Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Sau dịch cúm Tàu có phải giặc Tàu


Sau dịch cúm Tàu có phải là giặc Tàu?

Cũng chẳng dám chắc là sau đâu. Chẳng ai dám nói như vậy trong những ngày này hết. Cứ ngẫm cái chuyện quan hệ với Tàu ngày đầu chống dịch, thấy bất an. Lại nghĩ về cái câu “sấm”, câu “chớp” ở quê ngoại mình, Vĩnh Bảo: “đầu năm mưa đá, giữa năm giặc giã, cuối năm hòa bình” thấy vui vui. Đầu năm thì đúng rồi, nó đã xảy ra. Bây giờ sắp giữa năm rồi, sắp “giặc giã”. Nhưng mình nghĩ “sấm chớp” gì thì cũng có cái xê dịch, du di. Hay “sấm chớp” ở đây nói về cái đoạn du di ấy. Nói vậy là muốn nói cái bọn giặc giã với dân ta đã gần qua. Giặc giã là cúm Tàu í.

Bỗng nhớ… Mình sai rồi. Giặc bây giờ mới xuất hiện, tuy còn lảng vảng ở đâu đó, xa xa ngoài kia, nói xa xa vì ta ở đây, Hà Nội “ngàn năm văn vật này, phi chiến địa này”, đâu biết chuyện ngoài kia như thế nào. Nói ngay nhé, ngoài kia là biển Đông í. Thấy ngày này, trời đất im lặng mà nhớ hồi biểu tình chống Tàu cắt cáp tàu thăm dò Binh Minh, nhớ cả vụ họ Tập đến nói ở Diên Hồng… nhiều nhiều nỗi nhớ lắm. Những ngày đó sao mà dân mình khí thế thế. Nhớ lắm! Ngày đó sao mà mình “trẻ”. Trẻ thật, hai ba vòng bờ Hồ và còn hò hét nữa (mình già nên hò hét ít thôi), chụp ảnh chán chê mới về.
Còn hôm nay, mình đọc vài bài viết nói về “cái” khí thế hôm nay, thấy buồn cho thời thoái trào. Cái liên thông mà chúng ta gặp nhau chỉ còn trên mạng, đâu có còn cái sục sôi của thời “trẻ” nữa. Lẽ nào sự bàng quan của đa phần dân chúng, những người an phận thủ thường, còn chịu nhiều ảnh hưởng của thể chế độc tài chuyên trị lan sang cả những người đấu tranh, đòi độc lập và giữ vững chủ quyền rồi.
Đọc cái công hàm của ta rồi đọc cái của Tàu, nghĩ xa xôi, sẽ xảy ra chuyện gì tiếp? Nghe cái loa của em Hằng phát chán. Thấy tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ, cả Quốc phòng nữa chẳng hiểu thêm bất an hay thêm bình an. Đã bao nhiêu năm mà không thoát Trung được và vì thế, hễ nó cựa mình một cái, hàng nghìn xe lại ùn ứ ở cửa khẩu, khiến cả nước lại muốn “sôi” chuyện giải cứu. Đúng là tầm nhìn xa trong mây mù!(Có ông bạn an ủi, nó, thằng Tàu í, ho, thì không chỉ ta mà cả thế giới cũng liêu xiêu). Nhăn mặt cười, chắc là nụ cười xấu xí, vô duyên nhất trần gian.
Vâng, chắc còn gian nan! Nhưng nếu cứ chỉ kiên trì và chăm chăm đến tăng trưởng, đến kiến tạo, đến yên bình hữu nghị và cả chờ đợi thời cơ nữa thì biết đến bao giờ?
Nhân vụ dịch cúm Tàu, cả thế giới như đang nhìn vào thằng hàng xóm to xác đểu giả mà chửi rủa, còn có anh đòi kiện hàng tỉ tỉ nữa (chẳng hiểu các ông ở đất nước hình chiếc ủng đã tỉnh ngộ chưa?). Cũng nghe thời hạn kiện vì bị chiếm hữu Hoàng Sa đã sắp đến hạn, vậy thì còn chờ và nhẫn nại đến bao giờ nữa, phải mang thằng hàng xóm này ra tòa thôi.
Mang ra tòa là cách đấu tranh hợp lòng dân nhất. Nếu cuộc sống vì vậy mà bị chao đảo, thì cũng là một lần đau đớn, tôi nghĩ dân ta chịu được. Vâng, tôi nghĩ thế vì tôi thấy bực bội kèm nhục nhã khi đất đai, biển cả của ta cứ bị Tàu nó xem như ao nhà của chúng.


