Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2025

Đâu rồi người ngày ấy (bản chính) ước gì trở lại ngày xưa ước gì trở lại ngày chưa biết buồn Tôi, thằng Tiên và nó cùng lứa. Ngày đó, chúng tôi còn bị gọi là trẻ con. Tôi ngô nghê, rất dát gái, không dám nhìn lâu lâu bất cứ đứa con gái nào. Ngược lại, thằng Tiên bạo khủng khiếp, đặc biệt mồm mép nó nhanh nhẹn một cách kỳ diệu, tuỳ tuổi tác từng đối tượng, nó anh anh em em hoặc cậu cậu tớ tớ với đối tượng rất chi là nhạy bén, theo tôi, lại còn cực kỳ có duyên. Về mọi công việc, nó tháo vát hơn tôi bội phần, đương nhiên cả chuyện làm thế nào để bắt chuyện được với đứa con gái mình thích, nói rõ thì đó là nghệ thuật tán gái. Chúng tôi chơi với nhau từ còn học cấp 1, qua cấp 2. Sau đó mỗi đứa mỗi nơi. Khoảng đầu, vẫn gặp nhau, vẫn vui vẻ như xưa. Điểm quan trọng nhất là chẳng có gì thay đổi. Đấy là tôi, còn nó, còn thằng Tiên, tôi cũng chẳng hơi đâu tìm hiểu. Sau này sóng gió xô dạt tôi xa chúng nó, xa mãi. Tôi hay nhớ về những ngày đó, hay nói về cái ngày còn trẻ con đó, đó là nói những chuyện chơi bời, đùa nghịch, sau lớn dần, cũng nói về tình yêu. Học hành thì đa phần tôi nói, tình yêu là phải có con trai và con gái. Thằng Tiên nhiều chuyện về con gái hơn tôi và thằng Tiên thích đi chơi với tôi, vì bên cạnh tôi, nó nổi hơn rất nhiều. Ngược lại, tôi cũng thích đi chơi với nó, vì có đi với nó, tôi mới có thể dám đứng trước một đứa con gái, dù không biết nói gì, chuyện đó đã có thằng Tiên, không khí chắc sẽ không im lìm lặng lẽ vô vị trôi theo theo dòng nước hoặc bay theo những ngọn gió cũng rất vu vơ, vô vị. Chúng tôi chơi thân với nhau vì những cá tính khác nhau như vậy đấy. Chúng tôi học cùng lớp nhưng nhà khác xóm, đến nhà thằng Tiên mất chừng mười phút, không ít hơn, vậy mà thời học cấp hai, hôm nào chúng tôi cũng đến trường cùng nhau. Tôi ở cùng xóm với cái nó nên nó thường rủ tôi đi học. Còn tôi nhớ thằng Tiên. Đến chỗ hẹn hằng ngày chờ nó. Có khi tôi bảo nó đi trước, tôi phải chờ. Nó dỗi, không nói một lời. Tôi nhìn theo bím tóc đuôi sam của nó vắt vẻo sau lưng, thấy như mình có lỗi với nó. Thằng Tiên đến, thấy bóng nó phía trước, nó bảo chạy nhanh lên để cùng đi với với nó. Hai đứa tôi đuổi kịp, nó quay lại cười với thằng Tiên với nụ cười mà tôi thấy đẹp như hoa nhưng có vẻ không phải cho tôi. Tôi bỗng thấy buồn buồn sao ấy mà không biết nói với nó thế nào cho nó hiểu. Hôm sau, tôi ra trước đứng trên đường đón nó, nó nhìn thấy tôi thì trở gót, quay lại, động tác như biểu lộ bỏ quên cái gì đó, phải quay lại nhà. Tôi đứng đợi, không thấy nó xuất hiện. Nó vòng đi đường khác, lối mà thằng Tiên phải đi, xa hơn. Nhưng vẫn đến chỗ tôi chờ thằng Tiên. Thấy tôi, nó đi lùi lại phía sau, không đi cùng hàng với hai đứa tôi. Thằng Tiên quay lại, lại là thằng Tiên chứ không phải tôi, chờ nó lên cùng đi. Nó vẫn không thèm nhìn tôi, không nói với tôi một lời. Còn tôi thì vẫn cứ ngại, rất muốn nói với nó mà không biết nói gì, tôi còn sợ nữa. Sợ là lo cái hớ hênh của tôi lại làm nó giận thêm. Vậy là sáng đó, chỉ có thằng Tiên nói suốt đoạn đường. Tôi không nghe thằng Tiên nói gì hết, cả chặng đường chỉ nghĩ loăng quăng về nó. Có cái điều, cũng bỗng dưng hôm nay tôi mới để ý và nhận ra một mùi hương phảng phất qua làn gió thổi nhẹ khi nó đi ngang qua tôi, và cố tình lùi lại. Mùi hương thoảng lắm, nhẹ lắm mà tôi cảm nhận được qua không gian, cái không gian của ba chúng tôi trong buổi sớm trong veo, còn thấy rõ những hạt sương long lanh đọng trên ngọn cỏ ánh lên trong tia nắng sớm, đó là hương con gái, hương con gái tuổi mười bốn, mười bốn trăng chưa thật tròn nhưng ưa nhìn lắm rồi. Ngày đó nó mười bốn tuổi. Rồi như sự giận dỗi cũng tự nhiên trôi qua, nỗi buồn ngớ ngẩn trong tôi cũng chỉ thoảng như gió nhẹ, đến cuối tuần, tôi lại thấy nụ cười của nó đọng trên mắt tôi, tôi cũng nhìn nó tự nhiên hơn nhưng mùi hương thì tôi giữ, tôi cất nó cẩn thận trong trí nhớ của tôi. Bây giờ thì tôi phân biệt được mùi hương đó và mùi bồ kết, hương nhu hay hoa bưởi cài trên mái tóc. Nó giống nhau nhưng độ “bay thoảng qua” của nó khác nhau. Khác nhau thế nào, khó nói lắm nhưng tôi cam đoan là có cái khác. Tôi vốn không có khả năng diễn đạt được suy nghĩ của mình cho người ngoài hiểu được. Tôi thèm cái mồm liến thoắng của thằng Tiên. Thằng Tiên dí dỏm kễ cho tôi và nó chuyện hoa bưởi ở nhà nọ. Chẳng là nhà nó có bà chị đã đến tuổi yêu. Nó kể: “Chị ta người lúc nào cũng thơm hương hoa bưởi, như mày ấy, thằng Tiên nhìn nó. Hoa bưởi nó thoang thoảng nhưng khiến người khác quyến luyến. Mỗi lần tụ tập chơi bời ở đâu đó là chị ta không quên gài lên tóc nhánh hoa bưởi, có khi cả chùm ấy. Mày mà mê thằng nào, mày làm thử xem. Thằng Tiên quay mặt về phía nó, bâng quơ, sẽ khối thằng quyến luyến mày… “ Nó giơ tay đập mạnh vào vai thằng Tiên: “Tao thừa biết những thứ đó, không cần mày dạy…” “Thật à, thế hôm nay mày muốn chúng tao quyến luyến mày, đúng không?” Thằng Tiên vừa nói vừa cười khì khì: “Tao thấy như có mùi hoa bưởi trong người mày đấy…” “Cho chết này, cho mày chết này…” Nó vừa hai tay đập tay vào thằng Tiên, vừa nói rất to: “Cho mày chết này và tao không khiến mày quyến luyến nhé, biết chửa?” Tôi vội can hai đứa, “Thôi, chúng mày vớ vẩn, yêu đương quyến luyến cái gì… nhưng thật thì mùi hoa bưởi cũng thích, nhà tao có cây bưởi vẫn đôi khi thấy bố tao ướp chè, tao sẽ lấy cho mày… ” “Cả mày nữa, tao cũng không khiến…” Nó liếc xéo tôi: “Mày biết gì mà nói, cả ngày không nói được một câu cho rõ nghĩa, về nhà mà đọc sách em ạ… Sách còn viết ra khối cái khác, chứ đâu chỉ hoa bưởi… Đồ dốt”. Tôi im, tự nhiên xen mấy lời rồi bị nó mắng. Tôi lầm bầm: “Thì im, gì mà mày cong cớn thế…mày tưởng tao cái gì cũng ngu chắc… Nhưng mà này, cái mùi mà thằng Tiên nói về mày là mùi con gái đấy, mùi con gái, mày biết không?...” Thằng Tiên cười phá lên: “Thằng này nói hay, hay thật, mùi con gái… Giờ tao mới nghe thấy đấy…” Nó quay sang phía con bé “Nó nói về mày đấy…” Con bé im, chẳng phản ứng, từ mồm nó chỉ phát ra mấy tiếng sì sì, nhưng tôi thấy nó liếc qua tôi rất nhanh, lại như có vẻ thích thích. Cái liếc đó lại đọng trong tôi. Có lần xem phim ngoài trời, phim “Tiếng hát trái tim”. Trong phim có đoạn diễn viên hát mà hình ảnh cho thấy, tất cả những ai nghe thấy tiếng hát đều phải dừng lại, im lặng, lắng lại để nghe. Xe cộ, tàu