Fidel,
Cu Ba và tình cảm của tôi
Mấy hôm nay bận, chỉ lướt qua vài
dòng tin về việc Fidel qua đời. Thấy các bạn trên face. nói về Fidel với những điều theo mình không
thật công tâm, hoặc do các bạn còn trẻ, chưa thấm cái tình ngày xưa của Fidel
và CuBa với dân mình, hoặc do “cái” ngày nay có nhiều chuyện xảy ra trong nước
và thế giới bởi các chế độ hiện tại nhưng có tính độc tài, phản dân chủ, cảm thấy
có bạn có phần nói hơi quá về Fidel. Mình cũng tham gia vài ý. Nếu bạn nào ném
đá to, mình sẽ tranh luận lại, con đá nhỏ thì cho qua.
Fidel qua đời, tôi không bất ngờ vì sức
khỏe của ông đã được dự báo từ trước, ông đã rời bỏ mọi chức vụ mình tuy không
thể nói ảnh hưởng lớn của ông vẫn còn với đông đảo nhân dân và đất nước Cu Ba.
Thương tiếc không? Cũng chỉ “vậy là rồi ai cũng chết” với một nỗi buồn nhè nhẹ
của riêng mình như gió thoảng mà thôi. Vì thật ra, tin tức về ông và về Cu Ba
cũng “khoan nhặt” lắm. Bởi cũng đã từ lâu, tình cảm hoặc quan hệ nhà nước giữa
VN-CB cũng có chiều phai nhạt (nhận xét của cá nhân tôi) vì như đã nghe đồn,
Fidel hoặc Đảng Cộng sản Cu Ba, sau “cái” đổi mới lần đầu của Việt Nam, đã có
phần nghi ngờ sự trung thành với chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản, và đặc
biệt, đã dần xa rời chủ nghĩa Mác, thứ chủ nghĩa mà Fidel thờ phụng, suốt đời
tuân theo.
Ở nước ta, không có những cá nhân bỏ
công sức và cuộc đời để nghiên cứu tiểu sử những con người cụ thể, có thể gọi
đơn giản, dễ hiểu là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng với thế giới. Tất cả
những nhân vật được gọi là học giả hoặc viện này viện khác của Việt Nam, khi
nghiên cứu lịch sử một cá nhân nào đó, một vấn đề thời sự nóng bỏng xảy ra trên
thế giới đều theo định hướng, vì thế đương nhiên, đó đều là những kết quả không
có giá trị.
Với Fidel cũng vậy. Tôi nghĩ con người
nay có ảnh hưởng đến thế giới, chí ít cũng ở Châu Mỹ La tinh, rất đáng để người
Việt nam, mà ít ra cũng nửa dân số một thời yêu mến, cảm phục phải để tâm
nghiên cứu. Chúng ta có chuyện để nói đến con người này, cũng đa phần xuất phát
từ tình cảm yêu mến cá nhân, từ sự căm ghét chế độ độc tài mà Cu Ba là một thể
chế điển hình không kém Việt Nam, để lại ảnh hưởng và di hại rất lớn cho nhân
dân Cu Ba một thời gian rất dài và khắc phục được nó cũng cần một thời gian dài
không kém.
Dông dài nhập đề như vậy là đủ. Tôi
xin nói về tình cảm của mình như đầu đề bài viết.
Thế hệ tôi ở miền Bắc là cái thời vô
cùng thiếu thốn thông tin. Tôi phải nhấn mạnh là thời kỳ đói thông tin ghê gớm,
tất cả những gì dân chúng biết được về thế giới đều thông qua báo đảng, Cu Ba
và Fidel được biết đến trong điều kiện đó. Vì thế, Cu Ba và Fidel có một sự
liên kết máu thịt gần như là thiêng liêng. Cu Ba là một nước nhỏ và lạc hậu như
các nước vùng Ca-ri-bê cách đây dăm sáu chục năm, nhưng người ta chỉ biết Cu Ba
là một đất nước anh hùng. Cu Ba so với mặt bằng các nước xã hội chủ nghĩa ngày
đó cũng là một nước nghèo, chỉ đứng trên Việt Nam. Cu Ba chỉ có đường và mía, một
đất nước nhỏ với chưa đến chục triệu dân nhưng có chương trình 10 triệu tấn đường.
(Hình như sau đó kế hoạch này thất bại). Người miền Bắc đã từng ăn đường màu
vàng của Cu Ba.
Còn cụ thể tình cảm với Việt Nam là
câu nói của Fidel: “Vì Việt Nam, Cu Ba không tiếc máu của mình” và Fidel cũng
như đồng bào của ông có phong trào góp máu cho Việt Nam. Vâng, “một miếng khi
đói bằng một gói khi no”, huống hồ đây là máu.
