Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Fidel, Cu Ba và tình cảm của tôi



Fidel, Cu Ba và tình cảm của tôi

Mấy hôm nay bận, chỉ lướt qua vài dòng tin về việc Fidel qua đời. Thấy các bạn trên face.  nói về Fidel với những điều theo mình không thật công tâm, hoặc do các bạn còn trẻ, chưa thấm cái tình ngày xưa của Fidel và CuBa với dân mình, hoặc do “cái” ngày nay có nhiều chuyện xảy ra trong nước và thế giới bởi các chế độ hiện tại nhưng có tính độc tài, phản dân chủ, cảm thấy có bạn có phần nói hơi quá về Fidel. Mình cũng tham gia vài ý. Nếu bạn nào ném đá to, mình sẽ tranh luận lại, con đá nhỏ thì cho qua.


Fidel qua đời, tôi không bất ngờ vì sức khỏe của ông đã được dự báo từ trước, ông đã rời bỏ mọi chức vụ mình tuy không thể nói ảnh hưởng lớn của ông vẫn còn với đông đảo nhân dân và đất nước Cu Ba. Thương tiếc không? Cũng chỉ “vậy là rồi ai cũng chết” với một nỗi buồn nhè nhẹ của riêng mình như gió thoảng mà thôi. Vì thật ra, tin tức về ông và về Cu Ba cũng “khoan nhặt” lắm. Bởi cũng đã từ lâu, tình cảm hoặc quan hệ nhà nước giữa VN-CB cũng có chiều phai nhạt (nhận xét của cá nhân tôi) vì như đã nghe đồn, Fidel hoặc Đảng Cộng sản Cu Ba, sau “cái” đổi mới lần đầu của Việt Nam, đã có phần nghi ngờ sự trung thành với chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản, và đặc biệt, đã dần xa rời chủ nghĩa Mác, thứ chủ nghĩa mà Fidel thờ phụng, suốt đời tuân theo.
Ở nước ta, không có những cá nhân bỏ công sức và cuộc đời để nghiên cứu tiểu sử những con người cụ thể, có thể gọi đơn giản, dễ hiểu là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng với thế giới. Tất cả những nhân vật được gọi là học giả hoặc viện này viện khác của Việt Nam, khi nghiên cứu lịch sử một cá nhân nào đó, một vấn đề thời sự nóng bỏng xảy ra trên thế giới đều theo định hướng, vì thế đương nhiên, đó đều là những kết quả không có giá trị.
Với Fidel cũng vậy. Tôi nghĩ con người nay có ảnh hưởng đến thế giới, chí ít cũng ở Châu Mỹ La tinh, rất đáng để người Việt nam, mà ít ra cũng nửa dân số một thời yêu mến, cảm phục phải để tâm nghiên cứu. Chúng ta có chuyện để nói đến con người này, cũng đa phần xuất phát từ tình cảm yêu mến cá nhân, từ sự căm ghét chế độ độc tài mà Cu Ba là một thể chế điển hình không kém Việt Nam, để lại ảnh hưởng và di hại rất lớn cho nhân dân Cu Ba một thời gian rất dài và khắc phục được nó cũng cần một thời gian dài không kém.
Dông dài nhập đề như vậy là đủ. Tôi xin nói về tình cảm của mình như đầu đề bài viết.
Thế hệ tôi ở miền Bắc là cái thời vô cùng thiếu thốn thông tin. Tôi phải nhấn mạnh là thời kỳ đói thông tin ghê gớm, tất cả những gì dân chúng biết được về thế giới đều thông qua báo đảng, Cu Ba và Fidel được biết đến trong điều kiện đó. Vì thế, Cu Ba và Fidel có một sự liên kết máu thịt gần như là thiêng liêng. Cu Ba là một nước nhỏ và lạc hậu như các nước vùng Ca-ri-bê cách đây dăm sáu chục năm, nhưng người ta chỉ biết Cu Ba là một đất nước anh hùng. Cu Ba so với mặt bằng các nước xã hội chủ nghĩa ngày đó cũng là một nước nghèo, chỉ đứng trên Việt Nam. Cu Ba chỉ có đường và mía, một đất nước nhỏ với chưa đến chục triệu dân nhưng có chương trình 10 triệu tấn đường. (Hình như sau đó kế hoạch này thất bại). Người miền Bắc đã từng ăn đường màu vàng của Cu Ba.
Còn cụ thể tình cảm với Việt Nam là câu nói của Fidel: “Vì Việt Nam, Cu Ba không tiếc máu của mình” và Fidel cũng như đồng bào của ông có phong trào góp máu cho Việt Nam. Vâng, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, huống hồ đây là máu.