thuyền, người đi đều đứng lại hết. Tiếng thuyết minh trên phim của lời bài hát mà tôi nhập tâm ngày được là một đoạn thơ “tiếng em như dòng suối mát/như vườn hoa thơm ngát bầu trời/tặng em cả trái tim tôi/trái tim muôn thuở, đời đời không phai…” Khi tan, trên đường về, tôi đọc lại câu thơ cho hai đứa nó nghe. Nó cứ suýt soa, mày thông minh thế, mày nghe vậy mà nhớ được thì mày thuộc loại siêu. Này tao có ý này, mày đã thử sức làm cái gì đó như kịch cọt, hát hò hay thơ phú gì chưa. Tôi lắc đầu, làm gì có tài mà mơ hão. Nó bảo không được, mày có tài đấy, nhưng mày thiếu tự tin. Tôi bỏ qua, tao thì tài cán gì. Tôi chưa khi nào dám đưa cho ai đó một bài thơ mà mình tự làm. Nó có năng khiếu văn nghệ, mà cụ thể là nó hát rất hay. Hình như nó được hưởng di truyền từ mẹ. Nghe nó nói, ngày xưa, mẹ nó cũng hát hay, tham gia thi hát ở nhiều hội thi lắm. Bố nó ngày yêu nhau, có lần ghen vì những cái liếc đưa đẩy trên sân khấu với bạn diễn, nhưng có một lời nguyền, như một giao ước từ bao giờ không biết, các liền anh liền chị chỉ hát với nhau, chỉ dùng những lời ca để ca ngợi tình yêu quê hương tình yêu lứa đôi, chứ không bao giờ thành đôi, thành vợ thành chồng. Sau có con thì bỏ, để cái tình yêu quan họ dở dang đó cho nó, nó tiếp nhận từ mẹ nó đầy đủ và có khi còn hơn vì nó được học hành tử tế hơ mẹ nó. Nhưng trông cái cảnh mẹ như vậy, nó bảo nó cũng chẳng mặn mà. Rồi nó bâng quơ: “Ai biết rồi sự đời thế nào…” nghe rất bà cụ non, rất não nề, đầy tâm trạng muốn chia sẻ, cứ như là đã buông rơi, đánh mất điều gì đó. Trời phú cho nó giọng hát hay thật. Không phải vì chơi với nó mà tôi bênh nó đâu. Giọng nó cao vút và trong vắt, khi thì nghe mảnh mai, thánh thót như tiếng leng keng cốc pha lê chạm vào nhau, khi thì nghe như tiếng hót véo von của con chim vàng anh buổi sớm, để người ta ngước mắt nhìn bầu trời cao xanh, khiến cho lòng người vui vẻ, tâm hồn sảng khoái và hứng thú với cuộc đời. Thêm nữa, cái giọng con gái của nó cũng hát được những bài hùng tráng, hành khúc nghe cũng rất rạo rực, lôi cuốn, rất oai hùng, khí thế… Nhưng với tôi, hay nhất vẫn là khi nó diện mớ ba mớ bảy lên sân khấu với nón quai thao và cất giọng “người ơi người ở đừng về”. Vậy mà tôi lại bảo với nó, mày gánh cả nửa gánh hát của trường, mất tính con gái đi. Nó lườm tôi cháy xém bên má. Tôi vừa cười vừa bảo, tao nói thật đấy. Nó đứng lên, đi không thèm quay lại. Tôi với theo, tao đùa đấy, đừng giận nhé. Về phần tôi, nghe hai đứa chúng nó nói, là hát cũng chẳng đến nỗi tồi, nhưng thật ra, tôi luôn xác định, nó và thằng Tiên động viên tôi mà thôi. Ấy vậy mà cái tính nhút nhát của tôi lại có nguy cơ bị nó đẩy lên sân khấu. Nó luôn bảo tôi, mày phải tự tin, mày phải học thằng Tiên ấy. Sở dĩ thằng Tiên nói năng lưu loát là do nó tự tin. Mày học giỏi, cớ gì lại thiếu bản lĩnh như vậy, không dám tin vào chính mình là sẽ không thành công trong cuộc đời đâu. Tao và hai đứa chúng mày sẽ luyện để cùng hát. Sẽ có ngày chúng ta hát với nhau, cả ba đứa. Vậy mới đặc biệt. Tôi chắp hai tay: “Con lạy bà cụ non, bà nói cứ như mẹ tôi ấy… tôi không hát được và càng không thể lên sân khấu…” Nó xịu mặt. Thằng Tiên thấy vậy can: “Thôi, không việc gì mà căng. Tao thấy cũng được mà, cứ thử cái đã…mày dạy hai thằng tao hát, múa, hay gì cũng được… dám không?” Nó không nhìn tôi: “Con trai mà nhát như cáy…” Dạo đầu năm học cấp hai, chúng tôi đã 15 tuổi, lớn tướng cả, ở quê cũng đã có đứa rậm rịch trầu cau ăn hỏi. Nó cũng phổng phao, dần lộ ra mọi đường nét con gái. Tôi nhiều lúc cứ thích ngắm nó. Nó nhận thấy, không nói gì nhưng quay lưng lại. Thằng Tiên nhấp nhổm nuôi ý định học hết cấp hai xin đi học nghề. Tôi hỏi nghề gì, nó bảo thiếu gì, nhưng tao phải đi. Nhà chúng mày còn đỡ, nhà tao khó hơn, phải nghĩ cách gì giúp gia đình chứ. Tôi lặng đi vì cái buồn bỗng dưng xầm xập đến. Vậy là chúng mình sắp phải chia xa rồi sao. Tôi nhìn nó, mắt nó cũng buồn, lúc này nó cũng thông cảm với tôi, chỉ có thằng Tiên ra cái vẻ cứng rắn. Tao đi trước sẽ hướng dẫn cho chúng mày. Mà này, tao thấy hai đứa mày đẹp đôi đấy. Lần đầu tiên, nhóm chúng tôi nói chuyện đụng đến yêu đương. Nó hứ, nguýt thằng Tiên một cái rõ dài: “Dơ, biết cái gì mà vun mới vén, xếp với đặt thằng ấy đã lớn đâu, còn trẻ con, biết gì…”Thằng Tiên ngửa mặt cười hơ hớ. Tôi cũng cười, ra cái vẻ coi như lời nói của nó cũng chẳng đáng để ý, nhưng tôi bực, nó dám coi mình là trẻ con vậy cơ á. Tôi đến trước mặt nó, lại chắp tay vái nó như lần nào đó, nó cũng lên mặt dạy bảo tôi: “Vâng, bà cụ non của tôi, tôi trẻ con, bà thì già lắm rồi, già lắm, ế đến nơi rồi đấy…” Nó thụi vào sườn tôi một cái rõ mạnh: “Cho chết này… dám hỗn với bà cụ non, hửm?” Sau lần đó, tôi nảy ra ý định ba đứa chúng tôi phải đi chơi xa với nhau một chuyến. Tôi nói, đi để lưu lại kỷ niệm tình bạn chúng mình. Nay mai chắc sẽ không gần nhau được nữa đâu, thời học trò chúng mình như vậy là sắp hết rồi, phải có cái gì lưu lại để nhớ chứ… Tôi nhấn mạnh, ý là cái kỷ niệm muốn lưu lại í. Giá như có cái ảnh chụp ba đứa nhỉ, hay phải biết, quý giá phải biết… Nó và thằng Tiên có vẻ cũng đồng ý, nhưng nó phân vân, đi xa là như thế nào, nó hỏi, đi qua đêm à? Không được đâu. Tao có ý này, đi bằng xe đạp, hai đứa mày đi mượn xe, được không? Chuyện này chúng mày phải lo, tao sẽ lo chuyện ăn uống hôm đó. Phải nấu mang đi chứ tiền đâu mà vào nhà hàng. Rồi xe cũng mượn được, cũng có chút khó khăn, nhưng tôi nói khó, thuyết phục được mẹ cho mượn. Thằng Tiên cũng vậy, nó mượn xe anh nó, vì hôm đó là chủ nhật, nên thuận lợi. Chúng tôi đi từ sớm. Nó móc cái túi vào ghi đông xe tôi, bảo tôi phải giữ cái túi như giữ con ngươi, rồi nhảy lên xe thằng Tiên, tôi một mình một xe và cái túi của nó. Dọc đường lên huyện, hai đứa chúng nó cười nói suốt, tôi lặng lẽ đạp theo. Hầu như dọc đường, tôi toàn nghĩ vơ nghĩ vẩn về nó. Tôi nhìn tấm lưng con gái nhỏ nhắn với chiếc áo thắt eo, chiếc áo màu tím hoa cà hoa cải gì đấy và nghĩ bọn con gái phức tạp thật, nhưng lại thấy nó rất đẹp trong trang phục học trò đi chơi. Tôi thấy nó vừa lớn vừa bé kiểu như vừa đóng vai bà chị, vừa là cô em gái bé bỏng. Nó có vẻ cố tình không nói chuyện với tôi, chỉ đôi lần, thằng Tiên ngoái đầu xem tôi đã đi đến đâu. Đến huyện còn khá sớm, chúng tôi tìm hiệu ảnh chụp chung ba đứa và chụp riêng từng đứa. Vậy là có ảnh chung và từng