Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2021

Truyện dài như dòng sông
 Hắn nhát. Rõ rồi, chẳng cần phải nói, mọi người đều biết. Có cái nhát đeo đẳng, thành bản chất, ngấm vào người, khó sửa. Có cái vì thói quen, chưa vượt qua, thần hồn nát thần tính.
 Hồi bé, hắn sợ ma, đứa nào bé mà chẳng sợ ma, sợ nhưng thích nghe chuyện ma. Bà hắn đe, không được kể chuyện ma cho hắn nghe, đêm nó lại đái dầm. Hắn sợ, trước khi đi ngủ, bà giục đi đái đi nhưng hắn sợ, hắn bảo con không buồn. Rồi thì đêm nào cũng đái dầm. Vậy mà hắn vẫn không sửa được, cứ chiều đến rồi đêm buông, hắn chỉ dám ở đám đông gần mọi người, ở chỗ có ánh đèn, cấm bao giờ dám ở một mình. 

Có lần thế này. Ngày ấy hắn năm tuổi. Năm tuổi là bé chứ còn gì nữa, có đái dầm cũng tha. Buổi trưa, trước khi ngủ, ông nó hay kể chuyện. Hắn thích nghe chuyện của ông. Trong ông là một kho tàng chuyện cổ tích. Hắn nghe và cũng bắt chước giọng ông: “Ngày xửa ngày xưa, nhà nọ có hai anh em... người anh rất thương em... hắn ngừng ở đó như để mọi người lắng tai nghe thêm và hắn hét tướng lên, chân dãy một cái thật mạnh: hết chuyện. Rồi “Ông kể đi, ông kể chuyện đi...” Cái giọng hắn rất dễ thương và ông nó không thể cầm lòng sắt đá được trước cái giọng nũng nịu của hắn, lại “ngày xửa ngày xưa...”. Hắn nằm im, mắt không đụng đậy, nhìn lên tường. “Thôi không ngày xửa ngày xưa nữa, hôm nay kể ngày nảy ngày nay...”. Hắn không hề thay đổi thái độ, vẫn im ắng, chờ... “Có thằng bé, con nhà nọ, đến tuổi đi học rồi. Thằng bé năm tuổi, lớn phỗng... lớn hơn thằng cu của ông nhiều. Vì sao biết không, vì nó chẳng sợ gì hết... Nó lim dim, giọng ông đều đều, hắn thấy thằng bé mà ông kể giống giống hắn và thế là giấc ngủ đến với hắn. 
 Thực ra, cái thằng bé con nhà nọ, là con bé, bạn cùng lứa với hắn, kém hắn tí xíu, vẫn bị ông nó bắt gọi hắn bằng anh. Hắn biết quá rõ con bé ấy. Trong đầu nó, con gái làm em là đương nhiên, chuyện cũng chẳng có gì đáng quan tâm. 
Về tính cách, con bé đó khác hẳn hắn. Phận nữ nhi mà phong thái nam nhi. Ông nó cổ xưa, cũ kỹ rồi, nên đôi khi dùng từ cổ. “Nữ nhi” nghe không hợp với con bé đó, nghe “nữ nhi” có vẻ là người có tính cách mạnh mẽ, không hợp với con gái. Thêm một tuổi, hắn nghĩ trong đầu thế. “Nữ nhi” có vẻ đã biết gánh vác công việc gì đó, đảm trách công việc gì đó rồi. Còn hắn, hắn vẫn bị coi là trẻ con, vẫn đái dầm.
 Hắn lớn lên, con bé cũng lớn lên. Hắn và con bé cùng vào một lớp, ngồi cạnh nhau, hàng trên cùng. Con bé phân chia ranh giới “mày không được lấn sang bên tao”. Chẳng hiểu sao, hắn sợ, không dám lấn, trong khi con bé cứ vô tư lấn sang bên hắn, hắn chẳng dám nói gì hết.
 Hắn ngồi bàn trên nên hay bị bọn dưới lấy thước kẻ, khi thì đập, khi thì chọc, hắn chỉ lấy tay gẩy ra. Con bé quay xuống dưới “không được trêu nó”. Vậy là hắn được yên. Hắn nhìn con bé, ra vẻ cám ơn. Con bé nguyểnh mặt đi, không thèm nhìn hắn. 
Con bé bện tóc đuôi sam, vắt vẻo ngang vai, rất gọn gàng, vẻ nữ tính nhất của nó mà hắn nhận thấy nó còn là con gái. 
Con bé học giỏi, nó viết nhanh thau tháu và đẹp. Hắn học dốt, tối nào ông cũng bắt ngồi tô lại các chữ đã học rồi mới cho đi ngủ. Có lần nó ngáp ngủ, bà lại mắng ông, cho cháu nghỉ đi, thằng bé buồn ngủ rồi... Được thể, hắn ngó ngoáy, ngúng nguẩy, không chịu tô chữ nữa. Ông đe, liệu đấy, tao bảo cái Mơ nó trị mày, cái Mơ chính là con bé ngồi cạnh nó. Thằng hắn thua con bé mọi chuyện. Có điều, hắn, thằng bé í, không cho đó là cái gì ghê gớm. Thâm tâm, nó sợ và nể con bé. Cái sợ và nể rất đỗi tự nhiên, con bé thành bùa hộ mệnh, bảo vệ hắn trước các trò trêu đùa bọn trẻ cùng lớp. Con bé biết đứa nào đùa ác ý với nó là nó trị liền. Bọn con trai ngỗ ngược đứa nào cũng sợ con bé. Lạ thế! Cái vía mà ông hắn gọi là nữ nhi, lấn át tất bọn con trai cả xóm. Chả vậy mà ông nó bảo, tao bảo cái Mơ trị mày... 
\ Năm sau, con bé và nó đều được lên lớp, vẫn là bạn cùng nhau. Bọn khác, sau một mùa hè nghỉ chơi, như đã thỏa thuận với nhau, đều tìm được chỗ ngồi với nhau. Có xáo trộn đứa này đứa khác, có thêm đứa mới, có đứa chuyển trường. Hắn đến bên con bé, tao với mày ngồi chung nhé. Con bé quay đi, chung thì chung, thế mày không sợ tao à? Sợ gì mà sợ... Hắn lí nhí trả lời con bé. Thật ra hắn thích vì được con bé bảo vệ thì hơn. Có con bé, bọn con giai ít dám bắt nạt. Đứa nào bề ngoài cũng đều ra cái vẻ không sợ, nhưng đố có đứa nào dám cãi con bé, bọn nó đều sợ vía con bé. 
