Bản núi
Quê bọn nó ở phía đấy, xa xôi tít mù. Nó an phận và ngậm ngùi: “Quê em nghèo lắm lại xa nữa, liệu biết khi nào anh mới lên chơi được...” Hắn xúc động rơm rớm mắt vì lời mời rất chân thành của nó, hắn chỉ biết cười cười an ủi “Mày yên tâm, hết chiến tranh, tao sẽ về quê mày, xem cái bản toàn núi của mày thế nào...” Nói vậy chứ hắn nghĩ bụng, biết khi nào mới lên được cái nơi heo hút, nghèo rớt mồng tơi, quê của mày được... Vậy mà hắn nói chắc chắn, nhẹ như là... nhất định thế, sẽ thế. Nghĩ rồi ân hận, mình lừa nó, mình tồi quá. Ai sinh ra có được cái quyền chọn quê hương đâu chứ... Và hắn càng quý cái thằng nửa kinh, nửa dân tộc, bộ dạng hiền lành, dáng cao lêu đêu, đi không bén đất, mắt to như ốc nhồi với hàng lông mày rất tướng. Đúng là nó, nhìn toàn cục, được mỗi đôi lông mày là da dáng nam nhi, bọn bạn trêu chỉ biết cười, cấm có đối đáp được câu nào.
Vậy mà hắn lên được. Ngày lên cái “bản núi tít mạn ngược” xa xôi, heo hút ấy cũng kỳ công và, như hắn nói, phải chất “đầy một lòng” quyết tâm. Hắn lên vì trong hắn có cái gì đó “vương vấn trách nhiệm”. Hắn nhớ cái lời hứa năm nào khi còn lính, còn hăng say, còn vô tư.
Bọn nó có mấy đứa cùng sinh ra ở cái nơi heo hút cực Bắc, giáp biên giới với bọn bạn tốt như“môi răng” đó. Tuy cùng tỉnh nhưng cách nhau tít tắp, thằng này tới thằng kia cả trăm cây số. Cái tỉnh heo hút lạc hậu ấy mỗi ngày chỉ có một vài chuyến ô- tô từ tỉnh về huyện và quay trở lại. Đi lại khó khăn, nhiều lúc chẳng nghĩ đến ô-tô, chẳng mong chờ nhờ vả gì cái ô-tô. Muốn đi đâu đó thì nhìn vào cái xe đạp. Xa hay gần cũng nhờ vào xe đạp. Xe đạp là phương tiên tối cần thiết, tối quan trọng của lớp bình dân.
Chuyến đi thăm của hắn bỗng thành hiện thực và trở nên thú vị vì có thằng lính, bạn từ ngày nhập lính xửa xừa xưa, tự dưng lên cơn nhớ rừng, được phân công lên viết bài về nông thôn mới. Lấy cớ đi thực tế, rủ hắn mang ba lô, vào rừng mắc võng. Thằng đồng ngũ này qua chuyện kể, biết hắn có người quen là một tay săn lão luyện trên núi, nổi máu giang hồ lẫn một mẩu con con mộng ước làm văn sĩ, muốn đi chơi và chắc nếu có hắn đi, mọi việc sẽ êm ả, thuận buồm xuôi gió hơn. Thằng lính đồng ngũ rủ và hắn đồng ý.
Giờ đang là mùa xuân. Ngày xuân mưa bụi lây phây, nắng vàng hây hây. Những hạt bụi li ti xuyên qua nắng tạt vào mặt cho hắn niềm vui trẻ trung, lâng lâng. Cây cối bắt đầu cựa mình. Những mầm xanh bé tí, non nớt, rụt rè, he hé mắt nhìn trời đất bằng những con mắt trong veo mang theo cái nheo nheo tinh nghịch. Thú nhất là những ngọn gió. Thằng bạn có chút máu mê văn gừng văn tỏi, gọi gió là những làn hương mùa xuân đang được tẩm hương bay trong không gian. “Mày cứ há mồm đón những luồng gió vào mồm xem, mồm mày sẽ thơm như rắc hoa hồng lên mũi, lưỡi mày cũng đượm cái vị ngọt ngào của hoa hồng”. Hắn nheo mắt nhìn thằng văn sĩ đồng ngũ: “ lại lên cơn...”