đứa đều có ảnh của đứa khác để sau này nhớ về nhau. Xong, tôi rủ chúng nó đi xa hơn một chút, đi cho mở tầm mắt, đi cho hết ngày hẵng về. “Bây giờ mình đạp xe dọc sông Cầu, nếu có đò, ta thuê, đi khoảng chục cây, ngồi sông nước sẽ rất thơ mộng, hữu tình và cũng rất chi là “ngồi tựa mạn thuyền” để tạo cảm hứng cho mày hát thêm hay. Vấn đề là có đủ tiền hay không. Tao chỉ có hai chục thôi.” “Đi đò dọc à, thích đấy…, mắt nó sáng lên, nó cười mà tôi cảm thấy như vệt nắng loáng trên sông, tao cũng thích. Hoá ra mày cũng có những ý tưởng hay đấy, cứ tưởng mày chỉ biết ra vào với mấy quyển sách. Tiền đò à, không lo, tao lo ăn uống cho chúng mày mà…” Đến giờ nó mới nói với tôi một câu. Bọn tôi không gặp may, đò dọc không có. Mặt sông vắng lặng. Bỗng nhiên tôi thấy buồn về sự hiu hắt khi bắt gặp những cánh cò lặn lội bên những đám cỏ lác trôi ven bờ. Con cò tượng trưng cho cảnh nghèo ki cóp kiếm ăn. Những con gió từ phía xa nào đó thỉnh thoảng thổi về làm sóng sông Cầu đập vào bờ oàm oạp, nghe khá rõ. Ra đến đây lòng sông khá rộng. Dòng nước mát và trong veo cám dỗ tôi. Ôi, dòng sông nước chảy lơ thơ và mộng mơ đã đi vào câu hát say đắm bao người mà hôm nay tôi mới tận hưởng. Tôi nói tôi muốn tắm, muốn ngâm mình vào dòng sông của người Quan họ, muốn tìm lại dấu vết của Lý Thường Kiệt thuở xưa với dòng Như Nguyệt. Nó bĩu môi bảo không được, lại sách vở. Ai biết được độ nông sâu thăm thẳm của lòng sông, cũng như mày ấy, lắm ý tưởng trong đầu mà đố ai biết. Nó như khen tôi. Chúng tôi nhẩn nha đạp xe và chuyện về con sông quê hương nhưng câu được câu chăng vì xe trước xe sau. Nó bảo tìm chỗ vắng vẻ, sạch sẽ ngồi và ăn trưa luôn thể, đi như vầy nói chuyện không thích. Cuối cùng cũng tìm được chỗ ưng ý, một bãi rộng cỏ mướt mà, phẳng phiu nhìn xuống dòng sông với đôi chỗ mọc những cây mua, cây sim và phía xa kia là cả luỹ tre dài theo con đường đất khấp khểnh, gồ ghề, ngoằn ngoèo dẫn về một làng ven sông. Nó bảo chỗ này đẹp quá, xuống xe thôi. Bọn tôi chọn chỗ dưới một bóng cây. Thằng Tiên nằm ngửa mặt lên bãi cỏ, mồm la tướng ô ô ô… À mà hỏi thằng mọt sách cái, tại sao sông Cầu nhà mình lại còn có tên là Như Nguyệt, có gì liên quan? -Mày chỉ làm khó nó, cái đó về hỏi các cụ lão làng, làng mình ối người biết. Nó nhìn tôi, đúng không? Tôi nhặt một cành cây, bẻ ra từng đoạn nhỏ, vất xuống dòng sông. Nhìn con nước chảy, thấy dòng nước thật là hờ hững. Dòng trôi nhẹ lắm, êm lắm, nếu không có chút sóng xô bờ, mặt nước phẳng như mặt gương, không gian rất hợp để tôi trả lời. Tôi nhìn nó. Có lẽ lần đầu, tôi tự tin dám nhìn thẳng nó mà không ngại: “Sông Cầu chảy qua quê mình dài lắm, dài gần ba trăm cây, đến tận Phả Lại cơ. Sông bắt nguồn từ dãy núi cao trên nghìn bảy trăm mét tận chợ Đồn, Bắc Cạn. Đoạn chảy qua quê tụi mình khoảng ba chục cây, là nguồn cung cấp nước cho đồng ruộng, cho sinh hoạt phía Băc tỉnh mình đấy. Sông Cầu còn có tên là Như Nguyệt, gắn với chiến tích của Lý Thường Kiệt đời Lý, thế kỷ 11. Người ta chỉ gọi một đoạn đó là Như Nguyệt và luôn kèm theo sự kiện lịch sử chống giặc phương Bắc. Đến nay sông Cầu vẫn là Như Nguyệt. Nói đến Như Nguyệt là người ta nhớ ngay chiến công của cha ông. Còn trong đời sống, gọi sông Cầu, nó gần gũi, dân dã hơn… Trong truyền thuyết, vị thần cai quản sông Cầu là Đức thánh Tam giang, do hai tướng Trương Hống, Trương Hát cai quản, sau khi chết được phong thần. Sau này hai ông đã hiển linh giúp dân Việt đánh quân phương Bắc (thời Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt …). Đồng thời hai ông cũng cai quản cả sông Long Nhỡn (sông Thương, sông Đuống)” Tôi nhìn vào mắt nó như muốn nói, mày thấy mọt sách của mày chưa? Tôi như thấy ánh mắt cười thêm cả chút khâm phục của nó, ánh mắt đó đã đọng lại trong tôi từ lần trước. Nó bảo chắc chúng mày đói rồi, ăn trưa rồi về. Nó trải tấm ni-lông be bé bẳng bốn cái khăn mùi-soa lên bãi cỏ và xếp đồ ăn ra. Thực ra chỉ là một đĩa cơm nếp, một miếng nắm nắm, một lọ muối vừng, một con dao bài để cắt cơm nắm và nước uống. Nó không quên mang theo cái nắp phích làm cốc uống nước. Lại còn có ba quả chuối nữa. “Thật quá sang!” thằng Tiên nói. Chẳng mấy khi ở nhà chúng tôi được ăn cơm nếp nấu như xôi. Thằng Tiên bao giờ cũng chọn được lời hay ý đẹp để khen bọn con gái. Nó bảo thật tuyệt vời khi có mày đi chơi cùng. Cứ như đi với thằng kia, nó hất hàm chỉ tôi, có mà chết đói. Tôi cũng muốn khen nó một câu mà không biết câu gì, khổ thế! May mà nó bảo, thôi ăn đi, nói nhiều đâm ra kiểu cách khách khí, mất độ thật thà thân thiết. Nó nói đúng ý tôi, tôi như thấy nó hiểu ngầm tôi. Chúng tôi ăn uống vui vẻ. Dùng tay véo cơm nếp và cũng dùng tay cầm miếng cơm nắm chấm muối vừng. Thằng Tiên lại nói: “Miễn chê, thật tuyệt vời, mày khéo thế, sau này chồng được nhờ…” Nó véo thằng Tiên: “Có thôi không, đây không khiến khen, đây tự biết nhé, nghe chưa?” Khi buông tay, nó còn véo mạnh hơn lại còn dúi thằng Tiên một cái: “Cho chừa cái thói nịnh hót, tâng bốc này… ày…”, khiến thằng Tiên kêu ôi ối, vang cả khúc sông, bọn chim trên cây bay nháo nhác. Ăn xong, nó bảo, tao cho chúng mày ăn no rồi và bây giờ phải học. Tao chưa quên đâu. Chúng mình học bài quan họ nhé. Quan họ đã ngấm vào tất cả bọn mình, nên dễ hát. Đồng ý nhé. Nó nhìn tôi, mày đừng ngại, mày hát được mà… tự tin vào mình là thành công một nửa rồi. Ôi, lại giọng bà cụ non rồi. Chúng tôi tập hai bài “Người ở đừng về và Ngồi tựa mạn thuyền” rất nhanh, mà tình cờ như đụng chạm đến chủ đề của chuyến đi chơi. Tôi nói nhỏ với thằng Tiên, riêng nó phải tập bài “Còn duyên” để nó đừng hết duyên, mày nhỉ? Nó nghe thấy, mặt nó tức tối, nó xông đến tôi như con hổ vồ mồi: “Mày, mày muốn chết hử? Chị mày cho mày xuống sông luôn.” Tôi co dúm người lại, chắp tay lạy nó: “Tao đùa mà. Mày xinh thế thì sao mà hết duyên, duyên cả đời ấy chứ, tao mê, thằng Tiên mê, ối thằng mê…” Thằng Tiên cười phá lên: “Mọt sách hôm nay cũng nói được một câu hay ghê…” Vậy là nó tha cho tôi nhưng tay nó vẫn dư dứ về phía tôi ra cái vẻ đe nẹt. Còn tôi, tôi vẫn chắp hai tay vái nó từ xa. Có lẽ bộ dạng tôi lúc đó thành thật hối lỗi lắm, nó không nỡ quẳng tôi xuống sông. Tôi và thằng Tiên nằm dài trên thảm cỏ lim dim mắt vì chói. Tôi bâng quơ đọc câu thơ nghe nhang nhác quan họ: “Nhìn áo rách vai/Tôi hát trong màu hoa/Áo anh sứt chỉ đường