrao hay chàng Đam san dũng mãnh mà tôi cố gắng mường tượng theo định hướng “ta thắng địch thua”. Đã quen với rừng gần chục năm, nhìn thấy những vạt rừng thâm u này thêm vững dạ. Với cánh lính của miền quê nghèo nàn, lạc hậu, rừng luôn là sự chở che, bao bọc. Tôi đã chứng kiến biển lửa mà B-52 ném xuống rừng và nhận ra, bom đạn chẳng bõ bèn gì với rừng hết, may chăng chỉ “rụng được cái lông chân”. Nói vậy đủ biết cái vĩ đại, cái bao la mang tính hùng vĩ, can trường của rừng. Rồi đám cháy kia sẽ bị dập tắt bởi chính mưa rừng và cây rừng, sức sống sẽ hồi sinh tại chính nơi đó, như không hề có chuyện gì xảy ra, y hệt như ta ném một hòn đá xuống biển, chẳng để lại dấu tích gì hết.
Lính Bắc hội quân về đây rất đông. Bạt ngàn khắp mọi cánh rừng đều sắc phục màu lính. Lại một liên tưởng bất chợt: sao cứ phí hoài tuổi trẻ chúng ta nơi đây? Một thoáng dưới bóng cây cao su thôi mà rồi buồn vô hạn vì được tin, một thằng lính mà tôi biết mặt, ở đại đội pháo, bị chết một cách vô nghĩa. Nó chạy nhảy thế nào đó và bị xe xích kéo pháo cán chết. Nó chết với khuôn mặt trẻ măng học trò, còn ham chơi, không chú ý đến những dặn dò của chỉ huy. Ra chiến trận với những khuôn mặt vô tư như đi du ngoạn vậy thì đâu có phân biệt được địch-ta, tà-chính … Nói gì những điều xa xôi về lý tưởng đấu tranh hay sứ mệnh dân tộc.
Vậy là ký ức của hơn bốn chục năm trước với Tây Nguyên toàn là nắng gió, bụi đời với chết chóc chiến tranh. Một ký ức buồn, muốn quên nhưng khó. Nguyên nhân ư? Chỉ vì ngày đó mình còn trẻ. Cái trẻ tạo nên những ấn tượng mới mẻ và đầu tiên trong cuộc đời, nên nhớ rất sâu.
                                                          *****
Lâu quá rồi, xa quá rồi. Chiến tranh đã lùi xa nhưng dư âm thì vẫn còn. Mỗi khi nhắc tới Tây Nguyên không hiểu vì sao, tôi lại chỉ nhớ đến bom đạn chiến tranh, dẫu tôi ít gặp chuyện bom đạn.
Rồi một lần, bỗng nhận ra, tôi nhớ đến Tây Nguyên theo kiểu khác. Nhớ Tây Nguyên không phải bom đạn hồi chiến tranh, mà là Tây nguyên đất đỏ ba-dan. Một thời gian quá dài để rồi mới nhận ra, vùng đất đỏ ba-dan, nơi có cây cao su trồng thành rừng kia, mới là nỗi nhớ khi nghĩ về Tây Nguyên.
Ông bạn một thời cùng là lính rủ vào chơi thăm lại chiến trường xưa. Đánh đấm gì đâu mà cứ tăng cái độ thảm khốc lên để rồi ai cũng tự coi mảnh đất đó là chiến trường máu lửa, ác liệt như là giấy chứng nhận của cuộc đời từng trải. Đã nói ở trên, chiến dịch đó, tôi chỉ coi nó là một cuộc hành quân mà thôi.
Cảm thấy gần gũi hơn với Tây Nguyên vì cái bô-xít. Mở mắt nhìn được cuộc đời với những điều thật của nó cũng nhờ cái trang bô-xit của giáo sư Huệ Chi và ban bè của ông. Vậy là từ bô-xít nên kết Tây Nguyên chứ chẳng phải do có kỷ niệm từ thời chiến tranh với nó. Nói vậy để không vơ vào công trạng cái thời oanh liệt oai hùng mà nếu “có triệu người vui cũng có triệu người buồn” kia.
Ông bạn đón tôi từ cổng chợ Đức Cơ. Không còn dáng vấp khỏe mạnh trai trẻ ngày xưa mà là một ông già sương gió, gày nhẳng, khắc khổ. Tây Nguyên đã nhào lặn và biến đổi lão. Nhưng thấy lão tự tin và đặc biệt, không còn dáng vẻ nheo nhóc ngày gia đình lão Nam tiến nữa. Vậy là lão không đói. Lão đánh đổi sức khỏe và một con người sung mãn sức lực để lấy sự no đủ cho gia đình.