Sâu lặng hơn những lời tuyên bố là hành động cụ thể. Cu Ba đã giúp Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh. (Cuộc chiến không mong muốn mà người miền Bắc ai ai cũng phải tham gia. Hầu hết người miền Nam cũng vậy. Lịch sử đã xảy ra như thế và bây giờ những ai lên án, cứ như là chúng ta đứng ngoài cuộc. Không, tất cả chúng ta, những người thuộc thế hệ tôi, đều có lỗi với lịch sử và những đau khổ tang thương đã xảy ra). Trên tuyến đường Trường Sơn mở rộng sau hiệp nghị Pa-ri để cho “những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến”, tôi đã thấy rất nhiều máy móc làm đường, mà nghe nói có phần rất nhiều của Cu Ba. Nên nhớ, trước hiệp định pa-ri, máy móc làm đường đưa vào Trường sơn được rất ít.
Năm 1973, như một sự tình cờ, khi Fidel của Cu Ba vào tận vùng giải phóng Quảng Trị và tôi vì nhiệm vụ riêng, hoàn toàn không liên quan đến chuyến thăm của ông, luôn đi sau những nơi ông đến trên đất Quảng Trị. Chuyện ông dừng xe bên đường ngày đó để cứu giúp một người dân bị thương vì bom đạn chiến tranh có thể là tiền đề cho bệnh viện Đồng Hới sau này Cu Ba tặng cho nhân dân Việt Nam. Hình ảnh ông phất cờ, đạp chân lên nòng pháo “vua chiến trường” ở căn cứ Đầu mầu trên vùng đất còn đầy bom đạn, thể hiện một điều gì đó một Fidel lăn lộn, đồng cam cộng khổ, “rất chi là” chia ngọt sẻ bùi với Việt Nam. Tôi rất ấn tượng và có cảm tình với ông.
Sau 1975, Cu Ba vẫn giúp Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh. Công trình ấn tượng nhất với tôi, có lẽ là đoạn đường Xuân Mai-Sơn Tây khoảng 30 cây số. Cũng có lẽ, đây là con đương đẹp nhất miền Bắc sau chiến tranh. Đẹp và chất lượng nhất. Dân miền Bắc gọi là đường Cu Ba, cũng mang theo tình cảm đó.
Tôi có dịp dừng chân trên con đường này ngày công nhân Cu Ba còn đang xây dựng để xem công trình rất được “bàn tán”. Cùng xem với tôi, vì hiếu kỳ, còn rất nhiều người khác. Tôi đã thấy những người công nhân Cu Ba làm việc cật lực như làm việc cho đất nước của họ, như cho chính nhà họ. Và một điều bất ngờ, một người công nhân nói: “Cu Ba làm, Việt Nam chơi”. Khi nói đến từ Cu Ba, anh ta chỉ vào ngực mình, khi nói đến từ Việt Nam, anh ta chỉ vào người đang xem đứng cạnh anh. Tôi ngượng, còn đám đông thì cười vui vẻ như trò đùa. Anh công nhân Cu Ba còn nói đi nói lại câu đó.
Có thể có những người công nhân chưa hiểu hết cái gọi là “phong tục”, tính cách tò mò của người Việt Nam chúng ta. Nhưng qua sự việc đó, thấy còn thể hiện phần khác quan trọng hơn, người ta làm việc ra làm việc, còn người Việt chúng ta vốn cũng chẳng cần cù, chăm chỉ như sách báo vẫn tuyên truyền, ca ngợi. Sau này tôi còn nghe kể:“ Họ, những người Cu Ba sang giúp Việt Nam làm con đường đó, không bao giờ nghỉ trước giờ làm việc. Nếu một việc nào đó còn dở dang khi đã gần hết giờ, họ sẽ làm đến tận cùng cho xong, dẫu có quá giờ.” Dẫu đó chỉ là nghe nói, nhưng trong suy nghĩ của tôi, cách làm việc của họ hơn người Việt mình là cái chắc. Người dân Cu Ba, qua ảnh hưởng của Fidel, với Việt Nam vẫn có một mối thiện cảm đặc biệt.
Những ngày đó đã lâu rồi. Đến gần đây, có thể vì những bất đồng trong các mối quan hệ quốc tế, tình cảm Cu Ba-Việt Nam một thời gian lâu sau mới được hâm nóng. Đó là Việt Nam đã đổi mới, còn Cu Ba vẫn trì trệ vì kiên định XHCN. Sau này, đôi khi có những chuyến thăm viếng của các vị lãnh đạo nước ta với những món quà mấy trăm cái máy tính hoặc ngàn tấn gạo giúp Cu Ba những lúc khó khăn, tôi vẫn thấy không xứng tình cảm ngày xưa người Cu Ba với dân mình trong hoạn nạn.
Fidel đã đến Việt Nam ba lần. Mỗi lần ông đến, tôi đều thấy tình cảm của người Việt Nam đón tiếp ông rất chân thành. Liệu tôi có chủ quan?

