Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2021

Chuyện tình kể lại

 

Chuyện tình kể lại 
                                                                                                     Chuyện có ½ sự thật đấy

 Hàng xóm nhà tôi, nói cho vui, hiện như bị ngất ngơ. Lão bị xuất huyết não hay đột quỵ gì đó, tôi không phân biệt đươc nên cứ gộp lại bệnh loại đó làm một, vì hai thứ đó ai mắc, đều dễ bị để lại di chứng. Từ thay đổi kiểu dáng đi đến nói năng, đều bị ảnh hưởng. Lão bị dễ đã sáu bảy năm nay. Bệnh lão nặng, cứu được sinh mệnh nhưng để lại nhiều tổn thương, não này, chân tay này, nói năng này, trí nhớ này… Đại loại bây giờ lão là phế nhân thật sự. Rõ khổ! Nhiều lúc nhìn mặt lão ủ ê, hướng về xa xăm với đôi mắt rất u hoài, buồn thê lương, não nề… Chắc lúc ấy lão chán đời lắm. Tôi không dám đùa. 
Lão vốn là một thày giáo dạy viết báo. Thời nay, thày thì cũng dăm bảy loại, tôi không quan tâm, chẳng biết lão dạy ở đâu. Nhưng rồi chú ý, khi lão khoe với tôi những bài viết của lão được tập hợp ở một quyển sách. Lão chỉ vào cái tên ở dưới bài và vỗ vào ngực lão. Vậy là tôi phục. Chuyện viết lách thì tôi chịu, khó lắm. Viết cho mình đọc, nhiều khi còn không dám đọc lại, huống hồ đây, lão viết cho ối người, không những đọc mà còn phải học nữa. Lão ấy giỏi, chắc giỏi, tôi nghĩ thế. 
 Bằng chứng lão ấy giỏi thể hiện ở hai đứa con. Hai đứa con lão đều là học sinh của một trường danh giá ở Hà Nội, trường Am. Chưa tốt nghiệp phổ thông, mà hai đứa con lão đã đứa trước đứa sau, lần lượt tạm xa bố mẹ, xa gia đình, đi du học bên trời Tây. Lão bảo, lão chẳng tốn một đồng. Tôi bảo, ông sướng nhất, cái đầu của ông hồi đẻ chúng nó siêu nhỉ. Lão cười khoái trá, sươướng, nhấn trọng âm rất to “ướng”, quên cái chân khi đi cứ mỗi bước, mỗi bước đá văng ra ngoài, quên cái tay không nhấc nổi viên gạch, quên cái giọng nói mà ngoài vợ lão, tôi tự hào có thể làm phiên dịch cho lão. 
Tôi thích nói chuyện với lão. Cũng vậy, lão thích nói chuyện với tôi. Tôi hay to mồm bắt nạt lão vì biết bây giờ lão chả cãi được tôi. Tôi hay hỏi chuyện ngày xưa của lão. Được gợi nhớ về ngày xưa, lão rất thích, vậy là chưa già nhưng vì bệnh tật, lão cũng đã già như tôi vì chỉ người già mới nhắc lại quá khứ.
 Nghe lão, thấy lão cũng kinh qua chiến tranh, lại cả học Tây xã hội chủ nghĩa nữa. Lão chỉ cho tôi bạn học của lão, tôi nhận ra trong ảnh có một ông to to, một bà lớn lớn, đôi khi xuất hiện trước công chúng, cũng có cả cái bà hay tua băng: Việt Nam đầy đủ bằng chứng thì phải. 

Tôi cũng tranh luận, chỉ trích cái nghề của lão, nhiều lúc lão cáu, không nói lại được. Không phải vì lão yếu lí mà vì cái di chứng khốn kiếp của căn bệnh khiến lão không nói ra được. Lão cáu, và lão xua tay, ra cái điều không thèm nói. Tôi biết và bồi thêm, ông thua rồi nhé. Lão quàu quạu, không thuua. 
Một lần, lâu rồi, lão lôi tôi vào nhà, dẫn lên gác, mở máy tính và bật một giọng ca nữ, đâu như bài hát nói về tình yêu, nghe chỉ thoang thoảng, có rừng, có núi, có suối, có mây, có chim hót, có tiếng bom… tôi thấy lạ và chú ý nhưng lão chỉ cho tôi cái bản tin của BBC hay VOA gì đó. Trong bản tin có đăng ảnh tôi đi biểu tình phản đối Tàu khựa xâm phạm biển đảo Việt Nam, trong ảnh tôi đang giơ cao tay và mồm đang tròn chữ o, hô khẩu hiệu. Lão cười, chỉ vào ngực tôi, gơớm nhỉ, phản độông à? 
Từ đó, lão và tôi càng hay nói chuyện với nhau. Vậy là tôi cũng khoái chí. Khoái vì lão đã biết phần nào về cuộc sống và hoạt động của tôi. Tôi nói với lão, báo người ta thế mới là báo chứ, báo các ông vất đi, chó đọc. Cả đời ông đào tạo ra bao nhiêu thằng chỉ biết viết láo và nói láo, chỉ biết bưng bô, chỉ biết tụng ca. Lão im, chỉ yếu ớt phản đối, khôông phải thế. Được thể tôi bảo, ông là trùm tuyên giáo, ông là nguyên nhân của tội lỗi... Lão nhăn mặt, nổi khùng, khô…ông, khôông… tuyên giáo. Nói cứ như Tây học nói, mặt đỏ tía, khó nhọc, rặn ra từng từ. 
Về sau, hễ thứ bảy và chủ nhật, gặp nhau là lão hỏi, biểu iểu… tình không? Lão không nói được nhiều từ gãy gọn, nhưng, vậy là lão biết các vấn đề thời sự đang xảy ra. Còn biết đến đâu, tôi chịu. Nhưng mà nghĩ, lão, có lẽ, đang dần “giác ngộ”, giác ngộ theo cách hiểu của tôi. Tôi nghĩ, lão như vậy mà thay đổi thì nhanh thật, giỏi thật. Lão thông minh…
 Mới đây, độ như mùa hè, ngang qua nhà lão, thấy lão ngó lên trên cao, tay cầm cái cán cờ. Tôi nhìn theo, trên đó đang có một lá cờ bạc phếch, bay bay theo gió và đã rách ở góc. Nhà lão neo người, hai đứa con đi xa, vợ thuộc diện liễu yếu đào tơ, chân yếu tay mềm, nên ngọn cờ cứ vậy tung bay, phất phơ quanh năm. Tôi bảo, nhà ông kiên trì cách mạng đến cùng nhỉ? Lão nhai lại, đến coòng. Đúng là lính thời chiến mới biết và hiểu câu nói đó. Tôi hỏi, thay cờ à? Ừ, thaay cờ. Chiêến… đâấu bằng cờ, hiểu khôông? Tôi ngạc nhiên, lão này thâm thật, đúng dân viết lách, tuyên giáo có khác. Sao mà lão cập nhật thông tin nhanh thế. 
Ừ, mà lão thông minh hơn tôi tưởng nhiều. Lại nói về cô vợ chân yếu tay mềm của lão. Vợ lão xinh thật, chẳng thế mà lão có hai đứa con đẹp như mơ. Vợ tôi có lần nói lão hay ghen lắm đấy, đừng liếc ngang liếc ngửa. Vì thế, với vợ lão, tôi cứ “cách ly xã hội” mà nhìn, luôn trên hai mét cách, đảm bảo an toàn tuyệt đối, chẳng con vi rút Tàu nào xâm phạm được.
 Nói gì thì nói chứ đàn ông nói chuyện với nhau bao giờ cũng phải có chuyện phụ nữ chêm vào cho đậm đà. Chẳng hiểu phụ nữ có vậy không, chắc cũng thế, nhưng phụ nữ vẫn có cái đáng yêu riêng, cái đáng yêu đó nếu người đàn ông nào bắt được sóng của nó, thì dễ thành tình yêu, dễ thành đôi lứa để sống cuộc đời vợ chồng. Ấy là tôi cứ suy từ tôi, tôi nói đại ra vậy. 

Về cô vợ của lão, vì sao mà lão bắt được sóng, chuyện kể qua lời cái lão chỉ nói được từng tiếng, rặn ra từng tiếng, như thế này thì mất công phán đoán lắm, mất công gợi mở lắm, mất công dịch giọt lắm, mất công chắp vá lắm mới thành chuỵên được. 
 Số là cô vợ lão bây giờ là người cùng đơn vị thanh niên xung phong hỏa tuyến. Nàng không những đẹp mà lại còn hát hay nữa kia. Cái người như vậy thì mấy khi hạnh phúc trọn vẹn. Các cụ đã bảo rồi, hồng nhan bạc phận mà. 
Lão và nàng ở hai xã khác nhau nhưng học cùng trường. Lão học trên nàng hai lớp. Lão nổi tiếng vì học giỏi, còn nàng thì như mọi thiếu nữ khác lấy khiêm nhường, dịu dàng là cốt cách. Vào đội thanh niên xung phong, lão mới biết nàng còn nàng biết lão từ ngày còn đi học. Lán của trung đội nữ thanh niên xung phong ở đầu nguồn suối, để kín đáo cho chị em. Phía trên đó suối chảy mạnh và có những phiến đá to, nước suối chảy tràn qua các phiến đá, rơi xuống phía dưới, dàn hàng ngang trên các phiến đá, như mái tóc xõa ngang vai các nàng thiếu nữ. Ngày thường, nước chảy nhẹ nhàng, róc rách, êm đềm, tạo thành một lớp màng nước mỏng tang, khi rơi xuống gần như theo chiều thẳng đứng của mấy phiến đá, tạo ra phía dưới khoảng hai mét, một vũng nước to. Chỗ đó để chị em tắm rửa sau một ngày lao động vất vả trên đường. Lán của các đấng nam nhi lui về phía sau, cách chỗ chị em nửa cây số, để canh chừng bảo vệ cho chị em. 
 Con suối đó vòng vèo dưới các tán lá của cánh rừng nguyên sinh, rất nhiều cây lớn, vươn cao ngạo nghễ, nhìn trời đất và hít thở không khí rừng già. Vô số các loại cây nhỏ bám theo. Ở đâu cũng vậy, cuộc sống loại thực vật cũng vậy. Các chàng thích tán các em bên lán nữ, thường vào rừng, tìm phong lan, hái tặng. 
Lão để ý đến nàng ngay vì sự tinh nghịch và nhạy cảm học trò. Tinh nghịch là do ngày đó, lão hay rủ rê mấy thằng bạn sang lán nữ mò mẫm, tìm hiểu. Vì cái mò mẫm đó mà lão biết lý lịch của nàng. Nàng của lão ngày đó mới mười bảy, học xong lớp 8 thì nghỉ học. Vậy mà so với số nữ của trung đội thanh niên xung phong, nàng của hắn học cao nhất. 
Ở quê, chuyện con gái nghỉ học thì có cả ngàn lí do, lý do đầu tiên là nhà neo, lấy chồng. “Đã neo người còn lấy chồng”. Hắn trêu nàng như vậy lúc đi ngang qua. Còn nàng đáp: “Neo là nhà người ta… Lấy chồng là nhà mình…” Lão hỏi tiếp: “Nhà người ta… là ai…” Nàng bảo: “ Thế mà cũng học sinh giỏi…”
 Chẳng hiểu sao, cái mảnh đất đồng chua, bạc màu ấy, quanh năm người nông dân cứ bán lưng cho đất, bán mặt cho trời đó, lại nảy ra một cô gái trắng nõn nà. Hắn trêu nàng: “Em tắm bằng bình nước ở cái nhà anh bán hành phải không?” “Hành gì?” “Dọc bằng đòn gánh, củ bằng bình vôi, ai mua hành tôi, thì thương tôi với, ấy. Này anh là anh bán hành chính hiệu đây”. Nàng của hắn: “ Rõ dơ, hành vôi gì ở đây…” Hắn thấy nàng quay mặt đi và nụ cười tươi rói kèm theo. Hắn thích lâng lâng. 
Lão là học sinh giỏi, ai cũng biết. Nàng của lão hát hay, không mấy người biết. Nhưng với sự tinh nhạy của cậu học trò đang ngấp nghé ngưỡng cửa đại học, cả ngưỡng cửa yêu đương nữa, lão biết nàng có giọng rất tốt, khỏe và mượt mà, tha thiết. Nàng của lão hát hay, khiến lão chết ngây bao lần. Những ngày đó, lão nghe trộm là chính, còn nghe nàng hát chính thức chỉ là phụ, nàng chỉ ngồi hoặc đứng trong đám đông, hát đồng ca. Có chăng chỉ các bạn nữ cùng lán, biết giọng của nàng. 
Có lần lão lén đi theo nàng ra suối. Nàng ngồi trên phiến đá hát. Ôi chao, rừng xanh, suối trong, mây trắng, gió mát, hương thơm… theo tiếng hát của nàng làm lão ngất ngây mê mết. Chiều hôm đó, lão tìm cách nói với nàng: “Họa mi ơi, vàng anh ơi, chui vào tay áo anh nhé…” Nàng của lão: “Hứm… nghe trộm nhé, liều liệu chết đấy…” 
Lão chết thật chứ không chết lịm. Cái chết của thằng si tình. Lão quên là lão đang nghe trộm. Với kiểu “nhòm ngó” đó, nếu ai tóm được lão, lại bảo lão nhìn trộm con gái tắm. Tội tày đình, tan hết mọi giấc mơ của thằng học trò mà tương lai đang ngời ngời. 
Mà có người thấy thật. Người đó chính lại là bí thư đoàn. Lão giật mình khi bất thình lình, bí thư đoàn đứng trước mặt lão. Bí thư vốn không ưa thằng học sinh giỏi này. “Về nhà ngay. Sao đồng chí lại như vậy, đồng chí không xấu hổ à?” 
 Bí thư đoàn muốn xử lý lão để giữ nghiêm kỷ luật và để gì nữa không ai biết. Và thế là kiểm điểm. Kiểm đi kiểm lại, kiểm lên kiểm xuống để kết tội lão. Nhưng nàng của lão cứu lão. Nàng nhận, nàng rủ lão đi chơi, đến chỗ thác xỏa tóc ngồi nói chuyện, vì chỗ đó đẹp. Còn vì sao lão có dáng ngấp ngó, ngóng trộm đó là vì nàng bảo lão lên bờ trên kia chờ, để nàng tắm. Nàng cố tình cho lão phải đợi, lão sốt ruột, nên mới có “dáng đứng sốt ruột” đó. 
Thế rồi có chuyện. Ngày đó đạn bom nhiều lắm. Thanh niên xung phong nhiều khi còn khổ hơn bộ đội. Hôm đó, anh em lên tuyến hết, chỉ có nàng nằm một mình trong lán vì sốt rét. Bom không đánh trúng đường nhưng lại lạc vào lán. Như linh tính báo, lão chạy thục mạng về hậu cứ. Cảnh tượng tan hoang, cây cối ngổn ngang, rất khó để có thể nhận ra chỗ ở của mình. Khi tìm được nàng dưới hầm chữ A, cũng do linh tính, mà lão xác định được căn hầm nàng ngồi tránh bom, nàng bị sức ép và bị ngạt thở. Sau một hồi hô hấp nhân tạo, cấp cứu, nàng thoát bàn tay tử thần. 
Sau tất cả những cáí gọi là sự kiện xảy ra đó, cái chính là cứu được sinh mệnh, mọi người như quên luôn chuyện “dáng đứng sốt ruột” của lão. 

Hết chiến tranh, lão được chọn đi học. Thực ra, lão đã đỗ vào đại học và được chọn đi học từ khi học hết lớp 10. Lão, như nhiều thanh niên ngày đó, có cái sĩ diện, cũng có cả lòng yêu nước, chẳng biết cái nào lớn hơn, nhưng người ta chọn lão đi thanh niên xung phong, có lẽ cũng nghĩ, sau 6 tháng tôi luyện rút ra, đi học vẫn kịp. Lão chấp nhận và duyên số để lão gặp nàng. Rồi 5 năm sau, nên duyên nên số. Thời gian yêu cũng khá dài đấy chứ, thử thách nhiều đấy chứ. 
Cái ngày lão bệnh, nàng ngồi bên giường, vừa ngân nga những bài hát xưa vừa nuốt vào lồng ngực những giọt nước mắt. Trên giường bệnh, thấy lão mỉm cười, nụ cười thanh xuân. Có lẽ lão nhớ lại được những bài hát mà lão nghe trộm với “dáng đứng sốt ruột” bên suối, mà nàng đã bao che, gỡ tội cho lão, những bài hát dệt nên tình yêu và đi vào giấc mơ của lão, cả lúc vui lẫn lúc buồn. 
Mấy người cùng chăm người nhà bệnh như nàng nói với nhau, lão ấy sống được là nhờ nghe thấy tiếng nàng hát. Tôi cũng tin như vậy khi để ý mắt lão nhìn nàng. Cái nhìn chứa đựng tình yêu, đong đầy lòng biết ơn cứ sâu thăm thẳm và ngập tràn lãng mạn của tuổi trẻ như cái ngày xưa bên suối nước trong, mây trắng, chim hót với hương rừng ngào ngạt. Vậy là lão khỏi. 
 Mấy tháng nay, không khí vi rút Tàu như tràn ngập. Lão ngồi bên cửa ngắm mưa trong tiếng mưa rơi. Lão nhìn bàu trời u ám với vẻ mặt cũng u ám không kém. Lão nghĩ về các bài giảng ngày xưa mà lão được học và cả được dạy, như có điều gì day dứt mà lão không thể nói được. Lão nghĩ đến vị trí làm thày của lão và những thế hệ kế tiếp. Giờ đây, lão muốn nói nhiều, nói những cái khác cái ngày xưa đang nghĩ ở trong đầu mà lại không nói được. 
Tôi vào, lão chỉ vào mồm ‘tự dooo” rồi chỉ vào đầu: “noói khó quá.á.” Rồi lão phủi tay “khô.ông nói đư.ơc”. Trong nhà, tiếng từ TV đưa tin tàu cá của ngư dân bị tàu của Tàu cộng đâm chìm. Nghe hết tin, lão tắt TV, vang lên một giọng nữ tươi mát, tinh khôi, ngoái cổ nói với tôi: “Tua cho em này hát, tắt tua Việt Nam khẳng định chủ quyền em kia đi…”. Tôi há mồm, lão luyện giọng từ bao giờ mà nói gãy gọn thế. 