tà/Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu…” Thằng Tiên đập đập tôi, hỏi “Mày nói thế nghĩa là gì… À thơ Hữu Loan ấy mà, bài Màu tím hoa sim, ông ấy viết khi biết tin vợ mất. Ông làm bài thơ này nhanh lắm, chỉ trong vòng một đêm, nhưng để đời. Mày kể đi. Tôi nhẩn nha đọc bài thơ dài của ông, nó cũng đến ngồi gần, nghe tôi đọc thơ và kể về mối tình trong vắt của cô con gái nhà giàu với chàng thư sinh giỏi giang, được chính mẹ cô mời làm gia sư cho con gái yêu. Tao nghe giai thoại thôi, có biết cụ thể đâu. Còn nghe nói ông nhà thơ dính Nhân Văn Giai phẩm, nên không được quân đội tin dùng. Ông bỏ về quê Thanh Hoá, đẽo đá, thồ đá, bán đá mấy chục năm trời nuôi vợ con, bỏ con đường thơ phú, con đường tai hoạ cho ông. Nhưng mà lạ, ngày mà phía ta cấm đoán bài Màu tím hoa sim thì trong Nam người ta lại ca ngợi hết lời, lại còn mấy nhạc sĩ phổ nhạc bài thơ đó nữa. Tiếng thơm càng bay xa khi thơ có nhạc chấp cánh. Tôi quay lại phía nó, mày hát bài này cho nó nữ tính. Nó nguẩy mặt đi, nhưng nói, chuyện này buồn lắm, tao cũng đã nghe, tao không thích cái kết bi thảm… Nhưng mà nó làm nên lịch sử… Tao cũng chẳng cần. Cái cần của người phụ nữ là một tổ ấm. Ôi, bà cụ non của tôi…” Nó nghe thấy lời “bà cụ non” của tôi nhưng không nói gì, nhưng mà tôi hiểu ra, bọn con gái như nó, nghĩ xa và sâu sắc nhiều hơn tôi tưởng. Con gái là thế! Và nó đọc một câu châm ngôn: “Dù gió có thổi theo hướng nào thì hoa Hướng Dương vẫn luôn quay về phía mặt trời.” Tôi tròn mắt kinh ngạc, nó sâu sắc là thế mà tôi cứ nghĩ nó chỉ biết hát. Câu châm ngôn nó đọc giống như một lời tuyên bố phản kháng những sai lầm mà những kẻ không quang minh chính đại gây ra. Chúng tôi về, ít lời hơn hình như sau chuyến đi, mỗi đứa một tâm trạng. Cái kết quả mà chúng tôi đạt được là hiểu thêm về nhau. Rồi ngày tháng qua mau, chúng tôi học xong cấp hai, thi tốt nghiệp và mỗi đứa một số phận. Chúng tôi ít gặp nhau, được đứa này lại thiếu đứa kia. Đúng là cuộc đời xô đẩy. Tôi được lên tỉnh học tiếp và học nữa, mất cả chục năm. Nhà tôi dọn ra tỉnh nên cũng ít có cơ hội về quê. Thằng Tiên đi học nghề, lập nghiệp và lấy vợ ở một nơi nào đó, có biển và những con gió mặn mòi xa quê lắm. Nó có cuộc sống lênh đênh trên những con tầu và luôn phải xa nhà. Còn nó, tôi nghe người nhà và bạn học nói lại, thời đầu, nó đi văn công, vào tuyến lửa, hát cho bộ đội trên các mặt trận trong những phút nghỉ ngơi giữa hai trận đánh. Nó là ca sĩ, chồng nó cũng làm trong ngành nghệ thuật. Nghe nói con nó cũng được gửi gắm theo nghề bố mẹ. Vậy là nhà nó có nòi, ít cũng ba đời. Có điều, cũng là nghe nói, trước khi lấy chồng, nó và thằng Tiên có một chuyến đi dọc sông Cầu bằng thuyền để nhớ lại ngày xưa. Chỉ có tôi là xa xôi tít tắp. Tôi vẫn cô đơn. Tôi nhận ra, tôi chơi được với rất nhiều người, quen biết nhiều, nhưng tôi hiểu, không phải ai cũng xứng đáng để xây dựng một tình bạn sâu sắc. Tình bạn của tôi những năm sau này nặng về lý trí. Hỏi chuyện lý trí đó nó như thế nào, tôi không thể trả lời rõ ràng được, nhưng tôi thấy nó không có cái trong veo, tinh khiết kiểu cơm nắm muối vừng, mang âm hưởng học trò thơ mộng, nặng chất quê kiểng tình nghĩa và đậm chất văn hoá quan họ như tình bạn ngày xưa của ba chúng tôi. Cái liền anh liền chị thân thiết, quý mến nhau nhưng không bao giờ nên đôi, thành lứa. Đấy cũng chẳng khác gì lời nguyền. Trên đời có rất nhiều thứ quý giá mà ta vô tình hay cố ý vứt bỏ. Cái ngày xa chúng nó, tôi chỉ đôi chút bị rịn. Khi đã xa thật rồi, có lúc nghĩ về nó và thằng Tiên, tôi thấy rất nặng lòng, đó là thời gian mà tôi xử dụng không uổng phí, tôi quý yêu quá khứ đó nhưng đó lại là thứ không thể lấy lại được. Tôi đã có một tình bạn thuở thiếu thời thật đẹp, đẹp đến nỗi bây giờ, đứng trên mảnh đất ngày xưa, mọi thứ cứ ùa về trong tôi, lôi tôi đi mọi ngõ ngách, nhắc nhở tôi mọi chuyện và trong tôi trào lên những nuối tiếc bâng khuâng. Tôi tiếc vô cùng cái ngày xưa yêu dấu đó. Cả nuối tiếc và thương nhớ. Hai đứa chúng nó chắc cũng có lúc rơi vào trạng thái của tôi như bây giờ. Tôi tâm sự với chúng nó, thầm thì với chúng nó, than vãn với chúng nó “Cái người ngày ấy đâu rồi/ngày xưa có được một thời… rồi xa/một thời như thể mộng hoa/đường trần ta đã trải qua đường trần Đâu ngờ cái kiếp tôi phù vân, tôi như mây nhớ núi, tôi tủi thân vì không có chúng nó san sẻ. Và cứ vậy, tôi sống mãi với ký ức, với ngày xưa tươi đẹp, như thể chúng nó hai đứa vẫn đang bên tôi. Cuộc đời, tuỳ mỗi con người, có những giai đoạn đẹp đẽ khác nhau. Với tôi, quãng thời gian đẹp nhất là khi tôi 15, khi đó thằng Tiên 15 và nó, hình như 15 cũng mới bắt đầu thời thiếu nữ. Vinh Anh 1-7-25

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Vĩnh biệt ông “lắm người nhiều ma” Tôi biết ông nhà văn nổi tiếng này trong một buổi sinh hoạt thơ câu lạc bộ nhan nhản khắp xứ mình, một “cường quốc” thơ. Hôm đó tôi có đọc thơ vì đọc thơ có người nghe là cái thú của những người tự hão huyền cho rằng mình là nhà thơ. Sau thơ là uống bia. Bọn thơ phú vẫn vậy. Uống để tiếp tục được đọc thơ, tiếp tục chứng tỏ mình là nhà thơ. Ông “lắm người nhiều ma” không biết có nghe không hay chỉ uống. Nghe nói lão này thích thịt chó. Sau đó anh đường anh, tôi đường tôi và lại có dịp gặp lại nhau trong một lần khác, đọc thơ và cả đọc truyện. Tôi đã bỏ viết thơ chuyển sang viết truyện ngắn. Tác phẩm đầu tiên được đăng trên Văn nghệ trẻ. Lão “lắm người nhiều ma” đến, không dám khoe. Rồi lão đến nhà tôi chơi. Có lão nhà thơ nháy “ thịt chó”. Vậy là phá lệ, nịnh lão, từ lâu tôi đã không ăn thịt chó. Hình như hôm đó, say say, tôi có nói, mảnh đất này ít người, nhiều ma. Lão gật gù. Hôm nay đọc được bài của Mai An Nguyễn Anh Tuấn viết để tưởng nhớ lão “lắm người nhiều ma” vừa mới bay về trời. Viết vài dòng nhớ lão. Lão nói nhỏ với tôi trong bữa thịt chó ở nhà tôi, đại ý “ Ông thần tượng hơi nhiều ( nhà cháu chỉ toàn đi xách tráp cho các nhà nổi tiếng học mà), tôi chỉ có mỗi Nguyên Ngọc. Lão chết, tôi sẽ viết bài về lão. Chỉ có lão là đáng kính thôi.” Hôm nay, Nguyên Ngọc vẫn sống cùng đất trời, vẫn viết và vừa rồi, sau lũ, ông có viết “ Cát chảy”, vẫn tươi nguyên một Nguyên Ngọc với bút lực cường tráng, còn lão “lắm người nhiều ma” đã đi xa. Viết vài kỷ niệm về một ông nhà văn mà tôi ngưỡng mộ. Ông có nhớ tôi nói với ông rằng “mảnh đất này ít người nhiều ma” không?