Phải nói thật, các địa danh vùng Tây Nguyên với tôi, không hiểu sao, nó luôn gắn với các trận đánh, cho nên cứ xướng lên một địa danh, là tôi lại nghĩ đến một trận chiến giữa quân giải phóng với quân cộng hòa ngay được. Địa danh Đức Cơ cũng “hao hao” vậy. Chắc nơi đây cũng từng là chiến trường. Đã đánh nhau là có máu đổ, chết chóc. Đứng ở chợ tôi cứ mường tượng ra đâu đó gần đây, năm đó, có trận đánh đó và người chết ở đó… Nó cứ rấm rứt khó ở làm sao ấy. Vì lẽ nào, mà đâu đâu trên mảnh đất này, cũng có thể có người chết? Chắc chắn có nhiều cái chết “bất đắc kỳ tử” mà người chết không kịp hiểu vì sao, linh hồn người chết liệu đã yên ổn nơi vĩnh hằng hay vẫn phiêu diêu đâu đây… Nghĩ và buồn nao nao cho số kiếp con người.
Đức Cơ bây giờ là tên một huyện của tỉnh Gia lai. Đức Cơ có đường 14 và đường 19 chạy qua. Cả hai đường này tôi đã đi qua trong chiến tranh nhưng có qua đoạn Đức Cơ hôm nay không thì không tài nào nhớ được, với lại ngồi trên xe phóng với tinh thần “thần tốc”, thì làm sao mà nhớ nổi. Có điều nhận rõ khác biệt với ký ức ngày xưa, chẳng thấy rừng đâu nữa. Không thấy rừng nên thấy thiếu và cảm tình với cao nguyên xưa cũng giảm.
Huyện Đức Cơ được thành lập theo Quyết định 315-HĐBT ngày 15 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở đất đai và dân số của 4 xã: Ia Krêl, Ia Dơk, Ia Kla, Ia Dom (nguyên thuộc huyện Chư Păh) và 4 xã: Ia Pnôn, Ia Nan, Ia Lang, Ia Kriêng (nguyên thuộc huyện Chư Prông).
Ngày 17-10-1991, theo Quyết định số 691-TCCP của Ban Tổ chức Chính phủ, thị trấn Chư Ty được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Ia Kla và xã Ia Din được thành lập trên cơ sở tách ra từ các xã Ia Krêl và Ia Lang.
Đức Cơ rộng 723,12 km², có 54.339 nhân khẩu (số liệu thống kê năm 2008), nằm giữa hai huyện Ia Grai (phía Bắc) và Chư Prông (phía Đông và phía Nam). Phía Tây của huyện là đường biên giới Việt Nam - Campuchia dài 35 km giáp với huyện biên giới ÔzaĐao, tỉnh Ratanakiri, vương quốc Campuchia.(Theo Wikipedia)
Trong đầu tôi, mấy tỉnh cao nguyên luôn là biên giới vì cứ nghĩ nó chắc chắn là nơi heo hút. Từ thị trấn Chư Ty của Đức Cơ lên cửa khẩu Lệ Thanh, biên giới với Căm-pu-chia khoảng 25 cây số. Vậy là đi. Đi để khám phá cái sự tò mò vốn có trong con người. Đi để chứng tỏ ta đã đặt chân đến. Con người ta có nhiều mong muốn hợp lý nhưng thấp hèn lắm, tôi cũng tạng như vậy. Mặt khác cũng muốn đi là để xem biên giới rừng rú ra sao.
Hồi chiến tranh với Pol-pốt, cũng đã qua Căm, nhưng đi từ mạn Tây Ninh, cũng có lần đi đường thủy, đều xuất phát từ phía Nam. Đây là miền Trung, nên nghĩ nó sẽ khác hơn, vì nghĩ nó vẫn hoang sơ. Nhưng không phải vậy. Cửa khẩu là nơi buôn bán, giao lưu, trao đổi, có thể còn là bộ mặt quốc gia… nên chẳng hoang sơ chút nào, chẳng còn rừng mà ngắm, mà nhớ nữa. (Thể hiện cái hiện đại của nó hôm nay là, đã có một cái cổng biên giới cũng gọi là được rồi nhưng người ta còn đang xây cái mới hoành tráng hơn nhiều (có lẽ muốn oai)) Dọc đường hơn hai chục cây cũng chỉ là đất đỏ ba-dan, được cày lên chuẩn bị trồng cao su hay cà phê. Đất đỏ bám suốt chặng hành trình nên lại nhớ đến bô-xít. Nhớ đến nó nhưng chẳng biết nói cùng ai. May quá, ở đây người ta không nói đến cái đất gọi quỉ quái nào đó mà họ đang đạp dưới chân hàng ngày. Ở đây người ta chỉ nói đến cao su, cà phê, hồ tiêu. Đất cho cao su cà phê tăng thì đất rừng phải giảm thôi. Nếu có màu xanh thì đấy cũng là màu xanh của cà phê với cao su có bàn tay con người, không còn thâm u rừng gia với tiếng nai đêm đêm nữa. Tây Nguyên bây giờ là đất trồng cây công nghiệp. Vùng đất đỏ cao nguyên đang bị cày xới tung lên để làm giàu. Chẳng biết đúng sai cỡ nào, chỉ thấy trong mình mất cái gì đó, nó xưa, nó trầm lắng và cũng mất luôn cả cái huyền bí, thiêng liêng của rừng già.