Chúng nó đã lên lớp bốn, rồi lớp năm. Hắn không còn nhút nhát, sợ bóng tối nữa. Bọn con trai tộc ngộc cũng đủ kiểu dạn dày sương gió rồi. Con bé không còn uy kiểu “nữ nhi” như ông nó nói cái hồi còn ở lớp một, lớp hai. Nhưng giờ con bé có uy khác, cơ bản hơn, đáng tự hào hơn. Nó là đứa con gái xinh nhất lớp. Cái xinh của nó khiến bọn con trai chẳng mấy đứa dám nhìn thẳng vào mắt con bé. Vậy mà, trong lớp, cái thằng hắn, năm nào nhút nhát nhất, dễ bị bắt nạt nhất lại là đứa chuyện trò với con bé vô tư nhất. Hai đứa trao đổi với nhau mọi điều, cả chuyện học hành lẫn chuyện ở nhà. 
Con bé vẫn giỏi, đặc biệt nó nhớ. Trí nhớ con bé phát triển từ xửa xưa rồi, hồi cái đuôi sam còn vung vẩy lắc lư, bộ phận nữ tính nhất của con bé. Con bé có học hành gì đâu mà sao nó nhớ thế không biết. Thời gian trôi, trong đám con trai có đứa thích con bé. Thích nhưng không dám. Thầm thì với hắn. Hắn nói với con bé: “Có đứa thích mày đấy...” Con bé quắc mắt: “Đứa nào?” Hắn sợ vãi luôn. Hắn nói lại với thằng đó về cái quắc mắt của con bé. Thằng đó lửng lơ: “Kinh nhỉ...”
 Một hôm, hắn ghé tai con bé, tao hết đái dầm rồi, tao cũng hết sợ rồi. Nếu ông tao nói chuyện, mày đừng tin nhé. Con bé nhìn hắn, mủm mỉm cười: “Rõ dơ mà không biết...” hắn thấy con bé cười xinh ghê.
 Hôm khác, hắn móc túi, đưa cho con bé mấy quả mơ. “Mơ, mày ăn mơ không, chua lắm. Mẹ tao đi chùa Hương mua đấy. Ừ mà lạ, tên mày rất chua, mày biết không?” Con bé xòe tay, nhận mấy quả mơ, xuýt xoa, ngon nhể... Nhưng tên là bố mẹ đặt cho, chứ đâu phải tao tự đặt cho mình. Dưng mà, mày có thấy chua không? Nó dun cái mũi, trông rất xinh, hơi vênh cái đầu nhỏ nhỏ như đầu con chim, con chim gì nhỉ, hắn nghĩ, như đầu con chim sâu, nhảy nhảy nhót nhót hết cành này sang cành khác, hỏi hắn. “Đôi lúc tao cũng thấy chua... Nhưng nếu mày cứ như thế này, thì không chua. Như thế này là như thế nào, mà này, mai mày lại mang mơ đến nhé... Thế không mơ thì khác nhé... Gì cũng được...Nhớ đấy...” Chuyện hai đứa như vậy. 
 Có lần làm bài kiểm tra toán. Hắn không làm được còn con bé, sau khi chép đầu bài, cứ cắm đầu viết. Nó nhìn con bé, con bé nhìn nó: “Không giải được à? Xem không? Tao làm xong rồi.” Bài kiểm tra đó, con bé nhất lớp, hắn bét lớp. Con bé thầm thì, nhưng có cái mày giỏi hơn khối đứa, tao biết. Mày khá hơn chúng nó nhiều. Hắn không tự ái với con bé. Hình như hắn chấp nhận, hắn thua con bé toàn diện là dĩ nhiên.
 Tối hôm đó, con bé sang nhà hắn: “Tao sang đây học với mày cho vui...” Hắn ngạc nhiên, rồi thấy thích. Hắn dúi cho nó mấy quả mơ. “Không thèm, chua lắm...” Hắn tròn mắt, tròn mồm thành hình chữ o nhăn nhúm, trông rất xấu. Con bé cười ngất.: “Trông mày ngố quá...” Hắn thấy con bé càng cười càng xinh. Thôi, không cười nữa, học đi, tao giải lại cho mày bài kiểm tra nhé. Đến cuối buổi, con bé đưa cho hắn một bài toán mới, bảo, mày hiểu thì làm đi. Hắn làm xong, làm xong, nhanh thôi, chẳng mấy nghĩ ngợi. Vậy là mày hiểu rồi. Con bé động viên, cái khó chỉ tí chút thôi. Hắn lại nhìn con bé, thấy thích thế, không dám nhìn nữa. 
Có lần đi đến trường, hắn nói với con bé: “Mày biết tao thích gì nhất không? Thích gì hay thích ai? Cả gì và cả ai? Mày hỏi như thằng ngố. Mà mày ngố thật đấy, hỏi cũng chẳng biết cách hỏi. Tao hỏi mày là tao thích mày gì ấy. Rõ chưa? Con bé trố mắt, mày thích tao à. Tao cũng thích mày đấy, ngố ạ... Nhưng tao thích gì ở mày nhất cơ. Thích con khỉ...” Con bé vùng vằng, chạy lên phía trước với mấy đứa bạn. Hắn nhìn cái đuôi sam vắt vẻo bên nọ bên kia của con bé mà chưa kịp nói cái điều hắn thích, lủi thủi đi một mình. 
 Vẫn như hồi lớp một, ấn tượng nhất ở con bé là cái đuôi sam. Bọn con gái bây giờ ít có. Cả ngày hôm đó, con bé không một lần nói chuyện với hắn. Hắn chỉ nhìn trộm con bé, không dám bắt chuyện, ngay cả khi hắn cố tình để sách qua làn ranh giới mà con bé qui định, điều ít khi nó phạm. 
Vậy là xong cái thời thơ bé cấp một. Đã qua cái thời mà hắn, nếu mặc quần thủng đít và hay đái dầm, bị ai đó có trêu, hắn chẳng biết ngượng. Lên cấp hai bỗng dưng khác, cả hai đứa đều có nhiều bạn mới, khác xa cái ngày học cấp một. Con bé chú ý hơn, ít mày tao tuy vẫn mày tao với hắn. Chúng phổng phao hơn, ra dáng hơn. Hắn cũng chỉn chu hơn. Mẹ nó bảo, hình như con soi gương hơi sớm. Hắn ngượng, chống chế, bọn lớp con nó còn biết từ trước con nhiều. Con không nói về mấy đứa con gái đấy chứ? Chuyện bọn con gái thì ối cái mẹ không biết, chúng nó có người yêu rồi đấy... Sao con biết? Cái Mơ kể cho con. Lại cái Mơ, cái gì cũng mơ mơ. Liệu hồn. 
Cái Mơ hỏi hắn, có lần mày nói mày thích tao, mày nhớ không, thích cái gì nhỉ? Hắn bảo hắn nhớ. Nhớ chứ. Hôm đó mày còn không thèm nhìn tao, dù tao đã cố làm lành, mà sao tao phải làm lành. Tao cứ nghĩ, vì sao mày lại dỗi... Thế rồi tao ngủ quên, và quên chuyện đó luôn. Đúng là đồ con trai, ngố thế mà không biết. Hắn tự hỏi, không hiểu mình ngố cái gì. Muốn hỏi con bé nhưng hắn hình dung ngay nét mặt cái Mơ: Sao mày hỏi ngố thế, càng hỏi càng ngố? Vậy là cứ thế trôi đi... 