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2024

>

 

Hoang vu Chuyện bắt đầu từ khi lão Rô-bin-sơn xứ Việt thời hiện đại, nay đã ngoài năm mươi tuổi đời, ngồi trên chiếu rượu từ tầm trưa, mặt trời gần đứng bóng, thời tiết rất oi bức sau những cơn gió dữ dội hỏi thăm của biển cả đêm qua. Lão đang tiếp người khách từ biển cả. Chẳng mấy khi ông chủ hoang đảo có khách, mà lại là khách đặc biệt, những người cũng ưa mạo hiểm và có quan điểm khá đồng cảm về môi trường sinh sống. Tại sao lại dạt được vào đây? Số phận kỳ diệu thật, riêng với hắn, còn là may mắn. Không nhanh dạt vào thì làm mồi cho cá biển rồi. Hắn nhớ và rùng mình, chiếc “du thuyền” què quặt mà hắn mượn được cứ nhảy lên chao đảo như động kinh qua từng con gió. Chẳng hiểu sao, trong gió và ánh sáng của giông sét đó, hắn nhớ đến ông bạn, có biệt danh là “sói biển”. Ông bạn và hắn từng đưa nhau, cũng tầm giữa trưa hè nóng rãy, lặng gió như hôm nay, ra một cái vịnh đẹp nổi tiếng để câu cá. Cái vịnh đó đẹp thế nào, hắn chẳng nhận ra, chỉ nghe người đời nói là đẹp. Thằng cha có biệt danh sói biển kia, suốt buổi câu, im lặng ngồi trên thuyền, phơi tấm thân trần dưới nắng, chỉ chụp trên đầu cái mũ, che hết phần mặt mũi như con sói, đang độ sậm lại như màu mận chín. Hắn nghĩ đến lão bạn cũ nơi xa vời và ước sao lúc này, hắn cũng là sói biển. Sói biển sẽ chống trả lại được với giông bão, chứ cứ như hắn, có mà một con sóng là chìm nghỉm mất tăm ngay. Lão Rô-bin-sơn gặp hắn khi thần kinh hắn đã gần như tê liệt, co ro cho người nhỏ lại, quấn quanh mình chiếc bạt để che những con gió đêm, đợi sáng, chiếc du thuyền ọp ẹp đã tan tác, trơ khung gỗ, cắm một đầu cách bờ hơn chục mét. Hắn đã ôm chiếc phao vào được bờ và đang nhắm mắt nghĩ lại chuyện vừa xảy ra. Ồ, sao mà sự đời tuyệt vời như vậy lại xảy ra với hắn, y như ngày xưa, mấy chục năm rồi nhỉ… cái hôm nào đó ở heo hút Trường Sơn, gần một ngày lạc rừng, đến gần chiều tối, hắn gặp các nàng tiên nữ, nàng nào cũng có đôi mắt thánh thiện và có giọng nói trong veo, hát những bài thánh ca êm dịu như lời ru. Với hắn, chất giọng và giai điệu đó rất ngọt ngào, ngọt như những lời ru của mẹ, của bà. Hồi đó hắn chưa biết yêu, nên không biết trên đời còn có những giọng ấm áp ngọt ngào hơn. Hắn cứ tự hỏi, có phải vì hắn, sắp chết vớ được cọc, nên hắn cứ thấy đeo đẳng mãi những giọng ca ngọt ngào êm ái đó. Nhưng có lẽ, hắn tự giấu mình, cố lừa mình, hắn nhớ một đôi mắt thánh thiện. Chính đôi mắt đó chứ không phải là những bài thánh ca, sáng chiều đều đặn vang lên giữa rừng già, làm hắn nhớ. Lão Rô đưa hắn lên đảo. Bước dò dẫm từng bước trong đêm đảo, với những bước chân có điểm dựa vững chắc, hắn vẫn chưa thôi chờn chợn những giây phút sóng gió vừa qua. Trong đêm tối, hắn hình dung khi mỗi bước chân qua từng mỏm đá nhọn, trơn ướt, án ngữ đường đi trong tiếng thở phì phò và những lần cùng chiếc “du thuyền” ọp ẹp dập dình trên đầu con sóng, vẫn chưa hết nỗi hoảng loạn và vỡ oà nỗi mừng gặp được người cứu giúp. Mà cũng chẳng hiểu sao, hắn nghĩ cái người cứu giúp hắn đó lại là Rô-bin-sơn, phải là Rô-bin-sơn. Hắn đã kịp nhớ khi hắn ngồi quấn tấm bạt, núp gió, nơi hắn định đến còn rất hoang vu và hắn muốn khám phá. Và hắn đã bắt đầu khám phá sự hoang vu của hoang đảo ngoài mọi dự kiến ban đầu. ***** Lão Rô kém hắn đến chục tuổi, thoáng nhìn về dáng, thấy ngang ngang nhau. Nhưng kỹ ra, nhận ra ngay lão Rô phong trần, dầu giãi, sương gió, cứng cỏi hơn. Vậy là hắn chỉ được cái mẽ ngoài. Bất chợt gặp lại cái dáng phong trần, sương gió đó, hắn nghĩ về ông bạn sói biển. Lão Rô này cũng dạng sói biển, thậm chí trong lão ta, có cả máu sói rừng. Hắn nghĩ và mong sẽ được kết bạn với lão Rô. Chẳng hiểu sao, với những con người có số phận trầm luân, bôn ba, hắn luôn ngưỡng mộ, hắn luôn cảm thấy yếu ớt, nhỏ bé trước những con người đó. Có phải, cuộc đời của hắn luôn gặp sự may mắn? Vậy là trưa sau đó, nhân cái vụ phát hiện và cứu được hắn, lão Rô biết ý định chuyến đi mạo hiểm của hắn, bèn mời lão ở lại tiếp tục chương trình khám phá, đợi sóng yên bể lặng và tinh thần ổn định, lão sẽ đưa hắn trả lại cho thế giới văn minh của hắn. Lão Rô nói, lão thật sự không thích nhòm ngó, quan hệ gì với cái xã hội đó nữa, một xã hội tự phong cho mình danh hiệu văn minh nhưng lại chất chứa đầy rẫy những bẩn thỉu, xấu xa và lão, tuy lão như đã tình nguyện, tự biến mình thành con người, khác với những con người trong cái xã hội bẩn thỉu, tàn ác đó, nhưng xã hội loài người vẫn có những mối liên hệ nhằng nhợ ràng buộc nhau. Lão muốn mọi con người trở nên trong suốt, trong suốt như không thể gì có thể trong suốt hơn. Nhưng lão biết, đó chỉ là mong ước, đào đâu ra trên trái đất những con người như vậy. Hoạ chăng, chỉ con người nguyên thuỷ mới trong suốt được như thế. Rồi lão nói với hắn, chẳng bao giờ con người có thể vượt qua ngưỡng mà nó tạo ra, vì con người yếu đuối lắm, nhất là khi cuộc sống vẫn bị trói chặt bởi những ràng buộc, tưởng như vô hình nhưng lại vô cũng chặt chẽ. Con người luôn tự huyễn hoặc mình và lừa dối nhau. Con người là sản phẩm của một sự lệ thuộc vào thiên nhiên và cả vào chính những gì họ tìm ra, phát minh ra. Chính vì thế, con người thể hiện rất rõ sự yếu đuối. Con người rất khó thoát bởi chính vòng xoáy đời mình. Hắn chưa bao giờ nghĩ trong thế giới văn minh mà hắn đang sống, bên cạnh bao nhiêu điều cả hấp dẫn lẫn phù du, vẫn có nhưng con người, chưa xa lắm, lại là như một người nguyên thuỷ, tách hẳn những tiện nghi cuộc đời do văn minh phát triển, để tình nguyện sống trong cái lạc hậu tăm tối ngày xưa. Hắn không thể nghĩ đến có những thân phận như lão Rô, ân nhân của hắn. Lão luôn xoay sở trong ý nghĩ, làm thế nào để có thể làm một con người trong sạch và thế nào là một con người trong sạch? Thanh xuân của lão Rô như rất nhiều thanh xuân khác ngày đó đụng phải cuộc chiến chẳng ai muốn, đó là cuộc chiến đằng đẵng ba chục năm trường, lấy đi rất nhiều nước mắt và máu xương của dân tộc. Nhà lão Rô cũng nằm trong vô số các gia đình mất nhiều nước mắt và máu xương. Lão nuôi trong mình sự phản kháng cái trật tự xã hội văn minh thiết lập và cố duy trì. Lão ngán ngẩm, im lặng một thời gian dài, hay ho gì mà cố công bảo vệ nó. Lão như trăm nghìn vạn mớ thanh niên trẻ trai thời đó Hai mươi ba tuổi, tốt nghiệp sĩ quan thông tin, được phân về vùng biển. Thông tin được ví như mạch máu trong cơ thể người. Đâu cũng cần thông tin nhưng với một tỉnh biên giới nhiều, heo hút và giáp ranh với kẻ thù luôn muốn gây thù oán hận, biên giới biển rất cần cán bộ có trình độ. Lão Rô ngày ấy đáp ứng mọi yêu cầu và được địa phương xin về, phân làm xã đội trưởng. Khẩu hiệu “mỗi người dân là một chiến sĩ” còn nặng nề lắm. Tuổi trẻ lão Rô sôi nổi, năng nổ trong công tác. Lão nhận nhiệm vụ và dấn thân cống hiến như mọi người trẻ ngày đó. Ngày đó, những người trẻ chỉ nghĩ nhiều đến cống hiến và hi sinh, ít nghĩ đến hưởng thụ. Lớp trẻ ngày đó đáng yêu và cũng đáng thương. Đáng yêu ở sự tinh khôi, đáng thương vì hầu như chỉ biết vâng lời, những