Sâu lặng hơn những lời tuyên bố là
hành động cụ thể. Cu Ba đã giúp Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh. (Cuộc chiến
không mong muốn mà người miền Bắc ai ai cũng phải tham gia. Hầu hết người miền
Nam cũng vậy. Lịch sử đã xảy ra như thế và bây giờ những ai lên án, cứ như là
chúng ta đứng ngoài cuộc. Không, tất cả chúng ta, những người thuộc thế hệ tôi,
đều có lỗi với lịch sử và những đau khổ tang thương đã xảy ra). Trên tuyến đường
Trường Sơn mở rộng sau hiệp nghị Pa-ri để cho “những binh đoàn nối nhau ra tiền
tuyến”, tôi đã thấy rất nhiều máy móc làm đường, mà nghe nói có phần rất nhiều
của Cu Ba. Nên nhớ, trước hiệp định pa-ri, máy móc làm đường đưa vào Trường sơn
được rất ít.
Năm 1973, như một sự tình cờ, khi Fidel
của Cu Ba vào tận vùng giải phóng Quảng Trị và tôi vì nhiệm vụ riêng, hoàn toàn
không liên quan đến chuyến thăm của ông, luôn đi sau những nơi ông đến trên đất
Quảng Trị. Chuyện ông dừng xe bên đường ngày đó để cứu giúp một người dân bị thương
vì bom đạn chiến tranh có thể là tiền đề cho bệnh viện Đồng Hới sau này Cu Ba tặng
cho nhân dân Việt Nam. Hình ảnh ông phất cờ, đạp chân lên nòng pháo “vua chiến
trường” ở căn cứ Đầu mầu trên vùng đất còn đầy bom đạn, thể hiện một điều gì đó
một Fidel lăn lộn, đồng cam cộng khổ, “rất chi là” chia ngọt sẻ bùi với Việt
Nam. Tôi rất ấn tượng và có cảm tình với ông.
Sau 1975, Cu Ba vẫn giúp Việt Nam hàn gắn vết thương chiến
tranh. Công trình ấn tượng nhất với tôi, có lẽ là đoạn đường Xuân Mai-Sơn Tây
khoảng 30 cây số. Cũng có lẽ, đây là con đương đẹp nhất miền Bắc sau chiến
tranh. Đẹp và chất lượng nhất. Dân miền Bắc gọi là đường Cu Ba, cũng mang theo
tình cảm đó.
Tôi có dịp dừng chân trên con đường này ngày công nhân Cu Ba còn
đang xây dựng để xem công trình rất được “bàn tán”. Cùng xem với tôi, vì hiếu kỳ,
còn rất nhiều người khác. Tôi đã thấy những người công nhân Cu Ba làm việc cật
lực như làm việc cho đất nước của họ, như cho chính nhà họ. Và một điều bất ngờ,
một người công nhân nói: “Cu Ba làm, Việt Nam chơi”. Khi nói đến từ Cu Ba, anh
ta chỉ vào ngực mình, khi nói đến từ Việt Nam, anh ta chỉ vào người đang xem đứng
cạnh anh. Tôi ngượng, còn đám đông thì cười vui vẻ như trò đùa. Anh công nhân
Cu Ba còn nói đi nói lại câu đó.
Có thể có những người công nhân chưa hiểu hết cái gọi là “phong
tục”, tính cách tò mò của người Việt Nam chúng ta. Nhưng qua sự việc đó, thấy
còn thể hiện phần khác quan trọng hơn, người ta làm việc ra làm việc, còn người
Việt chúng ta vốn cũng chẳng cần cù, chăm chỉ như sách báo vẫn tuyên truyền, ca
ngợi. Sau này tôi còn nghe kể:“ Họ, những người Cu Ba sang giúp Việt Nam làm
con đường đó, không bao giờ nghỉ trước giờ làm việc. Nếu một việc nào đó còn dở
dang khi đã gần hết giờ, họ sẽ làm đến tận cùng cho xong, dẫu có quá giờ.” Dẫu
đó chỉ là nghe nói, nhưng trong suy nghĩ của tôi, cách làm việc của họ hơn người
Việt mình là cái chắc. Người dân Cu Ba, qua ảnh hưởng của Fidel, với Việt Nam vẫn
có một mối thiện cảm đặc biệt.
Những ngày đó đã lâu rồi. Đến gần đây, có thể vì những bất đồng
trong các mối quan hệ quốc tế, tình cảm Cu Ba-Việt Nam một thời gian lâu sau mới
được hâm nóng. Đó là Việt Nam đã đổi mới, còn Cu Ba vẫn trì trệ vì kiên định
XHCN. Sau này, đôi khi có những chuyến thăm viếng của các vị lãnh đạo nước ta với
những món quà mấy trăm cái máy tính hoặc ngàn tấn gạo giúp Cu Ba những lúc khó
khăn, tôi vẫn thấy không xứng tình cảm ngày xưa người Cu Ba với dân mình trong
hoạn nạn.