Có hôm cả nhà hắn đang ăn cơm. Cái Mơ sang. Con bé chào mọi người rất rõ ràng: Cháu chào ông, chào hai bác, cả nhà đang ăn cơm ạ. Cháu sang nhắn ông, ông cháu mời ông sang uống nước ạ. Rồi, nói với ông, tối ông sang. Tiếng con bé lại ngân như chuông: “Cháu chào ông, chào hai bác, cháu về ạ”. 
Con bé vừa ra khỏi ngõ, mẹ “Con bé lớn lên, xinh thế nhỉ?” Câu nói của mẹ bị bỏ lửng. Cả nhà bỏ qua chuyện nó sang. Chỉ còn hắn là nghĩ về con bé. Trong đầu hắn cứ vang lên giọng như chuông ngân của con bé. Ờ mà sao hắn lại nghĩ ra giọng con bé ngân như chuông nhỉ? Không biết vì sao nữa. Thế mà có hồi, hắn nghĩ là con bé chua, chua như tên của nó: Mơ!
 Làng hắn có nhiều đồi để thả trâu ăn cỏ. Có đồi, chẳng hiểu từ bao giờ, làng gọi đó là đồi Ông. Ông là như thế nào, người già nhất làng chẳng còn ai biết tích. Nhưng trên đồi Ông còn sót lại một cái miếu thờ mà năm tháng trôi đi, đã thành phế tích. Vừa gọi, vừa hình dung mới biết đó là cái miếu thờ. Tất cả chỉ còn lại một tảng đá to, nhẵn nhụi nhưng ở mép, nhiều vết sứt sẹo, bọn trẻ thường ngồi lên, nói chuyện nhăng nhố, chẳng liên quan. Cái để chứng tỏ hòn đá là phế tích của cái miếu là bên cạnh đó, có một cây si cổ thụ, tỏa bóng mát xum xuê. 
Làng hắn cũng có nhánh con sông Đà. Con sông hung dữ ở đâu, chứ chảy qua làng nó thì êm như một bài thơ tình. Các anh lớp lớn mơ màng như vậy khi đi bên các bạn gái. Cái Mơ cũng có chị gái là Mai. Chị Mai khác Mơ ở cái khoảng cách tuổi tác, có cả chút khác tính tình, cái cách “nam nhi nữ nhi” như ông nói ngày xưa. Chị Mai hiền, ít nói hơn. 
Cái khác nữa, chị cũng đã có bài thơ tình của mình. Bài thơ tình của chị Mai là một chàng trai bên sông Đà. Chàng ấy bơi giỏi. Chị Mai nói thế và hắn nghĩ ngay đó là hậu duệ của Yết Kiêu, dạo này tự dưng nó học không dốt nữa, cũng nhớ chẳng kém con bé. Có lần chị đưa hai đứa đến bến sông, vào “nhà” của chàng trai. Đó là một cái thuyền có những cánh buồm nâu. Cánh buồm hôm đó không giương lên đón gió mà được xếp nằm im lìm dọc chiếc thuyền. Hắn mê sông nước từ đó. Hắn xin với bài thơ tình của chị Mai, cho em đi thuyền với anh một chuyến. Anh cười, đưa mắt vào chị Mai và cái Mơ, em phải xin hai cô gái kia. Con bé nghe nói đến đi thuyền cũng tớn lên, cho em đi với. Chị Mai không nói gì, nhưng quyết định là chị Mai, bài thơ tình của chị thực hiện. Vậy là thành chuyến đi. 
Chuyến đi đánh đấu một chuyện tình nức nở. Chuyến đi đó là chuyến đi cuối cùng của chàng trai với ba chị em. Sau chuyến đi, nhờ gốc gác dân chài và tài bơi lội, anh thành lính hải quân. Anh đi mang theo cả bài thơ tình đang viết. Bài thơ tình êm đềm bên dòng sông quê hương của chị Mai đã hòa với sóng biển bao la. Bài thơ tình tưởng như dòng chảy êm đềm của con sông quê hương, thành bài thơ buồn. Có những chuyện buồn khi nói ra, người đời cứ tưởng là thơ. 
“Con dì nó lớn” là nói về Mơ. Con bé đã vào cấp ba. Từ năm lớp bảy, hồi còn cấp hai, hai đứa không ngồi chung một bàn nữa. Bọn con gái được ngồi riêng, mười lăm đứa, hai dãy bàn phía trên. Lớp nào hắn cũng chiếm chỗ ngồi ngay dưới con bé, như chỉ để nhìn cái đuôi sam của đứa ngồi bàn trên. 
 Trong một buổi học văn lớp 12, cô giáo đang nói về cái đẹp, cái lãng mạn và cái trữ tình của tình yêu trong tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, con bé thấy một mẩu giấy vo tròn bắn về phía mình. Hắn mở ra và lại vất về phía sau. Cô giáo bắt được khi hắn cúi xuống nhặt mảnh giấy vo tròn đó. Cô mở ra, cả lớp nín thở, sự ngưng đọng không khí lớp học khiến nghe được cả tiếng ruồi bay. 
Cô không thay đổi nét mặt, trả lại cho hắn mảnh giấy. “Nào, chúng ta tiếp tục bàn về tình yêu của Mẫn và tôi nhé.” Hắn thở một hơi nhẹ nhưng rất dài, nhìn cô giáo biết ơn, hắn muốn nuốt hết từng giọt không khí của lớp lúc này vào phổi, còn mặt con bé lạnh tanh, coi như chẳng có gì xảy ra. 
Cả lớp sau đó cứ ngóng cái bí mật kia được mang ra công khai. Tuyệt nhiên, từ hắn, từ con bé, từ cô giáo, chẳng ai nói về tờ giấy vo tròn mà nó nhặt được. Sau này, mượn ý bài thơ tình êm như dòng sông của chị Mai với anh lính hải quân, hắn nói với con bé: “Bài thơ tình suýt thành giông bão.”
 Rồi thì cái guồng máy vô hình cuốn mọi cái trôi theo nhịp của nó. Hắn nói với con bé là chúng ta đang sống trong những ngày khắc khoải. Khắc khoải có nghĩa chờ đợi và lo lắng. Hắn cũng theo bước anh lính hải quân của chị Mai trong những ngày đất nước đang nổi giông bão thật. Chiến tranh cần rất nhiều người và cũng tốn kém rất nhiều. Bao nhiêu người đi không trở lại. Không ai rõ. Nó là con số đơn điệu, tượng trưng và không xác định. 