 Vinh Anh-8/4/20

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Bài gửi báo Văn nghệ Mạn ngược xa xôi (phần 1) 
 Truyện ký 
 1.Tôi thích sông nước, thích được ngắm mấy chiếc thuyền buồm đậu chật bến sông quê tôi. Cái bến bé tí tẹo, nhưng có thuyền đậu là vui. Cái thích của sự tò mò, trẻ con. Bến sông gần ngay nhà, nơi tôi một thời ở với ông bà nội. Nói đến sông quê tôi là tôi nhớ đến Ngô Quyền, chẳng cách bao xa, bên kia Thủy Nguyên có bãi cọc Bạch Đằng. Cũng chẳng hiểu sao, ấn tượng đến tận hôm nay, con sông quanh quanh, đỏ ngầu, đầy rều rác khi thủy triều lên, tôi thấy rất mênh mang vì cảm như có thêm rất nhiều thuyền bè và chiến công một thời chói lọi. Còn với con đường cong cong bẩn thỉu, lép nhép, toàn người nói tiếng Quảng Đông, họ tụ lại thành dãy nhà san sát, như một xã hội nhỏ riêng, tôi nghĩ, dãy nhà mang nặng chất “Tàu ô”, tôi thích sông nhưng lại ghét dãy nhà đó, đến đó, tuy là quê mình, tôi thấy lạ lẫm hơn các chỗ khác. Chẳng vậy mà người quê tôi, từ bao giờ không biết, gọi là xóm Tàu.
 Nhìn những chiếc thuyền to nhỏ đậu san sát bên nhau, tôi cho đấy là một cuộc sống thú vị và rất mong một ngày nào đó, được xuống thuyền, xem những bí mật trên thuyền, biết cách ăn ở trên thuyền và xem những con cá mà họ bắt được… Lạ cái là, tôi nghĩ ở thuyền, chỉ có mỗi chuyện thuyền và cá. Cứ làm như thuyền chỉ để bắt cá. Và tôi nghĩ về những người làm nghề chài lưới chuyên sống với sông nước, và ước… sẽ được ra sông, bơi lội, lặn ngụp, vỗ về cùng sóng nước. Nhưng sông nước là chỗ chơi mà người lớn cấm kỵ. Bất cứ đứa cháu nào, đến với ông bà, đều không được ra sông. Đe mãi, nên cái bến sông chỉ là nơi còn hấp dẫn với riêng tôi. Với sở thích đó, tôi đơn độc. 
Đúng là sông nước thì rất hấp dẫn và có lẽ, sau này tôi còn biết, luôn mãi là hấp dẫn. Nó hấp dẫn bởi sự êm đềm, lặng lờ. Cái lặng lờ êm đềm đó cho hồn ta trôi về miền ký ức với những mộng ảo, diệu kỳ, tươi xanh, không thực nhưng lại rất đỗi hiển nhiên. Nó hấp dẫn bởi dòng sâu của nó. Đố ai biết những gì xảy ra trong lòng nó. Nhìn những dòng xoáy tròn tròn mãnh liệt, dữ dội, cuốn về nơi sâu hút mới thấy kỳ bí và hiểm nguy làm sao. 
 Vậy mà, con người luôn hướng về phía dòng sông, nơi hội tụ bao điều bí ẩn. Rồi nhiều con sông tạo thành vùng châu thổ phì nhiêu, những cánh đồng bát ngát, những cuộc sống ấm no, những làng mạc trù phú và vì thế, luôn là miền chất đầy nỗi khát khao của con người. 
Trong số những đứa cháu ngoan, biết vâng lời người trên, không có tôi. Tôi đứng nhìn con sông với cuộc sống của những người trên thuyền không biết chán. Tôi chỉ thấy đó là một cuộc sống vô cùng lý thú. Lý thú về sự lênh đênh. Cái lênh đênh với tôi, ngày đó, nhẹ như chiếc là trôi trên mặt nước, chiếc lá trôi theo bất cứ ngả nào, trồi lên trụt xuống, xoay ngang, lộn ngược ở bất kể ghềnh thác nào. Tôi muốn được như chiếc lá, trôi tận mọi bến bờ, đến tận mọi ngóc ngách, chẳng suy nghĩ đắn đo, chẳng nơm nớp nỗi sợ hãi của người lớn. 
 Hình như, muốn bơi dưới sông như cá, muốn bay trên trời như chim là nỗi khát vọng của con người từ xa xưa. Tôi cũng chỉ là một trong số những đứa trẻ có ước vọng viển vông ngây thơ, rất trẻ con đó. Và chiếc thuyền lênh đênh kia chính là sự thể hiện khát khao của con người. Ở trên đó, con người sống được cùng sông nước. 
 Cái mong ước lênh đênh sông nước đó được thực hiện bằng những chuyến đò ngang qua sông. Tôi xuống thuyền cùng bà và gỡ tay bà, tót ngay ra mũi thuyền ngồi. Đò ngang không phải phiên chợ nên không đông khách, bà để cho tôi ngồi chéo chân bên mũi, người xoay lệch, thích thú cho mấy đầu ngón tay xuống nước, nhìn những cái bọt trắng bắn ra qua kẽ tay, hình như đó là cảm giác hòa tan đầu tiên với thiên nhiên của một tâm hồn bé bỏng, nước tóe ra qua các kẽ ngón tay thành những con sóng li ti và tan biến. Đò cặp bến mà tôi vẫn còn cố đưa tay xuống nước. Bà kéo tôi lên, tôi tiếc rẻ, sao nhanh thế, hả bà? Cho con đi nữa đi… Bà cười, thôi lần khác, bà lại cho đi. Nếu ngoan, bà cho đi đò dọc, tha hồ mà chơi. Tôi bỗng hỏi, bà ơi, đò dọc quan cấm, thì sao hả bà. Bà cười, đó là ngày xưa. Ngày đó chắc lâu rồi, bà cũng không biết nữa, nhưng… đi với bà thì cháu lo gì. Cứ ngoan và học giỏi đi, bà sẽ thưởng cho chuyến chơi đò dọc. Tôi tin là bà sẽ cho đi đò dọc. Đò dọc thì được đi lâu hơn, tôi nghĩ thế. 
Vậy là đến cái mùa hè đó, kết thúc năm học, tôi ôm về cho ông bà một đống sách tiếng Tây, toàn tiếng Tây, phần thưởng cuối năm học. Bà nói, con học giỏi hơn bố. Bố con học mãi không nhận được cái bằng, chỉ thạo đánh bóng. Đánh bóng cũng được rất nhiều phần thưởng, nhưng phần thưởng của con, bà tự hào hơn. Tôi biết bà đang thích, liền nhắc, bà cho con đi đò về quê đi. Bà cười, cha bố anh, nhớ dai thế. 
Nhưng không phải về quê mà là ngược. Bà với tôi cùng bác dâu trên chiếc thuyền chất rất nhiều hàng hóa, trong đó có những súc vải đẹp của Tây, củaTàu, của Ấn từ trước. Bà đưa hàng lên mạn ngược. Tôi hỏi thế vải của mình đâu. Bà bảo còn phải học Tây, học Tàu, học Ấn nhiều nữa, mới có cháu ạ… 
Khỏi phải nói tôi sướng biết chừng nào. Trước cái đêm xuống thuyền để đi, tôi nhảy tưng tưng và chẳng hiểu nguyên do gì mà lại đi về đêm. Tôi hỏi bà, bà bảo cho hợp con nước. Con nước là gì, tôi không tìm hiểu thêm, chắc là đi cho thuận, tôi nghĩ. 
Đêm đó tôi như không ngủ. Tôi ngồi đầu mũi, ngắm người chủ thuyền ngồi bên lái, giăng buồm cho gió đẩy thuyền đi. Tôi nhìn giời đầy sao, rồi nhìn hai cánh buồm một to, một nhỏ lung lay chút chút, ngả nghiêng chút chút, kẽo cọt chút chút và cảm thấy, chao ôi, sao mà sướng. Người cứ lâng lâng, khó tả. Tôi lân la xuống cuối thuyền, chỗ ông chủ hỏi, ông ơi, ông dong buồm thế nào, mà thuyền đi được. Ông chủ thuyền nhìn tôi ngạc nhiên. Ông chưa thấy thằng bé nào hỏi như thế. Ông cũng không đủ lý lẽ để giải thích cho hắn hiểu. Ông nói đơn giản, ông đi nhiều nên biết mọi chuyện gió máy, biết cả khi nào trời mưa trời nắng. Nghĩa là ông sống lâu, đi nhiều nên biết nhiều. Cháu lớn lên sẽ còn biết nhiều hơn ông. Tôi hiểu được những lời ông chủ thuyền. Tôi bảo, đi một ngày đàng học một sàng khôn, ông nhỉ. Bà cháu cũng bảo vậy. 
 Tôi lên mũi thuyền, nhìn màn đêm. Đêm mát rượi. Nằm dài nhìn lên trời rồi lại ngổi dạy, nhìn đêm. Tôi loay hoay không biết làm gì mà đầu thì bao nhiêu câu hỏi. Tôi lại xuống với ông chủ lái thuyền “Thế ông ơi, ông có ra biển không? Hồi trẻ ông cũng đã đi, nhưng ra biển sóng lớn, thuyền phải chắc chắn, thuyền này không đi được. Thế ông có bắt được cá không? Ông không đánh cá. Thế ông đi đến đảo xa bằng cách nào, làm sao mà ông nhìn thấy đảo?... Hắn hỏi liên tục và rồi hắn quay ra ngủ ngay bên chân ông chủ thuyền trong khi mồm vẫn muốn hỏi. Với hắn cái gì cũng lạ. Bà nội nằm trong khoang đã mấy lần nói với ra, bảo hắn ngủ đi, mà đâu có bảo được. Cái ngủ đến tự nhiên với nó. Ông chủ nhìn nó, buột miệng, thằng bé đến là thông minh. Những câu hỏi ngây thơ đêm qua với ông chủ thuyền cho nhận ra cái trong veo, tinh khiết trong hắn
 Sáng sau, thức dạy đã thấy thuyền neo ở một vùng hoang vu, heo hút lắm. Thực ra, ngay khi xuất phát, nhìn vào màn đêm, tôi đã thấy heo hút, tôi đã thấy cái “mạn ngược” với nhiều khổ ải và mù mịt. Đôi khi, chỉ đôi khi, thấy xa lắm, rất xa, thấp thoáng, mập mờ ánh đèn, những mập mờ ánh đèn đỏ không ra đỏ vàng không ra vàng, nó nhòe nhạt như những con đom đóm, tôi cũng nghĩ đến cả mấy con ma trơi đang bay lượn bên sông. Tôi rùng mình cũng hơi sợ nhưng nhìn ông chủ thuyền, tôi vững tâm ngay. Đúng là qua sông phải lụy tay chèo. Đằng này mình đi dọc sông, khó vạn lần ấy chứ. 
Thuyền của bà neo kề cùng với dăm bảy chiếc thuyền nhỏ khác, sát nhau, ken nhau trên một bến như một vũng nước sâu “bằng cái bàn tay”. Tiếng người nói râm ran. Tôi mở mắt và tỉnh ngay. Một giấc ngủ thần tiên, không mộng mị giữa hoang sơ, khiến tâm hồn thanh thản, nhẹ lâng lâng. Tôi thấy bác dâu, bà và ông chủ thuyền đứng bên những người lạ như vừa xong chuyện mua bán. Thuyền đã bớt đi những xúc vải nhưng thay vào đó là những sọt hàng có mùi thơm lẫn cay của các vị thuốc bắc, mà tôi thường ngửi thấy ở các cửa hiệu người Tàu trong phố của tôi. Có cả những cái hũ da lươn xanh xanh, đen đen, nằm yên lặng trong đống rơm. Đặc sản của núi rừng. Bà bảo đấy là mật ong. Mật ong rừng về xuôi quý lắm.
 Tôi lên bến. Bến ồn ào, nhao nhác với đủ mùi vị và đủ các loại giọng nói. Và bến cũng là chợ. Chợ bán đủ các loại quả rừng và sản vật khác của rừng. Những mật ong, sa nhân, quế, hồi, đẳng sâm, ba kích… mà ta có thể gặp trong bất kỳ một đơn thuốc Bắc của mấy nhà thuốc người Tàu với những tiếng gảy lách cách của bàn tính và cả những thứ quả hái ở rừng về như quít hay mắc cọoc, nhìn đã tứa nước miếng vì chua. Thật thú vị nhìn ngắm những thứ trước đây chỉ biết trong sách và nghe người lớn kể lại. Tôi lại gặp lại quán hàng thơm phức với các mùi thơm rất dễ chịu của miền xa ngái. Từ xa đã ngửi thấy mùi hương, hương núi rừng, hương cây cỏ, hương bay phảng phất trong không gian. Tôi chạnh nghĩ, chỉ hít thở mùi hương đó cũng không thể mắc bệnh. Tôi đang đứng trước một gian hàng thuốc. Các loại cây cỏ đã khô và thái mỏng thành từng lát như miếng vỏ trầu của bà, mà tôi chẳng thể nào phân biệt, chắc bà đã chất những thứ này xuống thuyền lúc tôi còn ngủ. Những cánh hồi như cánh sao, có mùi thơm của vị thuốc mà tôi biết qua món thịt kho Tàu của ông ngoại, đây là những thanh quế, đen sậm như những vỏ cây khô, mắt nhìn chẳng thể nào phân biệt. Tôi cũng đã được ăn quế. Vị cay cay và ngọt ngọt của nó chữa được bệnh sổ mũi, rức đầu. Con bé cùng lớp cho tôi một mảnh, bé bẳng cái móng tay, bảo ăn đi, nhưng đừng có khóc. Tôi bĩu môn, tao mà khóc á rồi đưa miếng vỏ cây vào mồm, nhai và thấy cay thật. Vậy, nhưng vẫn lớn tiếng sĩ, thế này mà cay… Con bé che miệng, rồi, thấy rồi, không cay, đừng khóc nhè nhé. Nó quay mặt bỏ đi theo mấy đứa bạn với cái đuôi sam vung vẩy, lắc lư trên vai… rất ghét. 
Tối, tôi hỏi bà ơi, cho con miếng quế, miếng nào cay nhất ấy. Rồi, bà cho, mày lại bạn bè chứ gì. Ừ, cũng nên có quà cho bạn. Để bà lấy. Thế cháu thích cái gì, bà thưởng. Cháu chỉ thích bà cho cháu đi thuyền. Bà ơi, bao giờ bà cho cháu đi thuyền ra biển. Biển có sóng to, ông chủ nói thuyền này không đi được. Đi thuyền to chắc là thích hơn, phải không bà. Thôi, tôi xin anh. Anh cứ loanh quanh với tôi là đủ rồi. Lớn hãy hay, khi đó tha hồ bay nhảy, chẳng ai cấm. Nhưng vẫn phải nhớ là phải ngoan và học giỏi đấy. 
Hết chuyện, tôi lại mò ra phía ông chủ đang cắm sào đẩy thuyền ra xa bờ. Ông đi từ phía bánh lái lên mũi thuyền. Chiếc thuyền nan nhỏ hơn chục mét chòng chành, chòng chành. Đi nữa hả ông? Còn đi qua thác qua ghềnh nữa chứ. Cả đêm qua mới một đoạn đường, ăn thua gì. Cậu có thích lên rừng chơi không. Có ạ, cháu thích rừng lắm. Ừ thì nói với bà cho cậu lên rừng. Nhưng trước hết phải vượt thác đấy. Có sợ không? Cháu chỉ thấy thích thôi ông ạ. Ông nhớ cho cháu lên rừng nhé. Rừng vàng biển bạc ông nhỉ? Không hẳn đâu, cháu ạ. Lên đến đó cháu sẽ thấy khác. Còn nhiều người khổ lắm. 
Tôi nghĩ đến những người miền ngược đôi khi, họa hoằn lắm, gặp ở gần bến sông quê nhà hay gần chợ Sắt, khi cùng bà đi chợ. Bà bảo họ sống trên miền núi, xa lắm. Những người đàn bà mặc quần áo màu mè, thêu xanh, dệt đỏ, miếng vải vuông quấn trên đầu và buộc kín cẳng chân, trông như đi ghệt. Cái màu chủ đạo ở họ toát ra là màu núi rừng, màu của xa xôi, heo hút cả phần hoang dã nữa. Cũng có phần dài dại, không thật như người xuôi. Không hiểu sao không thấy đàn ông đi cùng. Cũng có lần thấy đứa bé đi theo. Những người này lưng đeo túi lưới đựng những cái gói giống cái bánh, bọc ngoài bằng lá khô, mà bà nội bảo đó là thuốc họ mang đi bán đấy. Có những loại thuốc hiệu nghiệm lắm. Còn bọn bạn trẻ thì thầm “Mẹ mìn đấy. Đừng đến gần, nó bắt đi đấy…” Mẹ mìn chuyên bắt trẻ con. Từ bé lắm, tôi đã nghe như vậy và tôi sờ sợ những người này. Tôi chỉ dám đứng nhìn những người miền ngược này từ xa và sẵn sàng bỏ chạy nếu họ tiến lại gần. 
Ông chủ cho hạ buồm, chống thuyền đi ven bờ. Bờ đầy lau lách. Những bông lau nở hoa trắng muốt. Một chút xa nữa kia là rừng. Nhìn lau, tôi nghĩ ngay đến Đinh Bộ Lĩnh, thủ lĩnh bọn trẻ trâu, phất cờ lau, đánh giặc. Tôi thuộc chuyện lịch sử về ông vua họ Đinh làu làu. Tôi nói với ông chủ thuyền, giá mà có nhiều bạn, chơi đánh trận giả ở đây, giống y ngày xưa, ông nhỉ. Ông chủ hỏi, thế ông tướng nào bơi giỏi, cháu biết không? Biết ạ, đấy là ông Yết Kiêu, tướng của Trần Hưng Đạo. Cháu rất thích bơi. Ông có lặn giỏi như Yết Kiêu không? Ông chỉ biết bơi thôi. Người như Yết Kiêu là thánh, chỉ có một thôi cháu ạ. Tôi im lặng nhìn đôi bờ. Sao âm u mịt mù thế nhỉ, cái mịt mù thanh vắng, tĩnh mịch. Cái thanh vắng rừng núi rờn rợn khiến tôi nảy ra rất nhiều ý nghĩ, rằng đây chắc rất nhiều voi và hổ báo. Cả hươu nai với rắn rết, lợn nòi... Nhưng kia kìa, đàn cò về đậu trắng cành cây bên sông. Trắng toát, đẹp quá. Người ta bảo cò đi ăn ngày nên lông nó trắng còn con vạc đi ăn đêm nên nó màu tro xám. Tôi lại nghĩ ngay đến câu ca dao “Con cò mày đi ăn đêm” Vậy thì sao? Nhìn từng đôi, từng đôi đang ríu rít rỉa cánh, đấu mỏ, tôi ước, giá mình biết được tiếng của loài cò nhỉ. Chúng sống quần tụ như trong một gia đình lớn. Những con nhỏ mỗi lần mẹ về là một lần cãi nhau ỏm tỏi. Đặc biệt chúng rất dạn người. Thuyền lướt qua nhưng cành cây mà phía trên chúng đậu, chúng cũng chẳng hốt hoảng. Một miền đất của sự thanh bình, yên ả. Tôi thấy dính kết với cảnh sắc êm ả, lặng lờ, kì bí một bên sông, một bên rừng và những đàn chim, đàn thú... Ôi cái miền ngược, cái miền ngược hoang sơ nhưng lại gợi nhiều điều tò mò vì những bí ẩn nó mang trong lòng. 
Tôi cũng nghĩ ngay đến Sơn Tinh khi mình đang ở trên “đất” của Thủy Tinh, tôi đang trên thuyền mà. Nếu nước dâng lên thì sao? Lại nghĩ về những loài thủy quái, tướng sĩ của Thủy Tinh. Không hiểu sông này có cá sấu không. Trong đầu tôi, luôn nghĩ cá mập, cá sấu đều là những thủy quái của Thủy Tinh, đặc biệt cá sấu, hàm răng của nó mới khủng khiếp chứ, lại còn bộ da sần sùi nổi lên toàn mụn với mụn, trông đến là sợ. Đúng là thủy quái còn gì… 
Nhưng đặc biệt hơn, tôi nhớ tới “cô bé quàng khăn đỏ”. Tôi chắc chắn trong rừng phải có chó sói và bác thợ săn. Tôi hỏi ông chủ thuyền, ông ơi, trên rừng có thợ săn không? Có chứ, nhà nào cũng có thợ săn. Đàn ông trên đây đều đi săn bắn và họ săn rất giỏi. Chính ông đây được thợ săn cứu sống đấy. Tầm chiều, thuyền sẽ đến chỗ ngày xưa ông ở và được cứu sống. Cháu sẽ tha hồ hỏi. Thế bác thợ săn cứu ông khỏi chó sói ăn thịt à? Ồ, không phải, chuyện dài lắm, khi nào rỗi, ông kể cho cháu nghe. Bây giờ thì ngồi chắc vào, cháu thấy nước chảy mạnh chưa, sắp đến thác rồi đấy. 
 Tôi nhìn xuống sông, đúng là nước chảy nhanh hơn. Những chiếc lá hoặc cỏ rác trôi theo dòng rất nhanh. Thi thoảng gặp những tảng đá to giữa dòng. Nhưng nhiều nhất vẫn là những phiến đá bên bờ. Màu xám đen của đá toát ra sự lạnh lẽo. Nhưng cái sắc nhọn của chúng chính là dòng xoáy nước. Chính những dòng xoáy này cho ta thấy sự nguy hiểm, gian lao của đường đi. Trên bờ, cũng thấy đôi chỗ in dấu chân người. Đó là những bếp lửa bên dòng sông mà dấu ấn để lại là những hộc củi bị đốt cháy nửa chừng, đầu cháy còn đen màu đen của than cháy. Tôi nghĩ, tất cả những thứ tôi nhìn thấy là sự hoang dã và chứa chất nhiều hiểm nguy của mạn ngược. Mạn ngược với tôi luôn là như vậy. Khi nào nghĩ về nó là tôi nghĩ, đó là những cánh rừng xa xôi heo hút, âm u bí hiểm, kỳ bí với ma quái và thần linh. Trong rừng nhất định nhiều yêu quái và đương nhiên các vị thần sẽ trừ khử chúng. 
 Ngày đó, tôi chưa từng nghĩ, rừng lại là bạn của con người. Cứ nghĩ đến rừng là tôi thấy ma quỷ và bí hiểm. Tuy cũng biết, rừng nuôi sống con người và cũng có những sản vật làm con người sống sung sướng. Thậm chí, rừng còn cứu con người thoát khỏi rất nhiều chứng bệnh nan y mà thế giới văn minh phải bó tay. Nghĩa là rừng mãi vẫn là thâm nghiêm, kỳ bí.
 Cái mát lạnh của hơi nước cảm nhận được dần dần theo hướng đi lên của con thuyền. Ông chủ thuyền hỏi tôi đã nghe thấy tiếng thác nước đổ chưa. Tôi lắng nghe và từ phía trên đâu đó dội về tiếng nước đổ. Tôi ngóng cổ nhìn về phía trước, trên cao và thấy một tấm màn trắng khổng lồ trải xuống. Đẹp một cách kỳ diệu, đẹp một cách thần tiên. Vẻ đẹp đúng như trong truyện cổ tích mà tôi đã đọc. Ở đó, những đêm sáng trăng, có những thiên thần áo trắng bay lượn. Ở đó có những cô tiên áo dài thướt tha múa hát. Ở đó có hoa lá cỏ cây muôn màu rực rỡ, hươu nai lững thững gặm cỏ… để rồi sáng sớm, các nàng tiên lại bay về trời và để lại dưới trần thế, cho những ai nhìn thấy, sự nuối tiếc kèm theo mơ ước và nhớ nhung. Cổ tích có nói về một cô tiên, do ham chơi, về muộn và bị vua cha phạt, không cho về trời. Những ý nghĩ lẫn lộn ùa vào tôi, dồn dập, cái nọ tiếp cái kia, truện này qua truyện khác. Những cái gì đẹp nhất mà tôi đã đọc được, tôi nghĩ chính là ở chốn này. Nơi đây đúng là thiên đường mà con người mong ước. 
Thuyền dừng lại nghỉ đêm ở gần thác nước. Đêm mát lạnh vừa vì khí hậu núi rừng vừa vì gần bên thác. Đứng ở đây mà tôi như ngửi thấy mùi của chiều thu se se, tôi cũng cảm thấy cái mùi của mưa phùn mùa xuân qua cái vị âm ẩm mà thác nước tạo ra các hạt li ti và bay tứ tán khắp nơi. Còn nữa, tôi thấy cái tráng lệ, cái tuyệt mĩ và ao ước làm sao biết được bí mật của dòng nước đang đổ xuống qua một khe hẹp, đầy rong rêu xanh thẫm. Nhìn nước đổ xuống, thấy thiên nhiên trời đất quả quá tuyệt vời. Thác nhỏ thôi, nhưng cao, cao lắm, nước từ tít tận đỉnh núi mà tưởng như từ tít trên trời đổ xuống. Phía dưới là một vũng rộng, to như cái ao thả cá của làng, và tôi nhìn ra sự trong veo, sự tinh khiết và cả sự bộc bạch hồn nhiên của núi rừng. Nhưng đây lại đang là mùa hạ. Tôi đang được bà cho đi chơi và lần đầu tôi thấy cái đẹp mà tôi cảm nhận rất người lớn. Đứng một chỗ mà nhận ra vẻ đẹp quanh năm của một con sông mạn ngược, một cái thác tuyệt vời chỉ có trên mạn ngược với những làn nước trắng phau, mỏng tang, có thể nhìn xuyên thấu và đẹp mê hồn, nơi mà mới chỉ mới đây mấy ngày thôi, từ nơi tôi ở có con sông Cấm với thuyền bè đậu chi chít, thì đây chỉ là heo hút dặm dài chỉ với tiếng gõ đều đều của móng ngựa trên miền đá sỏi vùng sơn cước. Tôi luôn cảm thấy mình là kẻ được hưởng thành quả của cha ông đã gìn giữ biên thủy xa thẳm và nơi đây chất đầy xương máu cha ông. Cứ nghĩ đến vùng sơn cước là thấy mạn ngược xa xôi. Bà không cho tôi lên. Đứng gần đây cũng đủ thích rồi, nhất anh rồi. Leo lên cao nguy hiểm lắm. Nguy hiểm nhưng phải gìn giữ, bà nhỉ? Tôi nghĩ thế, 
 Vậy là trong tôi, ngay từ tuổi ấu thơ, mạn ngược đã rất kỳ vĩ và bí ẩn. Mạn ngược cũng tinh khôi trong kỳ bí lịch sử và cũng rất lãng mạn thần tiên trong cổ tích. ***** 
 
Mạn ngược xa xôi (phần 2) 
 2. Sau này, cả chục năm trôi, mạn ngược với tôi còn nhiều khăng khít tiếp diễn, vậy mà tôi vẫn cứ thấy nó hoang sơ, dài dại và tôi không quên ngày xưa đầu tiên tiếp xúc với nó, gặp nó và có tình cảm với nó. Tất cả những gì xảy ra trong chuyến đi đầu tiên bằng thuyền với bà nội lên mạn ngược là một chuyến đi lịch sử. Chuyến đi đó chứa đựng tất cả những heo hút, xa ngái và gom đầy, gom chặt bao nhiêu thú vị cho tuổi thơ của tôi khiến không thể nào quên. Tôi ơn bà nội đã tạo điều kiện cho tôi thân thiết rồi gắn bó với mạn ngược và đương nhiên có cả cái mà mạn ngược khai phá đầu óc tôi. Khái niệm mạn ngược của tôi được mở rộng hơn, mạn ngược với tôi bây giờ không chỉ là những nơi heo hút, ít dấu chân người, nền văn minh khai sáng chưa đến cùng với những ngã nước, sốt rét, mặt ủng dà chì, bụng cóc nữa. Mạn ngược với tôi ở khía cạnh khác, nhân bản hơn, sâu xa hơn: nơi đó có những con người. Con người chất phác, nhuần nhị, chân thật, giản dị, trong veo như dòng suối nguồn, được tách triết từng giọt, tí tách nhỏ ra từ những kẽ đá sẫm màu rêu, từ trong những sâu thẳm rừng già hiểm bí, không thể xác định. Hai năm trai trẻ của tôi, tôi sống trong hoang dã với những hoang sơ nguyên thủy và với những con người mộc mạc, đôn hậu như vậy. 
 Có cái điều ít ai ngờ đến, tôi cũng không ngờ sự việc nhanh thế. Tôi không thích sống chung với gia đình từ khi tôi về ở với mẹ đẻ, không ở với bà nội nữa. Trong tôi ngấm ngầm sự nổi loạn, bứt phá. Tôi mê cuộc sống tập thể, được tự lập trong suy nghĩ và hành động. Tôi muốn tôi tự nuôi mình. Tôi muốn đi theo con đường riêng, dẫu chẳng hề xác định được và biết tí teo nào về cái riêng đó. Tôi muốn có lớp bạn mới, bạn trong cuộc sống. ÔI, giá như có những thằng bạn thân, đêm đêm sưởi ấm bên ngọn lửa, nói mọi chuyện trên đời và về những người con gái trong tưởng tượng. Tôi ảnh hưởng rất nhiều những thi vị của tình yêu mà tôi đọc qua sách và phim ảnh. Tôi ước mình cũng sẽ có những cuộc tình say đắm và đẹp tuyệt vời với những cô “On-ga, Lê-na hay Na-ta-sa…"
 Tôi lớ ngớ vào nghề đo đạc bản đồ địa chất làm anh loong toong nấu cơm và sai vặt trong một buổi hóng chuyện “các nhà thám hiểm”, chuyện trèo đèo lội suối của những ông địa chất. Nói thật lòng, ở tuổi đó, tôi say đắm mọi chuyện khám phá, cái gì cũng muốn biết, dẫu rằng chỉ là thằng loong toong. Cũng quả thật, tôi không ngờ tôi lại liều, dám bỏ nhà đi lang thang như vậy. Tôi nghe kể và đã biết có rất nhiều vụ nguy hiểm chết người. Nhiều cái chết tức tưởi chỉ vì môi trường sống quá hoang dại. Sốt rét cũng chết người, rắn độc cũng chết người, thú dữ cũng chết người, lũ chết người, bão chết người, leo núi chết người, cây đổ chết người, xuống vực chết người… Chẳng có gì là không nguy hiểm cả. Mạng sống chúng tôi mong manh lắm, nhẹ hều như làn mây, mà khi đó, tôi có coi cái chết là gì đâu. Khi chết, chúng tôi cũng hóa thành làn mây. Mây bay và mây vần vũ, rồi mưa. Chúng tôi bốc hơi hoặc thấm vào đất. Chúng tôi tan vào cái không gian đầy nguy hiểm đó. 
Tôi mê những đêm đốt lửa sưởi trong hơi nóng ngọn lửa bập bùng và theo già bản đi săn. Cứ vào cữ rét buốt người là đi. Bỏ bếp lửa ấm áp chui vào rừng rét lạnh giá, thấy rõ mồn một cái ngấm của sương ướt vào cơ thể. Ông già dắt tôi đi có cái mũi của loài chó, khứu giác rất phát triển. Ông vào rừng và ngửi được tất cả mùi vị của rừng. Ông bước đi mà không một tiếng động, không chạm vào giấc ngủ cây cỏ. Khả năng đó chỉ có những người gắn bó với rừng mới có, khả năng đó cũng là một tiêu chuẩn của kẻ săn mồi. Ông như sợ đánh thức giấc ngủ của chúng. Tôi thấy ở ông tỏa ra đầy ăm ắp chất núi rừng và gắn bó với nó vô bờ bến. 
 Vùng núi lạnh lắm. Có thời gian ở vùng núi đá Hòa Bình bên sông Đà, đêm đêm đốt lửa sưởi, ngủ bên đống lửa, thật thi vị và nghe các nhà thám hiểm kể chuyện. Đang ấm áp như vậy mà bật dạy, lõn cõn theo sau ông già như chó con cũng đủ thấy trong tôi có một sự quyết tâm và một niềm say mê khám phá ghê lắm. Rừng núi kỳ lạ hấp dẫn con người từ mọi sắc thái. 
Đi bao xa tôi không rõ. Mọi ý thức mà tôi thu nhận được trong những chuyến đi săn là im lặng để tập trung vào đôi mắt, đôi tai. Tôi tập xác định phương hướng giữa rừng già chỉ toàn cây cổ thụ với giây leo chằng chịt, tập mở đường bằng dao phát giữa rậm rì cây cỏ lác, gai góc, tập nhìn vào màn đêm mênh mông vây quanh với vô vàn tiếng kêu rờn rợn, quỉ quái. Đôi khi tôi cũng nghe nghe thấy tiếng nai tác gọi nhau hay tiếng động của một con thỏ, con chuột nhưng ông già săn bỏ qua. Mùa này, ông không đặt bẫy các loại sóc, thỏ… ông bảo, giống như một gia đình phải có tiếng trẻ. Chúng chỉ là những đứa trẻ của ma núi, thần rừng. Rừng vui nhộn, có sức sống, có âm thanh vì có những con vật nhỏ bé đáng yêu đó. Ông nói, cháu phải nhớ, rừng cho mọi loài sự sống. Nếu chúng không sống được, thì đó không phải là rừng. Rừng chia đều và công bằng cho tất cả. Nếu một ngày nào đó, có kẻ nào phản lại rừng, kẻ đó sẽ bị hủy hoại bởi chính hành động hủy hoại, tàn ác đó. 
Ông chỉ cho tôi chỗ đặt bẫy bắt lợn rừng. Ông nói, không chỉ lợn rừng, mà các loài thú lớn khác như hươu nai, cũng bị sa bẫy. Nhưng lợn rừng là con vật ác. Ác vì tính dã thú của nó. Nó phá nương ghê lắm. Theo vết lợn rừng rất mất công. Cháu có thấy cái mõm dài ngoẵng của nó không? Cái mõm ấy chuyên đào xới, phá hoại hoa màu của dân bản đó. Nó mà phá thì không còn gì. Ác độc là thế. Dữ dằn lắm. Có khi còn rất nguy hiểm nữa đấy. Đây… cái vòng này sẽ túm chân con thú và sợi dây này sẽ thít lại, còn sợi dây kia, sẽ kéo cao nó lên, nó giãy dụa, kêu gào, mệt lả rồi mới bắt được. 
Những ngày đầu, tôi rất thích được đi săn, cái thú của tôi là biết được cuộc sống hoang dã với núi rừng chứ không phải những con vật mang về. Tôi hình dung cuộc sống của người xưa. Tôi nghĩ về những cuộc vây bắt và những chiếc lao phóng ra từ những bàn tay cơ bắp của những thợ săn dũng cảm. Nhưng tôi thấy sự man rợ. Vậy là tôi không thể thành thợ săn. Thợ săn là phải biết say và dám say với những con mồi. Trong mênh mông màn đêm phải dám đối mặt với nguy hiểm và thần bí kia, cả người và con thú đều vờn nhau và là đối thủ của nhau. Nào có thể biết, thợ săn gặp phải con vật nào. Nó có thể là những con vật nhỏ bé như thỏ hoặc cáo. Những con vật đó chỉ dùng đàn chó để xua chúng mệt nhoài và những con mồi sẽ bất lực trước những chú chó săn. Cũng có thể là loại thú dữ như hổ, gấu hay lợn nòi và cả những con hiền lành như hươu nai. Lúc đó là cuộc đấu trí. Bản lĩnh và trí khôn con người được bộc lộ. Rừng là thế. Rừng cũng là cái bẫy với con người chứ chẳng riêng gì với thú. 
Lần nào cũng vậy, tôi thấp thỏm chờ con mồi bị bắt. Tôi không nhìn con mồi cũng chẳng nhìn ông thợ săn mà tôi nghĩ về cuộc sống mong manh. Tôi ít khi nghĩ về cái chết nhưng lúc này lại nghĩ về nó và sợ không dám nhìn cảnh chết của con vật mà mình góp phần tiêu diệt cuộc sống của nó. Cái thú được hòa lẫn với núi rừng của tôi bỗng chốc tan biến. Tôi nhìn trộm vào mắt con thú với đôi mắt ân hận. Nó có biết không? Rồi tôi không đi săn nữa. Tôi mượn cớ muốn ngủ. Đang ngủ ngon, ngại lắm. Quấn chăn bên bếp lửa, ăn sắn nướng và nướng bắp ngô thích hơn. Tôi biện luận, tôi không có tố chất để thành thợ săn. Các cụ bảo là trẻ người non dạ. 
Nhưng ấn tượng nhiều nhất với tôi lại là những ngày mưa. Mưa rừng mới não nề và thê thảm làm sao. Cái giọt gianh tí tách nhỏ giọt khi mau, khi thưa theo nhịp cơn mưa cho thấy cái cảnh đợi chờ dấm dứt, buồn bã, thê lương, mỏi mòn. Đó là điều kiện tạo ra nỗi ngấm của cô đơn. Cô đơn sẽ gậm nhấm tâm hồn ta từ từ. Không thể đi đâu khỏi nhà khi ngoài trời đang mưa. Đường lầy ư, nhiều dốc ư, rét buốt ư, ẩm ướt nhem nhép ư… có lẽ cũng một phần vì những cái đó. Nhưng hơn cả, tôi thấy mưa rừng cứ hun hút không ngớt và sâu thăm thẳm ấy. Chính cái buồn hun hút khiến không gian não nề. Và chính những ngày buồn sâu thăm thẳm đó khiến tôi tìm đến em. 
 Em đẹp một cách núi rừng. Em là mạch nguồn kín đáo, yên tĩnh, phẳng lặng, được âm thầm chắt ra từng giọt từng giọt trong thẳm sâu rừng già một cách chầm chậm, nhẫn nại. Em chân xác, thơm tho, trong veo như chính mạch nước đó. Em là sự ấm áp bếp lửa. Đang bên bếp lửa ngày mưa thì ai muốn rời xa. Có phải đó cũng góp phần khiến tôi rời xa thú vui săn mồi? Em là sự mượt mà dịu êm của bất chợt bãi cỏ xanh, em là bông hoa dại bé xíu ẩn dấu trong đại ngàn. Đại ngàn thì rộng mênh mông. Em lọt thỏm trong mênh mông đó, ai thấy mà lại không giang tay che chở. Chàng thanh niên mới lớn là tôi xôn xao nghĩ về em như thế. Ý nghĩ đến nôn nao. 
Để bên em một cô gái tân thời dưới xuôi về đây, cô ta có thể nổi bật khi bên “gam trầm”của sắc núi, sắc rừng. Nhưng dễ bị lạc lõng ngay. Cái nổi bật thì làm mọi người chú ý vì tò mò. Còn em, em cứ vậy nhỏ nhoi bình dị trong cái miền xa xôi, hoang vắng và cả hoang dã nữa. Em đứng phía sau, hòa với sắc rừng quê em, lẫn vào tất cả. Em là hoa lá cây cỏ và có mùi hương riêng, hương rừng. Nếu thiếu em là thiếu hương rừng, thiếu hương rừng là thiếu bản sắc cả một vùng hoang sơ nhưng vô cùng kỳ bí, hấp dẫn tạo nên những đam mê. Vì thế, em là một thành phần của rừng, cũng có nghĩa rừng không thể thiếu em, mạn ngược không thể thiếu em. 
Nhà em nghèo. Ở đây và nói chung mạn ngược, nhà nào cũng nghèo. Cái nghèo có từ xa xưa và cứ thế, đời nọ truyền đời kia, mãi cũng chẳng thấy khấm khá. Nghèo đã là một cái gì đó đeo bám con người. Vì thế, con người nơi đây như đã chấp nhận số phận mà thượng đế đã ban từ khi sinh ra. Sự chấp nhận rất tự nhiên và cũng nhận ra, thượng đế rất không công bằng. Tôi vô cùng ngạc nhiên trước sự thật đau xót và rất oái oăm đó. Rồi luôn tự hỏi, sao như vậy? Cuộc sống cứ vậy tối tăm, đói nghèo. Ai kia trong nhung lụa, có thể tưởng tượng, một năm tới chín tháng phải vào rừng đào củ mài thay cơm, thay nếp.

 Tôi nhớ ngày trước ở với ông bà, gần bến thuyền, nơi nhìn ra sông, có một ngôi chùa. Với tôi, chùa là chỗ xa lạ, tôn nghiêm nhưng chứa chất rất nhiều bí hiểm khiến tôi tò mò. Những tiếng chuông vang lên cả sáng và chiều, nhiều lúc tôi thấy lạnh lẽo, cô đơn, đặc biệt về đêm tối khuya khoắt. Cảnh hương khói, cầu lễ mà đôi lần tôi thấy, cũng gợi cho tôi những suy đoán bí hiểm. Vậy chùa không phải là chỗ chơi, nhưng không cấm được sự tò mò của tôi. 
 Tôi thường ra bến sông để ngắm những con thuyền, thả ước mơ, cho ước mơ trôi về đâu đó ở dòng sông đục ngầu kia và chắc chắn nghe được tiếng chuông chùa. Ngôi chùa ở vị trí rất riêng, sự biệt lập, thầm lặng, tĩnh mịch, cô quạnh rất riêng. Cái riêng mang sự linh thiêng, cái riêng tạo ra sự bí hiểm làm tăng tính tò mò. Chiều chiều, tiếng chuông vang trong không gian và lan trên mặt nước, tạo trong tôi cái gì đó xôn xao, rất vu vơ và mơ hồ. Cái mơ hồ huyền ảo, thần linh, sương khói. Tôi cảm nhận được một làn gió sạch thổi qua tâm hồn, cái trong sạch như luồng sinh khí, nhẹ mềm, dịu dàng như ánh trăng đêm thu và muốn biết cuộc sống của những người trong ngôi chùa thâm nghiêm, tĩnh mịch kia. Thậm chí, còn muốn biết quan hệ của họ thế nào với thần linh, với những người đã chết mà qua tiếng chuông, qua những lời rì rầm đọc kinh cầu nguyện, đôi lúc tôi nghĩ đó là những lời tâm sự với những người ở cõi niết bàn. Không hiểu tiếng chuông sẽ vang đến đâu, không hiểu những lời cầu nguyện sẽ đến tai ai, nhưng tôi nghĩ chắc ở một nơi nào đó, có người muốn nghe và nghe được những lời khấn cầu ở ngôi chùa này. 
Có lần, tôi thấy mấy đứa trẻ con đứng thập thò, ngó vào trong chùa. Tôi cũng ngấp nghé nhòm vào xem họ đang làm gì. Khi tiếng cầu khấn mà tôi không nghe được trọn vẹn một câu và tiếng chuông gõ nhịp, thỉnh cầu xong, tôi thấy một ni cô còn trẻ cầm đĩa oản và hoa quả, phát cho bọ trẻ đang đứng tò mò, thập thò ngoài cửa nhìn vào. Đứa nào cũng được một cái oản bọc giấy bóng kính xanh đỏ và mấy quả mận. Tôi cũng được nhận một phần như chúng nó. Bọn trẻ nhận xong, chạy ùa ra phía mặt sông, tản ra như vòng sóng, hình như chúng biết hôm nay có phát lộc của chùa, chỉ tôi là ngu ngơ không biết. Tôi mang lộc về đưa cho bà. Bà hỏi, sao lại ra sông. Tôi nói, con không ra, vì có bọn trẻ gọi con vào chùa. Bà bảo, hôm nay rằm, lộc chùa đấy, con ăn đi. Tôi bảo con sợ có người chết trong đó. Bà cười, bóc oản ăn. Tôi cầm quả mận rón rén cắn, tôi vẫn sợ có hồn người chết trong đó. 
Còn nơi đây, những sáng sớm tinh mơ, sương mù dày đặc, gió thổi ù ù, cách một tay với là mọi vật trở thành mờ ảo, tôi vẫn nghe thoang thoảng tiếng chuông chùa. Cái màn sương kỳ lạ, như dính kết được, như đổ ra, rót vào được, như truyền tải được, như cứ huơ tay là nắm được, mà lại nhẹ bẫng, mà trơn tuột và cũng rất vô hồn ấy cho cảm giác lạnh lạnh của sương khí biên cương, cho biết thế nào là xa xôi heo hút mạn ngược. Tôi như đã nghe được tiếng vọng từ rừng già, qua cái màn sương đặc quánh, mờ ảo đó, tiếng chuông chùa đâu đó vọng về. 
Tôi nói chuyện với em về tiếng chuông mơ ảo đó. Em cười, nụ cười như có lửa ấm bên bếp ngày đông. Có phải tôi đã động chạm đến một nơi sâu kín trong tâm hồn con người, nơi con người đặt niềm tin. Ở đâu chẳng có sự mê tín? Càng tăm tối, lạc hậu càng mê tín. Khi con người không chống đỡ nổi thiên nhiên dữ dội, thì chỉ còn biết gửi gắm mọi ước vọng của mình, đặt niềm tin của mình vào đấng tối cao. Đấng tối cao ở đâu? Đấng tối cao ở ngay trong cuộc sống của họ, đã sẵn có trong lòng họ, trong tâm khảm của họ, ngay từ khi họ cất tiếng khóc chào đời. 
Vào ngày đầu tháng, em đưa tôi lên chùa. Chùa cheo leo bên sườn núi. Đầu tiên đi mảng. Em chống sào, đẩy chiếc mảng nhỏ rẽ nước rất thuần thục khiến tôi nghĩ đến ông chủ thuyền ngày xưa chở hàng của bà nội lên trao đổi hàng hóa với vùng cao. Tôi tự hỏi và không thể trả lời, tại sao người xưa lại dựng chùa chốn thâm cung như vậy và dựng nơi cheo leo thế này thì lấy đâu ra những con nhang đệ tử đến thờ phụng, cúng bái. Vậy, nhưng không phải, tôi và em sau chống mảng một thôi, bỏ mảng, trèo dốc. Em nói, mệt đấy, phải leo dốc cao, mất độ một tiếng đồng hồ, mới đến được chùa. Trước chúng tôi, cũng đã có khoảng gần chục người đi lễ. Đi lễ chùa cũng là mối giao lưu, cũng là nơi hẹn hò. Em gặp bạn gái ở đó. Hình như họ có hẹn nhau. 
Đứng trên đỉnh dốc, gần như trên đỉnh đồi, một con đường mòn dẫn đến ngôi nhà gỗ, kẹp vào trong một hốc đá, ăn sâu vào lòng núi. Một quả chuống nhỏ cỡ cái gùi đeo lưng được cố định trên cao, vắt ngang qua một cành cây đã lên nước nhẵn bóng. Có thể vì thế mà theo hướng gió, đôi khi vẳng đến tai tôi tiếng chuông chùa. Ngôi nhà gỗ xây theo hình dáng của hang đá với những tấm thưng, tấm lát chống chếnh, thô mộc, khiến mỗi bước đi đều cất tiếng kêu cót két, cọt kẹt. Đó là chùa quê em. Quê em với lèo tèo vài nóc nhà đã heo hút mà chùa còn heo hút, “mạn ngược” hơn. Chùa đơn giản đến sơ sài như không thể đơn giản, sơ sài hơn. Một ban thờ và những pho tượng, các bát hương đều bằng gỗ, đã nhiều chỗ tróc lớp sơn ong óng màu vàng và đen sỉn bên ngoài và cả bụi bặm thời gian. Tuyệt không thấy dấu vết của các loại vật liệu tiên tiến ngày nay. Tôi bất chợt nhận ra sự chất phác, mộc mạc như thiên nhiên của con người nơi đây, nhận ra sự gắn kết của con người với nơi họ sinh sống. Chùa cũng chính là nơi con người thờ cúng và sống cùng thiên nhiên. Thiên nhiên đã mang sự linh thiêng, kỳ bí và cả ước vọng vào cuộc sống, tâm hồn họ. Phải chăng, tấm lòng họ thơm thảo như hoa cỏ là thế? 
Chùa thờ Phật. Đương nhiên là thế. Nhưng mỗi một chùa đều có những sự tích riêng, gắn liền với địa phương đó. Tôi hỏi em về sự thô sơ, heo hút của ngôi chùa. Em cười, vẫn cười với nụ cười ấm áp bên bếp lửa mùa đông. “Quê em nghèo mà, đồng bào đều nghèo, chùa cũng nghèo… và vì thế chắc Phật cũng nghèo…” Tôi không muốn đụng đến cái nghèo đau xót đó của cuộc đời. Đụng đến nó, trong tôi đau lắm. Nhưng em cũng lạ. “Phật nghèo”, một khái niệm mới trong tôi. Chẳng hiểu sao, tôi bị lây hay bị nhiễm cái mộc mạc, tôi hiểu, Phật nơi đây cũng trong veo, tinh khiết như lòng dạ người dân. Cái nhớp nhơ của xã hội văn minh chưa mò đến quấy nhiễu, làm đảo lộn cuộc sống cả người và Phật nơi mạn ngược thơm ngát nhưng quá đỗi đơn giản này. Tôi gặng hỏi em, em cầu gì đấy, em cười, mắt lung liêng, em cầu duyên, nơi đây thiêng lắm. 
Vậy nhưng, ngoài những niềm tin và tín ngưỡng được gửi gắm vào một chốn thiêng liêng nào đó, mối liên hệ xã hội và giao lưu xã hội là nhu cầu không thể thiếu. Vắt vẻo, xa xôi cách trở trên núi như vậy thì lấy đâu ra chỗ tụ hội và thời gian cho giao lưu. Cho nên chỉ có xuống chợ. Chợ là nơi giao lưu giữa các cộng động, là nơi trao đổi tình cảm gái trai và đương nhiên, là nơi trao đổi hàng hóa. Chợ là nền văn minh nhất ở mạn ngược. 
Tôi và em xuống chợ. Chợ rất xa, phải đi từ nửa đêm. Có nơi phải mất cả ngày đường. Ở mạn ngược đây, đi chợ là đi hội, chẳng khác gì lễ tết, chẳng khác gì đám cưới. Người ta chuẩn bị đi chợ cả tuần trước. Em cũng vậy. Tôi đi để biết, để ngắm chợ vùng cao. Em đi để giao lưu, để gặp gỡ và cũng có thể gặp người tình. Mục đích của em lớn hơn của tôi. Chuyện mua bán trở thành thứ yếu vì những mục đích kia. Chợ họp từ sáng sớm, sương chưa tan, còn đặc quánh. Người và ngựa cùng đi xuống chợ, ngựa thì gùi hàng và người thì dắt ngựa. Những cái bóng thoắt ẩn, thoắt hiện, cách một sải tay còn mờ mờ, cách vài sải tay là chẳng thấy gì hết. 
Chợ họp bên phố núi. Đa phần là hàng nông thổ sản, có vài quầy bán tạp hóa. Đây là hàng của những người buôn bán thức sự. Hàng từ dưới xuôi lên lác đác vài thứ công nghệ rẻ tiền và thô sơ như dao cuốc, cày bừa. Hàng tinh xảo đều của Trung Quốc, nhìn rất bắt mắt nhưng đắt lòi con mắt. Chỗ bán vải thổ cẩm và vải hoa Trung Quốc chen đầy chị em. Nói chung, đó là những hàng xa xỉ, tích lũy cả đời chỉ mua được vài thứ để tặng con gái ngày con đi lấy chồng. Tôi cũng tích cóp đủ tiền mua tặng em một chiếc vòng tay bằng bạc, một vòng cổ cũng bằng bạc, giống như của bao cô gái khác và nói, để sau này em lấy chồng, nhớ đến anh. Em cười, nụ cười ấm áp như bếp lửa đêm đông. Cầu mong cho em với lời cầu hôm nào lên chùa thành sự thật. 
Em cũng như bao chàng trai cô gái khác đều có khát vọng giao lưu, khát vọng tình cảm của các cặp trai gái đang độ tuổi lấy vợ, gả chồng. Tôi đã ngồi bên bếp lửa nghe người lớn trong làng kể chuyện tình yêu. Họ hát những bài hát mà tôi chỉ đoán được ý của nó qua nét mặt người hát và người nghe. Đa phần các bài hát ở một giọng trầm buồn, giọng hát rất u hoài, đôi khi nức nở như than thở cho một số kiếp, một thân phận, một mối tình trắc trở. Bài hát về cuộc sống những con người nơi đây, bài hát nói ra những ước vọng, ước vọng quá ngọt ngào và chẳng cao sang gì hết, ước vọng được sống hạnh phúc với người mình yêu bên mái nhà sàn, dựa vào bóng rừng che chở. Cái ý của bài hát là “ta sinh ra ở đây, thần rừng che chở cho ta, cho ta cuộc sống. Em nhớ anh, em thương anh, anh ở nơi đâu mà không thấy. Em chờ anh, chờ và trái tim em thổn thức. Trái tim em thổn thức vì mong nhớ anh. Về đi anh, rừng là nhà của chúng mình, rừng che chở và sẽ nuôi sống chúng mình, hạnh phức chúng mình sẽ được rừng che chở, bảo vệ. Rừng chúng mình có nhiều cây lớn. Anh là một cây lớn. Cây lớn không sợ gió lớn, cây lớn yêu gió lớn, nơi đây có nhiều gió lớn để thử thách lòng dũng cảm của anh. Anh mãi là chỗ dựa của em…” Cứ như vậy, điệp khúc nhớ và thương chàng trai trẻ ở một nơi nào đó. 
 Em cũng hát. Em hát những bài hát về tình yêu, về mong ước. Nhưng khác những bài của các chị, các mẹ, giọng em tươi tắn hơn. Nghe em hát thấy hoa nở, mưa ngừng rơi, mặt trời tỏa nắng ấm áp. Tôi hỏi em hát về cái gì, em trả lời về tình yêu và em cố giải nghĩa cho tôi. “Anh ơi, hôm nay mặt trời lên, hôm nay chim hót sớm. Nghe tiếng chim đầu nhà, em thấy lòng hớn hở. Trời xuân ấm áp, hoa đào, hoa mận nở trắng rừng. Em nhớ mùa xuân trước, anh cài lên mái tóc em bông hoa đào và nói mắt em long lanh, đẹp như ánh sao đêm. Đêm đó chúng ta yêu nhau, em vẫn đợi chờ anh. Đến nay anh còn yêu em, còn nhớ đường về bản?…” Bỗng thấy rất thương em. Em rồi cũng có một người để thương, để nhớ và rồi sau, lại để buồn. Chẳng hiểu sao, tôi lại nghĩ như vậy. Thì đấy, bao đời rồi, có cô gái nào hạnh phúc. Cái vòng luẩn quẩn và kiếp phận của những cô gái trên núi cao là như vậy. Em có thoát khỏi số phận vẫn ngàn đời đeo đẳng các cô gái mạn ngược được không? Tôi cầm tay em, thương em quá. Em để yên bàn tay bé nhỏ trong bàn tay con trai thô ráp của tôi. ***** 


 Mạn ngược xa xôi (phần 3) 
3. Vài chục năm nữa lại trôi. Tôi rời mạn ngược vì chiến tranh. Nhưng chiến tranh thu hút mọi nguồn lực. Tôi vào lính, mặc áo lính, ăn cơm lính. Thì làm chân loong toong của cơ quan, điều đi đâu cũng dễ.
 Đọc lý lịch lính, người ta đánh giá tôi có khả năng sổ sách, phân biệt cả ngàn thứ trong kho là điều không dễ và tôi được điều về giữ kho. Trước đó, tôi cũng trải qua một lớp huấn luyện và họ đánh giá đúng, tôi có khả năng sổ sách. Sổ sách của kho tôi làm lại từng loại hàng hóa với cột mục xuất nhập rõ ràng. Kho thời chiến thì im lìm nằm ở trong rừng. Lại về với rừng. Đúng là số phận. 
Vì thuộc loại nhiều tuổi, lại có chút học hành, mà phía dưới toàn chị em trẻ măng, mới lớn, tôi được đôn lên làm “quan”. Làm quan một cách bất đắc dĩ. Quan cỡ tôi cũng chỉ thực hiện việc truyền lại lệnh của cấp trên. Tôi tự phong tôi là “sĩ quan thông tin”. Oách phết. Như mọi người đọc phần đầu, ông bà nội tôi thuộc dạng buôn bán, có đầu óc tính toán nên có của ăn của để. Cái này thì không hẳn coi là bóc lột nhưng trong con mắt lãnh đạo, thành phần như tôi cũng chẳng đáng mấy tin tưởng, nó thuộc dạng con buôn. Con buôn thì không thể tin tưởng. Con buôn thấy lợi là làm, thấy thiệt là bỏ. Đơn giản là vậy. Gì chứ, tôi đã từng nghe: “Thằng con buôn ấy mà”, khi tôi phân tích thiệt hại những món hàng được lưu mãi trong kho, không dùng đến, đặc biệt là các loại dược phẩm. Mặt hàng này là hàng nhận viện trợ từ nước ngoài. Nhờ biết được một vài tiếng Tây, vừa đọc vừa đoán, tôi đọc được hạn dùng của nó và đề xuất phải thanh lý gấp. Cấp trên của tôi không quan tâm đến hạn dùng, họ chỉ biết có mặt hàng đó trong sổ sách. Sự việc cuối cùng cũng được giải quyết. Ông thủ trưởng kho nói với tôi, giọng mỉa mai: “Sao đồng chí lại biết cái thứ tiếng đế quốc sài lang ấy?” Tôi chán vì nhiều nỗi, tôi xin chuyển đơn vị. Lại bị kết tội không yên tâm công tác. Rõ khổ! Ngày trước mình thương người, thấy ai yếu thế đều thương và tìm cách giúp đỡ, vậy mà bây giờ nó rơi vào mình, chẳng được ai chia sẻ. Chán. 
Tôi rời vị trí “quan” của kho nơi rừng núi này khi hiệp nghị Pa-ri được ký kết. Vậy là chiến tranh sắp kết thúc. Thượng cấp đọc lý lịch, thấy tôi thâm niên cũng kha khá, chuyển tôi ra ngoài Bắc, cho tôi lo hậu phương. Tôi cảm động trào nước mắt. Còn hỏi nguyện vọng của tôi. Tôi nói tôi loong toong cả đời. Vậy là cho tôi đi học. Thượng cấp đọc lý lịch cũ thấy tôi có dính dáng đến ngành “địa chất học”vậy là cho tôi học cái nghề đo đạc bản đồ. Lại nói thêm, nghề này quan trọng lắm, đo đạc là để xác định đất đai, ranh giới, lãnh thổ Tổ quốc đó. Cố học để góp phần giữ chủ quyền đất nước. Tôi vâng dạ, chứ có hiểu sâu xa gì đâu và gần ba chục tuổi đầu, tôi bước vào ngưỡng cửa đại học. 
Đang học năm cuối thì lại đánh nhau mạn Tây Nam. Tôi chán đánh nhau lắm, xin ra Bắc. Lại đánh nhau. Kỳ này đánh nhau lớn. Tôi ớn số kiếp tôi, toàn rừng rú và chiến tranh. Cả một thời trai trẻ của tôi là như thế. 
Tôi thường xuyên đi công tác ở vùng biên ải. Vậy là mạn ngược vẫn theo tôi. Tôi lên Cao Bằng vào hang Pắc Bó và đến thác Bản Giốc. Tôi đứng bên chân thác và nghĩ về ngày xưa bé tí, cũng đã từng đứng bên một cái thác nước và nhớ lại cảm xúc của mình ngày đó. Ừ, sao ngày đó, tôi lại có những ý nghĩ của người lớn nhường vậy. Thác nước với tôi đẹp kỳ vĩ, tuyệt vời. Cái thác phải là một khối hòa hợp với mọi vật chung quanh nó. Và phải là một khối nên nó kỳ vĩ. 
Ngắm Bản Giốc, tôi thấy nó đẹp bội phần, vượt qua cả ý nghĩ kỳ vĩ của cái thác thời bé con của tôi. Những mấy tầng thác. Rồi thác lớn, thác bé, thác cao, thác thấp. Thác xòe ra, dài rộng như lụa là. Nhìn nó, thấy yêu quý ngay giang sơn gấm vóc của đất nước mình. Nước đổ xuống trắng xóa, mỏng tang, thấu suốt như tấm voan mỏng, quàng hờ hững trên những cánh tiên, gặp tia nắng, ánh lên sắc màu cầu vồng. Những người dân địa phương nói với tôi, ruộng nương chúng tôi ở bên kia rất nhiều, họ hàng người quen cũng đầy bên đó, phải đi sâu vào cả chục cây số. Tôi hỏi sao xa thế, thì đấy là đất đai ông bà khai phá từ xưa. Đây là biên cương, heo hút. Đất đai của ai, ai quản chỉ dân thổ công, bản địa đây mới rõ. Tôi nhớ câu ca dao xưa nói về thân phận người lính “Nàng về nuôi cái cùng con/Để anh đi trảy nước non Cao Bằng”. Ôi, người lính. Biết bao thế hệ người lính đã giao việc hậu phương lại cho vợ, dặn dò vợ nuôi mẹ, nuôi con để lên đường, dấn thân tận những nơi “hùm thiêng, nước độc, ăn măng trúc măng mai” để giữ từng tấc đất Tổ quốc. 
Tôi cũng nghĩ đến em. Giá như có phép màu nào đó, lại được ngồi với em bên bếp lửa ngày mưa để ngắm nụ cười ấm áp và đôi mắt long lanh như ánh sao đêm mà người yêu em từng ví. Ừ đã hơn chục năm rồi. Chục năm thì biết bao thay đổi. Thôi đừng nghĩ nữa. Nhưng tôi không xua nó đi được. Em luôn trong ý nghĩ của tôi. Em là một thời trong trắng, vô tư của tôi. Em của tôi chắc vẫn như của chục năm trước với tấm lòng thơm thảo, thanh tao. 
Nhưng lòng dạ con người có thể đổi thay, long dạ bạn bè cũng có thể thay đổi. 
Tôi vẫn là chân loong toong của cơ quan chuyên đo đo vẽ vẽ hình dáng đất nước lên trên giấy, đánh dấu nó bằng các mốc tọa độ và chắc chắn sẽ được lưu giữ mãi mãi ở một nơi nghiêm mật. Và tôi quen một số người có ghế (được ngồi trên ghế đó là cao sang lắm). Một ông thanh minh trên báo, đại ý: kết quả của cuộc đàm phán, ta mất chỗ này thì được chỗ nọ. Bạn mất chỗ nọ thì được chỗ kia. Tổng kết lại là hòa. Tôi, vì quen, nên viết cho ông ta một bức thư, đại ý: Ông nói thế không đúng, ông mất phố Hàng Ngang, Hàng Đào để lấy một nơi heo hút ở đèo Gió, đèo Mây nào đó, liệu đó có là cuộc đổi chác ngang bằng? Sự việc đến vậy thôi và chìm đi như bao nhiêu sự việc khác. Hôm nay nhìn Bản Giốc, thấy ứa lệ với ngày xưa trong trắng, vô tư. Sao mà đời lại éo le và con người lại tham lam như vậy. Tôi đã khóc về nó:
 Bản Giốc 
 Thác rất đẹp, với tôi, nhiều năm về trước 
Mà hôm nay, tôi bơ vơ, lạ lẫm lạc xứ người 
Có điều gì nhói nhói lòng tôi 
Tôi tiếc nuối thấy mất điều mình yêu quí
 Các bạn chia sẻ không? Điều mất mát tôi cho là phi lí 
Bản Giốc của tôi
 Nó thiêng liêng bởi vì nó là mối tình tình đầu một thời 
Tôi đã yêu với tâm hồn trai trẻ 
Ngày đó trái tim tôi dại khờ rung tình đầu mới mẻ 
Dẫu heo hút nước non, dẫu lặn lội cái cò cái vạc 
Bản Giốc vẫn Cao Bằng vẫn rất thực trong tôi.
 
 Tôi ngẫm ngợi hỏi cuộc đời có phải đã phai phôi 
Bản Giốc tự bao giờ không còn trong tôi nữa 
Giật thót con tim khi chỉ còn một nửa 
Một nửa nữa đâu rồi mà mây trời vẫn trôi? 
Và như thế, em ơi, sắc chàm trong sương một thoáng nhạt mất rồi 

Chiều biên giới mưa rơi tầm tã… 
 Hoa biên giới tháng ba có sắc màu trẩu trắng 
Đẹp mê man như màu nắng mặt trời
 Tôi đi tìm nấm mồ bạn tôi 
Trên đồi đầy hoa sim tím 
Ôi cái màu ngất ngây bịn rịn
 Cho tôi về lại ngày xưa 
Bản Giốc thần tiên sẽ chẳng bao giờ 
Chia được thành hai nửa. 
 Tôi nhớ lại ngày xưa thơ bé của tôi, đứng bên cái thác cao vút, tôi nhận ra sự kỳ vĩ của thiên nhiên và cũng đã nhìn ra những kỳ bí của lịch sử. Gần quê tôi là bãi cọc Bạch Đằng, nơi còn dấu tích hiển hách của ông cha, chỉ có điều những cái cọc lịch sử đó như thế nào thì vẫn là kỳ bí. Người ta xác định tuổi của những cọc gỗ đó gần niên đại với chiến thắng thì tôi tin, nhưng người ta nói nó là cọc đã cắm xuống sông Bạch Đằng để đánh đuổi quân Nguyên, thì chưa thật chắc. Lịch sử là cái gì đó rất bí ẩn và có thể biến đổi, dẫu người đời nói lịch sử chỉ xảy ra một lần. Hóa ra, chính con người làm nên những kỳ bí đó để phục vụ lại chính mình, để nâng mình lên, làm cái điều có lợi cho mình.
 Tôi chia sẻ bài thơ với một người lính đi viếng đồng đội ở mặt trận Vị Xuyên. Người lính đó ôm chầm lấy tôi, đúng là một sự cảm thông mang chất lính. Những năm biên giới khói lửa ngút trời, mảnh đất mà bạn của người lính nằm xuống đã xanh lại, mấy chục năm rồi còn gì. Cỏ xanh rồi và cỏ xanh cũng mát mắt. Tôi có chút băn khoăn, cỏ nhiều nhưng hương khói ít. “Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ xanh” thì đúng, nhưng hương khói để nhớ ơn, ghi lòng tạc dạ ít, thì sai. Chẳng hiểu sao một dân tộc vẫn luôn sống có trước có sau, trọn tình trọn nghĩa như dân Việt Nam ta, lại dở chứng với người đã đổ máu để bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia như vậy. Màu xanh đã phủ đi, che đi mọi dấu vết chiến tranh của chiến trường xưa. Và đương nhiên, cái nơi mà đồng đội của người lính nằm lại được mệnh danh là đồi thịt băm, lò vôi thế kỷ cũng đã xanh lại. Những quả núi đá mà hàng vạn quả đạn pháo, đạn cối của kẻ thù bắn sang khiến đá biến thành vôi, cũng đã xanh lại màu núi của nó vốn dĩ. Dưới hỏa lực của đạn thù, đá cũng biến thành vôi. Một câu nói đầy hình ảnh đủ để hình dung ra sự ác liệt cũng như sự tàn khốc của chiến tranh. Núi chỉ còn lại những vết vỡ, vết nứt, giống như núi đá ở những nơi khác, cũng chỉ như sự bào mòn của thời gian, vết sẹo của năm tháng. Nghĩ đến đó, tôi lại nhận ra cái sự vô ơn của người đời sau và tôi quặn đau. Ôi, những người lính đã “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử”* của tôi. (Dòng chữ khắc trên báng súng của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh.) 
Cô gái cũng lên thắp hương cho đồng đội. Người lính với cô là người bạn đồng hành mới quen. Cô đi theo và lặng im. Phút lặng im của cuộc chiến là báo hiệu giông tố sắp tới. Sự lặng im của phụ nữ là nguồn nhiệt năng đang âm ỉ tích tụ, báo hiệu một sự kiện. Nhưng đáng chú ý nhất ở cô lại là bím tóc đuôi sam mà ngày nay không thấy ở các cô gái. Bím tóc được tết thành hai giải hai bên và phía đuôi tóc, buộc một bông hoa nhỏ, loại hoa dại mọc ven đường. Tôi rủ hai người bạn mới về chỗ nghỉ của đoàn tôi, họ từ chối. Chúng tôi đều có ý định ở lại vài ngày với mảnh đất này, mảnh đất vẫn còn nhan nhản những bom, mìn, đạn pháo... Mỗi bước đi, cái chết cũng rập rình bám theo. Mỗi người đều theo đuổi công việc của mình, nhưng cùng một mục đích. 
 ***** 
Trong đầu tôi ám ảnh lời nói của vị tướng, từng là phó tư lệnh mặt trận Vị Xuyên, Nguyễn Đức Huy: “với khoảng 20km chiều dài và 5 km chiều sâu, nghĩa là nếu mất Vị Xuyên thì biên giới của chúng ta sẽ lùi sâu vào 5km.” Và cũng vang lên câu nói của vua Trần: “Kẻ nào làm mất một tấc đất của ông cha, kẻ đó phạm tội tru di”. Vâng, tôi biết, nhiều người lính trẻ măng, tuổi hai mươi, chưa từng yêu và nắm tay một người con gái, không biết lời nói đó nhưng họ đã ngã xuống vì họ biết từng tấc đất của cha ông là thiêng liêng, cái thiêng liêng đã ngấm vào máu, chảy trong huyết quản. Vậy còn những kẻ cam tâm bán rẻ đất đai Tổ quốc, chúng phải chịu số phận gì? Có đứng trên mảnh đất địa đầu này mới cảm nhận rõ sự thiêng liêng của từng tấc đất.
 Ánh trăng chiếu vào đầu võng tôi nằm (tôi vẫn có cái thú nằm võng của những ngày còn sức trai). Trăng sáng quá và tôi không ngủ được vì những suy nghĩ ngập đầy trong đầu, nhiều lúc muốn nổ tung, trở dạy, bước ra ngoài.
 Chung quanh tôi là núi và rừng. Núi toàn là núi đá. Núi đá là đặc sản của Hà Giang. Tôi lan man nghĩ về những cánh cò đồng bằng, rồi tôi nghĩ về những linh hồn người đã khuất vẫn chưa siêu thoát nơi đây. Trong ánh sáng mờ mờ của trăng, trong cái dư âm còn lẫn âm khí hoang lạnh của mùi vị núi rừng nơi biên ải, tôi bước đi với ý nghĩ mơ hồ về sự linh thiêng, về những oan hồn và sự hi sinh. Phải nói là ánh trăng trong cái thế núi rừng này đẹp thật. Ánh trăng nhẹ và mịn màng ve vuốt say đắm lắm. Tôi đã hưởng nhiều đêm trăng như vậy ở Trường Sơn, nhưng ngày đó, đậm dư vị chiến tranh, cứ tưởng như thoang thoảng nơi bìa rừng, còn có mùi bom cháy, mùi thuốc súng khét lẹt. Còn ở đây, đậm vị khác, vị hương khói đi tìm hương hồn. Tôi nao nao khi nghĩ đến cả nghìn linh hồn vẫn bảng lảng quanh đây. Từ ngày đó, các anh vẫn chưa yên. Những bia mộ trong nghĩa trang kia, một nửa không có. Đau xót và uất nghẹn làm sao!
 Những ngọn núi nhọn dưới ánh trăng lạnh như nhọn hơn, sắc lẻm, chĩa lên trời như mũi mác. Vậy mà có những chỗ, chỉ toen hoẻn bằng cái chiếu, cũng từng là một trận địa, một điểm chốt. Những người lính đã tạo ra những hốc sâu, ăn vào trong núi, làm trận địa phòng ngự. Kỳ tích những bước chân trên giải Trường Sơn ngày xưa, được viết tiếp bởi kỳ tích những bước chân người lính leo lên núi đá, làm trận địa giữ biên cương. Nhưng tôi, một người lính đã từng hành quân bộ trên giải Trường Sơn, nghĩ, chiếm vị trí chốt trên núi đá khó khăn hơn gấp bội, ngoài cái khó về đường đi, cái khó khác là liên tục chịu đựng những đợt pháo cối từ phía kẻ thù (theo thống kê, mảnh đất này mỗi ngày có từ 5000-7000 quả đạn pháo, cối của địch bắn sang. Cao điểm của nó là trong ba ngày, phía Trung Quốc bắn vào Vị Xuyên đến Hà Giang hơn 100.000 quả). Cho nên, những chiến sĩ của ta giữ chốt thường từ phải một tháng đến ba tháng cắm trên chốt. Khi xuống chốt, tất cả đều như hóa người rừng. 
Và ánh trăng ma mị kia đưa tôi đến bên bờ suối róc rách nước chảy. Ngồi bên suối chính là cô gái đi suốt quãng đường không nói một câu. Tôi giật mình nhưng rồi nhận ra cô bởi làn tóc với dáng vọng phu ngồi. Đôi bím tóc dài thả gần mặt suối. Cô ngồi lặng yên, bất động cho ánh trăng thẫm đẫm toàn thân. Cô hơi co vai, có lẽ vì cái lạnh miền núi đá. Tôi thoáng chút động lòng thương cảm “thân gái dặm trường”, đêm hôm khuya khoắt, cô đơn ngồi bên suối chắc hẳn trong lòng ẩn chứa nhiều điều muốn nói, tôi hi vọng được chia sẻ những tâm tư của cô, làm cô vơi đi những đau buồn. 
Tôi hắng giọng báo hiệu. Cô không hề ngạc nhiên. Cô nói đã biết tôi ra từ trước nhưng không ngờ lại đến đúng con suối này. “Vậy thì chắc là con suối phải là một kỷ niệm đẹp của em?” “Vâng...” “Anh ấy hi sinh ở đây?” “Vâng... Em và anh ấy đã từng ngồi nơi đây, đã yêu nhau ở đây, thề gắn bó suốt đời và đã chia tay ở đây... Anh ấy lên chốt, em về bệnh xá sư đoàn, phía sau hai chục cây số... 
 Cô gái im lặng. Tôi nghe tiếng nước chảy thầm thì dưới chân. Nhìn lại chỗ ngồi. Chỗ ngồi bên suối rất đẹp. Hai hòn đá to, phẳng phiu như đã được xếp đặt để cho hai người ngồi. Phía dưới là nhũng hòn cuội vẫn hiện hữu ở mọi dòng suối, nhưng đều tăm tắp, đặt chân lên rất êm. Một tán cây rừng sà xuống gần mặt nước bên bờ suối. Thiên nhiên trớ trêu đã tạo ra một vị trí cho một cặp đôi rất trữ tình, người đời đều nhận thấy và vì thế, đến nay vẫn còn nguyên, bom đạn chiến tranh không dám đụng đến. Tôi giả vờ xoay người, đứng lên. Vị trí này với cô gái đêm nay không phải của tôi, nó là chỗ của người chiến sĩ đã yêu cô, anh ấy đã ngồi đây cùng cô và có lẽ thế, khiến nó tồn tại đến hôm nay. Đấy cũng là tạo hóa xếp đặt. Tôi tin chắc điều đó. Nó tồn tại để minh chứng cho một tình yêu tồn tại. 
“Anh cứ ngồi đi...Anh ấy không giận đâu...” cô gái linh cảm thấy sự ý nhí nhị của tôi “Không sao, em cứ ngồi đây, anh lên trên và đợi em...”
 Tôi ngược dòng suối đi lên. Dấu vết chiến tranh còn lại là vài mảnh gỗ, có cái khóa của hòm đạn đã rỉ sét, méo mó. Không còn gì hết. Cái duy nhất còn lại bên suối lúc này là cô gái và ký ức của cô. Tôi yên lặng và nâng niu giữ cái khoảng thời gian và không gian này cho riêng cô, cô đang đi về phía hạnh phúc, sống những phút giây hạnh phúc ngày xưa. 
Ở nơi địa đầu Tổ quốc này, vào cái đêm này, tại nơi đã từng xảy ra cuộc chiến ác liệt, với sự mất mát của cô gái từng có mặt những ngày chiến tranh lửa khói đó, mới thấy hết sự thiêng liêng của cái gọi là “phên dậu” nước nhà. Chính vì cái “phên dậu” này mà bao chàng trai đã lên đường và nằm lại nơi đây. Cái thiêng liêng trở nên bi hùng hơn, khi chứng kiến một tình yêu bị chính bom lửa cắt ngang, để lại đó là một mối tình không trọn và nỗi lòng thương nhớ đeo bám. Còn biết bao mối tình trắc trở, bị chắn ngang vì sự toàn vẹn của “phên dậu” nước nhà mà ta chưa biết nữa. Chắc là nhiều lắm. Điều ngậm ngùi là cuối cùng, nếu đấy là một sự đồng cảm thật, sự chia sẻ cũng chỉ là những lời nói gió bay, cái còn lại là nỗi đau của người còn sống. Nỗi đau đó sẽ lại được mang theo suốt quãng đời còn lại. Mà nào có ai muốn mang nó theo đâu. 
 Đến độ “tam thập nhi lập”, tôi mới nhận ra mạn ngược với tôi còn là “phên dậu”, là tấm lá chắn, che chở cho biết bao nhiêu là mênh mông phía sau. Cái mạn ngược xa xôi với tôi ngày xưa, hôm nay bỗng trở nên gần gũi và quan trọng. Quan trọng chẳng cho riêng tôi, quan trọng cho cả dân tộc này. Tôi bỗng nhớ đến cô gái, không thể để cô gái ngồi một mình bên suối với kỷ niệm xưa níu buộc cô, dẫu có đẹp đến mấy, cô cũng phải đứng lên, phải bắt đầu lại, phải nghiến răng kìm nén nỗi đau. 
Ấy vậy mà, tôi bỗng hổ thẹn với chính mình, để chia sẻ nỗi đau với cô gái, tôi định khuyên cô cứng rắn, mạnh mẽ, nghiến răng, làm lại cuộc đời. Ôi những lời rỗng tuếch. Tôi không quen nói những lời như vậy. Những lời như vậy tôi thấy hao hao giống của những kẻ khoác tấm áo đạo đức giả, cụ thể hơn, đó là sự dối trá. Làm sao chỉ bằng những lời đó, có thể mang chàng trai 20 tuổi, đầy nhựa sống, trả lại cho cô. Tôi bỗng nhận ra mùi thơm lá nếp rừng và mùi hương trầm bay lan tỏa. Linh tính báo, tôi quay lại chỗ cô gái. Mùi hương bay từ đây, mùi lá nếp chỉ đôi khi thoang thoảng. Tôi đoán, anh hi sinh và hiện nay vẫn chưa tìm được mộ chí. Cô đến đây và cầu mong anh cùng đến. Với cô, anh vẫn như đang ở đây, như vừa mới chia tay, vẫn lảng vảng quấn quít cùng hương khói. Cũng có thể anh đang là là bay theo màn sương cùng đồng đội. Tại đây, những hai nghìn con người, mà hồn vía của họ vẫn đang bay lơ lửng trên núi cao, vách đá cơ mà.
 Đợi hương tàn, tôi cùng cô gái thắp thêm một lần nhang nữa. Chúng tôi đứng một lúc và mắt tôi bỗng nhòe đi khi nhìn hai hòn đá, từng là chỗ ngồi của hai người. Tôi như thấy sự cựa quậy của hòn đá là chỗ ngồi của anh. Một cái gì lành lạnh chạy dọc sống lưng, bó hương thắp cho anh bỗng hóa lửa cháy như bó đuốc, làn khói hương và màn sương vùng biên cương vấn vít. Tôi thấy cô gái cười, nụ cười tràn trề hạnh phúc. Cô đã nhận ra anh, anh đã về với cô.
 Niềm mong ước được thực hiện. Ánh trăng rọi sáng một vùng núi cô quạnh và tập trung ánh sáng vào cô. Tôi không nhận ra gương mặt trĩu nặng nỗi buồn ban chiều nữa, sự mãn nguyện lấp lóa trên gương mặt đôn hậu. Nụ cười của cô đã xua đi cái giá lạnh vùng biên ải. Mạn ngược với tôi bây giờ không xa xôi. Mạn ngược là phên dậu nước nhà mà mọi người phải gìn giữ và chăm lo để nó phát triển. Có phải đổi lại tên bài không nhỉ? 


 Vinh Anh 5/1/2021. 

Chợt nghĩ ra đã là tháng kỷ niệm cho 3 ngày lễ về biên giới, hải đảo. Thông tin tác giả: Tên khai sinh: Nguyễn Anh Dũng Bút danh: Vinh Anh 
Địa chỉ: số 261, phố Đặng Tiến Đông, Hà Nội 
Điện thoại di động: 0978750261 
Email: hiendung261@gmail.com

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Bản Núi

 

Bản núi 
 Quê bọn nó ở phía đấy, xa xôi tít mù. Nó an phận và ngậm ngùi: “Quê em nghèo lắm lại xa nữa, liệu biết khi nào anh mới lên chơi được...” Hắn xúc động rơm rớm mắt vì lời mời rất chân thành của nó, hắn chỉ biết cười cười an ủi “Mày yên tâm, hết chiến tranh, tao sẽ về quê mày, xem cái bản toàn núi của mày thế nào...” Nói vậy chứ hắn nghĩ bụng, biết khi nào mới lên được cái nơi heo hút, nghèo rớt mồng tơi, quê của mày được... Vậy mà hắn nói chắc chắn, nhẹ như là... nhất định thế, sẽ thế. Nghĩ rồi ân hận, mình lừa nó, mình tồi quá. Ai sinh ra có được cái quyền chọn quê hương đâu chứ... Và hắn càng quý cái thằng nửa kinh, nửa dân tộc, bộ dạng hiền lành, dáng cao lêu đêu, đi không bén đất, mắt to như ốc nhồi với hàng lông mày rất tướng. Đúng là nó, nhìn toàn cục, được mỗi đôi lông mày là da dáng nam nhi, bọn bạn trêu chỉ biết cười, cấm có đối đáp được câu nào. 
Vậy mà hắn lên được. Ngày lên cái “bản núi tít mạn ngược” xa xôi, heo hút ấy cũng kỳ công và, như hắn nói, phải chất “đầy một lòng” quyết tâm. Hắn lên vì trong hắn có cái gì đó “vương vấn trách nhiệm”. Hắn nhớ cái lời hứa năm nào khi còn lính, còn hăng say, còn vô tư. 
Bọn nó có mấy đứa cùng sinh ra ở cái nơi heo hút cực Bắc, giáp biên giới với bọn bạn tốt như“môi răng” đó. Tuy cùng tỉnh nhưng cách nhau tít tắp, thằng này tới thằng kia cả trăm cây số. Cái tỉnh heo hút lạc hậu ấy mỗi ngày chỉ có một vài chuyến ô- tô từ tỉnh về huyện và quay trở lại. Đi lại khó khăn, nhiều lúc chẳng nghĩ đến ô-tô, chẳng mong chờ nhờ vả gì cái ô-tô. Muốn đi đâu đó thì nhìn vào cái xe đạp. Xa hay gần cũng nhờ vào xe đạp. Xe đạp là phương tiên tối cần thiết, tối quan trọng của lớp bình dân. 
Chuyến đi thăm của hắn bỗng thành hiện thực và trở nên thú vị vì có thằng lính, bạn từ ngày nhập lính xửa xừa xưa, tự dưng lên cơn nhớ rừng, được phân công lên viết bài về nông thôn mới. Lấy cớ đi thực tế, rủ hắn mang ba lô, vào rừng mắc võng. Thằng đồng ngũ này qua chuyện kể, biết hắn có người quen là một tay săn lão luyện trên núi, nổi máu giang hồ lẫn một mẩu con con mộng ước làm văn sĩ, muốn đi chơi và chắc nếu có hắn đi, mọi việc sẽ êm ả, thuận buồm xuôi gió hơn. Thằng lính đồng ngũ rủ và hắn đồng ý. 
 Giờ đang là mùa xuân. Ngày xuân mưa bụi lây phây, nắng vàng hây hây. Những hạt bụi li ti xuyên qua nắng tạt vào mặt cho hắn niềm vui trẻ trung, lâng lâng. Cây cối bắt đầu cựa mình. Những mầm xanh bé tí, non nớt, rụt rè, he hé mắt nhìn trời đất bằng những con mắt trong veo mang theo cái nheo nheo tinh nghịch. Thú nhất là những ngọn gió. Thằng bạn có chút máu mê văn gừng văn tỏi, gọi gió là những làn hương mùa xuân đang được tẩm hương bay trong không gian. “Mày cứ há mồm đón những luồng gió vào mồm xem, mồm mày sẽ thơm như rắc hoa hồng lên mũi, lưỡi mày cũng đượm cái vị ngọt ngào của hoa hồng”. Hắn nheo mắt nhìn thằng văn sĩ đồng ngũ: “ lại lên cơn...” 
Hai đứa lên đường vào lúc trời âm ẩm thoáng tí chút se se lạnh của sớm xuân. Khi thằng đồng ngũ đỡ hai cái xe đạp từ trên nóc chiếc xe hàng già nua, cũ kỹ xuống, hắn ngắm nghía, hết nắn lốp lại bóp phanh, tay quay quay cái pê-đan, lại ngó xem xích líp, lay lay cái chắn bùn... đại loại là kiểm tra trước khi lên đường. Tất cả đều ổn. Hai cái xe nhận trách nhiệm đưa hai thằng đi thêm vài chục cây số đường rừng về bản núi.
 Nhảy lên xe, hai đứa phởn phơ, cái phởn phơ hơi quá đà vì cả hai đều đã vào độ “tam thập nhi chưa lập”. Dẫu sao, thoát cái tù túng phố phường, về lại nơi núi rừng cũng có cái hay, cái thú của máu thanh niên dở chứng. Dở chứng vì hắn nghĩ, độ tuổi hắn, phải nghiêm chỉnh đi là vừa, máu trai trẻ loang loãng rồi. Hắn vẫn thế, luôn muốn già già một chút, già mới đúng đắn, già mới chín chắn. 
Mấy thằng lính quê miền ải bắc đó, đứa nào cũng thích hắn, mỗi khi chia tay một thằng lính, thằng nào cũng có lời mời hắn lên cái xứ chỉ có núi mà không có đất ấy chơi vài bữa. “Anh lên đó, cái nơi mà mọi người gọi là “khỉ ho cò gáy” đó, anh sẽ thấy tuyệt vời, anh sẽ thích thú, mê mẩn quê em luôn...” Có thằng mạnh mồm: “ Hay anh về quê em lấy vợ... Đấy anh xem, chúng em có đứa nào ở lại đất này đâu, đứa nào cũng đã có người yêu, mà anh vẫn chưa...” Nói xong nó cười, hắn cũng cười: “Chúng mày có kiếm được thật cô nào đâu... Lại còn nói chưa sõi...” 
Hắn bắt tay từng thằng khi chúng đi, cái bắt tay kiểu lính, mạnh mẽ, và một loạt những lời cầu mong, gửi gắm nhiều điều tốt đẹp vào lời chúc. Bắt tay thì được nhưng chúc nhiều quá hắn cho là vô nghĩa, chẳng thực hiện được gì đâu. Cũng ôm từng thằng, cái ôm kiểu lính, rất chặt, rất gắn kết. Cái ôm người lính thì hắn bảo thật. Chẳng gì cũng ăn ngủ với nhau mãi. Kiểu chia tay buồn buồn, cứ làm như là sẽ chẳng còn dịp gặp nhau nữa. Thằng nào đi, hắn cũng mất một lúc chống chếnh, một lúc thẫn thờ... Rồi thì hắn hít một hơi thật sâu, thở ra thật mạnh: “Nào chúng mày ơi, ta tiếp tục công việc...”, chẳng biết cái việc tiếp tục đấy là việc gì. 
Hôm nay, hắn lên thăm một trong số những thằng lính đó. Từ nhà hắn đã hình dung con đường về nhà thằng lính là đường đèo, đường quê, đường sống trâu, đường dốc đầy cát bụi và bùn lầy. Hình dung vậy mà đi, để cho có cảm giác xưa, từng phải trèo đèo lội suối, gập ghềnh gian khổ. Chẳng hiểu sao hắn lại có cái thú trẻ trẻ đó. 
Được khoảng ba chục cây, được nửa đường, thấy đói, nhân có quán nước ven đường, hai thằng dừng xe, ăn cơm nắm. “Mệt chưa?” “Thấm gì... nhưng cắm đầu đi làm gì, dừng lại mà nhìn để nhớ những cánh rừng ngày xưa. Mày có nhớ ngày xưa ở rừng không?” “Này, nếu nhớ, ra ngoài kia mắc võng, dám không?” “Ừ, hay đấy, nhưng sợ muộn, đi đêm...” “Ngủ đêm luôn, dám không?” “Mày chỉ bốc đồng... Liệu sức chứ...” “Tao nghĩ vào dân xin ngủ nhờ hợp lý hơn... Nhưng để khi khác, giờ đến đích là quan trọng nhất... còn mấy chục cây nữa... đừng có máu mê văn gừng văn tỏi, đừng có sôi sùng sục rồi khi bực lại văng tục... ông tướng...” 
Hai thằng đứng lên: “Nào... tiếp tục, xuất phát” Hắn hô lên như đứng trước tiểu đội ngày xưa. Lấy lại tí phong thái ngày xưa cho nó... lính. 
Càng đi, càng thấy rừng đậm đặc hơn. Mùa xuân, tươi rói ngập tràn. Mọc đầy ven đường là những cây hoa cứt lợn. Chẳng hiểu sao, cây hoa đẹp thế mà người đời lại gắn cho cái tên quá xấu, chẳng hoa chút nào. Hắn thắc mắc từ ngày còn bé mà chẳng ai có thể trả lời. Lại còn nghe cây hoa đó là một loại thuốc kháng sinh, những cây hoa nở màu tím là thuốc trị bệnh xoang đấy. Thế mà... đúng là chẳng ý nhị, nhẹ nhàng, nữ tính gì hết. Cứ nói đến hoa là hắn tính vào “phạm trù”nữ giới. 
Nhưng rồi đường không đẹp nữa. Phải chú ý để mắt đến những vũng nước nồng mùi nước đái trâu, những bùn đất sau những trận mưa đón xuân, những ổ gà lồi lõm và trong ổ rất nhiều “trứng” đá... có khí đang đi bên phải lại vòng sang bên trái để được đi vào chỗ khô ráo hoặc tránh ổ gà... “Mệt chưa? Ăn thua gì... Mấy giờ rồi? Gặp dân địa phương là phải hỏi đường đi, xem còn mấy cái quăng dao nữa?” Hai thằng đã thưa nói chuyện. Thằng bạn dừng xe lại, mở bi đông đựng nước chè: “Làm ngụm nước đã. Ăn thua gì... đi tiếp đi... Còn ít nhất chục cây đấy. Tự dưng tao sốt ruột, chắc nó mong...” 
Nhưng rừng đẹp. Cái đẹp nõn nà của mùa xuân. Tất cả đều xanh, cái màu xanh mát mắt mê hoặc hắn. Tất cả là trong lành. Lá cành lấm tấm các hạt mưa đọng lại như sương. Cái trong lành cho hắn nhận ra sự tinh khiết. Thấy bóng một bóng cây cổ thụ rất to, thằng bạn muốn dừng. Cảnh sắc lạ của núi rừng xung quanh đập vào mắt. Đã lâu chỉ quen đường phố, thằng bạn lại “lên cơn” bị rừng lôi cuốn. 
 Vừa hay gặp một con dốc. Thằng bạn nhảy xuống xe, dắt bộ. Hắn làu bàu: “Dốc này ăn thua gì mà không đạp nổi...” Thằng bạn dừng một lúc ngắm cây cổ thụ và nghĩ về ông Tiên trong cổ tích, nghĩ về chàng tiều phu Thạch Sanh, nghĩ về chàng Tắc-Giăng, đứa con của núi rừng trong truyện tranh ngày xưa được học. Thằng bạn kể những ý nghĩ của nó cho hắn, khi dắt xe lên dốc, cứ coi hắn như trẻ con. Hắn lại làu bàu: “Mày giữ sức mà đi, nói nhiều thế...” Thằng văn sĩ cười hô hố: “Tức à... Ôn lại chuyện xưa cho mày vui tí... Mà này, ý tưởng đi chơi của mày thú vị đấy nhỉ...” “Thôi, đừng nịnh thối! Đời này thừa thằng nịnh rồi... mà đi chơi là ý của mày từ lâu rồi, tự nhiên hôm nay đốc chứng, thần kinh à?” “Không, không thần kinh... Mọi khi chưa có dịp... mới học được đấy. Hình như càng già càng thích nghe nịnh, đúng không? Mày chẳng già rồi á, trẻ với ai? Hay vẫn thích trẻ? Cơ quan tao có lão sếp gần hưu, cứ thích các em xuân xanh mơn mởn, nõn nà, gọi bằng anh. Tao nghĩ mày thế. Đồ khốn, thằng bạn phì cười. Bọn gái trẻ đánh đổ mọi loại đạo đức, chỉ tao với mày chưa đứa nào đánh đổ được...” 
“Nhưng này, mày nhận xét gì không, làng quê thằng này xơ xác quá. Thế này thì bao giờ mới mở mày mở mặt với lân bang, nói gì vươn ra thế giới được. Chẳng cứ quê thằng đó, xa lắc xa lơ, heo heo hút hút, quê nào cũng nghèo tất. Quê mày thẳng cánh cò bay đấy, cũng có hơn gì đây? Có hơn thì hơn cái láu cá. Dám chắc với mày, dân đây tâm hồn chân chất, trong sáng hơn.” 
Hắn bỗng lặng đi một lúc. Hắn nhớ thằng lính cùng tiểu đội: “Quê em nghèo lắm, lại xa nữa, liệu biết khi nào anh mới lên chơi được...” Lúc an ủi nó, hắn rơm rớm mắt vì lời mời. Một lời mời chân thành. Quê nghèo. Phải rồi, quê nghèo nhưng vẫn mời anh đến. Anh đến là cái tình người đến. Có cái tình sẽ sinh ra của cải. Ờ cái thằng, hắn sững sờ, cái thằng chuyên bị bọn bạn bắt nạt mà nói được câu hay thế. “Mày nói cứ như chính trị viên (thực ra hắn định nói như nhà hiền triết, nhưng nghĩ cái từ đó có vẻ khó hiểu với nó, hắn lái sang từ “chính trị viên”) 
Và nó nghĩ đến cái nghèo. Nó nhìn con đường vắng ngoét, không bóng người, như hồi chiến tranh. Cái nghèo là đấy. Thi thoảng thấy một ngôi nhà cũ kỹ, cũ kỹ nghĩa là rách nát, không được tu sửa, chỉnh trang từ ngày được dựng lên, lại thấy rõ mồn một cái nghèo. Lớp ngói đen đen, con cong hình lòng máng đã xô lệch, chỉ ra cái nghèo; nhà thấp lè tè, cửa giả sơ sài cũng chỉ ra cái nghèo; ngay cả chiếc lốp xe đạp bục hỏng, được treo trên một cành cây ngoài vườn, cũng chỉ ra cái nghèo. Hắn bỗng nao nao. 
 Hắn thở dài, sao cái nghèo cứ theo mãi làng quê ta thế này? Khi nào mới dám ngẩng mặt mà tự hào, mà vênh vang với thiên hạ? Có mà đến tết Công-gô! Cái thằng ấy đúng là biết và hiểu quê nó. Cái nghèo thấm vào nó nên nó biết điều, hiểu người hiểu ta, dám nói ra sự thật. Đó chính là cái biết phận mình, biết phận mình nên không bị lố, biết phận mình mới biết điều cần cố. Còn ai đó cứ quăng ra thiên hạ những lời có cánh, xưng xưng cho ta đây là rốn vũ trụ, chắc sẽ bất ngờ và bẽ mặt với chính lời nói của mình và hơn nữa với mảnh đất này. Mảnh đất này sẽ vùi chôn... Ừ, mà sao lại có kẻ cứ nhâng nhâng nói ra cái điều mình không có được nhỉ. 
Đúng! Phải nói là quê nó đẹp, đẹp mê hồn. Một bức tranh thiên nhiên hoàn thiện. Xa tít kia là những ngọn núi mù sương. Một màu xanh thẫm được phủ bởi những tấm khăn voan dệt bằng mây lững lờ, lững lờ để như bị gió thổi bay bay từ ngọn núi này sang ngọn núi khác. Tấm khăn voan mây trắng hết lớp này đến lớp khác cứ như được một bàn tay con gái dịu dàng hết tháo ra rồi lại quàng vào những đỉnh núi xanh thẫm đó. Mây bay trên đó cho ta nhận ra cái cao cao và cái xa xa. Còn gần hơn, là lúp xúp những hòn núi đá, những quả đồi cô độc. Những hòn núi đá chạy theo bờ con sông. Con sông chảy theo khe núi thì đúng hơn. Một dòng sáng bạc, lấp lánh và thấp thoáng sương mù che phủ. Vậy là trời đã ngả về chiều. Lạ không, hắn đứng đây, nhìn lên cao là mây bay, nhìn xuống dưới là sương mù. Tất cả đều mờ ảo. Đó là mờ ảo thần tiên, là bồng lai tiên cảnh. Đẹp là thế, không xôn xang sao được. 
Rồi hắn và thằng đồng ngũ cũng đến nơi sau những lần ngoặt phải, ngoẹo trái, lên xuống một thôi nữa. Cái bản heo hút của nó đây rồi. Quê nghèo của nó đây rồi. Một thằng bé con chạy lên trước xe hai đứa, hét toáng lên từ xa, báo tin nhà có khách. Thật đúng cảm giác quê hương, thân thiết, ruột thịt, gắn bó ngay khi vừa đặt chân đến. Thằng bé ùa vào nhà và biến luôn cùng lũ trẻ đang nhớn nhác, mắt to tròn, trong veo, nhìn hai ông khách lạ. 
Lũ trẻ đứa bồng em, đứa xộc xệch nhem nhuốc từ đâu đó chạy đến, có đứa còn vác cả cây gỗ làm củi. Chúng như dàn thành hình mặt trăng lưỡi liềm trước sân, tò mò nhìn những ông khách lạ, cả năm không có một lần. Khỏi phải nói quê nó chẳng những nghèo mà còn rất lạc hậu. Mọi văn minh xã hội không đến được đây. Ở đây chỉ quen với rừng, với núi, với màu chàm, với mây trắng. 
Làng nó tên gọi làng Núi đúng mọi nghĩa. Chung quanh là núi. Các mái nhà sàn dẫu nằm giữa chốn núi rừng mà sao vẫn thấy xiêu xiêu vẹo vẹo, cũng ẩn hiện đâu đó gần với núi. Ruộng đất lưa thưa, lẫn với núi. Con suối trong veo nước róc rách quanh năm, bắt nguồn từ núi ra. Dê thả trên núi. trâu lùa vào núi. Đêm không trăng trai làng vào rừng săn, đặt bẫy cũng là vào núi. Núi là một từ gắn với dân bản nó. Thương nhớ đâu thì thương chứ với nó, không thể không có núi trong những điều thương nhớ. 
 Làng Núi thiếu đất nhưng nhiều vườn hoang. Vườn hoang với đủ các loại cây mọc chen nhau. Đó chính là sự lạc hậu. Cây ăn quả chủ yếu là mít. Mít nhiều lắm, mọc khắp nơi, xa nữa trong rừng có cả một rừng mít. Tại sao lại có rừng mít đó? Nghe nói người ta trồng mít để lấy gỗ. Ngày xưa, đã có người tìm đến mua gỗ mít. Có cái xe díp chở bốn năm người lên bản, xe len lỏi vách đá, mò mẫm dò từng mét. Đến nơi nó rũ rượi, các chỗ thở được thi nhau thở phì phì. Lái xe cũng thở hắt ra vì vật lộn với đường. Mỗi khi bò qua những con dốc cao vút và con đường bé tí chỉ độ hai mét chiều rộng, dân làng lại òa lên cổ vũ cho cả xe và lái xe. Có một toán năm sau thanh niên chạy phía trước để phát cây, chặt những cành mọc ngang như cành bứa che mắt lái xe. Có một lần, bánh xe tụt xuống hố, cả bản ra tay, huy động mọi loại dậy nhợ, trâu bò, xe mới lại đi tiếp được. Nhiệt tình của người dân với những người lạ tìm mua gỗ bốc cao ngùn ngụt, nhưng rồi chắc do xa quá, heo hút quá, đường khó quá, mít lại thành rừng. Xe không thấy lên nữa, người không thấy đến nữa. Dân bản nhìn nhau, ngơ ngác nhìn nau mà lại toàn những người quen. Chuyện về chiếc xe đi tìm mua gỗ về bản Núi được nó kể ra cứ như chuyện vui tự trào của bản, ở một địa danh heo hút, dân chẳng biết làm gì để sống, để ăn. Cái thời mà xã hội ngoài kia đang tiến như vũ bão.
 Hai thằng đến bản thành của hiếm, của mới, mọi người nô nức chạy ra xem là thế. Có khuôn mặt mới, chắc không khí bản làng sẽ thay đổi, chí ít cũng có chuyện để nói, như chuyện chiếc xe đi tìm mua gỗ ngày nào. 
 Thằng Táy thấy tiểu đội trưởng đến thì mừng quá. Nó há hốc mồm, ú ớ và sau đó chạy tới ôm chầm lấy Tài, cái ôm kiểu lính, rất chặt, và lúc này, rất lâu. Thằng Táy cười toét, rớm nước mắt. Vợ nó đang bế đứa con cũng ngạc nhiên không kém, cũng lặng người ú ớ, nhìn chồng, nhìn khách. 
Mọi người đến nhà thằng Táy ngồi uống nước, hóng chuyện. Đến khuya, mọi người thấy ái ngại cho chủ nhà Táy vì nhà nó rách quá, bàn nhau chuyển hai ông khách đến nhà sang nhất bản là nhà của bí thư chi bộ, một ông già nhưng mới chỉ khoảng ngoài sáu mươi. Nhà ông được cho là sang nhất bản vì có ông con trai đang làm trên huyện. Hai thằng bạn của Táy nhất quyết chỉ ngủ ở nhà nó, ăn ở nhà nó, nhà nó bỗng thành trung tâm của bản. Nó thấy vinh dự quá, tự hào nữa. Đúng là “vinh dự và tự hào”. Thằng văn sĩ buồn cười, khi một ai đó được hỏi “cảm tưởng” vì một lẽ gì đó có thành tích, được khen thưởng, thường nói :tôi rất tự hào và phấn khởi” thí dụ như được đứng trong đội ngũ của đảng, của đoàn chẳng hạn. Câu thành ngữ đó sẽ được “bắn” ra như là thói quen. Còn ở đây, thằng Táy nó “vinh dự và tự hào” thật, nó trong veo không vụ lợi, nói thật ra những điều nó nghĩ từ trong lòng. Nó ít học, nhưng nó nói thật, nó nguyên chiến sĩ của tiểu đội do Tài làm tiểu đội trưởng. 
Túy, tay văn sĩ hạng ba, phóng viên báo tỉnh, đi khắp nơi trong bản, moi móc mọi xó xỉnh trong bản, cố nặn ra một bài báo về “một cái” nông thôn mới để nộp cho tòa sau chuyến đi. Nhưng mọi cái nhìn thấy đều làm nó thất vọng. Túy quay về nhà. Hứa Hồng Táy, cậu chiến sĩ của Tài đang vẩy những hạt ngô cho mấy chú gà trống thiến ăn. 
Túy ngắm đàn gà, những con gà cỡ trên ba kí đang nhởn nhơ phô sức trai xuân với bộ lông lộng lẫy và thân hình cao to, đẹp đẽ. Chúng bị cách li để vỗ béo và khỏi chạy sang tán tỉnh các chị gà mái với đàn con còn lẫm chẫm, chí chóe, líu ríu đang bới tìm cái ăn ở khoảng vườn hoang trong sân. Túy nghĩ, chao ôi, cái nền kinh tế gà trống gà mái trong sân nhà thế này thì bao giờ mở mặt. Nó manh mún và bé mọn quá. Mà nhìn gương mặt Táy, thấy nó rất thỏa mãn với đàn gà trống, những con trống được nhốt riêng, ăn chế độ riêng, nên những tiếng gọi mái cũng đầy mạnh mẽ, kiêu hãnh và rất “phấn khởi tự hào”. Túy chợt nhận ra, ừ, có khác gì mấy cái tình trạng bao cấp, tem phiếu, sổ gạo vẫn gặp ở các quầy mậu dịch Hà Nội. Bao cấp cả với vật nuôi, chỉ vỗ béo từng thằng. Đó là nền kinh tế gì? Túy nghĩ ra đề tài cho bài báo: Nền kinh tế gia đình cần phải đổi mới từ suy nghĩ của người nuôi gà? Quá hay tuy cái “tít” hơi dài, sẽ sửa sau. Túy “phấn khởi và vui sướng” đi tìm Tài. 
Tài cũng đi tìm hiểu xóm núi của Táy do tò mò. Tài thích thú chuyện tắm thuốc ở đây ngay tối hôm đầu tiên, khi Táy bảo Tài và Túy đi tắm. Tài chui vào cái thùng gỗ để tắm bằng các loại lá mà vợ Táy đã nấu sẵn. Đúng là một đặc sản mà ít ai biết. Lúc chui từ thùng gỗ đầy nước được nấu với cả chục các loại ra ngoài, Tài cảm thấy chóng mặt, đầu cứ quay quay, một lúc sau mới ổn định. Hỏi Táy và biết tình trạng đó là do ngấm thuốc. Cách tắm truyền thống này của đồng bào Dao, chuyện trị mọi sự mệt mỏi, đau nhức thân thể và đặc biệt có loại giúp cho sản phụ sau sinh nở phục hồi sức khỏe nhanh chóng. “Quý vậy mà bây giờ tao mới biết. Tao cũng vậy. Táy à, mày dẫn chúng tao đi tìm lá thuốc. Ồ, khó lắm, phải đi sâu vào rừng, xa cả ngày đường đó, các anh có thích đi không? Khó kiếm thì mới là quý. “Của quý là của hiếm” mà. Nhưng tại sao mày không mang về gần nhà mà gây giống, đỡ mất thời gian... Ồ, cả bản Núi này ai cũng biết tìm cây mà, trồng làm gì, mất công...” 
Rồi nhiều cuộc nói chuyện và giảng giải nữa, Táy cũng hiểu ra, đấy là bài thuốc quý trong dân gian. Túy sẽ viết bài quảng bá về bài thuốc quý và chúng mày sẽ bán hàng. Táy kêu, vậy thì quá “phấn khởi và vui sướng”. Lại một câu “thành ngữ” quen thuộc, rất thật được “bắn” ra từ mồm Táy. Túy cũng “phấn khởi và vui sướng” vì đã có hai đề tài lượm được trong chuyến đi. 
Câu chuyện giữa ba người không thể không đến tai dân bản. Người bản ồn ào hỏi nhau. Dân bản mới là người quyết định sự thành bại. Trồng cây thuốc mà ba ông lãnh đạo ngồi họp thì chỉ ra cây cỏ. Rồi một cuộc họp bất đắc dĩ với dân bản Núi được tổ chức. Ông già bản nhắc lại chuyện cây mít và rừng mít ngày xưa, ngày đó ông còn trẻ, cầm con dao rừng chạy trước, phát quang cho ô-tô nhìn rõ đường đi, huy động trâu bò lên kéo xe bị tụt xuống hố, bây giờ thì đấy, đang điều khiển cuộc họp. Ông nghi ngờ: Thế các đồng chí đi rồi, vườn thuốc quý người Dao sẽ thành cái gì? Dân bản Núi này chúng tôi còn cả một rừng mít đấy... Rừng mít còn có quả ăn được, chứ mấy cây thuốc này thì lấy đâu ra người đẻ nhiều để mà tắm... cả bản cười ồ, vui, lộn xộn, ồn ào... nghi ngờ ý tưởng của hai ông khách của thằng Táy. Chuyện về bài thuốc quý của người Dao khó thành công lắm, cần phải huy động mọi lực lượng chính trị mới thành công được lố... mà ở đây chưa đủ lực lượng chính trị...Già bản phát biểu rất lãnh đạo, rồi an ủi, “thôi thì trước mắt, cứ viết bài giới thiệu về bài thuốc của người Dao, hai đồng chí ạ...”, làm hai thằng mất hết cả “vui mừng và phấn khởi”. 

Dù sao thì hai bài báo cũng được viết, cũng được đăng nhưng không được chú ý. Như rất nhiều vấn đề khác, nó ra không hợp thời, chưa đủ sức thuyết phục bộ máy trì trệ. Hệ thống chính trị này đang đợi một cú hích. Khoảng chục năm sau, Túy và Tài mới thấy he hé sự đổi mới. Hai thằng lại bàn nhau, lên làng Núi thăm Táy. 

 Vinh Anh 8/4/21

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

 

Ở rừng
 Kiên sống với rừng cũng kha khá thời gian. Này nhé, cả giai đoạn chiến tranh chống Mỹ, giai đoàn 65-75 ấy. Gian khổ ư, thì cũng gian khổ, nhưng cả nước như vậy, ngàn vạn quân như vậy, nên chẳng đáng để nói, nói người ta bảo công thần. Những kẻ ghen ăn tức ở trên đời bao giờ cũng nhiều, những kẻ mượn thời thế mưu lợi cho mình bao giờ cũng nhiều. Đừng nói về thời gian đã qua đó thì hơn. Cứ chìm trong bể nhân gian, im ắng trong ao tù thì nó lành. Đấy là thói đời mà.
 Ở rừng thì buồn tênh, buồn não nề, nhất là những ngày mưa dầm dề. Cái duy nhất để con người thấy mình còn sống là phải ăn, không ăn thì chết đói. Ngoài ra là sốt rét, đừng để con sốt rét nó xâm nhập, nó đục đẽo, nó hút máu cho mòn ruỗng cơ thể. Trong cái nhàn tản nơi rừng rú u minh đó, người ta nghĩ đủ chuyện. Cấm thế nào được ý nghĩ con người. 
Chuyện ở rừng của Kiên có điều vui mà chẳng mấy người có. Đó là những chuyện tình với cô gái nơi đóng quân. Sống ở rừng, mọi sự như bị tách rời, cô độc giữa thâm u và cả hoang vu nữa nên rất thèm tiếng người, nghe người nói và nói chuyện với người. Ở một nơi cô quạnh như vậy, có một mối tình để thương, để nhớ cũng đỡ những lúc đêm đen, mưa gió phũ phàng, gió rừng ầm ầm ào ào thổi hoặc những đêm mưa rả rích, đếm được từng giọt mưa rơi ngoài lán. Nhưng chẳng gì hạnh phúc hơn, ở rừng, bên cái thâm u, lại có một người con gái để yêu, để ôm ấp, nói những điều về ngày mai, quên hẳn, quên hết cái hôm nay gian khổ, cái hôm nay chiến tranh, cái hôm nay chết chóc. 
 Và cái đó cho ta cảm nhận, còn có những thứ để ta có thể muốn sống và đáng sống trên cõi đời. Nhưng cũng có điều lạ, những người ở khoảng thời gian đó, có cái nhìn khác nhau, khác nhau về mối quan hệ khác giới, khác nhau đến kỳ lạ. Ông Quân, sếp của Kiên là sự khác biệt kỳ cục đó. 
 Kiên là trưởng kho của một kho lớn, rất nhiều quân trang, quân dụng, cả thuốc men lẫn đạn dược. Theo cách nói của Kiên, kho ta phải giữ và bảo quản cả cái sống và cái chết. Kho phải phân tán khắp nơi trong rừng, rộng cỡ chục ki-lô-mét vuông. Mỗi một phân kho có ba bốn người canh giữ. Canh bọn chuột bọ, mối mủng, hươu nai, thú dữ là chính. Phá hoại thì lo mấy thằng thám báo đánh hơi được, chứ đồng bào dân tộc chẳng khi nào đến đây. Khổ nhất là chuột và mối. Thôi đó là chuyện khác, thuộc về kỹ thuật giữ kho, không nói đây. 
Ông Quân, một ông già trước tuổi, sếp trực tiếp của Kiên, lại có quan hệ rất thoáng trong chuyện quan hệ nam nữ. Ấy vậy, phải khi đến cái tuổi về già ông mới lấy được vợ. Sau lấy vợ, ông bảo: “Giá như biết lấy vợ sướng như thế, tao lấy từ khi mười tuổi”. Bọn lính được dịp: “ Sướng thế nào hả bố? Sướng mê li, chúng mày trai tráng, chịu cảnh “l.tù, c. hãm” thế này thì quá khổ, những thằng chết mà chưa biết cái ôm mềm mại và nụ hôn ngọt nào của đàn bà cũng quá thiệt thòi cho cái phận làm trai. Tao thương chúng mày lắm, đứa nào chết càng thương. Chúng mày nên kiếm mỗi đứa một đứa con gái để mà yêu, yêu thật ấy, yêu rồi làm chồng chúng nó, chứ đừng có yêu lăng nhăng, yêu lăng nhăng là tao không ủng hộ, là tao cắt d. Chúng mày làm ễnh bụng chúng nó, để chúng nó khổ cả đời là không được”. Ông nói vậy rồi bỏ đi, đơn vị vừa có thằng chết vì sốt rét ác tính. Cái chết nào trong chiến tranh cũng tức tưởi, cũng đau xót. Sao con người cứ gây nỗi đau khổ cho nhau.
 Gần nơi đơn vị đóng quân, phía bên kia sông là một bản nhỏ, leo teo mấy nóc nhà ẩn trong rừng. Chỉ nhận ra khi có khói chiều bay nhập nhòa trên mái tranh. Bom đạn nhiều, nên không hơi sức đâu mà làm nhà lớn. Cái cảnh tạm bợ thời chiến thì đâu cũng giống nhau, còn cảnh khói lam chiều vương víu, quấn quít, bảng lảng, lan tỏa lẫn với sương chiều, sương sớm đó, làm khối anh ngậm ngùi, ngao ngán vì cuộc chiến kéo dài, dài mãi không dứt. Kiên là người có thể nói là đa mộng, đa tình, rất nhanh đồng cảm với những vương víu hồn quê, êm êm dìu dịu đó. Cứ chiều chiều, rỗi việc, Kiên lại muốn tìm sang cái bản heo hút, lèo tèo vài mái nhà sàn tiêu điều đó.
 Cái bản dân tộc gần kho đó vẫn duy trì cuộc sống du canh, du cư nay đây mai đó. Mỗi nơi dân bản chọn làm chỗ ở, nhiều thì được hai ba năm, còn như không hợp với bản, thí dụ như nơi đó người bản ốm nhiều, hoặc có người chết, mùa màng thất bát thì, có khi, chỉ được nửa năm lại chuyển. Chỗ ở hiện nay, dân bản đã ở sang năm thứ hai. Vậy là cũng có thể gọi là đất lành. 
Cũng cách kho hai nhăm ba chục số, qua bản đó về phía núi, hướng Nam, là một đơn vị thanh niên xung phong hỏa tuyến, toàn nữ, đảm bảo giao thông. Đại đội trưởng là Lụa, mới hai nhăm, chị cả của đơn vị toàn gái mười tám, đôi mươi.
 Kiên bỗng nghĩ về câu nói của ông Quân. Câu ông Quân nói là nói “tuy tục nhưng thanh”. Ông nói cảnh “l. tù, c. hãm” là nói về sự hi sinh của lớp người trẻ. Sự hi sinh, hiến dâng tuổi thanh xuân của lớp người như thế hệ ông và thế hệ Kiên hôm nay. Thấy cuộc sống của các nữ thanh niên ngày ấy, mới thấu cái sự hi sinh. Chắc chắn ông đã thấy cuộc sống của những cô gái nơi đây. Đó là cuộc sống chồng chất những hi sinh, sự hi sinh chẳng có giá nào mua được. Chẳng có gì đánh đổi được thời rực rỡ nhất, thời tỏa hương thơm nhất, thời thanh xuân ngất ngây nhất của con người. 
Như trên đã nói, người đời thường nhiễu sự khi sự việc xảy ra. Đặc biệt những việc xảy ra không hay. Những kẻ nhiễu sự thường là những kẻ ti tiện, hèn mọn với tư cách của kẻ chỉ suốt đời cam tâm làm cái công việc hầu hạ, cắp tráp. Người đời gọi chung là những kẻ xu nịnh. Bọn xu nịnh cũng là những kẻ cơ hội. Chúng có tài của kẻ biết đánh hơi, biết hướng gió thổi để lựa chiều. 
Cấp trên rút Lụa ra ngoài nhưng Lụa chưa chịu, Lụa nói nhớ những người bạn đã hi sinh ở đây, không muốn xa. Đợi khi đơn vị giải thể, sẽ quyết định sau. Tình yêu thương đồng đội nơi lửa khói, khiến đôi khi, có những người thường không thể hiểu, thậm chí khó hiểu vì nó có thể vượt qua những giới hạn không tưởng. Đang thiếu người (thời chiến thì chỗ nào chả thiếu), nên đơn vị đồng ý để Lụa ở lại. 
Cái giá trị và sức cuốn hút của Lụa là sự đồng cảm rất đàn bà với những người con gái gần như đồng trang lứa, chỉ kém Lụa đôi ba tuổi, mà Lụa coi như em. Khi người ta đã trải qua những giờ phút sống chết với nhau, thì, tự nhiên thôi, nảy sinh sự đồng cảm đó. Ôi, người con gái mới tuổi hai nhăm, hai nhăm Lụa vẫn còn con gái lắm mà sao cách đối xử ân tình sâu nặng thế. Cái ân tình đó như che đậy những giông bão trong lòng. Kiên gặp Lụa trong trạng thái tình cảm của Lụa như thế. Sự gặp gỡ với những phút giây cuối cùng còn lóe hương sắc của thời con gái. Con gái của thời lửa khói, con gái có thì, đâu có được những phút giây của “gái thời bình”. 
Ngày đầu tiên họ gặp nhau là ngày mưa. Mưa rừng xối xả. Ngồi bên bếp lửa nói chuyện với đồng bào. Đồng bào nghèo lắm, có con gà muốn đổi lấy quần áo bộ đội. Biết mưa thế này, nước suối sẽ dâng cao. Kiên còn lưỡng lự giữa ở lại và về đơn vị thì thấy tiếng chí chóe của mấy cô thanh niên xung phong hỏa tuyến và các cô ùa vào nhà như ngọn gió. Tiếng cười con làm gái bạt đi cái lạnh rừng rú và mang cả sự tươi trẻ đến, các cô cũng đến đây để đổi gà, nấu cháo cho người bị ốm. Trung đội mới về, chưa triển khai được cái việc “cải thiện”. Vậy là quen nhau. Kiên “Các em đến bản làm gì khi mưa gió thế?” “Hứm...Nhìn lại mặt nhau đi...” Kiên nhìn sang phía phát ra tiếng “hứm”. Ồ, chị phụ trách thiếu nhi... chị dẫn các em vào bản chơi à?” “Này, đây không phụ trách thiếu nhi, đây toàn người lớn, các chị cả rồi đấy... Chú ăn nói cẩn thận nhé, các chị cho no đòn đấy...” Kiên ngập ngừng trước đối đáp của cô ra dáng chị thật. “Thôi, em xin các chị...Nhà em bên kia suối, không về được, các chị cho em theo với...” “Thật ghét, mồm dẻo quẹo...” “Kinh! Con gái gì mà ăn nói như tướng...” Giọng con gái khác: “Đúng là chỉ huy đấy... B trưởng bọn em đấy... chị Lụa đấy...” Họ quen nhau như thế. Không gây được thiện cảm ở phút đầu tiên.
 Mấy ngày sau, Kiên tìm đến đơn vị thanh niên xung phong chơi. Đến nhà B trưởng. Một cô gái nhỏ nhắn ra. Kiên ngớ người. Sao tối hôm mưa khác thế. Vì mưa ướt, vì trời tối, vì ghét ngay phút đầu... Lụa cất tiếng: “ Chú gặp ai, có việc gì...” “Gặp B trưởng, làm quen... tự giới thiệu... Lụa “Thôi, không quen kiểu đó. Các em đây nhiều, đều chưa chồng, muốn làm quen ai cũng được...” “Cho quen B trưởng...” “Xi...ì” “B trưởng không thích...” “Đây thích... thật đấy...” Lụa thấy thú vị 
Lần sau, lần sau nữa, vẫn cứ nhấm nhẳng nhưng đỡ hơn. Khi Lụa nhận bó hoa Kiên hái dọc đường: “Lụa đẹp như hoa rừng ấy...”“Cám ơn chú...Ờ, ờ... mà xin lỗi, cám ơn anh nhé...” “Đúng rồi, phải thế, “anh” chứ còn gì nữa...” “Còn lâu nhé... lịch sự thì thế thôi...chả nhẽ không cám ơn...” “Nhưng mà là cám ơn anh. Nghe “Anh” thích hơn, thân mật hơn... “Anh” là anh mà “chú” là em...” “Đây không thân, không thích nhé...” “Lại thế...” Lụa thấy vui vui. 
Một lần không phải ngày nghỉ, Kiên đến. Chỉ có Lụa ở nhà. Lụa mời cơm canh măng và mì chính. Hai người ngồi ăn cơm cùng nhau. Kiên: “Con đường đến em xa quá...” “Xa thì đừng đến...” “Lại thế, không đến thì nhớ...” “Nhớ gì?” “Nhớ nhấm nhẳng, khó tính, kiêu kiêu...” “Thật nhớ không?” “Thật” “Nhớ làm gì?” “Để yêu, yêu thật, nhớ lắm...” Lụa thấy xiêu xiêu, lặng im, lúng túng làm đổ bát canh măng vào quần Kiên, ướt cả ống quần. Lụa vội lấy khăn thấm, kéo quân Kiên lên để lau. Kiên giữ đôi tay Lụa, kéo Lụa lại gần, rồi ôm, rồi hôn... Tất cả là nhờ bát canh măng bị đổ. 
Làm lính phải biết chớp thời cơ. Vậy là họ yêu nhau và ập vào nhau nhanh như nai rừng, mạnh như lốc cuốn và mát lành như gió. Những lóe sáng cuối cùng của thời con gái bị dồn nén bao lâu đã làm nên cổ tích nơi rừng già với ngây ngất tình yêu. Lụa quyết định hết thảy. Kiên như ngây dại, si mê trước những tình cảm nồng nàn, cháy bỏng của Lụa. Lụa đòi yêu như khát vọng, đòi được bù đắp những hi sinh ngày hôm qua, ngày trước nữa, năm trước nữa. Yêu như không thể thỏa mãn, yêu như không có bến bờ. Chỉ hiểu đấy là sóng cuồn cuộn xô cuốn, chỉ hiểu đấy là gió ầm ầm gào thét, chỉ hiểu đấy là sự bùng nổ của tiếng nổ sức mạnh tình yêu. Đó là sự mãnh liệt của khát khao được giải tỏa. Họ quấn lấy nhau mỗi lần gặp nhau như giây chão neo thuyền, hai cặp môi như ứa máu và nhàu nát để rồi đi đến sự tê mê tuyệt đỉnh. Họ vừa buông nhau ra thì lại ập vào nhau, quyện chặt vào nhau, dính liền vào nhau. 
Có lần Kiên không về, đường xa lắm mà Lụa thì hây hây, ngọt ngào, chờ đợi. Kiên không thể cưỡng lại được những nồng nàn ân ái ấy và họ lại vùi vào nhau và của nhau. Kiên ân hận và tự đến đứng trước mặt ông Quân. “Mày đã làm gì nó chưa?” Kiên giả bộ: “Làm gì là cái gì ạ...” “Thằng ngu, con gái nó chỉ chờ mày như vậy mà mày ỡm ờ... Mà tao nói cho mày biết, không che được mắt tao. Không làm gì mà lại qua đêm. Thế cả đêm chúng mày chỉ ôm nhau ngủ thôi à... Thôi về, lần sau tao đuổi... Mà nó ễnh bụng ra chưa? Đụng vào bọn con gái đang cấn cái cái đó là dễ lắm đấy. Liệu mà giữ gìn... khổ là khổ đời con gái ấy...” 
Có hôm, Lụa nói đưa Kiên đi một quãng. Một quãng đó là bao nhiêu lâu không rõ nhưng ham muốn nhau thì cứ tràn trề. Họ lại ôm nhau, lại hôn nhau, lại làm nhàu nát môi nhau, lại giây chão buộc thuyền, lại tê mê đến mê man. Rừng thần bí như liều thuốc thiêng bồi đắp liên tục và không ngừng cung cấp năng lượng cho tình yêu của họ. Rồi Lụa lại đưa Kiên thêm một quãng nữa. Không hiểu con đường có bao nhiêu quãng tất cả và Lụa tiễn cả thảy mấy quãng. Giời biết hay chỉ tình yêu họ biết. 
Những cô gái đồng trinh của Lụa biết chuyện yêu của đại đội trưởng, xúm lại căn vặn tra hỏi bởi tò mò và háo hức muốn biết cái gọi là “gái phải hơi trai”. Còn Lụa đang chất đầy hạnh phúc thì muốn chia sẻ. Lụa giờ đây nghiễm nhiên đã là người từng trải chuyện trai gái yêu đương, cô thầm thì với các bạn: “Các em biết không, khi hôn, người đó làm ta mềm ra đờ đẫn như mất hồn, những cái hôn dài, liên tục ập vào môi khiến ta mê man, không còn biết gì nữa, không còn làm chủ được mình. Người đó hỏi, cho anh nhé. Cho cái gì? Mình vẫn còn đang mê man, còn biết gì nữa đâu, tay người đó đã luồn vào áo, nắn bóp ti của mình và vục đầu vào đấy, những cái hôn khiến mình chẳng còn biết trời đất là gì. Lại nghe thấy, cho anh nhé. Em có gì mà cho anh. Em đang ngất lịm trong mê man bay bổng. Tay người ấy luồn xuống dưới, kéo áo ta lên, hôn từ đầu xuống bụng và xuống chỗ đó. Người ấy nói, cái ngàn vàng của em đây rồi. Lúc đó, thì mình thật đã chết chìm trong huyền ảo mênh mông, đâu còn biết gì khi người ấy hôn nó. Chao ôi, thần tiên là gì không biết nhưng chị biết chắc đấy là giờ phút tuyệt đỉnh của con người, con người có quyền được hưởng. Chị đang lạc vào chốn mê cung, rậm rì, không lối ra, tự nguyện để người ấy chiếm đoạt...”
 Kể xong, Lụa im lặng, nét mặt mơ màng với đôi mắt nhìn vào xa xăm, như đang nhớ lại những phút giây thăng hoa với Kiên. Đám con gái còn xuân sanh, mơn mởn sắc hương cũng im lặng, mỗi đứa mỗi kiểu, thả hồn bay lửng lơ và mường tượng những gì Lụa nói. Tất cả chìm trong u minh của rừng già. 
 Bạn biết không, ở rừng, người ta nghĩ nhiều lắm, nghĩ ra vô khối chuyện. Chỉ có điều, người ta mong mỏi đủ điều, kể cả cái điều xã hội kiêng kỵ, cấm đoán. Chuyện quan hệ nam nữ đó cứ như tự nhiên bị cho là tội lỗi. Chẳng ai nói ra, nhưng người ta biết, rất nhiều chuyện về những kẻ đạo đức giả, luôn đóng vai những kẻ răn dạy đạo đức, tô vẽ ra cái đạo đức mơ hồ, huyễn hoặc đó. Cái thứ đạo đức giả tạo đó mà ông Quân, nói là bị “l.tù, c. hãm” ấy. 
Ôi, bố Quân, sếp già của chúng con, chỉ có bố hiểu và thương chúng con thôi, cái bọn vẫn săm soi chúng con kia là một lũ chỉ ăn theo, nói láo. Chúng con biết, trong đầu chúng chứa đầy những thứ chẳng thể ngửi được... Vinh Anh-14/4/21