Vinh Anh 23/4/20-Ngày gần như đất mình bỏ “giãn cách xã hội”

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2020

Giãn cách xã hôi

"Giãn cách xã hội"
Thời vi rút Tàu, nói "giãn cách xã hội " là hiểu phải bớt ra đường, tùy từng chỗ bị cấm cửa, mọi sinh hoạt bó lại trong phạm vi cái nhà của mình.
Nhưng “giãn cách xã Đống ﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽﷽hội” ở nước  mình, hiểu được cũng chỉ hiểu tương đối thôi. Ví dụ cái chuyện cho dân ra ngoài tập thể dục. Mà cũng chẳng biết có cho dân ra tập không, có lẽ không. Nhưng dân vẫn tập. Cái tương đối là thế.
Vậy là phát sinh cái hiểu cái lệnh cấm cửa thế nào cho đúng. Để hiểu được cũng rất loằng ngoằng và phải qua giải thích của nhà chức việc để rồi cũng… không hiểu thêm. Nhưng để khỏi mang tiếng là chống người thi hành công vụ như chị bán rau ở Hạ Long, vẫn phải nghe và phải tôn trọng.
Khó hiểu là vầy: Chỗ mình ở có cái hồ Hoàng Cầu, trên bản đồ gọi là hồ Đống Đa, nơi người dân sáng chiều 2 buổi vẫn ra để rèn luyện thân thể. Đa phần là những người già và đã nghỉ hưu. Tập để kéo dài tuổi thọ. Bọn trẻ lấy mặt hồ làm chỗ thổ lộ tình yêu ở mức độ sơ khai, chứ đã đến cái độ thân thiết khó dứt thì chúng chả hám.
Số là, nhà chức việc ở đây không cấm dân đi tập thể dục vì nhu cầu của mấy ông bà già, việc ra hồ đã như nhu cầu, như là hơi thở, lấy hồ làm chỗ giao lưu. Cái đáng nói là đường đi dưới lòng hồ bị cấm (chắc là quán triệt triệt để lệnh “giãn cách xã hội”. Vì cái cấm này, địa phương phải huy động khối công an, bảo vệ, dân phòng vào việc này. Tự dưng phải chi một đống tiền, rõ phí của. Có cái lạ, không cho đi đường dưới hồ nhưng cho leo lên hè tập (chủ yếu là đi bộ). Đương nhiên là hè sẽ đông thêm (gọi là đông thôi chứ đâu có mấy người). Vậy là "giãn cách xã hội" bị thu lại, chắc chắn rồi. Nguy cơ mắc dịch tăng lên. Nói nguy cơ cũng là vống lên thôi.
Mình nói điều đó với các nhà chức việc thì được giải thích “ở dưới cấm và cho đi ở trên”. Mình không dám chống “người thi hành công vụ” như cô bán rau nên leo lên hè đi. Vậy đấy. Hiểu được “giãn cách xã hội” đâu có dễ. Chỗ thông thoáng không cho đi, bắt hòa vào dòng người trên hè. Chẳng hiểu có đâu như vậy không?

Có lẽ phải thế, vì sau này tổng kết đợt chống dịch, nhà chức việc đạt được thành tích, trong khó khăn phức tạp vẫn đảm bảo "giãn cách xã hội ".

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

Lại nói về ngày 30/4



Lại nói về ngày 30/4

Người Việt không quên ngày 30/4. Người Việt ấy thuộc thế hệ nào? Đó là thế hệ 2X, 3X, 4X.
Tôi đã hỏi lũ cháu tôi, thế hệ thứ 2, sống ở Mỹ, chúng đa phần không cảm thấy cái mặc cảm là con cháu của những kẻ bại trận, phải sống cuộc sống ly hương. Đấy mới chỉ là thế hệ thứ 2, sau chiến tranh. Những lứa tiếp sau, con cháu chúng, chẳng còn cần biết ngày đó là ngày gì nữa.
Đấy có phải là lãng quên lịch sử? Liệu ai trong chúng ta, còn nhớ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, nguyên nhân và lên án những kẻ đã tạo ra sự phân chia đó?