Hôm hắn lên đường, hắn đưa cho con bé chiếc hộp nhỏ xinh xinh như bao diêm, được cắt dán bìa rõ đẹp. Hắn còn buộc bên ngoài bằng sợi giây màu đỏ như những tua rua của chiếc cờ đuôi nheo. Con bé mở ra và thấy dòng chữ trên tờ giấy vo tròn đã ném trước mặt nó giờ giảng văn hôm nào. “Tớ yêu đằng ấy nhé, được không?” Và một chữ nguyệch ngoạc của nó: “Được...” (Ý một chuyện tình yêu trên mạng, Vinh Anh không tìm lại được tên tác giả thật của câu viết mà VA đã cóp. VA cho là câu hay nhất bài) Chuyện của hắn còn dài, dài như một dòng sông, nước con sông đó cứ chảy mãi, chảy mãi không thôi và cái kết của nó cũng rất có hậu theo đúng truyện cổ tích. 
 Vinh Anh-29/8/21

Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2021

Nao nao đường về

 




Nao nao đường về 
 Đây là nói về đường về quê của những người phải tha hương. Tất cả họ đều nghèo, chắc vậy. Cái nghèo trong cái khát vọng lẫn cả hy vọng khi bỏ quê, đi tìm cuộc sống ấm no ở một vùng đất mới. Những người phải chạy trốn khỏi những trung tâm dich đều là những người tha hương. Hướng của họ là về quê. Họ tạm từ bỏ mọi hy vọng và khát vọng ở miền đất mới. 
Chẳng hiểu sao, chỉ nhìn ảnh trên mạng xã hội thôi, đã thấy cả một trời đau. Nó nhói lòng khi nhìn thấy cảnh lũ lượt cả đoàn người, tất cả đều kín mít từ đầu đến chân, như những nin-ja bịt mặt, vượt cả ngàn cây số, lăn lóc ngủ bờ ngủ bụi còn sau đó là nỗi đau rấm rứt, mỗi khi nghĩ về nó. 
Tôi có thằng bạn lính, vì hoàn cảnh cuộc sống, cũng phải tha hương, đã lấy đất Tây Nguyên làm quê thứ hai từ ba chục năm nay, hiểu phần nào cái cảnh dân tha hương. Buồn lắm! Hỏi nó “Mày có hay về quê ngoài đó” “Buồn lắm, quê còn ai mà về... bố mẹ, các anh chết cả rồi, chỉ còn mấy đứa cháu.” Nghe đau lắm, thảng như có tiếng ai như con gió nhẹ: “Tôi đã mất quê rồi còn đâu...”. Vậy là cái ý định ngày xưa, dịp nào đó, tao sẽ vè quê mày, không thực hiện được. Loáng thoáng cái câu nó nói về những ngày đầu mới lập nghiệp trên quê hương mới “Bây giờ thì không đói như ở quê nhưng chỉ no ngô, no sắn. Nghe vẫn đau, nhưng vào thời đó, cũng có phần an ủi. 
Những ngày này, Hà Nội nóng và nắng. Tây Nguyên cũng vậy, mưa thì mưa rã rợi, nắng thì nắng cháy cỏ. Cứ động đến Tây Nguyên, mình luôn nghĩ đó là vùng nắng và nóng. Cái nóng và nắng của gần nửa thế kỷ trước, thuở bom đạn, mình đã được trải qua. Có cái điều, đường về quê của bà con hôm nay khác, khác trong nỗi buồn vô hạn của thời bình nhưng mắc dịch. Đã đành bệnh dịch và con vi-rút quái quỷ từ Tàu đó chẳng chừa một ai. Nhưng những người cùng khổ vẫn phải chịu nỗi khác, cái nỗi đời với người nghèo nó khác, khác nhiều lắm. 
Người nghèo thì khó có ông ngoại quyền thế, người nghèo thì lấy đâu ra quyền chọn lựa. Thôi thì về quê, giá gì cũng phải về quê. Quê hương là chùm khế ngọt! Về quê bấu víu vào nhau. Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Vì thế mới thấy cảnh thời đại 4.0 mà bốn mẹ con phải vượt đoạn đường nghìn cây số trên hai chiếc xe đạp, những cái xe của những người sống dưới đáy. Người Việt mình có truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương...”. 
Tôi những ước ao, nhưng có điều, bao giờ ước ao của tôi cũng chỉ là mơ ước, những đồng tiền cứu trợ mà chính phủ bỏ ra đừng đến nhầm địa chỉ, những đóng góp của những tấm lòng thơm thảo phải đến được tận tay người cần đến. Chắc chắn có thể làm được, nếu chính quyền dám nhận những sai lầm, khuyết điểm trước kia và giao công việc đó (hỗ trợ người nghèo) cho những tổ chức từ thiện đúng nghĩa, những người đã qua nhiều lần lặn lội để trợ giúp bà con trong cơn hoạn nạn. Những tổ chức đó nhiều lắm, những con người đó nhiều lắm. Sẽ không có những xà xẻo, rơi vãi nữa. Làm được điều ấy là lấy lại lòng tin của dân đấy Chính phủ ạ. 
Đang viết bài này thì có bạn nhắn tin “Hình như ý kiến của ông đã được cứu xét(!) hì hì...”. Cứu xét gì đâu, thấy cảnh từng đoàn, từng đoàn những người tha hương tự túc về quê, tôi có văng mạng buông ra chỉ trích: Một việc quá đơn giản, nếu những người lãnh đạo hiểu rõ tâm tư người dân. Ở cái nơi gọi là “đất khách quê người” trong hoàn cảnh dịch dã này, nếu dân không sống được, họ có ý định về, thì phải tổ chức cho dân về. 
Trong cái điều cấm cản đủ điều này (cấm cản là đề phòng lây lan), thì tổ chức cho dân về xe cộ đàng hoàng, sẽ lợi cho dân rất nhiều. Mà tốt nhất là mở hầu bao ra, phải cứu trợ dân trong những lúc này. Dân mà sống được thì đâu họ phải tìm đường về. Họ ra đi là họ hy vọng đổi đời mà. Thôi, viết vài lời vì chua xót thấy cảnh bốn mẹ con, hai xe đạp rong ruổi đường dài về quê mà lòng nôn nao. Mong “ngày xưa” sớm trở lại.T

 Vinh Anh 31/7/21

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2021

Kiếp phận một con người (kỳ 2)