khác biệt sẽ đuược coi như là làm xấu xã hội đang vô cùng tốt đẹp. Lão Rô trẻ trung, phong độ ra đảo với tâm hồn tràn đầy yêu thương và cũng sẵn sàng hứng chịu mọi bão táp, phong ba của biển đời. Dưới sự lãnh đạo của một sĩ quan được học hành, an ninh xã đảo rất tốt. Thuộc cấp của xã đội trưởng đa phần đều là các cô gái thanh xuân, trai tráng vẹn nguyên hầu như nhập ngũ cả, đất nước như vẫn còn trong tình trạng chiến tranh, việc duy trì an ninh vùng biên cần rất nhiều nhân lực. Trai tráng có những tổn thương bên trong hay bên ngoài thân thể vì chiến tranh thời gian trước, cũng lác đác về. Trong vòng vây các cô gái mơn mởn, thơm ngát như những bông hoa rừng đó, lão Rô phải lòng một đôi mắt đen huyền ảo. Hồn lão sa vào đôi mắt đen đó và nên vợ nên chồng. Nhưng cuộc sống luôn có giông bão. Giông bão tôi luyện con người, cũng nhiều khi làm u uất, tan nát lòng người. Lão vẫn là sĩ quan và ở đâu đó quyết định chuyển lão vào Nam nhận nhiệm vụ mới. Lão biết tin cùng với tin cô gái mắt đen huyền ảo có thai. Biết lão có hoạt động ở vùng biển, người ta chuyển lão đến một vùng biển phía Nam. Tin chắc như vậy là sự bố trí hợp lí. Vợ lão Rô, trải mấy chục năm phôi pha, bám biển và gánh vác mọi công việc cùng lão, dẫu vậy bây giờ, đôi mắt vẫn đen và thăm thẳm như nước biển, nhẹ nhàng chen vào câu chuyện: “Ngày đó em tủi lắm. Mói sinh con thì chồng vác ba lô đi. Thấy anh ấy đi nhẹ nhàng, càng tủi. Em nghĩ, sao mình bỗng dưng nhẹ bỗng với anh ấy thế; sao anh không biết trình bày “hoàn cảnh” của mình với cấp trên một tiếng… biết đâu người ta thông cảm… Anh ấy hình như cũng biết ý của em, nên bước chân ra đi càng có vẻ kiên quyết, không ngoái lại… Làm vợ lính thời nào cũng khổ… Vậy mà ngày yêu nhau, khi ngồi trước biển, anh ấy thề sống thề chết, thề với ông trăng sáng như mắt em trên trời, thề với nước biển sâu thẳm như đôi mắt em đây, sẽ không bao giờ bỏ em…”. Lão Rô chõ lại: “Vậy không đúng à? Thề không bỏ là không bỏ còn gì nữa. Con gái biển yêu mãnh liệt và tình cảm dào dạt như sóng cuộn, bám như đỉa, vẫn cứ về đấy thôi…” Lão quay lại nói nhỏ với hắn và các ông bạn cùng mâm, đôi người đã phừng phừng: “Em đây tuy vậy nhưng mà con gái cũng nhiều đứa mê phết đấy, đã nói là có vợ có con rồi mà vẫn không tin, vẫn bám…” Rồi thì thành phố biển đầy triển vọng, những cô nàng có tình cảm như sóng cuộn, đầy hứa hẹn, không giữ được lão thật, lão nhớ đến phát cuồng đôi mắt đen thăm thẳm và tiếng khóc của đứa con gái còn chưa bén hơi cha. Đêm đêm, lão huướng hồn mình về phương Bắc, không nghe thấy sóng biển ở bên, không thấy nhịp thở dồn dập, sôi nổi của một thành phố trẻ đang lớn. Lão chỉ nghe thấy tiếng sóng thì thầm, nhẹ êm, rì rào va vào vách đá, gần chỗ lão hay ngồi cùng cô dân quân. Cô dân quân mỗi lần ra với lão là lão thấy thơm nức hương rừng bay lẫn trong gió biển. Một trong những lần như vậy, lão nhận ra, rừng và biển gắn bó với nhau như sự tích mẹ Âu Cơ và số phận đã đưa ta về đây. Ta vốn là con của biển và rừng. Lão nghĩ và hít một hơi thật dài, tất cả hương rừng, hương biển từ cô dân quân ngồi bên quấn hết vào lồng ngực trai trẻ. Lão không thể nào quên được nữa. Lão như đã bị ngấm bùa ngải cho mê hoặc. Hắn dỏng tai nghe chuyện bên mâm các bà vợ: “Anh ấy viết thư, nói chuyện các cô gái theo anh. Em chỉ biết ôm con khóc. Thương mình, thương con. Trong bụng em nghĩ, nếu anh vui với người mới, em chẳng giữ nổi anh, anh cứ vui đi. Em sẽ nuôi con và chỉ mong, khi con lớn, em lấy chồng cho nó và anh nhớ về dự đám cưới con, để chứng minh con nó có một người cha. Em chỉ yêu cầu vậy thôi. Ôi, hắn bỗng nhận ra, thấy trong hương rừng quyện gió biển hôm nay, có mùi thơm lẫn “mùi thương” nức nở, hạnh phúc đẹp như cổ tích của hai trái tim mà vợ chồng chúa đảo có được thật đáng kiêu hãnh. Hòn đảo xa xôi heo hút này sao lại có mối tình chung thuỷ đẹp như vậy. Cái đẹp của thuở hồng hoang, của thời biển không có sóng, cái thời mặt trời không lặn và mặt trăng cứ vằng vặc tỏ, sao trời cứ nhấp nháy… Cái thời mà người ta nghe được và hiểu được tiếng nói của chim muông, cây cỏ. Có một thời con người trong sáng và tâm hồn thơm ngát như vậy. Cái thời con người chỉ sống và yêu. Thời đó đâu đã xa! ***** Lão Rô kể chuyện đời của lão. Chuyện của lão là chuyện rừng, chuyện biển. Chuyện lão không những là một thiên ký sự li kỳ nhiều tập mà còn chất chứa những tiếng lòng lãng mạn, tiếng lòng đó, khi đời thực nhọc nhằn, khi du dương huyền ảo. Nhưng hơn cả là tiếng ngân nga của tình yêu. Tiếng ngân đó sâu sắc, đậm đà và rất êm ả con người. Hắn nghe với sự khao khát và cả ước vọng lẫn thèm muốn. Hắn cũng luôn liên hệ vào tình cảnh hắn, nếu rơi vào hắn, hắn sẽ giải quyết thế nào. Lão Rô: “Vợ em đây là một nhân chứng cho sự quyết tâm. Chúng em ra đây như An Tiêm thời vua Hùng, cô đơn, hoang vu, hiu hắt, biệt lập, xa vời với tất cả. Thế giới là gì? Thế giới chỉ có em và vợ cùng đứa con gái lẫm chẫm. Nó là thiên thần, là nguồn vui, nguồn sức mạnh để vợ chồng em vươn lên. Những ngày đầu tiên đương đầu với biển cả. Nhìn ra ngoài biển sâu thấy trống trải mịt mù thăm thẳm lắm. Ngước lên trên là rừng, rậm rạp đầy hiểm nguy rình rập. Ôi chao, rừng, biển, đâu cũng thấy hiểm nguy, đâu cũng huyền bí, đầy những thử thách chờ đợi. Ở với biển ngày mưa bão mới thấy con người bé nhỏ trước mênh mông bao la, cũng nhận rõ hơn sự tàn phá dữ dội, kinh khủng của biển cả. Chẳng gì có thể tồn tại trước những vô vàn con sóng nối tiếp nhau ùa vào và nhận ra, trước siêu nhiên, trước những năng lượng như vô cùng vô tận, chúng ta chỉ là giọt nước, một giọt nước nhỏ nhoi của biển cả. Nhận ra điều đó, mới thấy sức mạnh của biển và biển thật vô cùng vĩ đại cũng vô cùng huyền bí cả với sự diệu kỳ đúng nghĩa. Với rừng rậm nhiệt đới trên đảo, lão Rô nói với hắn, rừng như quen thuộc hơn. Hắn hỏi: Rừng rậm là gì? Rừng rậm thường xuất hiện trên tất cả các vùng đất mà con người sinh sống và cũng tuỳ nơi, tuỳ chỗ, rừng có thể kết hợp nhiều cách để duy trì sự sống cho con người, nếu con người am hiểu và gắn bó với rừng, thì, rừng luôn là ngôi nhà thân yêu. Các loại thảm thực vật, các loại đất, các loại động vật hoang dã… sẽ được thuần hoá. Tất cả các hệ sinh vật, đất đai đó, tạo thành khu vực để con người sinh sống. Những ngày đầu, lão Rô cùng gia đình sống nhờ rừng. Từ rừng, có thể tìm ra nhiều báu vật chứ đâu chỉ mấy thứ cây lá, củ rừng và mấy con hươu, con nai. Hắn nghe lão nói mà nghĩ, mà cảm như lão này y như một vị giáo sư, một nhà nghiên cứu cây cỏ, một nhà lâm học hay động vật học. Lão thuộc rừng đất của lão, vùng đảo lão làm chủ như thuộc bàn tay lão vậy. Hắn tròn mồm nghe nghe lão Rô thuyết trình. Đến chuyện đời thường, chuyện đời thường như hắn hiểu là chuyện gia đình, lão Rô kể chuyện lão chăm vợ đẻ cũng như chuyện lão kể lão nuôi lợn rừng đẻ, tất cả sao nó cứ hao hao cái cảnh xa xưa của thuở hồng hoang, sơ khai nguyên thuỷ. Hắn nghe và hắn thèm cái sự phiêu lưu kỳ lạ đó. Thèm nhưng mà sợ vì hắn biết rõ hắn, hắn không đủ nghị lực và ý chí như lão Rô. Đầu tiên là chăm lợn. Lão