Hai đứa lên đường vào lúc trời âm ẩm thoáng tí chút se se lạnh của sớm xuân. Khi thằng đồng ngũ đỡ hai cái xe đạp từ trên nóc chiếc xe hàng già nua, cũ kỹ xuống, hắn ngắm nghía, hết nắn lốp lại bóp phanh, tay quay quay cái pê-đan, lại ngó xem xích líp, lay lay cái chắn bùn... đại loại là kiểm tra trước khi lên đường. Tất cả đều ổn. Hai cái xe nhận trách nhiệm đưa hai thằng đi thêm vài chục cây số đường rừng về bản núi.
Nhảy lên xe, hai đứa phởn phơ, cái phởn phơ hơi quá đà vì cả hai đều đã vào độ “tam thập nhi chưa lập”. Dẫu sao, thoát cái tù túng phố phường, về lại nơi núi rừng cũng có cái hay, cái thú của máu thanh niên dở chứng. Dở chứng vì hắn nghĩ, độ tuổi hắn, phải nghiêm chỉnh đi là vừa, máu trai trẻ loang loãng rồi. Hắn vẫn thế, luôn muốn già già một chút, già mới đúng đắn, già mới chín chắn.
Mấy thằng lính quê miền ải bắc đó, đứa nào cũng thích hắn, mỗi khi chia tay một thằng lính, thằng nào cũng có lời mời hắn lên cái xứ chỉ có núi mà không có đất ấy chơi vài bữa. “Anh lên đó, cái nơi mà mọi người gọi là “khỉ ho cò gáy” đó, anh sẽ thấy tuyệt vời, anh sẽ thích thú, mê mẩn quê em luôn...” Có thằng mạnh mồm: “ Hay anh về quê em lấy vợ... Đấy anh xem, chúng em có đứa nào ở lại đất này đâu, đứa nào cũng đã có người yêu, mà anh vẫn chưa...” Nói xong nó cười, hắn cũng cười: “Chúng mày có kiếm được thật cô nào đâu... Lại còn nói chưa sõi...”
Hắn bắt tay từng thằng khi chúng đi, cái bắt tay kiểu lính, mạnh mẽ, và một loạt những lời cầu mong, gửi gắm nhiều điều tốt đẹp vào lời chúc. Bắt tay thì được nhưng chúc nhiều quá hắn cho là vô nghĩa, chẳng thực hiện được gì đâu. Cũng ôm từng thằng, cái ôm kiểu lính, rất chặt, rất gắn kết. Cái ôm người lính thì hắn bảo thật. Chẳng gì cũng ăn ngủ với nhau mãi. Kiểu chia tay buồn buồn, cứ làm như là sẽ chẳng còn dịp gặp nhau nữa. Thằng nào đi, hắn cũng mất một lúc chống chếnh, một lúc thẫn thờ... Rồi thì hắn hít một hơi thật sâu, thở ra thật mạnh: “Nào chúng mày ơi, ta tiếp tục công việc...”, chẳng biết cái việc tiếp tục đấy là việc gì.
Hôm nay, hắn lên thăm một trong số những thằng lính đó. Từ nhà hắn đã hình dung con đường về nhà thằng lính là đường đèo, đường quê, đường sống trâu, đường dốc đầy cát bụi và bùn lầy. Hình dung vậy mà đi, để cho có cảm giác xưa, từng phải trèo đèo lội suối, gập ghềnh gian khổ. Chẳng hiểu sao hắn lại có cái thú trẻ trẻ đó.
Được khoảng ba chục cây, được nửa đường, thấy đói, nhân có quán nước ven đường, hai thằng dừng xe, ăn cơm nắm. “Mệt chưa?” “Thấm gì... nhưng cắm đầu đi làm gì, dừng lại mà nhìn để nhớ những cánh rừng ngày xưa. Mày có nhớ ngày xưa ở rừng không?” “Này, nếu nhớ, ra ngoài kia mắc võng, dám không?” “Ừ, hay đấy, nhưng sợ muộn, đi đêm...” “Ngủ đêm luôn, dám không?” “Mày chỉ bốc đồng... Liệu sức chứ...” “Tao nghĩ vào dân xin ngủ nhờ hợp lý hơn... Nhưng để khi khác, giờ đến đích là quan trọng nhất... còn mấy chục cây nữa... đừng có máu mê văn gừng văn tỏi, đừng có sôi sùng sục rồi khi bực lại văng tục... ông tướng...”