Kiếp phận một con người-kỳ 2

Và từ đó tôi hay nghĩ về quê.
 Lão Phán hàng xóm, được bố nó kể cho cái chuyện lộn xộn về quê hương bản quán nhà nó: Bố nó, khai lung tung thế này: Quê ông bố, Hải Phòng, thằng lớn là Hà Nội (có lẽ ăn theo hộ khẩu của mẹ ở Hà Nội), thằng bé, Hải Dương. Hải Dương là gốc gác tổ tiên. Vậy mà không lộn xộn thì tôi đi bằng đầu. Lão Phán cười sặc khi ông hàng xóm kể với lão như vậy. Mới nhận ra, cái nghĩa quê hương ở đây nó mờ nhạt lắm. Người ta giải thích, người ta biện hộ, “có biết tí ti gì về nó đâu mà có tình cảm gắn bó”. Và lão Phán hỏi nhỏ bố nó “Ông có nhiều điều muốn nói về quê hương, mà không nói được, phải không?” 
Lão Phán góp chuyện, chẳng hiểu lão nhặt ở đâu, vậy mà lão nói cứ như chuyện nhà lão. Chuyện là thế này. Sau rất nhiều tham khảo, bàn thờ nhà lão có ảnh thờ cả ông bà bên nội ngoại. Chỉ tiếc là lớp hậu thế, dù đã sáu bảy chục có dư cả, không biết cụ nào là nội, cụ nào là ngoại. Bốn cụ được đóng khung, trong trang phục rất cổ xưa, treo ngang nhau rất trang trọng, để con cháu thờ phụng. Nhưng có sự lẫn, sự việc được phát hiện khi có ông anh bên kia đại dương về chơi. Người ta bảo kiêng. Thờ cả nội cả ngoại trên cùng bàn thờ, coi như được nhưng lẫn lộn các cụ với nhau là sai. Sai vô cùng. Điều đó sẽ khiến gia đình không thống nhất, cãi vã, mâu thuẫn. Tôi cứ ngẫm cái cặp đôi người ta ở với nhau đến già, khi chết lại chia lẻ, thì đúng là lỗi to. Duy tâm thì duy tâm, duy vật thì cứ duy vật nhưng cái lộn xộn thì phải sửa. Tôi lập tức sửa cái sai đó khi có điều kiện. 
Để đến hôm nay, gia cảnh nhà nó cũng gọi là lộn xộn. Đó có phải là sự trừng phạt vì sự bỉ báng với quê hương của tổ tiên? Quê hương là chốn thiêng liêng và “mỗi người chỉ một” thôi mà Hãy nhớ lấy. Cái thần linh, thần bí chẳng ai có thể trả lời. Bố nó nói với lão Phán: “Tôi chẳng duy tâm cũng chẳng duy vật, ngồi ngẫm, thấy bán tín bán nghi. Cái gọi là “danh gia vọng tộc” đến đời chúng tôi là đời thứ ba, chẳng còn gì hết. Đúng là “chẳng ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Cái này thì tôi tin. 
Nó giỏi xoay sở. Cái nghĩa của xoay sở chính là cái sự nhanh nhạy. Nhưng bố nó châm biếm: “Mày nhanh nhạy cho việc đi xuống. Đi xuống nhất định nhanh hơn đi lên...” Bố nó mắng nó là có nguyên do. Nó là sinh viên giỏi chuyên ngành máy tính, một ngành đang rất “hot”. Thời đại kỹ thuật số mà. Thời tao, thước lô-ga-rít kéo trái kéo phải cứ kẽo cà kẽo kẹt, đẩy đẩy đưa đưa, còn bây giờ chúng mày bấm bàn phím nhoay nhoáy. Khác nhau một trời một vực. Sao mà mày không biết lo cho cái thân? Đến hôm nay cũng vẫn là nghề “hót” chứ đừng nói cách đây chục năm. Học xong sẽ nắm chắc một vị trí làm việc thuận lợi khi ra trường. Vậy mà mày bỏ học, làm thằng ăn cắp hay khủng bố gì đấy. Ồ, nó nghe, cười, hóa ra bố nó cũng nhanh nhạy phết. Nhưng bố hiểu sai nghĩa hacker rồi. Hacker còn có nghĩa là người say mê lập trình điện toán mà. 
Nó không cần học xong đại học đã có nơi gọi nó đi làm. Những thằng có tài thường có tật. Bố nó chỉ mặt nó “Mày muốn thành Bil-ghết con...” Nó cười, bố nó giả nghiêm. Quả thật, được đứa con như vậy, ao ước gì hơn. Nó có tiền, tiêu thoải mái. Nó có nghề, lại giỏi tay nghề nên được giao phụ trách cái gì đó, quan trọng. Cứ mỗi một thành công là lại thu hoạch. Tiền nhiều đâm hư. Nó cần thêm tiền nữa, thêm nữa. Lòng tham và đồng tiền che mắt nó, cám dỗ nó. Vậy là nó bán công trình làm thiệt hại cho công ty. Nhưng ở đời thiếu gì người giỏi hơn nó. Người ta không dùng nó nhưng pháp luật không tha nó. Thói đời khi thịnh thì bạn bè xoay quanh, khi suy thì không thấy một ai. Chẳng ai có thể cứu. Nó vào tù. Nếm trải những cái gì xấu xa, ê chề, bỉ ổi, nhục nhã mà có người đã gọi những sinh vật sống trong trại súc vật.
 Cũng may, cái cảnh hầu hạ, cam nhận thân phận con chó không lâu. Nó chỉ bị đại bàng, bị các đại ca, bị các anh chị tù cũ trong tù hành cho vài trận. Nó nhanh nhẹn và láu lỉnh, nó đã tìm được lối thoát khỏi cảnh con chó. Nó phát huy thế mạnh mà trong chốn ngục tù u tối này ít người có. Nó được lấy lên làm thằng giúp việc các vấn đề về điện cho nhà tù. Nó làm tốt lại còn trẻ, các quản giáo còn được nó gây niềm hưng phấn với chiếc máy tính đang được ứng dụng với những kỳ ảo mà chiếc máy có thể thực hiện. Nó được đánh giá là đã biết “xám hối” và được ra trước thời hạn. 