thuần hoá đàn lợn rừng bằng cám bã như quê nhà vẫn nuôi, có pha chút rừng núi, biển đảo. Lão nói, đến giờ, cho chúng nó ăn vừa đủ, có thể hơi thiêu thiếu, để nó vừa phải kiếm ăn, vừa phải nhớ cái nơi nó phải về, không hoang dại vào sâu núi rừng. Để nó quá hoang dại là mất. Vậy là từ vài con giống, bây giờ lão có bao nhiêu đàn, không thèm rõ nữa. Lão bảo khi lợn đẻ, nó vào đâu đó trong rừng, một tuần sau, thậm chí, một tháng sau, chúng dẫn diệu kéo nhau về nhà, ra mắt ông chủ, kèm theo khi sáu, bảy con, khi chục con lắt nhắt ỉn ỉn, í ới, như nũng nịu đòi ăn. Bọn nhỏ luẩn quẩn bám vú mẹ. Cảnh đó chính là sự hoang vu nơi lão ở. Hoang vu mà tinh khiết. Đó là sự tinh khiết sạch sẽ, sạch sẽ đến tinh khiết cả những con vật lão nuôi. Những con vật lão nuôi cũng có cái tinh khiết hoang sơ của núi rừng và biển đảo. Lão nuôi vợ đẻ đứa sau kỳ công hơn. Thực ra đứa đầu lão phải ở xa, không có điều kiện chăm sóc. Bù vào đứa sau, vợ lão được tẩm bổ trăm rưởi con gà. Nghe mà sợ vì cái sự chăm vợ của lão. Làm thế nào để vợ xơi được trăm rưởi con mới là kỳ công. Lão bảo đấy là bí mật của tình yêu. Ăn như vậy, để đến giờ, vợ lão nhìn thấy gà là dửng dừng dưng. Chẳng hiểu có nơi nào có người chồng như thế. Cách yêu vợ, chăm vợ như vậy xem ra cũng rất hoang vu. Những hắn muốn biết cái bí mật để vợ lão xơi hết. Lão bảo, bác cứ ở đây. Có tình cảm với chốn này, em sẽ kể bí mật cho bác. Bởi đấy là chuyện tình yêu nên nó “ tế nhị”. Ừ, cái từ “tế nhị” nó giúp người ta đỡ phải giải thích lòng vòng. Nhưng biển với lão lãng mạn hơn, đẹp đẽ hơn. Lão kể lão lấy rừng nuôi biển. Bao nhiêu thu hoạch nhờ rừng, lão dùng để nuôi thuỷ sản. Rồi biển nuốt hết mọi hy vọng của lão. Lão vấp ngã và kiên cường đứng dậy. Vợ lão công nhận, những lúc như vậy, lão luôn tỏ ra là người kiên quyết nhất. Mọi gây dựng lại bao giờ cũng có nguồn gốc từ thất bại, từ đau khổ, nhưng lão vượt qua. Nhưng biển đền bù cho lão cũng nhiều. Có những lần, lão nói, không biết bao nhiêu là cá vào lưới của lão. Phải nhờ đến bạn chài xung quanh giúp mới tiêu thụ hết. Cả tấn cá mà chỉ có hai vợ chồng thì biết xoay sở thế nào. Cũng có cả những lần, những con cá quý chui vào lưới của lão, lão bán đi với cái giá chỉ bằng nửa giá trị. Và lão cười, chẳng sao, biển sẽ bù cho mình cái khác. Đấy cũng là sự trong veo tinh khôi. Tiền rừng, bạc bể là vậy. Lão sống với sự giàu có từ thiên nhiên, của biển và rừng ban tặng. Ai cũng có quyền lựa chọn cuộc sống cho mình, nhưng không phải ai cũng biết gây dựng và giữ gìn cuộc sống mà mình đã lựa chọn. Tự dưng hắn triết lí! Nhưng hơn cả, điều này sau lão mới tâm sự với hắn, khi lão biết hắn cũng đã có một kỷ niệm không quên với đôi mắt của một con chiên, yêu chúa cũng như yêu hắn với tấm lòng và trái tim của một trinh nữ. Một mối tình đẹp cũng rất nguyên khôi. Lão Rô kể chuyện về những đêm sáng trăng. Chỉ ở đây, nơi hoang vu này, mới thấy đủ vẻ đẹp mê hoặc của trăng. Trăng là chị Hằng trong mắt tuổi thơ, chị Hằng đẹp, đẹp đến độ nào, chẳng ai có thể biết, ngoài lão. Chúng em luôn có những niềm vui bất tận dưới ánh trăng vằng vặc của biển. Chị Hằng chính là vợ lão, cô dân quân ấy đ ã khóc tức tưởi không biết bao nhiêu đêm, khi biết tin những cô gái ở một vùng biển xa mê hoặc lão, muốn lão ở lại. Lão thủ thỉ với hắn: “Nhiều đêm, rất nhiều đêm trăng đã qua, nhưng cứ mỗi đêm trăng xuất hiện với thứ ánh sáng vằng vặc kỳ diệu là đều có chị Hằng. Ngắm chị Hằng tắm trăng biển đẹp mê li….” Hắn ngơ ngác, chị Hằng? Ừ, chị Hằng, chứ sao nữa, chị Hằng… mê li, tuyệt diệu… Đấy, cái mà em được hưởng. Là được ngắm chị Hằng tắm trăng… Các anh không bao giờ có những giây phút tuyệt vời và hạnh phúc như vậy… Chị Hằng luôn bên em, bằng xương, bằng thịt, bằng những gì vô cùng gần gũi mà chỉ có hoà với thiên nhiên mới có thể nhận ra, khám phá ra điều đó, con người có thể quên đi hết thảy, vứt bỏ hết thảy… Tiên cảnh ư, thiên đàng ư, bồng lai ư… tất cả đều là do con người tưởng tượng ra…tưởng tượng hết… Còn đây là thật, chốn này là thật… thiên đường của chúng em là có thật, thật trăm phần trăm… chẳng hạnh phúc nào bằng, chẳng cuộc sống nào tuyệt vời hơn… Hồng hoang là gì? Hồng hoang là thế đấy! Lão cầm cốc rượu, liếc mắt về phía cô vợ đã bao năm sát cánh cùng lão. Lão trông gân guốc, góc cạnh, chân tay như quánh lại, săn chắc như giây chão, buộc chặt, gắn kết mọi thứ mà lão muốn. Hắn nhận ra, lão buộc chặt cô vợ bằng sự si mê của tình yêu và bằng ý chí, mà, nếu ai không trải qua thử thách, chẳng thể đánh giá nổi mình. Ở lão hội đủ tất cả, chung thuỷ là điều người đàn bà cần, ý chí quyết tâm là điều người đàn bà cần, làm một bờ vai mạnh mẽ, làm chỗ dựa trong mọi hoàn cảnh cũng là điều người đàn bà cần. Còn lão, lão cần có một người đàn bà, dù cho người ấy luôn đứng sau lão, nhưng đấy lại là chỗ mạnh nhất của đàn bà. Lão cần một chỗ để lão có thể xoá bỏ, tháo gỡ, và rồi khoan khoái được hưởng cái dịu dàng, không khí đầm ấm, cử chỉ và tiếng nói ngọt ngào… Những điều đó, hắn nhận ra, hắn không toàn vẹn, còn lão sói này, lão có đủ. Lão sống trong môi trường sạch. Có bàu không khí đó, lão sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi thử thách. Lão đã và đang làm điều đó, có được điều đó. Hoá ra lão Rô cũng hay chuyện. Lão cứ ngâm nga chuyện nọ chuyện kia không dứt, không đứng lên, chỉ đôi khi, thấy lão liếc nhìn cô vợ của ngày xưa, cô gái cái thuở mà biển không có sóng, cái thuở mà trăng sao trên trời xuyên thấu vào đôi mắt cô dân quân và tuần trăng mật của họ chu du trên chiếc thảm Ba Tư. Hôm đó, gió đưa họ ra biển, biển thì thào ru họ bằng rì rào, êm ả của con sóng, và họ họ đưa nhau vào xa khơi mênh mang bởi những nụ hôn. Họ hôn nhau cho đến khi trái đất tỉnh giấc. Kỳ lạ và khiến lão Rô không thể quên là trong một đêm trăng sáng vằng vặc, gió cùng mây đu đưa, bồng bềnh, còn biển thì phẳng như một mặt gương, mọi sự cứ êm đềm trôi như nước dòng sông quê hiền hoà, hoặc nếu thêm một chút lãng mạn, êm đềm bên cô Tấm dịu hiền, lão Rô thấy xuất hiện trên trời đám mây ngũ sắc, đám mây này lúc như đang biến thành hình con ngựa, con rồng, con phượng, khi thành hình người con gái xiêm áo dạ hội sặc sỡ, dáng điệu uyển chuyển trong nét mong manh… Tất cả những hình ảnh đó là hình ảnh của một vũ hội. Múa chính cùng với nàng tiên xiêm áo lễ hội là một chàng trai tuấn tú, nho nhã với dáng học trò… mây, gió, màu sắc xanh vàng đỏ quyện vào nhau, bay bay trong trời đất mà không phải trời đất, là nơi nào đó xa xăm, nơi người ta ước vọng, người ta hướng đến. Tất cả những ao ước như những ham muốn, khát vọng đó đang lồ lộ trước mắt lão. Lão ngây người, nhìn không chớp mắt và há hốc mồm, không nói được câu nào. Nhưng đó là chuyện trên trời. Chuyện dưới biển mới kỳ thú và rất sát đời thường. Dẫu biết vô số người, một năm ba trăm sáu nhăm ngày ăn nằm với biển, nhưng để tận mắt nhìn thấy sự kỳ thú trên biển như lão Rô này, cũng chẳng có mấy người. Lão Rô nhẩn nha, cầm chén rượu mà lão ngâm đủ mọi thứ trên rừng dưới bể, tay lắc lắc đung đưa cái li. Hắn nhận ra lão Rô có bàn