Các bạn tôi vào đây theo dạng dân di cư tự do. Dân nghèo khắp các vùng quê miền Bắc, từ Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nam, Hà Tây, nhiều nhất là Thanh Hóa, Nghệ An… đổ vào. Nhóm người này kết lại với nhau thân thiết và lấy Tây Nguyên làm quê chung, đất đỏ ba-dan đã kết dính họ. Vậy là rừng bị phá. Ông bạn mời tôi vào chơi cũng có thâm niên áo lính chiến tranh sáu, bảy năm, khi phục viên được nhận một cục mấy tháng phụ cấp trung sĩ, rồi lấy vợ đẻ con. Đất Bắc không nuôi nổi, phải bồng bế cả nhà Nam tiến. Khi vào gom được ít tiền, theo gương người đi trước, mua lại rãy của đồng bào thiểu số bản địa và đôi lúc có điều kiện cũng tham gia… phá rừng, cũng làm cao su, trồng cà phê, hồ tiêu. Những tưởng đổi đời, nhưng người ta có số… Ốm đau, bệnh hoạn, cách trở, ông bạn tôi mất đứa con khiến tôi cứ ân hận vì đã ủng hộ lão Nam tiến. Ông bạn đang trú trong cái nhà rõ to, vốn được dựng lên làm ga-ra, chữa xe tải cỡ lớn, lợp tôn, trống huếch. Vào bên trong, mỗi góc nhà kê một cái giường, như thể những chiếc giường biết tìm chỗ tránh nóng. Với cái nắng tháng tư Tây Nguyên, vào đây, mới thấy và hiểu đúng nghĩa câu nói “nóng như rang”. Cái nóng này thì nhận ra ngay, giống hệt bốn chục năm trước khi xe của tôi chạy qua rừng khộp, rừng le bên đất Lào.
Các bạn tôi ở đây chẳng ai là công chức, cán bộ hết, đều là thường dân đúng nghĩa, đều làm cao su, cà phê, hồ tiêu… Nhớ câu thơ của Nguyễn Long “Đông thì chật, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân/ Quanh năm chân đất đầu trần/ Chát chao qua những vũ vần bão dông”, mà thấy thương cái thường dân chốn heo hút này quá. Họ hết thảy toàn những cảnh đời đã trải qua nhiều nỗi “chát chao”.
 Cư dân nơi ông bạn tôi trú ngụ thường có hai chỗ ở. Một chính, ở nơi dân cư đông đúc, tiện cho sinh hoạt và học tập của con cái, như thị trấn Chư Ty chẳng hạn, một khác, ở ngay tại rãy để tiện bề chăm sóc rãy và chống trộm khi vào độ thu hoạch. Nhà ở thị trấn, thường cách rãy 5-7 cây số, có khi hơn, như rãy của ông bạn tôi, hai cái của ông ấy cách “đại bản doanh” những hai nhăm đến ba chục cây số. Vậy mà nếu không vào vụ hay bị mưa gió, lão ta vẫn sáng đi tối về.
 Tôi muốn “về với thiên nhiên” để hiểu thật về Tây Nguyên, không cưỡi ngựa xem hoa như năm bảy nhăm, nên đề nghị các bạn cho nghỉ ngơi trong rãy, nơi có rừng cao su, có vườn cà phê và hồ tiêu, ba loại cây đã làm đổi đời các bạn tôi.