 Nó lớn lên, nó rút kinh nghiệm, những cái “rút” rất cần để cho phần sau cuộc đời nó. 
Thời chiến tranh, ngoài Bắc tất cả những ai bình thường đến tuổi được “bàu cử” đều đi làm cho nhà nước, thành người nhà nước hết. Nhưng vẫn có không ít, không ít nhưng là bao nhiêu thì không ai trả lời nhưng chắc là thành phần không đáng kể, chỉ tổ bôi xấu vẻ đẹp xã hội, vẫn phải tự xoay sở để mà sống, thành phần đó gọi là “nhân dân”. Bố nó sau thời gian “lên voi xuống chó” cũng thành “nhân dân”. Mẹ nó sau thời gian “ba chìm, bảy nổi và chín cái lênh đênh” cũng thành “nhân dân”. Nó cũng vậy, sau khi lập thành tích trong trại, được miễn giảm, về nhà, cũng trở thành “nhân dân”. Vậy có đúng là mọi cái của bố và mẹ nó, nó đều có chút kế thừa, đúng không? Cái “nhân dân” thực chất của đất nước này là thường dân, “thường dân” thì thường thôi! Đấy chính là loài cây cỏ, một loại thực vật bỏ đâu cũng sống, khi thì mướt mà làm đẹp cho đời, khi thì bị lay lắt bị đạp dưới chân. Đó chính là lớp người đông đảo mà hàng ngày ta vẫn gặp trên mọi ngóc ngách cuộc đời.
 Nó về và tiếp tục nghề cũ nhưng không phải cơ quan cũ mà nhờ bạn bè mai mối, làm thuê. Kiểu như vậy là bị bóc lột thêm lần nữa, nó không chịu vì đã chịu nhún, chịu đòn rồi, giờ lại nhún nữa là đi xuống. Có lẽ vì tự ái mà nó bỏ nghề. Loanh quanh một hồi, phải kiếm cái ăn ngay, nó xin lái xe công nghệ. Đúng là bước nữa đi xuống, chẳng gì hắn cũng từng là nhân viên cổ cồn, ngồi phòng lạnh,lập trình cơ mà. Nhưng rồi số nó không đứng ở đâu yên, chẳng đậu bến nào vững cả. Rồi nó thôi taxi, không công nghệ công nghẽo gì nữa, xuống thêm một cấp, làm nhôm kính, đi lái xe ôm và kiêm luôn shipper. Nó đến lão Phán: “Mày giờ sao?” Vẫn hơn hớn: “Đủ ăn và đủ tiền nuôi vợ con”. Lão Phán nhìn mặt nó “Thật không?” Nó không nhìn lão. Ông bố nó thì nói: “Nó nhảy lung tung, tôi cũng chóng mặt. Hết hacker rồi đến shiper...” Vậy chỉ có điều này mới đúng, nó sinh không hợp thời hay là nó chậm hiểu đời. Nó vậy mà ngu. Vẫn có người như vậy trên thế gian và đó là nó. 
Lão Phán chuyện với nó không nhiều, nhưng ấn tượng. Để được ấn tượng phải có sức hấp dẫn, dẫu là trong hay ngoài, dẫu là chìm hay nổi, phải tự mình có cái gì đó. Hình như nó có cái gì đó. Lão Phán: “Mày thế mà sao gái mê nhỉ?” Nó tít mắt: “Thế mới tài chứ chú...”. Có lần nó nói: “Chú ngày xưa làm gì mà nhìn người khiếp khiếp...” Rồi có lần nó buột miệng: “May ra thì ngồi uống được với chú chục năm nữa...” ý nói là lão chỉ thế thôi, sắp chết rồi, uống với nhau tí chút, sau này chẳng còn dịp. Lão Phán thấy nó đúng. Lão già lắm rồi. 
 Nhưng sâu đậm nhất, lần khác, nó đến lão, xin uống rượu. Rượu đến độ, nó khóc sướt mướt khi kể cho lão nghe những tháng ngày không là con người trong trại. Ở đâu có quyền con người thì biết ở đó, chứ đừng bao giờ nghĩ ở xứ mình có. Nhục nhã ê chề, nhất là khi không có ai bảo hộ, che chắn. Số phận con người như con ruồi con muỗi, là con sâu cái kiến. Bọn có sức mạnh, có tiền nó muốn làm gì cũng được. Tất cả đều quy ra tiền. Mọi cái đều có giá kể cả lương tâm con người. Lương tâm ư, lương tâm là thứ siêu hình làm sao có giá? Chính nơi đó, cháu thấy lương tâm con người có giá, được quy ra những đồng tiền bên ngoài gửi vào, mà cháu thì tròn trịa số không. Cháu không còn lương tâm và cũng hết mọi thứ tự trọng. Cháu như con chó ghẻ, kẻ nào cũng có thể chửi bới, đánh đập, sai khiến. Cháu thấy cô đơn nhất, tủi hổ nhất và chưa lúc nào cháu lại muốn chết quách đi để cho hết nỗi ô nhục. Cháu đã viết ra và cháu sẽ cho chú xem để chú hiểu những ngày làm thân con chó của cháu. 
 Lão Phán nhìn nó. Chẳng hiểu sao, lúc đó nó lại cười ngay được. Nó bảo: “Chỉ có chú là thông cảm với cháu và cháu biết, chú cũng rất ghét cháu vì những lỗi lầm cháu đã gây ra. Nhưng chú là cái bóng đỡ cho cháu. Cháu quyết không làm phiền ai nữa. Và nó đã thực hiện lời hứa. Hôm nay nó đã ở rất xa. Nó không kịp cho lão biết những ngày nó sống trong “trại súc vật”. Thôi, buồn lắm rồi, lão chẳng muốn đọc, muốn biết những đau khổ của người khác nữa. 