Tôi là người thuộc về “bên thắng cuộc”. Tôi sang Mỹ với tâm thế tự tin. Tôi đến tượng đài hình chữ V ở Washinhton, chụp ảnh kỷ niệm nhưng trong đầu không mang nặng cái ý nghĩ mình thuộc “bên thắng cuộc”. Muốn đến đây để nói một điều gì đó, đại thể là “Thôi, các ông yên nghỉ đi. Vì thời thế chúng ta phải coi nhau là kẻ thù mà thôi”. (Khác hẳn ngày 30/4/75. Cái ngày đó, tôi cũng vào Sài Gòn. Sài Gòn vẫn hoa lệ, vẫn Hòn ngọc Viễn Đông và khi đó, ngồi trên xe, tôi tự hào mình là “bên thắng cuộc”.
Những hôm sau, nhìn các anh lính xã hội chủ nghĩa nườm nượp đi trên phố, tìm mua đài bán dẫn, đồng hồ, vải vóc… quả tình tôi rất xấu hổ. Tôi, một anh lính cũng gọi là có học, đã nói (nhận xét) với ông Lữ trưởng, người đặc cách cho tôi ngồi cùng xe, vào Sài Gòn ngay ngày 30/4, sao bảo nó (chính quyền Sài Gòn) chỉ hưởng bơ thừa, sữa cặn mà nó sướng thế? Còn quân ta?
Ngồi trên chiếc com-măng-ca chiến trận, tôi ngắm nhìn các cô gái Sài Gòn trong trang phục áo dài, đi Hon đa, dáng tha thướt và nghĩ về các cô gái quê tôi áo trắng, quần đen, dáng tất bật bươn chải, tôi thấy thương các cô gái miền Bắc quá, tuổi thanh xuân các em quá khổ. Bọn anh trai tráng khổ đã đành, nhưng với các em, đừng ai và đừng bao giờ bắt các em phải khổ. Cũng thoáng so sánh về sự hưởng thụ, người miền Bắc quá khác người miền Nam và cũng loáng thoáng trong đầu, câu hỏi “vì sao” nên nỗi?
Thời gian trôi thật nhanh, mới đấy đã bốn mươi năm. Bốn mươi năm với đời con người, đâu ít. Ấy vậy mà, so với lân bang, thì quả thật là rất ít. Nguyên do cái “it” đó là lòng người không hòa hợp. Giang san về một mối mà lòng người tứ tán.
Nhắc đến ngày 30/4 , không thể quên lời ông Võ Văn Kiệt “nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt tái khẳng định rằng chiến thắng 30-4 là vĩ đại nhưng người Việt Nam cũng “đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát”. Vì thế một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm sẽ “có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Vết thương chung của dân tộc như vậy cần được giữ lành, “thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. https://plo.vn/xa-hoi/so-phan-bai-bao-trieu-nguoi-vui-trieu-nguoi-buon-282023.html. Đó là câu nói điển hình, câu nói hay nhất, câu nói nhân văn nhất, câu nói thể hiện rõ sự đồng cảm và lòng ước vọng của dân tộc này muốn hòa hợp, mà tôi không đọc được ở các nhà lãnh đạo nước mình. Ông Kiệt không vậy, ông không muốn trong sâu xa, ý thức hệ dân Việt cứ mãi mãi xa mặt cách lòng.
Cũng đừng quên người phía bên kia, có công góp để giữ được “Hòn ngọc Viễn Đông” không giống như Béc-linh. Cũng ông Kiệt: “Tôi và Thành ủy do anh Mai Chí Thọ phụ trách, sáng 30-4, khi nghe ông Minh kêu gọi binh lính buông súng để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng đã thở phào nhẹ nhõm. Phải ở chiến trường và vào đúng giờ phút ấy mới cảm nhận được tầm quan trọng của quyết định này.”
Tất cả điều đó chứng tỏ, đã là người Việt thì ai cũng mong, họ, bằng nhiều con đường khác nhau, phương pháp khác nhau, đều muốn cho dân tộc này trường tồn, vững mạnh và không đổ máu.