Nhà trong rãy giống nhà tạm, như lán trại trên công trường, chỗ ở tạm cho công nhân nghỉ ngơi, chỉ đủ cho hai, ba người ở, nhiều nữa thì phải mắc võng. Muốn chống trộm phải gia cố cửa giả, sân vườn cho chắc chắn. Cái gọi là chắc chắn cũng tùy hoàn cảnh kinh tế từng gia đình. Nội thất nói chung sơ sài, tiện nghi không đầy đủ, nhưng TV, quạt máy, bếp ăn, bể chứa nước là những thứ tối thiểu đều có. Để có thể tiêu hết thời gian trong cả một buổi tối và một đêm dài dằng dặc thì chiếc TV và đôi nhà có dàn ka-ra-ô-kê là những đồ vật tạo nên tiếng cười, sự vui vẻ là thứ phải có. Tuy là tạm, nhưng thời gian sống ở nhà tạm không phải ít. Vào vụ thu hoạch hay chăm bón, tưới tắm phải ở lại. Cả khi mưa gió cũng phải ở lại nhà tạm, mà mưa rừng Tây Nguyên thì dai dẳng lắm.
Chủ nhà bày cỗ tiếp khách trong vạt vườn cao su là hàng xóm của ông bạn tôi trên thị trấn Chư Ty. Nói là hàng xóm nhưng nhà ở cách nhau những gần ba cây số, còn rãy của hai nhà ở hai địa điểm rất xa nhau. Vậy mà họ đến với nhau thường xuyên lắm, hầu như tuần nào cũng có vài cuộc vui. Hình như họ cố tạo ra các cuộc gặp để vui, để gắn kết.
Cao su đang thời kỳ cho mủ, cà phê đã ra hoa lần hai. Tiếc vì không được ngắm nhữn bông hoa trắng phau. Thay vào hoa là quả đã nhú đậu bé xíu và chíu chít trên cành, hồ tiêu xanh mướt leo trên những trụ xi măng hoặc trụ cây. Đó là ba khoản thu nhập chính của  dân xa cố hương nơi đây. Hàng năm hai vợ chồng ông bạn tôi với gần mẫu cà phê thu về khoảng 100 triệu. Những gia đình khác có nhiều đất rãy thì thu hoạch nhiều hơn, có gia đình đông con, nhiều rãy thu tới 500 triệu. Vậy là hơn hẳn quê ngoài Bắc rồi. Cái đói năm nào của gia đình ông bạn tôi không còn nữa. Cuộc sống của hai vợ chồng lão đã thay đổi với dáng vẻ tự tin là thế.
Nhưng ngồi giữa rừng cao su, nghe kể chuyện, thấy “chát chao” họ trải qua nhiều lắm. Chuyện mất giá: tiêu đang từ hai, ba trăm ngàn xuống năm chục ngàn một ký là một cú đấm chí mạng. Cao su, cà phê cũng cảnh rớt giá như thế. Rồi thì phân bón giả thật lẫn lộn, rồi thì hạn hán, rồi thì đào ao trữ nước để tưới cho cà, rồi thì sâu bệnh, những gốc tiêu đang mơn mởn bỗng nhiên lụi tàn mà chẳng ai rõ căn nguyên… Nhiều và không lường hết được. Phận thường dân phải chịu hết, chẳng có ai đỡ đần! Tôi nghe từng chuyện và ngấm từng nỗi xót xa … Lão bạn tôi ngồi bên uống hết lon bia như uống cả vào trong nỗi xót xa đắng ngắt vị “chát chao” cuộc đời mà lão đã nếm trải.
Tôi nhìn lão và nghĩ về gốc cây cà phê đã gần cuối chu kỳ cho quả, gốc đầy mấu và xù xì như chân gà Đông Tảo, cành và lá cũng xoăn lại theo nắng gió Tây Nguyên, nhưng như lão ta nói với tôi, những lứa quả cuối đời cây thế này mới ngon. Tôi không sành cà phê và càng không hiểu gì về quãng đời khoảng ba chục năm “cống hiến” của loại cây này, nhưng tôi tin lời lão. Tất cả những “chát chao” đắng cay ngọt bùi đều được chắt lọc theo từng năm tháng, vậy nên những tháng ngày cuối cùng của cây nó quý, nó ngon là đúng thôi. Cũng như lão bạn tôi đây, lão cứ gày nhẳng và như dài ra trong mảnh đất mà số phận gắn bó với lão. Cuộc đời không cho lão cách chọn lựa khác, lão chắt lọc những dầu dãi, thô ráp, khô cháy từ vùng đất đỏ để tạo ra những mật ngọt tinh túy mang hương sắc của vùng đất đặc biệt đầy tiềm năng, lắm âm mưu, nhiều tranh cãi để rồi lão bảo với tôi: “Tôi sẽ gắn bó mãi nơi này…”

Vinh Anh-24/4/2018