 Vinh Anh-10/8/21(ảnh mạng)

Kiếp phận một con người (2 kỳ)


Kiếp phận một con người (Kỳ 1)
  Công bằng mà nói, nó là thằng nhanh nhẹn, tháo vát. Ông bố khoe, nó giỏi lắm, chỉ phải cái tính lông nhông. Cái tính biến thành cái tội. Nó là thế... Đương nhiên nói về nó, còn nhiều cái khác. Nói về đặc điểm, tính cách một con người, dùng vài từ sao đầy đủ và nói thật, càng không chuẩn. Nhưng ngắn gọn, nó là thế. Để lột tả tâm tính con người, chung nhất chỉ có thể nói, có tốt, có xấu, có thế này thế khác, có cái lọ và có cái chai. Đấy là cái ba phải của người Việt, cái ba phải rất ỡm ờ, ru ngủ: “Cán bộ ta nói chung là tốt, nhân dân ta nói chung là tốt”, hoặc như mấy ông ăn phải bả Tàu: “6 tốt, 4 xấu”. Nói vậy trời cũng chịu. Đấy, nó là như vậy. Người nào trên thế gian này chẳng như vậy. Ông này rõ là buồn cười. Nó là thằng cháu chứ có là ông nọ bà kia gì đâu mà cứ che che chắn chắn. 
 Nó là kết quả của tình yêu giữa bố và mẹ nó. Bố mẹ nó yêu nhau trong trường hợp đặc biệt. Bố nó nhanh nhẹn, tháo vát. Mẹ nó cũng vậy, cũng tháo vát, nhanh nhẹn. Nó đẻ ra giữa cái thời mà cuộc sống người dân đã xuống đến đáy, cũng có người to to bảo chưa thật đến đáy, nghĩa là sẽ còn cơ hàn hơn, còn nhiều khó khăn chờ dân ta nữa. Kinh không? Vì được cả bố và mẹ tháo vát, nhanh nhẹn, nên gia đình nó qua được đận khó khăn cùng cực đó. Vì nó là sản phẩm của cả hai, nên nó kế thừa của cả hai cái sự tháo vát, nhanh nhẹn. Nó thông minh gấp đôi người khác. 
 Cuộc đời của bố nó vất vả. Người quen biết bảo bố nó cũng lắm bận lên bờ xuống ruộng, lên voi xuống chó hay là lên mây xuống núi gì đấy. Tất cả là để chỉ cái bi đát. Đang từ thái cực này chuyển sang thái cực khác, mà nguyên do, chỉ có bố nó biết. Đó là điều tế nhị! Đã là tế nhị thì chẳng mấy ai đụng tới vì chúng ta đều là người tế nhị. Mẹ nó cũng thế, cũng truân chuyên với cuộc đời. Đời người đàn bà mà ba chìm, bảy nổi, chín cái lênh đênh, thì đúng là số phận truân chuyên, khác gì nàng Kiều xinh đẹp, đâu còn “e lệ nép vào dưới hoa” nữa. Bà như chỉ còn “phận má đào trải kiếp má đào, hồng nhan trải kiếp hồng nhan” mà thôi. Cũng vì nó tiếp thu cái hay điều dở của cả hai, là sản phẩm của cả hai, vậy là cuộc đời của nó cũng lận đận, lênh đênh gấp đôi người khác. Có cái còn gấp ba gấp bốn. Nó có cái phong trần của thằng đàn ông và cái “bờ cái ruộng”, lẫn má đào hồng nhan. 
 Đất nước mình bị nạn chiến tranh. Ai đó nói rằng, các cuộc chiến khiến cho người dân trở nên kiên cường, bất khuất. Đúng một phần, đúng ở cái khía, cái phần tuyên truyền về truyền thống, cái phần mang ý giáo dục, luyện ý chí. Cái không đúng nhiều hơn và ít ai dám nói, đó là đau khổ, đau khổ triền miên, đau khổ khiến tâm hồn thành chai sạn khô cứng, đau khổ đến không còn gì để đau khổ nữa, con người thành gỗ đá, sắt thép xù xì. Một tâm hồn, một con người, một dân tộc thành chai sạn, sắt thép xù xì thì có thể còn nói gì được thêm gì về dân tộc ấy nữa, ngoài cái nghĩa phải hiểu là đáng thương. Có dạo, lão Phán kề cà với bố nó: “Cả thế gian yêu quý chúng ta(!)” 
Thì đây là ví dụ, gia đình mất một người, đau khổ đã khó có gì có thể đong đếm, vậy nếu một gia đình, mười người chết, liệu ai dám nói là thấu hiểu được nỗi đau nghìn thước sâu thăm thẳm đó? Không ai có thể hiểu được. Ai đó dám nói là hiểu, chắc đáng ăn cái táng. Chắc như đinh đóng cột ấy. Không một ai hiểu có thể hiểu nổi nỗi đau đó. Chắc chắn vậy! Nỗi đau lúc này nó là những li ti tế bào, là mao mạch trong thân xác những người thân còn sống. 
 Chiến tranh chia cắt gia đình nó thành hai phía. Anh em ruột rà, máu mủ bỗng chốc thành kẻ thù. Ai muốn? Chẳng ai muốn cả. Nhưng đất nước mình rơi vào hoàn cảnh đó, nhà nó rơi vào hoàn cảnh đó. Nhiều nhà rơi vào hoàn cảnh đó. 
 Chiến tranh làm nỗi đau của gia đình nó nặng hơn. Sự chia cắt khiến gia đình nó trở thành đơn độc trên miền đất, mà trước đây là một đại gia đình thành đạy, danh giá. Nhà nó thuộc bên thắng cuộc, thì có ông chú chết mất xác, chẳng rõ lý do. Ông bác thuộc bên thua cuộc, bị thương, mất một mắt. Sài Gòn thất thủ, ông bỏ quê, cùng rất nhiều bà con khác, chạy qua bên kia đại dương. Sự chia cắt làm sâu sắc thêm mâu thuẫn của phe thua với phe thắng. Cái khuếch trương tự sướng cũng khoét thêm nỗi đau không thể thành sẹo. 
 Nhưng chính lại nhờ có ông bác ly hương này, gia đình nó cũng qua được mấy đận gian nan, bản thân nó cũng được hưởng lộc. Vậy là tình cảm máu mủ ruột rà, nhờ có đồng tiền, xóa đi được nỗi đau chia cắt và xa cách. Hình như nó thấy nó được chút ân huệ của bên thua cuộc, nó lấy Avata blog của nó là cái cờ vàng ba sọc phấp phới. Nó khoe lão Phán hàng xóm, cỡ tuổi bố nó và rất hay chuyện. Lão Phán gày nhẳng, để râu dài trông rất chi là uy nghi, rỗi rãi nhất xóm, nhiều ý tưởng nhất xóm. Lão bảo mày là thằng hacker thì cứ làm thằng hack, chọc ngoáy làm gì gây rối, đừng gây thêm rắc rối nữa. Một thời gian sau, nó hạ cái ảnh đại diện đó xuống, nó lại khoe với lão Phán. “Vậy cho nó lành...” Lão Phán nói, còn ới theo một câu: “Mày là thằng thế nào?”. Nó đứng lại, cười hì hì “Cháu là thằng người bác ạ...” Không để cho lão nói tiếp, nó quay đi. Lão Phán chưa thật hiểu, lắc đầu, cười rồi lẩm bẩm: “Chẳng hiểu mày tốt hay xấu...” Thâm tâm nghĩ, mày hỏng, hỏng, con ạ. 
 Số phận cũng kỳ lạ. Nó gắn với lão Phán trong điểm nhấn của đời nó. Giờ ngẫm, kỳ thật. Chẳng hiểu sao, lão Phán lại gắn với nó như thế. Mà lão đâu có ưng gì nó, thậm chí lão còn ghét nó. Ghét nhất là cái tật nó uống rượu. Mắng nó, nó chỉ hì hì. Thậm chí, có khi nó còn sang xin được uống rượu với lão. 
 Đó là chuyện nó lấy vợ. 
 Đàn ông có ba việc quan trọng ở đời là làm nhà, lấy vợ, tậu trâu. Các cụ dạy thế. Việc lấy được người vợ đảm, là có được hậu phương vững chắc, việc nhà yên ổn rồi thì người đàn ông có thể thỏa chí tung hoành, có điều kiện theo đuổi những dự định lớn lao cả cuộc đời. 
 Nó không được thế, nói rồi, cái số nó lận đận, lênh đênh, chìm nổi nhận được từ cái gien di truyền cả bố và mẹ. Mẹ nó mất nó mới cưới vợ. Nghe nói mẹ nó cao huyết áp. Cũng vì nó mà mẹ nó lên cơn, huyết áp tăng vọt. Chuyện cưới xin của nó trục trặc không được sự ủng hộ từ gia đình, từ ông bố nó. Chuyện đời người mà bước đầu đã vậy thì điềm báo chắc sẽ còn nhiều khó khăn chờ đợi. 
 Lão Phán nghỉ hưu rỗi rãi nên hay ngẫm chuyện đời. Ngẫm rồi không nói ra thì nó bí bách, cứ muốn có người để chia sẻ, để thổ lộ, để than thở. Cả bố nó và nó đều là bạn chuyện của lão. Nghĩa là bây giờ lão cũng biến thể, cũng hay chuyện, chả khác gì mấy bà nạ dòng, gặp nhau là chuyện không dứt. Lắng nghe thì thấy các bà toàn nói đẹp cho nhau, về vóc dáng, quần áo và độ trẻ trung, tươi mát, hấp dẫn của nhau. Ừ mà lão Phán thấy thế thật. Lão nói với bố nó: “ Các ông cứ ngẫm với ngợi rồi triết lý cao siêu, viển vông, phán như thánh tướng về khúc sông bãi biển, của ta của nó, lo lắng những việc đâu đâu ở ngóc ngách nào đó trong thiên hạ, để rồi ra cái vẻ trầm tư khiến cho bộ mặt thành già khắm già khú. Các bà nạ dòng á, dạo này đẹp thật. Tôi nói thật đấy, các bà trau chuốt, tô vẽ cho nhau, bà nào trông cũng lấp lánh, hấp dẫn, toe toét, nhí nhảnh như cái thuở đôi mươi. Trông cũng trêu ngươi phết. Nhưng chỉ thở dài, nuốt nước bọt cho qua. “Hoa quả đến ngày hoa héo rồi”. Bố nó an ủi lão Phán. 
 Bố nó kéo lão Phán, kể chuyện thằng con đòi lấy vợ. Nghe thủng chuyện, thấy cái sự thiệt thòi của phận gái, khiến lão động lòng, lão không lỡ để con bé mang tiếng vì cái “dại một giờ” của tình yêu, để rồi có thể mất cả đời con gái mộng mơ, xinh đẹp. Giờ thì nó đang là cái nụ chim chím và rồi sẽ hoa thơm của thiên hạ. Làm gái (làm dâu) phải gánh vác giang san nhà chồng. Giang san bố mẹ đẻ thì không quan tâm nhưng lại quan tâm bên chồng, mà bên đó toàn người lạ, người dưng. Lạ thế! Chỉ vì “cái duyên ông trời se, cái que ông trời buộc” mà bỏ hết để sang đấy. “Bỏ thuyền, bỏ lái bỏ dòng sông” thế đấy. Thế đấy mà không được công nhận, vậy thì còn dám ngẩng mặt nhìn ai. Phận gái là thế. Trăm cái khổ đổ vào đầu đàn bà là thế. Quan niệm của lão Phán có vẻ xưa xưa là thế. Xưa thì lạc hậu. Biết vậy nhưng vẫn ngậm ngùi, vẫn không sửa nổi. Vậy thì mới già, mới về hưu, nếu không thì đã như người ta, sáng sáng cà vạt com lê, xách cặp, ngước nhìn bâng quơ chung quanh, kể cả nhìn giời, chỉ bằng nửa con mắt, đợi xe đưa đến cơ quan, khề văn khà những chuyện tào lao. Nhưng cái quan trọng là chuyện nó lấy vợ thành rách chuyện. Rách chuyện cho lão Phán. 
 Nó quáng quàng chạy sang lão cầu cứu. Lão đã biết chuyện, lão không thương nó, mà thương con bé. “Mày làm thì mày phải giải quyết hậu quả, bố mày phải giải quyết, sao cho hợp lí, cho nó đẹp mặt... mà tại sao lại tao?” “Đẹp mặt”! Xã hội mình vẫn cần những kiểu “đẹp mặt” như thế, lão cũng trong cái guồng đó, mà lão còn cổ hủ nữa, lão bị cuốn theo nó. 
 Vậy là qua một quá trình đàm phán kéo dài một ngày, lão thành ông chủ hôn bất đắc dĩ. Sự việc đã đến giờ cấp bách. Bên ta nó không như Tây. Cô dâu là phải trinh trắng. Sướng mày khổ tao. Lão thương con bé (mà lão đã gặp mặt nó lần nào đâu) chứ không thương thằng lông bông, lộn xộn. Lão Phán nói lại cái ý của bố nó về nó cho rõ. 
Cái sự lộn xộn không được phép của dòng họ nhà lão hàng xóm ở chỗ quê hương bản quán. Bố nó kể: “Quê hương là chùm khế ngọt” với gia đình nào chứ, riêng với họ hàng gần gần chi họ Nguyễn Văn nhà tôi, cái đó rất mù mờ. Lộn xộn thể hiện ở cái tờ khai quê quán của nhà tôi. Thực ra, tôi cũng còn mấy người họ hàng có chung một ông nội, vậy thì phải cùng quê, cùng gốc chứ. Ông nội tôi giàu. Một phần, vì cái giàu đó làm cả gia đình phân li, mỗi người một ngả. Chuyện vẫn xảy ra ở đất nước thường xuyên có những cuộc chiến huynh đệ tương tàn và khác ý thức hệ. Sông Gianh chia cắt đất nước hai thế kỷ, hai thế kỷ sau, người ta không nói nữa vì phải đối mặt với cuộc chiến khác. Có lẽ cũng khoảng hai trăm năm sau, sông Bến Hải lại chia đôi đất nước. Tôi đã nhiều lần, rất nhiều lần bâng khuâng, bồi hồi đứng trên cái cầu sắt nối đôi bờ con sông trên vĩ tuyến 17 đó mà ngẫm về sự chia cắt. Có lần, thấy dòng nước con sông Bến Hải nhỏ bé bỗng lóe sáng như một lưỡi gươm, xoẹt một nhát, chia đôi đất nước và tôi lảo đảo đứng không vững trên cầu, vội vàng bíu lấy lan can. Từ lần đó, mỗi lần qua sông, tôi cứ nổi da gà. 
 Ông nội tôi giàu. Giàu đến cỡ nào, tuổi cháu chắt như tôi không thể biết. Lần đầu tìm lại quê, khi tôi đã ngoài sáu mươi. Một ông ngang vai bố tôi, tôi phải gọi là bác, lẫm chẫm dò từng bước, khua gậy dẫn tôi đi thăm làng. Đứng ở cánh đồng đầu làng, khoát một vòng tay, chẳng biết giới hạn ở đâu: “Tất cả cánh đồng này là của ông nội anh. Đây chỉ là một phần, còn những chỗ khác nữa...”, ông chỉ ra tít tắp ngoài xa, như đến tận đường chân trời. Tôi không hình dung ra cái “khoát” tay đó bao la, mênh mông như thế nào, tôi không muốn nghĩ về nó. Quả thật, tôi quên ngay. Chỉ ấn tượng còn đọng lại ở cái khoát tay ông bác, nó như tới vô biên, vô tận. Đấy là quê tôi. Nghe tới ông nội tôi, người quê kính trọng lắm. 

(còn nữa)
 Post settings Labels No matching suggestions Published on 8/13/21 9:11 AM Permalink Location Options Post unpublished