“Bên thắng cuộc” chúng ta hàng năm đều tổ chức linh đình ngày 30/4. Chúng ta đây nằm trong số một triệu người vui. Xin hỏi một triệu người đó có ai nghĩ đến một triệu người buồn, dẫu rằng chắc chắn trong họ, rất nhiều người, dù ở đâu, vẫn mong được đóng góp công sức để cho nước Việt cường thịnh. Liệu năm nay (năm chẵn đấy), nhân thằng vi rút Tàu làm loạn, chúng ta có làm linh đình không? Thôi thì bằng cách này cách khác, dần dần để cho sự hòa thuận và tình yêu lấn át sự căm thù, có lẽ chúng ta nên tổ chức vui và buồn online. Thế có khi lại hay, hay cho người buồn và cho cả người ra vẻ vui dẫu không vui, vì rất nhiều người biết, nguyên do vì sao. Mong rằng “bên thắng cuộc” đừng mải mê chiến đấu với thế lực thù địch rất vô hình nữa mà hãy tâm trung trí lực toàn dân chiến đấu với kẻ thù truyền kiếp, bởi thật sự đấy chính “kẻ thù đã buộc ta phải ôm cây súng” mà.
Thời gian này, với đa phần, đang nghỉ nhiều hơn làm. Với những người ở cỡ tuổi 4x, 5x có điều kiện chiêm nghiệm nhiều hơn về những ngày đã qua. Những chiêm nghiệm đó tuổi trẻ không có hoặc ít nghĩ đến. Đó là về cuộc chiến tranh 30 năm. Có mấy ai hỏi, chúng ta đạt được cái gì sau cuộc chiến đó? Người nói ra được những suy nghĩ đó cho công chúng thức tỉnh có thể là các nhà văn bằng các tác phẩm của mình. Tiếc rằng không sâu đậm và có chăng chỉ có “Nỗi buồn chiến tranh” nói ra được phần nào cái đạt được của chiến tranh. Số còn lại chỉ “đôi tiếng” đảo qua và sau đó đều bị vòng quay cuộc sống hút mất. Các nhà văn cũng còn lo chỗ đứng và miếng ăn. Nhuệ khí chỉ được nâng lên khi có tín hiệu cởi trói. Chiến tranh không phải ngày hội vui cả nước lên đường, chiến tranh là mất mát và đau khổ, là những vết thương đọng mãi trong tim can.
Viết mấy suy nghĩ trên để nói về chuyện “triệu người vui, triệu người buồn”. Vậy thực chất của cuộc chiến là gì? Ta nói thời Trịnh-Nguyễn là “nồi da nấu thịt” vậy cuộc chiến 30 năm qua có gì đó giông giống? Và mục đích cũng như kết quả của nó mới là cái đáng nói. Như tôi đã nhận xét, cuộc chiến làm cho người miền Bắc kiệt quệ. Hình ảnh người miền Bắc chở đồ từ miền Nam ra đã chứng minh điều đó. Có đúng là khi cuộc chiến qua đi, nỗi khổ, đói nghèo, cho đến nay, vẫn ở lại với người dân? (Ý Nguyễn Duy)
Và hôm nay, chúng ta đang phấn đấu cho một nước Việt hùng cường. Nhưng đã rất nhiều câu hỏi đặt ra, đi đường nào? Xem thế giới và lân bang đi, đừng chỉ “mèo khen mèo dài đuôi”. Chúng ta có tiến lên khi ta chỉ so với chính ta bốn chục năm trước. Nhưng bốn chục năm đó, thế giới và lân bang họ đã tiến như thế nào? Chắc là nhanh hơn ta. Nhanh nhiều hơn ta. Và câu hỏi vì sao đặt ra. Tôi cho rằng câu trả lời chính là thể chế.
Cái được của ngày 30/4 là nước Việt không còn chia đôi nhưng sau đó cái không được lại là tiếp tục ly tán và phân tâm. Cái cần là cái hòa hợp và biết lắng nghe nguyện vọng của dân. Hãy đồng lòng bằng hành động thực tế, đừng để có “Đồng Tâm” xảy ra nữa. Tôi chua xót khi nghĩ đến Đồng Tâm. Thật là khôi hài khi bản chất của vở diễn để tìm chân lý chính, tìm sự “đồng tâm” là sự ngạo mạn. Rõ ràng hơn, chính quyền muốn thiết lập một cơ chế mà dân ở đây chỉ là kẻ phải phục tùng, kẻ nô lệ. Làm gì có “đồng tâm” khi sự cay cú, ăn thua thể hiện bằng cái ác.
                                                                        *****
Hãy xem ông tướng Mỹ Douglas Macarthur, người đã quản lý nước Nhật sau đại chiến 2. Ông ấy ở lại nước Nhật sau chiến tranh mấy năm, vốn là kẻ thù vậy mà trở thành một trong 10 người được dân Nhật ngưỡng mộ nhất, yêu quý nhất. Bởi sao? Bởi ông ấy muốn cho dân Nhật được tiếp cận với nền văn minh dân chủ mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc Nhật. Ông ấy thật lòng!