Hai thằng đứng lên: “Nào... tiếp tục, xuất phát” Hắn hô lên như đứng trước tiểu đội ngày xưa. Lấy lại tí phong thái ngày xưa cho nó... lính.
Càng đi, càng thấy rừng đậm đặc hơn. Mùa xuân, tươi rói ngập tràn. Mọc đầy ven đường là những cây hoa cứt lợn. Chẳng hiểu sao, cây hoa đẹp thế mà người đời lại gắn cho cái tên quá xấu, chẳng hoa chút nào. Hắn thắc mắc từ ngày còn bé mà chẳng ai có thể trả lời. Lại còn nghe cây hoa đó là một loại thuốc kháng sinh, những cây hoa nở màu tím là thuốc trị bệnh xoang đấy. Thế mà... đúng là chẳng ý nhị, nhẹ nhàng, nữ tính gì hết. Cứ nói đến hoa là hắn tính vào “phạm trù”nữ giới.
Nhưng rồi đường không đẹp nữa. Phải chú ý để mắt đến những vũng nước nồng mùi nước đái trâu, những bùn đất sau những trận mưa đón xuân, những ổ gà lồi lõm và trong ổ rất nhiều “trứng” đá... có khí đang đi bên phải lại vòng sang bên trái để được đi vào chỗ khô ráo hoặc tránh ổ gà... “Mệt chưa? Ăn thua gì... Mấy giờ rồi? Gặp dân địa phương là phải hỏi đường đi, xem còn mấy cái quăng dao nữa?” Hai thằng đã thưa nói chuyện. Thằng bạn dừng xe lại, mở bi đông đựng nước chè: “Làm ngụm nước đã. Ăn thua gì... đi tiếp đi... Còn ít nhất chục cây đấy. Tự dưng tao sốt ruột, chắc nó mong...”
Nhưng rừng đẹp. Cái đẹp nõn nà của mùa xuân. Tất cả đều xanh, cái màu xanh mát mắt mê hoặc hắn. Tất cả là trong lành. Lá cành lấm tấm các hạt mưa đọng lại như sương. Cái trong lành cho hắn nhận ra sự tinh khiết. Thấy bóng một bóng cây cổ thụ rất to, thằng bạn muốn dừng. Cảnh sắc lạ của núi rừng xung quanh đập vào mắt. Đã lâu chỉ quen đường phố, thằng bạn lại “lên cơn” bị rừng lôi cuốn.
Vừa hay gặp một con dốc. Thằng bạn nhảy xuống xe, dắt bộ. Hắn làu bàu: “Dốc này ăn thua gì mà không đạp nổi...” Thằng bạn dừng một lúc ngắm cây cổ thụ và nghĩ về ông Tiên trong cổ tích, nghĩ về chàng tiều phu Thạch Sanh, nghĩ về chàng Tắc-Giăng, đứa con của núi rừng trong truyện tranh ngày xưa được học. Thằng bạn kể những ý nghĩ của nó cho hắn, khi dắt xe lên dốc, cứ coi hắn như trẻ con. Hắn lại làu bàu: “Mày giữ sức mà đi, nói nhiều thế...” Thằng văn sĩ cười hô hố: “Tức à... Ôn lại chuyện xưa cho mày vui tí... Mà này, ý tưởng đi chơi của mày thú vị đấy nhỉ...” “Thôi, đừng nịnh thối! Đời này thừa thằng nịnh rồi... mà đi chơi là ý của mày từ lâu rồi, tự nhiên hôm nay đốc chứng, thần kinh à?” “Không, không thần kinh... Mọi khi chưa có dịp... mới học được đấy. Hình như càng già càng thích nghe nịnh, đúng không? Mày chẳng già rồi á, trẻ với ai? Hay vẫn thích trẻ? Cơ quan tao có lão sếp gần hưu, cứ thích các em xuân xanh mơn mởn, nõn nà, gọi bằng anh. Tao nghĩ mày thế. Đồ khốn, thằng bạn phì cười. Bọn gái trẻ đánh đổ mọi loại đạo đức, chỉ tao với mày chưa đứa nào đánh đổ được...”