Với Fidel, tôi cũng như rất nhiều người Việt Nam chỉ biết ông qua tuyên truyền. Vài ba chục năm lại đây, ít nói đến ông vì những lý do tế nhị gì đó mà dân đâu có biết. Tôi vẫn ngưỡng mộ ông, sự ngưỡng mộ có từ thời trai trẻ với suy nghĩ ông là một con người đặc biệt, hiếm có, ngoài tình cảm với Việt Nam ông còn có tác động đến thế giới với những bài phát biểu hùng hồn, không giấy tờ, dài ba bốn tiếng, lôi cuốn lòng người và đọng để cho đời.
Ông là một trí thức, một người có học, một luật sư thực thụ và vì thế, trước tòa án của chế độ độc tài Ba-ti-sta, trước ngày cách mạng dành được chính quyền, ông đã tự bào chữa cho mình với câu nói nổi tiếngCứ kết án tôi đi. Điều đó không quan trọng. Lịch sử sẽ phán xét tôi vô tội”Ông nói năm 1953, khi tự bào chữa cho mình tại phiên xét xử những chiến sỹ cách mạng tham gia cuộc tấn công trại lính Moncada ở tỉnh miền Đông Santiago de Cuba, trong đó Fidel chính là người khởi xướng và chỉ huy.
Ông và Đi-mi-tơ-rốp của Bun-ga-ri đã có dịp lên án chế độ độc tài Ba-ti-sta hay phát xít Hítle ngay tại tòa án của chúng. Câu nói đó cũng như câu nói của thày giáo Lê Quang Vịnh “Tiếc rằng nó (quả lựu đạn) không nổ” là những câu nói để đời của những con người dám hy sinh cho lý tưởng.