Vinh Anh-16/4/20

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Bản xô nát ánh trăng


Bản xô nát ánh trăng

Hắn ở rừng hầu hết những năm tuổi trẻ. Cái tuổi biết yêu và thèm yêu. Nhưng mà sợ con gái, đặc biệt là những cô đẹp xinh. Lạ, lý ra, là thằng con trai, thấy gái đẹp là phải sấn vào. Đằng này hắn cứ giữ một khoảng cách để ngưỡng mộ. Chưa bao giờ hắn dám cầm tay một cô gái và nhìn vào mắt cô ta. Vậy nên, người tình của hắn toàn là do hắn tưởng tượng. Hắn muốn người đẹp của hắn phải dong dỏng, thanh mảnh, thon thả và đương nhiên phải đẹp, đẹp theo cách nhìn của hắn.
Hắn bị ảnh hưởng văn hóa Nga, đương nhiên là bởi tính nhân văn của nó. Bọn lớp hắn có những đứa được gọi là An-đrây hay Xéc-gây, có đứa được gọi là Na-ta-sa hay Ma-sa. Cái xấu của nước Nga hay Liên Xô, ngày đó, người ta giấu biệt, chẳng ai biết hết. Lớp học sinh thời hắn đều vậy. Thậm chí có bài hát người Việt sáng tác hẳn hoi mà người nghe cứ bảo đấy là bài hát Nga. Bài hát được lan truyền rộng trong giới học sinh sinh viên, được giới trẻ rất yêu, cho tận hết chiến tranh, người ta mới trả lại tên gọi của nó cho ông nhạc sĩ người Việt cơ mà.
Thằng bạn từ hồi còn nhỏ ngồi sau xe, hỏi hắn, mày nhớ gì nhất trong những ngày chiến tranh vừa qua? Hắn đắn đo, nhớ ai, loáng cái trong đầu hắn là hình ảnh các cô gái mà hắn gặp trên các nẻo đường. Nhớ cái gì? Trải dài và thăm thẳm âm u như những cánh rừng đã gặp trên đường hành quân, mắc võng nằm, ngủ và tưởng tượng, mơ thấy các cô gái Nga trong các phim đã xem. Ngày đó với hắn, gái Tây thật đẹp, đẹp và hồn hậu. Hắn rất nhớ bộ phim nói về một cô gái quý tộc, bỏ tất cả, hy sinh tất cả, kể cả bản thân, để gặp người yêu trước giờ anh ta bị xử bắn. Cảm phục mối tình cô gái, tên cai ngục đã cho cô gặp người tử tù. Cảm phục vô cùng, yêu cô vô cùng. Ôi, ước gì, trên đời ta gặp được một cô gái như nàng…
Nhưng tất cả đều không phải là câu trả lời. Hắn ngập ngừng khi nhận thấy đường phố Hà Nội sao tối thế. Mang tiếng là có điện mà chẳng sáng hơn đèn dầu. Đường phố vắng tanh, thằng bạn ngồi phía sau, rồi bỗng dưng… hai đứa lăn quay ra đường, hắn đâm vào chiếc xe đạp đi ngược chiều trong khi phố xá vắng tanh. Và hắn buột mồm, nhớ nhất ánh trăng, trăng rừng thì càng đẹp, càng sáng. Chẳng hiểu sao hắn, lúc đó, chưa thật tin câu trả lời, nhưng sau này, càng ngày càng thấy câu trả lời đó là chính xác. Hắn yêu ánh trăng từ bao giờ? Không biết.
Cái đẹp của ánh trăng miền quê đẹp hơn ở Hà Nội. Chắc rồi. Hắn nhớ ánh trăng quê và cô gái quê đó. Chấp chới trong đầu hắn bây giờ là ánh trăng xen với ánh chớp nhấp nhóa phía xa của bom. Bom nổ phía xa chỉ vẳng lại phía rừng này tiếng ầm ì, chẳng có gì là đe dọa.
Hắn nhập ngũ được sáu tháng, ngây ngô. Ngây ngô nhưng lại là lính, lính nhưng chưa chinh chiến. Cái khờ dại trẻ con  bao chùm cái từng trải chiến trận, cái học trò ngây thơ lấn át cái cát bụi cuộc đời mà hắn đang trải qua. Cát bụi đường trần thật sự. Hắn đứng ở đường, trong đêm, đón đoàn xe của “đại quân”. Hắn được lệnh đi tiền trạm, xác nhận chỗ đóng quân của đơn vị.