“Nhưng này, mày nhận xét gì không, làng quê thằng này xơ xác quá. Thế này thì bao giờ mới mở mày mở mặt với lân bang, nói gì vươn ra thế giới được. Chẳng cứ quê thằng đó, xa lắc xa lơ, heo heo hút hút, quê nào cũng nghèo tất. Quê mày thẳng cánh cò bay đấy, cũng có hơn gì đây? Có hơn thì hơn cái láu cá. Dám chắc với mày, dân đây tâm hồn chân chất, trong sáng hơn.”
Hắn bỗng lặng đi một lúc. Hắn nhớ thằng lính cùng tiểu đội: “Quê em nghèo lắm, lại xa nữa, liệu biết khi nào anh mới lên chơi được...” Lúc an ủi nó, hắn rơm rớm mắt vì lời mời. Một lời mời chân thành. Quê nghèo. Phải rồi, quê nghèo nhưng vẫn mời anh đến. Anh đến là cái tình người đến. Có cái tình sẽ sinh ra của cải. Ờ cái thằng, hắn sững sờ, cái thằng chuyên bị bọn bạn bắt nạt mà nói được câu hay thế. “Mày nói cứ như chính trị viên (thực ra hắn định nói như nhà hiền triết, nhưng nghĩ cái từ đó có vẻ khó hiểu với nó, hắn lái sang từ “chính trị viên”)
Và nó nghĩ đến cái nghèo. Nó nhìn con đường vắng ngoét, không bóng người, như hồi chiến tranh. Cái nghèo là đấy. Thi thoảng thấy một ngôi nhà cũ kỹ, cũ kỹ nghĩa là rách nát, không được tu sửa, chỉnh trang từ ngày được dựng lên, lại thấy rõ mồn một cái nghèo. Lớp ngói đen đen, con cong hình lòng máng đã xô lệch, chỉ ra cái nghèo; nhà thấp lè tè, cửa giả sơ sài cũng chỉ ra cái nghèo; ngay cả chiếc lốp xe đạp bục hỏng, được treo trên một cành cây ngoài vườn, cũng chỉ ra cái nghèo. Hắn bỗng nao nao.
Hắn thở dài, sao cái nghèo cứ theo mãi làng quê ta thế này? Khi nào mới dám ngẩng mặt mà tự hào, mà vênh vang với thiên hạ? Có mà đến tết Công-gô! Cái thằng ấy đúng là biết và hiểu quê nó. Cái nghèo thấm vào nó nên nó biết điều, hiểu người hiểu ta, dám nói ra sự thật. Đó chính là cái biết phận mình, biết phận mình nên không bị lố, biết phận mình mới biết điều cần cố. Còn ai đó cứ quăng ra thiên hạ những lời có cánh, xưng xưng cho ta đây là rốn vũ trụ, chắc sẽ bất ngờ và bẽ mặt với chính lời nói của mình và hơn nữa với mảnh đất này. Mảnh đất này sẽ vùi chôn... Ừ, mà sao lại có kẻ cứ nhâng nhâng nói ra cái điều mình không có được nhỉ.
Đúng! Phải nói là quê nó đẹp, đẹp mê hồn. Một bức tranh thiên nhiên hoàn thiện. Xa tít kia là những ngọn núi mù sương. Một màu xanh thẫm được phủ bởi những tấm khăn voan dệt bằng mây lững lờ, lững lờ để như bị gió thổi bay bay từ ngọn núi này sang ngọn núi khác. Tấm khăn voan mây trắng hết lớp này đến lớp khác cứ như được một bàn tay con gái dịu dàng hết tháo ra rồi lại quàng vào những đỉnh núi xanh thẫm đó. Mây bay trên đó cho ta nhận ra cái cao cao và cái xa xa. Còn gần hơn, là lúp xúp những hòn núi đá, những quả đồi cô độc. Những hòn núi đá chạy theo bờ con sông. Con sông chảy theo khe núi thì đúng hơn. Một dòng sáng bạc, lấp lánh và thấp thoáng sương mù che phủ. Vậy là trời đã ngả về chiều. Lạ không, hắn đứng đây, nhìn lên cao là mây bay, nhìn xuống dưới là sương mù. Tất cả đều mờ ảo. Đó là mờ ảo thần tiên, là bồng lai tiên cảnh. Đẹp là thế, không xôn xang sao được.