Còn vì sao, các bạn của tôi không có thiện cảm với ông, thậm chí có người còn có những lời lẽ kết án ông, coi ông như một tội đồ, một “thây ma” sống dai dẳng với những tội lỗi nặng nề?
Với tôi, quả thật, làm một người dẫn đường như Fidel (và với bất kỳ ai, dân tộc nào cũng vậy) để nhân dân Cu Ba sống trong cảnh thiếu thốn, bất hạnh là một tội lỗi. Phải nghiêm khắc nói là một kẻ có tội. Tôi cho rằng như thế là chính xác. Rồi sẽ đến lúc lịch sử sẽ phán xét ông, xem lại thời kỳ đất nước dưới sự dẫn dắt của ông, đâu là công và đâu là tội như ngày nào ông đinh ninh “lịch sử sẽ phán xét ông vô tội”. Tiếc rằng câu nói đó xảy ra khi ông còn rất trẻ, con đường đi tìm khát vọng dân chủ, hạnh phúc của ông cho người Cu Ba đã quá lâu rồi, ông đã trị vì trên hòn đảo nhỏ bé xinh đẹp quá lâu. Ông cũng đã nhiễm căn bệnh sùng bái cá nhân như một số bậc tiền bối.
Từ sau khi Liên Xô sụp đổ, những người như ông vẫn cứ u mê với những lý luận của Mác về tiến hóa xã hội là một sự trì trệ, bảo thủ. Ông cứ kiên định Cu Ba theo CNXH, vẫn cố tình như không thấy thế giới đã thay đổi là sai lầm mà sai lầm ngày càng thấy rõ. Với con mắt chậm chạp hoặc cổ hủ của ông, ông đã làm tổn hại dân tộc Cu Ba. Điều này, vài năm trước khi mất, chắc ông đã nhận ra. Nhưng con người luôn có một sự bảo thủ ghê gớm, đặc biệt có những kẻ tự huyễn hoặc về sự vĩ đại của mình.
Có thể ông là như thế.
Mới hay, không có gì để có thể thay đổi khi cứ giữ mãi, tôn sùng mãi một con người, một chính đảng. Sự sai lầm luôn đi đôi với thời gian tồn tại của con người và chính đảng của nó.
Hơn lúc nào hết, qua sự việc con người Fidel, đất nước Việt Nam cần một sự lột xác để đi lên.
Vinh Anh 28/11/16



Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

CẢI TẠO XÃ HỘI

Cải tạo xã hội

Tôi suy nghĩ và chọn cách nói sao cho thích hợp hơn với đông đảo. Tôi muốn mọi người nên có sự thay đổi trong suy nghĩ, một sự đổi mới trong hành động, khác với những chuyển động  chậm chạp, trì trệ, giáo điều hiện nay. Nghĩa là muốn có sự thay đổi thật sự xã hội hiện nay. Đã thay đổi thì không thể ù lì. Vậy thì phải cải tạo xã hội này đi, xây dựng xã hội mới đi. Cải tạo ở đây cũng chính là tự làm mới mình, tự thay đổi mình cho thích hợp với hoàn cảnh.
Ở nước ta, người dân và đặc biệt là giới công chức, trí thức, chẳng hiểu vốn dĩ từ bao giờ, có thể là từ rất “cổ xưa” nhưng chưa xa lắm, mới chỉ dăm, sáu chục năm thôi, bản tính là lười nhác, lười động não, lừng khừng trong nhiều vấn đề nhạy cảm. Đó là những thể hiện đã thành quá quen thuộc, như đã bám sâu thành nếp. Cần tạo ra động lực mới để có thể thúc đẩy xã hội tiến bộ. Bởi vậy cần “cải tạo, cần “thay đổi”. Cải tạo trong một nghĩa hẹp hơn cũng chính là sự thay đổi, từ ngữ dễ chấp nhận.
Nó dễ chấp nhận bởi nó không nặng nề như “đấu tranh”. Cải tạo có gì đó gần gũi, dính dáng với bản thân con người. “Đấu tranh” là cái gì đó máu lửa có tính cách mạng, thay đổi “sock”, khiến con người dễ chùn bước, ngại rồi sợ và cuối cùng là thu mình,rụt cổ trong vỏ ốc. Họ, những trí thức và số công chức lười nhác sẵn sàng ngồi đó chờ đợi cả đời để “gió cuốn đi”, để “nước trôi qua cầu”, để “thời gian” trả lời, giải quyết. Rốt cuộc là cả cuộc đời sẽ chẳng chứng kiến được điều gì mới mẻ xảy ra hết.
Câu hỏi đặt ra: Liệu với những suy nghĩ mang tính “ôn hòa”, chờ thời như vậy, đến khi nào có thể hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn xã hội hiện nay? Theo tôi có hai cách trả lời chia cho hai loại người (đều mang tính lười nhác) mà tôi hướng đến
1/ Sẽ chẳng bao giờ thay đổi được cuộc sống hiện nay.
2/Sẽ thay đổi nhưng rất lâu và không biết đến bao giờ.
Thực chất của câu trả lời vẫn là chẳng muốn thay đổi, sợ thay đổi, đã thỏa mãn với cái hiện tại.
Nhưng cần nhận biết, những người có hai cách trả lời như vậy là ai? Xin thưa, đó là hầu như là tất cả chúng ta. Chúng ta đấy các bạn ạ. Bởi chúng ta vẫn sợ sự thay đổi đến và vẫn cứ hài lòng với số phận hiện nay như một thể hiện đã được cuộc đời xếp đặt.
Vậy làm sao có thể cải tạo được xã hội hiện nay nếu cảnh “ôn hòa” hiện thời vẫn tiếp diễn? Tôi bi quan, khó và chắc không có con đường nào dẫn đến thay đổi hết. Lịch sử dẫu ngắn cũng đã chứng minh được, hết lớp này đến lớp khác, đã gần nửa thế kỷ trôi, mà lãnh đạo đất nước càng ngày càng tồi, càng kém, càng mất uy tín trong con mắt người dân. Còn người dân và trí thức vẫn cứ chìm sâu trong u mê, mơ hồ và giả tạo thỏa mãn với hiện tại. Thỏa mãn với kiểu cổ xưa của cha ông: “Trông lên thì chẳng bằng ai?trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình”.