Đêm thứ nhất, hắn háo hức, chuẩn bị kỹ lưỡng chiếc đèn pin, sao cho ánh sáng của chiếc đèn chỉ bằng hạt đỗ vì phải hạn chế ánh sáng, nếu sáng quá máy bay địch sẽ phát hiện. Lính cũ bảo vậy nên phải nghe. Trời lất phất mưa, rồi mưa nặng hơn. Càng về khuya càng rét. Hắn lấy mảnh ni-lon che mưa ra quàng cho khỏi ướt và cho đỡ gió với rét. Mắt bắt đầu díu lại. Hắn nhảy lò cò cho nóng người và để tỉnh ngủ, hắn đi vòng tròn quanh ngã ba, hắn đứng, hắn ngồi… thôi thì đủ kiểu, mà mãi không thấy đại quân. Hắn cô đơn đứng giữa đêm ở cái nơi rừng rú thâm u và thấy sợ. Hắn sờ khẩu súng… nhỡ biệt kích thì sao, lại còn cả ma nữa chứ. Ai bảo đã là lính thì không sợ ma!
Hắn núp vào bóng tối của một lùm cây. Rồi tạnh mưa, rồi trăng rẽ mây ló ra, hắt thứ ánh sáng lành lạnh xuống rừng. Hôm nay 20, “hai mươi giấc tốt, hai mốt nửa đêm” vẫn chưa nửa đêm. Ánh trăng làm hắn nhận ra cảnh đêm, nơi hắn đứng.
Ngồi yên trong lùm cây. Chắc ăn rồi, ấm chỗ rồi và hắn nhắm mắt. Cái ngủ kéo đến. Hắn định lấy võng. Nhưng rồi nghĩ đến nhiệm vụ đón đại quân, hắn lại đứng lên, lấy tay sát thật mạnh lên mặt, nằm lúc này là ngủ ngay… Cứ vậy, thời gian nhích từng tí, từng chút vô tình, lặng lẽ, khiêu khích, chậm rãi. Rồi trăng cũng đi ngủ, không còn trăng nữa, hắn buồn. Cái buồn cô đơn khiến hắn sợ và thèm có người nói chuyện. Ôi, nếu có người nói chuyện thì đêm tối này có xá gì. Chẳng còn nỗi sợ cũng chẳng căng thẳng thần kinh, căng mắt nhìn đêm tối. 
Không đón được. Sáng ra, hắn phờ phạc vì mất ngủ, mệt rã rời. Tuổi mười tám của hắn cái gì cũng rõ, chẳng giấu diếm được. Lại đói nữa. Biết là xe không thể đi ban ngày, hắn tìm chỗ nghỉ, đợi đến tối lại ra đón đại quân.
Rất may, hắn tìm ra chỗ nghỉ rất nhanh. Số là, dọc đường mòn vào rừng, ngay bìa rừng qua con suối năm trăm mét, có lán tạm của một đơn vị thanh niên xung phong hỏa tuyến. Kinh nghiệm hắn nghe lỏm được, chỗ đóng quân phải luôn gần nguồn nước. Gặp quân ta rồi. Mừng rú. Ôi, mới có một đêm cô đơn, đứng ở ngã ba đón quân, hắn đã thèm gặp người mình thế, nhớ tiếng người thế. Thấy mấy bộ quần áo nữ phơi kín đáo phía sau lán, chắc là có con gái, hắn nghĩ. Thế là mệt mỏi biến.
Vào trong lán vắng tanh. Hắn vất uỵch ba lô và nằm đại trên sạp. Cái sạp này có thể nằm cả chục người. Đang lim dim mắt thì có người vào, một giọng nữ khu ba, trong trẻo: “Chào anh bộ đội.” Hắn nhỏm dậy, trước mặt hắn là một cô gái vận toàn đồ đen. Đập vào mắt hắn là bộ đồ đen làm nổi bật làn da trắng. Hắn dụi mắt: “Chào em, anh đón quân suốt đêm ở ngã ba, mệt quá, muốn vào đây nghỉ nhờ. Em báo cáo chỉ huy nhé. Cho anh báo xuất cơm. Hướng về chiếc ruột tượng đựng gạo, anh chỉ có mỗi gạo thôi.” “Anh nghỉ đi, chắc đói lắm rồi, em mang cơm lên ngay…”. Cô gái da trắng ngần đó đi luôn, không lấy gạo của hắn.
Chưa chợp mắt thì cô gái đã lên. Hắn nhìn mâm cơm mà chán ngắt, muốn nôn. Chỉ có nồi cơm nguội độn sắn khô mới nấu buổi sáng với một bát mắm tôm đen kịt với mùi rất nặng, kèm thêm mấy hạt muối rang khô, đặt trên lá chuối rừng. “Anh ăn tạm đi, cơm sáng tụi em đó, đây là phần trưa của em, dưới bếp chẳng còn gì hết. Chị B trưởng đã nhắc anh nuôi đi tìm rau, chắc hôm nay có rau.” Ôi, các em lại khổ thế này ư? Hắn nổi cơn thương, khi nhận ra cô gái chỉ bằng tuổi đứa em ở nhà, đang ngượng ngùng vì bữa cơm đãi khách. Hắn cố ăn lấy nửa bát cơm nguội với muối cho xong bữa.