Rồi hắn và thằng đồng ngũ cũng đến nơi sau những lần ngoặt phải, ngoẹo trái, lên xuống một thôi nữa. Cái bản heo hút của nó đây rồi. Quê nghèo của nó đây rồi. Một thằng bé con chạy lên trước xe hai đứa, hét toáng lên từ xa, báo tin nhà có khách. Thật đúng cảm giác quê hương, thân thiết, ruột thịt, gắn bó ngay khi vừa đặt chân đến. Thằng bé ùa vào nhà và biến luôn cùng lũ trẻ đang nhớn nhác, mắt to tròn, trong veo, nhìn hai ông khách lạ.
Lũ trẻ đứa bồng em, đứa xộc xệch nhem nhuốc từ đâu đó chạy đến, có đứa còn vác cả cây gỗ làm củi. Chúng như dàn thành hình mặt trăng lưỡi liềm trước sân, tò mò nhìn những ông khách lạ, cả năm không có một lần. Khỏi phải nói quê nó chẳng những nghèo mà còn rất lạc hậu. Mọi văn minh xã hội không đến được đây. Ở đây chỉ quen với rừng, với núi, với màu chàm, với mây trắng.
Làng nó tên gọi làng Núi đúng mọi nghĩa. Chung quanh là núi. Các mái nhà sàn dẫu nằm giữa chốn núi rừng mà sao vẫn thấy xiêu xiêu vẹo vẹo, cũng ẩn hiện đâu đó gần với núi. Ruộng đất lưa thưa, lẫn với núi. Con suối trong veo nước róc rách quanh năm, bắt nguồn từ núi ra. Dê thả trên núi. trâu lùa vào núi. Đêm không trăng trai làng vào rừng săn, đặt bẫy cũng là vào núi. Núi là một từ gắn với dân bản nó. Thương nhớ đâu thì thương chứ với nó, không thể không có núi trong những điều thương nhớ.
Làng Núi thiếu đất nhưng nhiều vườn hoang. Vườn hoang với đủ các loại cây mọc chen nhau. Đó chính là sự lạc hậu. Cây ăn quả chủ yếu là mít. Mít nhiều lắm, mọc khắp nơi, xa nữa trong rừng có cả một rừng mít. Tại sao lại có rừng mít đó? Nghe nói người ta trồng mít để lấy gỗ. Ngày xưa, đã có người tìm đến mua gỗ mít. Có cái xe díp chở bốn năm người lên bản, xe len lỏi vách đá, mò mẫm dò từng mét. Đến nơi nó rũ rượi, các chỗ thở được thi nhau thở phì phì. Lái xe cũng thở hắt ra vì vật lộn với đường. Mỗi khi bò qua những con dốc cao vút và con đường bé tí chỉ độ hai mét chiều rộng, dân làng lại òa lên cổ vũ cho cả xe và lái xe. Có một toán năm sau thanh niên chạy phía trước để phát cây, chặt những cành mọc ngang như cành bứa che mắt lái xe. Có một lần, bánh xe tụt xuống hố, cả bản ra tay, huy động mọi loại dậy nhợ, trâu bò, xe mới lại đi tiếp được. Nhiệt tình của người dân với những người lạ tìm mua gỗ bốc cao ngùn ngụt, nhưng rồi chắc do xa quá, heo hút quá, đường khó quá, mít lại thành rừng. Xe không thấy lên nữa, người không thấy đến nữa. Dân bản nhìn nhau, ngơ ngác nhìn nau mà lại toàn những người quen. Chuyện về chiếc xe đi tìm mua gỗ về bản Núi được nó kể ra cứ như chuyện vui tự trào của bản, ở một địa danh heo hút, dân chẳng biết làm gì để sống, để ăn. Cái thời mà xã hội ngoài kia đang tiến như vũ bão.