Fidel đã đến Việt Nam ba lần. Mỗi lần ông đến, tôi đều thấy tình
cảm của người Việt Nam đón tiếp ông rất chân thành. Liệu tôi có chủ quan?
Với Fidel, tôi cũng như rất nhiều người Việt Nam chỉ biết ông
qua tuyên truyền. Vài ba chục năm lại đây, ít nói đến ông vì những lý do tế nhị
gì đó mà dân đâu có biết. Tôi vẫn ngưỡng mộ ông, sự ngưỡng mộ có từ thời trai
trẻ với suy nghĩ ông là một con người đặc biệt, hiếm có, ngoài tình cảm với Việt
Nam ông còn có tác động đến thế giới với những bài phát biểu hùng hồn, không giấy
tờ, dài ba bốn tiếng, lôi cuốn lòng người và đọng để cho đời.
Ông là một trí thức, một người có học, một luật sư thực thụ và
vì thế, trước tòa án của chế độ độc tài Ba-ti-sta, trước ngày cách mạng dành được
chính quyền, ông đã tự bào chữa cho mình với câu nói nổi tiếng
“Cứ kết án tôi đi. Điều đó không quan trọng.
Lịch sử sẽ phán xét tôi vô tội” – Ông nói năm 1953, khi tự bào chữa
cho mình tại phiên xét xử những chiến sỹ cách mạng tham gia cuộc tấn công trại
lính Moncada ở tỉnh miền Đông Santiago de Cuba, trong đó Fidel chính là người
khởi xướng và chỉ huy.
Ông
và Đi-mi-tơ-rốp của Bun-ga-ri đã có dịp lên án chế độ độc tài Ba-ti-sta hay
phát xít Hítle ngay tại tòa án của chúng. Câu nói đó cũng như câu nói của thày
giáo Lê Quang Vịnh “Tiếc rằng nó (quả lựu đạn) không nổ” là những câu nói để đời
của những con người dám hy sinh cho lý tưởng.
Còn
vì sao, các bạn của tôi không có thiện cảm với ông, thậm chí có người còn có những
lời lẽ kết án ông, coi ông như một tội đồ, một “thây ma” sống dai dẳng với những
tội lỗi nặng nề?
Với
tôi, quả thật, làm một người dẫn đường như Fidel (và với bất kỳ ai, dân tộc nào
cũng vậy) để nhân dân Cu Ba sống trong cảnh thiếu thốn, bất hạnh là một tội lỗi.
Phải nghiêm khắc nói là một kẻ có tội. Tôi cho rằng như thế là chính xác. Rồi sẽ
đến lúc lịch sử sẽ phán xét ông, xem lại thời kỳ đất nước dưới sự dẫn dắt của
ông, đâu là công và đâu là tội như ngày nào ông đinh ninh “lịch sử sẽ phán xét
ông vô tội”. Tiếc rằng câu nói đó xảy ra khi ông còn rất trẻ, con đường đi tìm
khát vọng dân chủ, hạnh phúc của ông cho người Cu Ba đã quá lâu rồi, ông đã trị
vì trên hòn đảo nhỏ bé xinh đẹp quá lâu. Ông cũng đã nhiễm căn bệnh sùng bái cá
nhân như một số bậc tiền bối.
Từ
sau khi Liên Xô sụp đổ, những người như ông vẫn cứ u mê với những lý luận của
Mác về tiến hóa xã hội là một sự trì trệ, bảo thủ. Ông cứ kiên định Cu Ba theo
CNXH, vẫn cố tình như không thấy thế giới đã thay đổi là sai lầm mà sai lầm
ngày càng thấy rõ. Với con mắt chậm chạp hoặc cổ hủ của ông, ông đã làm tổn hại
dân tộc Cu Ba. Điều này, vài năm trước khi mất, chắc ông đã nhận ra. Nhưng con
người luôn có một sự bảo thủ ghê gớm, đặc biệt có những kẻ tự huyễn hoặc về sự
vĩ đại của mình.
Có
thể ông là như thế.
Mới
hay, không có gì để có thể thay đổi khi cứ giữ mãi, tôn sùng mãi một con người,
một chính đảng. Sự sai lầm luôn đi đôi với thời gian tồn tại của con người và
chính đảng của nó.
Hơn
lúc nào hết, qua sự việc con người Fidel, đất nước Việt Nam cần một sự lột xác
để đi lên.
Vinh
Anh 28/11/16