Không buồn ngủ nữa, hắn cầm dao vào rừng. Cô gái đề nghị cho theo. Hắn hỏi: “Sao các em không biết vào rừng hái rau?” “B bọn em mới chuyển về đây, chưa quen… chúng em phải làm kho gấp…” “Suỵt… không được lộ bí mật… Các em quê đâu?” “Bọn em Nam Hà” “Công giáo phải không?” “Sao anh biết?” “Nhìn cái biết ngay… Ai cũng xinh như Đức Mẹ” “Anh cứ nói…” Phải đi sâu vào cỡ cây số, rừng rậm hơn, hắn mới đảo mắt nhìn xung quanh. Đây rồi, chỗ này cây cối thưa hơn, ánh sáng nhiều, thế nào cũng có thứ để ăn… Em có biết các loại rau rừng không?” “Em chịu, không phân biệt được, em chỉ biết mấy loại rền cơm, tầm bóp, rau sam, ngấp ngo… ở quê thôi… ở đây không có…”. Quê hắn vùng trung du, từ nhỏ đã vào rừng, hắn biết cách sống, không chịu để bị đói khát khi ở với rừng. Rừng vàng biển bạc là thế.
-Em biết cây gì đây không? Hắn chỉ một cây chỉ cao như cây na nhưng mang vẻ gai góc, can trường hơn, trông nó liền nghĩ đến sự phôi pha, từng trải, cành đâm ngang rất cứng-cây bứa đó. Em nghe nói ngang cành bứa chưa? Rồi hả. Đây, nó đây, nhìn này, ngang chưa? Quả nó rất chua, phơi khô, nấu canh ngon, kho cá cũng ngon. Lá cũng ăn được. Hết quả rồi, em hái lá về nấu canh, cẩn thận, cành cây cứng, chạm vào đau lắm đấy… Hắn đi chỗ khác. Vòi voi, búng báng và cả tàu bay nữa… mang về đầy một đống. Em nghe tên có lạ không…ngày đầu nghe, anh cũng lạ tai lắm.
Có điều hắn không nhận ra. Cô gái da trắng ngần với bộ đồ đen khi nghe hắn nói, mắt cứ mở tròn ngạc nhiên.
Tưởng ăn bữa trưa cùng đội, nhưng không phải. Trung đội thanh niên xung phong làm thông tầm, trưa ăn nghỉ tại chỗ rồi làm luôn để đỡ mất thời gian đi đường. Khi các cô về đến lán thì đã chiều muộn. Trời đã sâm sẩm tối. Các cô được thông báo bữa tối có thêm món rau và món canh chua là do anh bộ đội nấu, nhưng anh ấy đã ra ngã ba, đón quân rồi. Các cô gái suýt soa, chỉ con Thương là sướng.
Trước khi đi đón đại quân, hắn đã kịp thổ lộ tâm trạng của mình với cô gái, hắn nói về cái lo âu, phấp phỏng khi chờ đợi. Lắng nghe tiếng ì ì của động cơ từ xa, cố căng mắt để thấy hình dáng chiếc xe, hi vọng đó là xe mình đón… rồi thất vọng ngán ngẩm. Cả buổi đón gần chục tiếng đồng hồ cũng có khoảng chục lần hi vọng và thất vọng như vậy. Hắn nói cả nỗi sợ ma. Cô bé cười nắc nẻ, nụ cười cứ sâu thăm thẳm vì cái lúm đồng tiền bên má, bảo hắn phịa, nói sao cô ấy cũng không tin, bộ đội còn sợ ma như tụi em á? Hắn thấy thú vị khi nói chuyện với cô. Lần đầu trong đời ngồi một mình bên một cô gái. Hắn nói về nỗi cô đơn đứng một mình giữa đêm hôm lạnh buốt, sợ thám báo, biệt kích, sợ bóng tối… Những nỗi sợ mà khi có người thứ hai, chắc không xảy ra. Cô bé không cười nữa, cô nhìn hắn thương cảm cho sự vất vả mà anh và những người lính phải chịu đựng. Mối đồng cảm đến rất tự nhiên, thật lòng. Nó tự nhiên, thật lòng y như tuổi mười sáu tròn trịa, dù cô chỉ mới quen hắn vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi.
Cô bé tiễn hắn ra ngã ba đường như đi tiễn người yêu ra trận. Cô đứng cạnh hắn, chỉ ngang tới cổ. Hắn cúi xuống, thấy ngực cô gái phập phồng, bộ ngực non tơ như một nụ hoa, nụ hoa chum chím, he hé, chưa nở. Cô rướn người, đưa hắn chiếc ba lô với đầy đủ tư trang người lính: “Nặng quá”. Cô quàng qua vai
hắn chiếc ruột tượng đựng bảy ngày gạo và rùng mình khi tay hắn vô tình chạm vào ngực cô, cảm giác rùng mình, như dòng diện chạy qua thân thể. Cảm giác đầu đời của hắn về người con gái. Cũng là cảm xúc đầu tiên của cô khi tay người con trai đụng vào. Hắn bước đi dứt khoát, một lúc sau quay lại, vẫn thấy cô gái đứng đó trong dáng buồn chia xa của kẻ ở lại. Cái dáng ấy đẹp quá! Đúng là “ đẹp như ánh dương ban chiều…” Hắn bước vội, bước chân như chạy. Một cái gì mới mẻ trong hắn, một cánh chim bay cao, một tiếng lòng đã rung, một màu xanh tươi mát… không, không phải, cái gì đó mơ hồ khó nói mà hấp dẫn lắm cơ.
Trời lại lất phất mưa. Hắn nhìn màn đêm buông mà lòng ngán ngẩm. Lùm cây hắn trú tối qua đã được gia cố kỹ càng hơn để hắn yên tâm ngồi đợi. Một tấm tranh cũ được kéo lên để che những giọt mưa rơi qua kẽ lá, tạo thành cái ổ, nơi hắn ngồi.
Hãy còn sớm, khoảng chín giờ, trăng hôm nay vẫn chưa lên. Hắn lững thững đi quẩn quanh ngã ba, điểm hẹn đón xe của đơn vị. Lúc đầu hắn còn đếm từng bước chân, đếm mãi đến hơn năm ngàn, nhẩm tính chắc cũng được hai cây số, hai cây số mất một giờ. Ôi, sao thời gian chậm thế… Hắn thôi không đếm nữa, ngồi lù lù một đống như đống rạ ở giữa đường. Hắn nhìn trời, mong sớm thấy ánh trăng. Có ánh trăng cũng đỡ cô đơn hơn.
Rồi thì những hạt mưa kia cũng hết, rồi thì ánh trăng “hăm mốt” cũng ló. Vậy là như đã bước sang ngày mới. Hắn đang ở cái giờ phút giữa mới và cũ, giữa hôm qua và hôm nay. Cái thời khắc đăc biệt của một ngày mới. Ngày mới bao giờ cũng bắt đầu từ giờ phút này. Hắn là chứng nhân của ngày mới. Hắn cảm như bắt gặp sự thiêng liêng.
Sau mưa, trăng như tinh khiết hơn, ánh sáng của nó như dáng đi của người con gái, thanh thoát và dịu nhẹ. Hắn mơ hồ cảm thấy có một dáng người như thế. Ừ, làm gì mà hắn có được người con gái như thế. Hơn nữa, hắn đã có một ai thân thiết đâu. Tất cả đều là tưởng tượng, tất cả đề là mơ ảo. Hắn nhớ hôm chia tay, bọn con gái lớp hắn hát “Cây thùy dương và Ca-chiu-sa”, bọn con trai hát bài “Giờ này anh ở đâu” và ngâm thơ “Đợi anh về”. Hôm đó cũng trăng sáng, màu sáng ngọc ngà như bọn con gái. Tất cả những cái hắn nhớ được là nhờ ánh trăng hôm nay. Hôm nay huyền ảo… Hắn lần đầu chạm vào ngực con gái. Chỉ thoáng qua và nhẹ như hơi thở, nhẹ như làn gió, nhẹ như giấc mơ, nhẹ như tiếng thì thầm mà sao đến lúc này, nghĩ lại, hắn mới thấy rạo rực. Hắn nhớ đến cô gái.
Một đám mây xốp bay qua làm mặt đất mờ đi, cây rừng tối lại. Hắn dụi mắt, phía xa kia như có bóng người. Hắn nhận ra ngay đó là dáng đi của cô gái. “Sao em lại ra đây?” “Cho anh khỏi sợ  ma…” “Làm gì có ma mà sợ…” “Vậy thì em về…” “Về là gặp ma đấy…” “Đã đến đây thì còn sợ gì…” Không gian như nín lặng nghe họ nói. Nghe rõ tiếng lá rung, nghe rõ tiếng gió hát và tiếng thì thầm của ánh trăng. Ánh trăng đang cất tiếng hát của trái tim. Hắn nghe rõ tiếng đập của trái tim mình và cả nhịp đập trái tim cô gái. Lạ quá, vì sao? Vì họ đã hòa làm một.


Vinh Anh-11/4/20