Hai thằng đến bản thành của hiếm, của mới, mọi người nô nức chạy ra xem là thế. Có khuôn mặt mới, chắc không khí bản làng sẽ thay đổi, chí ít cũng có chuyện để nói, như chuyện chiếc xe đi tìm mua gỗ ngày nào.
Thằng Táy thấy tiểu đội trưởng đến thì mừng quá. Nó há hốc mồm, ú ớ và sau đó chạy tới ôm chầm lấy Tài, cái ôm kiểu lính, rất chặt, và lúc này, rất lâu. Thằng Táy cười toét, rớm nước mắt. Vợ nó đang bế đứa con cũng ngạc nhiên không kém, cũng lặng người ú ớ, nhìn chồng, nhìn khách.
Mọi người đến nhà thằng Táy ngồi uống nước, hóng chuyện. Đến khuya, mọi người thấy ái ngại cho chủ nhà Táy vì nhà nó rách quá, bàn nhau chuyển hai ông khách đến nhà sang nhất bản là nhà của bí thư chi bộ, một ông già nhưng mới chỉ khoảng ngoài sáu mươi. Nhà ông được cho là sang nhất bản vì có ông con trai đang làm trên huyện. Hai thằng bạn của Táy nhất quyết chỉ ngủ ở nhà nó, ăn ở nhà nó, nhà nó bỗng thành trung tâm của bản. Nó thấy vinh dự quá, tự hào nữa. Đúng là “vinh dự và tự hào”. Thằng văn sĩ buồn cười, khi một ai đó được hỏi “cảm tưởng” vì một lẽ gì đó có thành tích, được khen thưởng, thường nói :tôi rất tự hào và phấn khởi” thí dụ như được đứng trong đội ngũ của đảng, của đoàn chẳng hạn. Câu thành ngữ đó sẽ được “bắn” ra như là thói quen. Còn ở đây, thằng Táy nó “vinh dự và tự hào” thật, nó trong veo không vụ lợi, nói thật ra những điều nó nghĩ từ trong lòng. Nó ít học, nhưng nó nói thật, nó nguyên chiến sĩ của tiểu đội do Tài làm tiểu đội trưởng.
Túy, tay văn sĩ hạng ba, phóng viên báo tỉnh, đi khắp nơi trong bản, moi móc mọi xó xỉnh trong bản, cố nặn ra một bài báo về “một cái” nông thôn mới để nộp cho tòa sau chuyến đi. Nhưng mọi cái nhìn thấy đều làm nó thất vọng. Túy quay về nhà. Hứa Hồng Táy, cậu chiến sĩ của Tài đang vẩy những hạt ngô cho mấy chú gà trống thiến ăn.
Túy ngắm đàn gà, những con gà cỡ trên ba kí đang nhởn nhơ phô sức trai xuân với bộ lông lộng lẫy và thân hình cao to, đẹp đẽ. Chúng bị cách li để vỗ béo và khỏi chạy sang tán tỉnh các chị gà mái với đàn con còn lẫm chẫm, chí chóe, líu ríu đang bới tìm cái ăn ở khoảng vườn hoang trong sân. Túy nghĩ, chao ôi, cái nền kinh tế gà trống gà mái trong sân nhà thế này thì bao giờ mở mặt. Nó manh mún và bé mọn quá. Mà nhìn gương mặt Táy, thấy nó rất thỏa mãn với đàn gà trống, những con trống được nhốt riêng, ăn chế độ riêng, nên những tiếng gọi mái cũng đầy mạnh mẽ, kiêu hãnh và rất “phấn khởi tự hào”. Túy chợt nhận ra, ừ, có khác gì mấy cái tình trạng bao cấp, tem phiếu, sổ gạo vẫn gặp ở các quầy mậu dịch Hà Nội. Bao cấp cả với vật nuôi, chỉ vỗ béo từng thằng. Đó là nền kinh tế gì? Túy nghĩ ra đề tài cho bài báo: Nền kinh tế gia đình cần phải đổi mới từ suy nghĩ của người nuôi gà? Quá hay tuy cái “tít” hơi dài, sẽ sửa sau. Túy “phấn khởi và vui sướng” đi tìm Tài.