tay đặc biệt, đặc biệt là ở những ngón tay khác lạ. Ngón tay lão Rô đều tăm tắp , không dài, không ngắn, cũng không thon, nhưng tất cả năm ngón tay lão cầm chén rượu sao mà đều nhau thế. Hắn nghĩ, hẳn lão này có điều kỳ lạ, rất kỳ lạ là khác. Cách sống mới chỉ thể hiện một phần, còn nội tâm lão ấy mới là điều cần nói. Lão kể về một buổi trưa, trưa ấy cũng đầy nắng, đầy gió. Lão thấy ngoài biển kia như có gì xáo động. Linh tính cho lão biết trong lòng biển chắc phải có chuyện. Lúc đó, lão đứng trên mỏm đá nhô ra ngoài biển với tầm xa nhất, nhìn rõ một khoảng mênh mông im phăng phắc. Biển êm hay bất cứ một cái gì êm ả cũng đang là chuẩn bị cho một sự tích tụ để bùng nổ. Lão chờ đợi sự bùng nổ của biển, lão nghĩ đến một cơn giông bão. Bất chợt lão giật mình thảng thốt, phía rất xa ngoài kia như có sóng lớn, những con sóng vươn cao, trắng xoá. Cả mặt biển mênh mông bỗng chốc chìm trong sóng. Và mưa, mưa rất to che hết tầm mắt. Một bức mành chắn ngay trước mắt lão, khiến lão tức anh ách, lão vùng chạy xuống, thực ra lão lao xuống biển với tốc độ như thế nào, lão cũng không rõ, chỉ biết lão nhắm mắt mà nhảy, nhảy những bước rất dài như trong trạng thái phi trọng lượng, lão ào xuống mép biển và thấy rõ sự kỳ thú có một không hai, hàng trăm con cá heo dập dờn, nô dỡn, nhảy múa trên sóng trước mắt lão. Bản hợp xướng của biển cả đang được các chú cá heo biểu diễn. Những con sóng biển cũng uốn oéo vòng vèo kỳ lạ theo sự vùng vẫy của các chú cá heo. Theo dân biển chuyên sông nước, cá heo xuất hiện là một điềm lành. Nhưng lão Rô lại suy diễn sang chiều khác, cổ tích huyền bí về sự thông minh với động tác lặn ngụp của loài cá heo. Người ta bảo cá heo lặn ngụp không phải chơi, cá heo đang tìm bộ lòng của một ác sư đã tu thành chính quả. Vị ác sư nọ sau khi nghe một nhà sư uyên bác giỏi thuyết pháp, giác ngộ muốn dâng tấm lòng mình lên đức Phật. Vị sư có tài thuyết pháp kia còn lưỡng lự thì ác sư đã mổ bụng mình, nhờ vị sư thuyết pháp dâng tấm lòng mình cho Phật. Vị sư uyên bác có tài thuyết khách kia đội bộ lòng của ác sư với sự khó chịu của mùi hôi thối do đường xa. Nhân khi phải đi qua biển, nhà sư uyên bác kia vất bộ lòng xuống biển cho cá ăn. Khi gặp đức Phật, Phật có hỏi nhà sư uyên bác còn thiếu cái gì. Nhà sư uyên bác nhớ ra bộ lòng của ác sư. Hối hận vì sự thiếu ý chí của mình, nhà sư uyên bác nọ lao mình xuống biển để tìm lại bộ lòng của ác sư. Đức Phật đã biến nhà sư tinh thông uyên bác thành cá heo, để suốt đời đi tìm bộ lòng của vị ác sư đã tỉnh ngộ kia, dâng trả cho Đức Phật. Đấy là chuyện của biển mà lão chứng kiến. Lão Rô nói, chẳng biết có đức Phật không, chẳng biết có ác sư không, chẳng biết có vị sư thông tuệ không, nhưng nếu chưa toàn tâm toàn ý cho làm việc thiện, vẫn luôn phải có sự trả giá. Trả giá cả cuộc đời. Nghe chuyện lão Rô, hắn nghĩ mãi về sự trong sạch. Tại sao lão nói xã hội văn minh các ông đầy những bẩn thỉu và giả dối? Đời thực tại có gì là thật trong sạch đâu. Nếu có, thì có bao nhiêu do con người vống lên. Ai là người chứng minh và phán xét cho được sự trong sạch đó? Nhà sư thông tuệ, uyên bác và thậm chí thuyết phục được cả ác sư trở lại con người lương thiện kia, vẫn có sự giả dối. Mục đích của vị sư đó, vẫn chỉ nghĩ đến danh vọng và mong ước thành chính quả. Cái cốt thật, vẫn chỉ là khoác lên mình chiếc áo cà sa và khéo che đậy bởi những lời nói dối mà thôi. Vị sư đó mãi không trở thành người trong sạch, một khi vẫn không thật tâm. Mà để nhận biết được con người thật tâm thì chỉ có đấng tối cao mới biết. Với loài người, ai sẽ là đấng tối cao phán xét điều đó. Đời không phải và không thể vậy nhưng đời lại luôn như vậy. Có những cái đích của sự tốt đẹp chỉ có thể mơ tới chứ không bao giờ có để được sống cùng nó. Đừng đòi hỏi điều gì quá đáng, một khi ta đã biết, đó là quá đáng thì hợp đạo hơn. Vâng, nên như vậy. Mọi sự quá đà đều sẽ dẫn đến đổ vỡ, xôi hỏng bỏng không. Đừng đao to búa lớn lên gân, to giọng. Chẳng ai nắm tay đến sáng mãi được hết. Hắn nhìn ra biển rồi lại nhìn lên rừng, hắn thèm một sự trong sạch và hắn tỉnh ra, hắn đang ở trong môi trường cực kỳ trong sạch, chỉ có điều, hắn có vượt qua cái ngưỡng ham muốn đôi khi là độc ác, để sống trong sạch hay không. Vinh Anh-3/7/22

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024


 
Đương nhiên với hai bà, chuyện con Bắc, thằng Nam được nói đến với những lời ngợi ca về sự giỏi giang và than vãn cho số phận của hai đứa. “Con Bắc nhà bà thế nào, mấy cháu rồi?” Bà mẹ cô gái nói liền một lèo, như nói ra sẽ trút bỏ nỗi lo sau khi được sẻ chia với bà bạn thân: “Chồng con gì đâu. Sự nghiệp, sự nghiệp cái gì mà sự nghiệp! Này hay nó là cái duyên cái số chúng nó vận vào nhau, sau đận con Bắc nhà tôi đi lại Liên Xô lần nữa, tôi đã lo. Học cao học giỏi để phần con trai. Đấy, thằng em thì chẳng ra gì, con chị cứ tiến vù vù. Nó vụ phó ở Bộ đấy… Thế còn thằng Nam nhà bà?” “ Nó lành lặn, không đui què gì cả, chỉ phải cái sốt rét… Tôi bỗng nghĩ đến con Bắc, hỏi nó chuyện người thương người nhớ… nó chỉ nhăn răng, trai ba mươi tuổi đang xoan, lo gì… nhưng có vẻ như sao ấy, khi nói đến con Bắc, nó chỉ “ghê thế cơ à?” Hay là ta tạo cho chúng gặp lại nhau. Thằng Nam cứ mỗi lần nói đến con Bắc, nó chỉ cười, bảo, đi xem mặt mà chỉ thấy mỗi mái tóc ngúng nguẩy trên vai gầy… rồi thì tiếng oanh vọng vào như chim hót…(câu này mẹ như bịa ra để tim người con gái nghe được thổn thức thêm) Này bà, cái kiểu nói đó cũng có ý có tứ đấy chứ, bà hiểu không?” “Ừ nhỉ, cậu ấy vậy mà cũng dí dỏm ra phết, nhỉ? Để tôi kể cho con Bắc...” 
Một câu thơ buông lơ lửng nghe chơi vơi hợp với tôi: “Em xa lánh những ngày vui trên phố/ Để nhớ người hay nói/ Lính mà em…” Tôi nhớ cô bé đó. Chút chất lính còn lại trong tôi xao động. Tôi không ngờ, sau này người đó lại là nàng thơ của tôi. Cũng vô tình thôi, chiều đó, tôi đi qua một khu trọ tập thể nữ sinh. Tôi nghe được tiếng hát từ trong đó vọng ra. Không phải là hát mà là đọc thơ. Đọc với kiểu ngâm của người xứ ta, nó ngân nga như hát. Em gái đang yêu hay sao? Có lẽ vậy! Tôi thích tiếng hát và đứng lại nghe. Tôi giả vờ ngắm hàng cây dọc hàng rào, nhìn trời trong, nhìn mây trắng và nhìn chim bay. Tôi đang cố tạo ra dáng vẻ vô tình. Tôi phát hiện ra một con chim lách chách, nhảy liên tục từ cành này sang cành khác. Con chim bé tí, màu xanh. Tôi gọi nó là chim sâu. Mắt tôi tìm chim sâu nhưng tai tôi tìm nghe tiếng thơ, tiếng hát. Cô bé giọng hát mà nghe như thì thầm to nhỏ bên tai, đã chuyển sang một bài hát khác, cũng là bài hát về tình yêu, bài quan họ “Người ơi, người ở đừng về…” Chính vì lời ca đó mà tôi đứng lại, đừng vô tình nữa, nán lại xem mặt cô gái kia đi. Tôi tò mò. Rồi giọng ca lại chuyển sang “Con đường xưa em đi, vằng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê… con đường xưa em đi, thời gian cố quên đi, đá mòn kia vẫn ghi..” Tôi mê đi vì lời ca, vì giọng hát, cô bé nỗi lòng quá, tâm trạng quá, chắc chắn cô đang muốn gửi tiếng hát về phương trời nào đó, cho ai đó, vì nghe thao thiết lắm.