Thì phải làm thế nào, phải có cách chứ?
Tôi lại nghĩ đến thành phần quan trọng mà tôi không mấy thiện cảm, có thể thúc đẩy xã hội thay đổi nhanh hơn, đó là sự giác ngộ, sự thay đổi cách nhìn, sự dám dấn thân của trí thức. Nếu lớp người này thay đổi cách nhìn về “cái tôi ích kỷ” sẵn có và rất nặng nề trong con người họ, sẽ thay đổi được xã hội. Họ phải biết và có trách nhiệm với xã hội. Người dân đòi hỏi họ phải sống khác hiện nay, phải dám dấn thân hơn.
Nhưng rồi tôi lại không tin lớp người được coi là đã “ổn định” trong cuộc đời này có thể hành động và tôi nghĩ đến lớp trẻ và tôi nghĩ đến Phan Anh.
Thử xem lại hiện tượng Phan Anh. Phan Anh là một dẫn chứng cho thấy kết quả tác động vào những tâm hồn đã chai lỳ, vô cảm với những tiêu cực bất cập đã và đang tồn tại.
Phan Anh trẻ, nhiệt huyết và nổi tiếng. Đúng! Nhưng trước hết Phan Anh là người  hiểu biết và nhạy bén. Sẵn tấm lòng đồng cảm, trái tim nhân hậu với những nỗi đau cuộc đời và cuối cùng là một Phan Anh dám dấn thân, gạt đi tất cả những lời ghen ghét và đe dọa để thực hiện ý tưởng của mình. Có thể nói, Phan Anh đã hy sinh, cũng có thể nói Phan Anh đã và sẵn sàng chấp nhận những rủi ro sẽ đến trong cuộc sống. Cuộc đời cần những con người như Phan Anh.
Tại sao tôi nói đến Phan Anh khi đồng thời nói đến lực lượng “hùng hậu” trí thức nước nhà? Đơn giản là tôi kỳ vọng và cao hơn, tôi đòi hỏi. Và Phan Anh sẽ là một cú hích vào sự trì trệ, ù lì.
Thử hỏi, dân chúng bây giờ muốn nghe Ngô Bảo Châu hay muốn nghe Nguyễn Phú Trọng? (Tôi nói đến Ngô Bảo Châu vì ông ta là người nổi tiếng trong khoa học và cũng nổi tiếng trong một số vấn đề xã hội mà ông tham gia viết bài phản biện như vụ án Cù Huy Hà Vũ hay một số quan điểm về chủ quyền…). Theo tôi, người dân vẫn muốn nghe Nguyễn Phú Trọng hơn. Ông Trọng “nổi tiếng” hơn Ngô Bảo Châu vì ông ta là “vua”, vua quyết định vận mệnh của dân!
Người đời phải nghe bởi ông ta là vua chứ không phải vì những lời lẽ sắc sảo, thuyết phục nhân tâm của một chính khách.
Ở ông Châu, người ta nghe và chỉ như muốn biết thêm một phát kiến mới, cái mới đó cũng như cái “bổ đề” của ông, thích nghe, có chút tự hào dân tộc và chẳng thể làm theo. Ông có nói hay bao nhiêu thì vẫn chỉ là một số phận trong cái rọ trí thức nước nhà. Những người nghe ông Châu không nhiều. Người ta khâm phục, người đời ca ngợi cũng vẫn đơn thuần với cái nghĩa hiểu như trên. Ông chưa có sức lôi cuốn. Vậy là ông Châu vẫn chỉ đơn giản là nhà khoa học, chưa phải là người công chúng đặt niềm tin, chưa được liệt vào những người hoạt động chính trị, có thể mang lại niềm hy vọng thay đổi đất nước. Ở ông Châu vẫn chưa có những ý tưởng lớn hàm chứa sự thay đổi xã hội, mang tính chính trị. Thời cơ chưa đến và chưa thấy động thái nào ông Châu thể hiện điều đó.
Tôi không đủ khả năng nghiên cứu về một nhân vật khác, bà Aung Soo key. Nhưng qua truyền thông, tôi biết, từ một phụ nữ gia đình đến khi trở thành lãnh đạo của một đảng đối lập tại Miến Điện, bà phải hy sinh, phải dấn thân và kết quả là hai chục năm bị giam cầm mới thức tỉnh được cộng đồng và có một vị trí như hôm nay. Tất nhiên không thể bỏ qua xuất thân và ảnh hưởng từ người cha của bà.
Ở nước ta chưa có những người đạt đến “độ” như bà vì điều kiện đất nước chưa cho phép hình thành một đảng đối lập. Nhưng tôi nghĩ, chả có chế độ nào dung túng cho những nhân vật sau này sẽ nhăm nhăm lật đổ họ hết. Phải tự mình tạo ra “phe” đối lập.
Chúng ta cũng đã có những lớp người có khát vọng xây dựng một chế độ mới, sẵn sàng xả thân. Trong ngục tù, hiện nay có Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Mẹ Nấm, Cấn Thị Thêu… Ngoài “tự do” hiện nay có Nguyễn Quang A, Nguyễn Đan Quế… Hải ngoại có Cù Huy Hà Vũ, Điếu cày, Tạ Phong Tần… có thể đảm nhận được vai trò đó, một khi phong trào dân chủ, đòi hỏi xã hội thay đổi lớn mạnh.
Đòi hỏi để có sự lớn mạnh mà không hoạt động thì lại chỉ là ngồi “há miệng chờ sung”. Chúng ta phải gắn kết lại thành một khối, một mục đích.
Rất tiếc, chúng ta chưa tụ hội được lực lượng trong một khối, mặc dầu đã có manh nha sự nhen nhóm: không ít cá nhân đã tự liên kết với nhau trong các hội đoàn được tự thành lập.
Theo tôi, điều hạn chế để chúng ta không thống nhất được thành một khối mạnh là vì chúng ta đang tự xé lẻ lực lượng và điều đó cũng có nghĩa là tự làm suy yếu mình. Hơn ai hết, những tên tuổi mà quần chúng đã từng biết hãy nhận rõ điểm yếu này, nắm lấy thời cơ này, không phải vì mình mà là vì phong trào dân chủ, đổi mới phải tự đứng ra thành lập một tổ chức thống nhất, có tổ chức rồi chúng ta sẽ có ngọn cờ chung, mục đích chung, không chia lẻ thành những mục tiêu manh mún làm suy yếu lực lượng nữa.
Trước hết, hãy kêu gọi hãy đấu tranh đòi hỏi sự đối thoại của nhà cầm quyền như giáo sự Chu Hảo đã lên tiếng. Nhưng chỉ đối thoại thôi, vẫn chưa được ủng hộ nhiệt tình của các “hội đoàn”.

Thấy khó quá!
                                                                                                           Vinh Anh 6/11/16