Tài cũng đi tìm hiểu xóm núi của Táy do tò mò. Tài thích thú chuyện tắm thuốc ở đây ngay tối hôm đầu tiên, khi Táy bảo Tài và Túy đi tắm. Tài chui vào cái thùng gỗ để tắm bằng các loại lá mà vợ Táy đã nấu sẵn. Đúng là một đặc sản mà ít ai biết. Lúc chui từ thùng gỗ đầy nước được nấu với cả chục các loại ra ngoài, Tài cảm thấy chóng mặt, đầu cứ quay quay, một lúc sau mới ổn định. Hỏi Táy và biết tình trạng đó là do ngấm thuốc. Cách tắm truyền thống này của đồng bào Dao, chuyện trị mọi sự mệt mỏi, đau nhức thân thể và đặc biệt có loại giúp cho sản phụ sau sinh nở phục hồi sức khỏe nhanh chóng. “Quý vậy mà bây giờ tao mới biết. Tao cũng vậy. Táy à, mày dẫn chúng tao đi tìm lá thuốc. Ồ, khó lắm, phải đi sâu vào rừng, xa cả ngày đường đó, các anh có thích đi không? Khó kiếm thì mới là quý. “Của quý là của hiếm” mà. Nhưng tại sao mày không mang về gần nhà mà gây giống, đỡ mất thời gian... Ồ, cả bản Núi này ai cũng biết tìm cây mà, trồng làm gì, mất công...”
Rồi nhiều cuộc nói chuyện và giảng giải nữa, Táy cũng hiểu ra, đấy là bài thuốc quý trong dân gian. Túy sẽ viết bài quảng bá về bài thuốc quý và chúng mày sẽ bán hàng. Táy kêu, vậy thì quá “phấn khởi và vui sướng”. Lại một câu “thành ngữ” quen thuộc, rất thật được “bắn” ra từ mồm Táy. Túy cũng “phấn khởi và vui sướng” vì đã có hai đề tài lượm được trong chuyến đi.
Câu chuyện giữa ba người không thể không đến tai dân bản. Người bản ồn ào hỏi nhau. Dân bản mới là người quyết định sự thành bại. Trồng cây thuốc mà ba ông lãnh đạo ngồi họp thì chỉ ra cây cỏ. Rồi một cuộc họp bất đắc dĩ với dân bản Núi được tổ chức. Ông già bản nhắc lại chuyện cây mít và rừng mít ngày xưa, ngày đó ông còn trẻ, cầm con dao rừng chạy trước, phát quang cho ô-tô nhìn rõ đường đi, huy động trâu bò lên kéo xe bị tụt xuống hố, bây giờ thì đấy, đang điều khiển cuộc họp. Ông nghi ngờ: Thế các đồng chí đi rồi, vườn thuốc quý người Dao sẽ thành cái gì? Dân bản Núi này chúng tôi còn cả một rừng mít đấy... Rừng mít còn có quả ăn được, chứ mấy cây thuốc này thì lấy đâu ra người đẻ nhiều để mà tắm... cả bản cười ồ, vui, lộn xộn, ồn ào... nghi ngờ ý tưởng của hai ông khách của thằng Táy. Chuyện về bài thuốc quý của người Dao khó thành công lắm, cần phải huy động mọi lực lượng chính trị mới thành công được lố... mà ở đây chưa đủ lực lượng chính trị...Già bản phát biểu rất lãnh đạo, rồi an ủi, “thôi thì trước mắt, cứ viết bài giới thiệu về bài thuốc của người Dao, hai đồng chí ạ...”, làm hai thằng mất hết cả “vui mừng và phấn khởi”.
Dù sao thì hai bài báo cũng được viết, cũng được đăng nhưng không được chú ý. Như rất nhiều vấn đề khác, nó ra không hợp thời, chưa đủ sức thuyết phục bộ máy trì trệ. Hệ thống chính trị này đang đợi một cú hích. Khoảng chục năm sau, Túy và Tài mới thấy he hé sự đổi mới. Hai thằng lại bàn nhau, lên làng Núi thăm Táy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét