Lão và hắn
Truyện ngắn
Gọi như vậy,
xưng hô như vậy chẳng hề có ý xúc xiểm hoặc coi thường gì nhau đâu. Chẳng qua
chỉ là phân biệt cái gọi là tuổi tác của hai người mà thôi. “Lão” thì già hơn,
còn “hắn”, đặt ở cái vế so sánh, đương nhiên là trẻ hơn. Gọi là “lão” thì chắc
là không được tôn kính lắm mà “hắn thì càng không..
Cả lão và hắn đều
gốc gác từ các miền xa, chuyển về định cự và thành công dân Hà Nội. Bây giờ người
Hà Nội hầu như có nhân thân gốc gác từ khắp mọi miền đất nước. Đứng đầu bảng không
trật vào đâu được là dân Nghệ Tĩnh. Có người nói đùa: “Tiếng Nghệ là tiếng của
Thủ đô”. Nhưng sau câu nói đùa, ngẫm lại, thấy đúng và cả chút đau ra phết!
Lão không phải
dân Nghệ. Lão nói nhẹ nhàng và nói chung là rõ ràng mạch lạc dễ nghe. Cái đó chỉ
chứng tỏ lão hiểu nhiều, biết nhiều. Chắc là người vùng đồng bằng Bắc Bộ. Người
vùng này có tật nói ngọng “l” và”n”. Nhưng lão chẳng ngọng tí nào. Nghe nhiều
người vùng này nói lẫn “l” với”n” nhiều lúc cứ tức anh ách.
Hắn cũng không
phải dân xứ Nghệ. Nghe tiếng hắn, người ngoài Bắc ít quảng giao, thường gọi
chung đó là giọng miền Nam .
Kỳ thực hắn ở vùng Quảng Nam Quảng Ngãi gì đó. Cũng có khi ở tận cái miền Nam
Trung Bộ không biết chừng. Nào dân ta có mấy ai sành sỏi đến độ phân biệt được
người từng địa phương qua giọng nói.
Từ cái độ ra
trường với cái lon “ếch dì đằng” rồi vào rừng Trường Sơn, qua dăm năm lăn lộn
trên đường mòn Hồ Chí Minh, đến độ về được Thủ đô thì lão leo được đến cái
Trung uý. Chững chạc và vững vàng hơn khối người chỉ chống Mỹ ở Hà Nội.
Lão tính khiêm
nhường, chỉ coi mấy năm ở Trường Sơn là mấy năm“quanh quất” cùng ăn ở với đồng bào Tà Ôi,
Vân Kiều mà thôi. Cũng như chỉ coi mấy cái sẹo nơi phần mềm cả tay và chân đều
như vết sẹo chó cắn. Ai thân lắm lão mới chỉ cho xem. Sẹo bị chó cắn. Nghe cũng
hay hay mà lại hợm hợm. Thì ngày đó, sách báo ta, cách nói của ta, đều gọi “bọn
chúng” là “chó” cả đấy thôi. Nói mãi, nghe mãi thành quen. Chả bao giờ nghĩ đến
cái từ “lịch sự” Vết sẹo bị chó cắn hay bom đạn của Mỹ nguỵ va vào cũng đều một
ý cả.
Hắn có lẽ phải
kém lão đến gần chục tuổi. Hết chiến tranh thì được chọn đi Tây học đại học. Hồi
đó, nói đi Tây là hiểu ngay đi mấy nước trong phe Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ấy.
Thời đó con người ta cũng đã bắt đầu có cái tính thực dụng rồi. Tính thực dụng
nảy sinh và phát triển mạnh từ ngay sau ngày đại quân ta vào Sài Gòn ấy chứ. Cái
đó thì lão biết. Hắn cũng biết nhưng không thể biết bằng lão. Lão có thâm niên ở
cuộc đời lâu hơn hắn mà lị. Chẳng gì cũng cỡ chục năm, chục năm thì biết bao
nhiêu điều xảy ra.
Lão lấy vợ hơi
muộn. Cứ theo kiểu lão nói, mấy năm nhì nhằng quanh quất ở rừng Trường Sơn thì
lấy ai mà yêu. Gần ba mươi, hết chiến tranh, ra đất Hà thành mới yêu. Ngoài ba
mươi mới cưới. Thời đó vậy là già. Đơn vị lão ở, nhàng nhàng như lão chẳng có mấy
ai gọi là son trẻ, tất cả đều đã con bế con bồng, đều đã có thằng chống gậy. Lão
hơn vợ đến chục tuổi, cũng cỡ cỡ tuổi hắn.
Hắn học xong đại
học thì chốp ngay một cô cùng học bên Tây. Cứ theo cách nói của hắn, hắn coi như
có vợ ngay từ hồi mới sang Tây. Hắn bảo cả cuộc đời thanh niên của hắn bị giam
cầm trong tình yêu. Chả bù cho lão, muốn được cầm tay một cô gái vừa vừa mắt cũng
không dễ. Nơi lão ở, gặp được mấy cô gái nếu không Lào Thưng thì cũng Vân Kiều.
Không hiểu có phải vì bị giam cầm sớm trong tình
yêu như vậy nên với lính vực tình yêu, sau này hắn “tung hoành” lắm. Mà cũng phải
công nhận là cái thời thế nó cũng thay đổi rồi cơ. Thời của lão mà lăng nhăng
trai gái ấy a, kiểm điểm cứ là “tướt cù mướt, tơi bời khói lửa, lý lịch đen đúa”.
Có thể chính vì một thời ta đã “ấu trĩ”, nghiêm “dã man” như vậy, nên sau này cái
chuyện đó, người ta lại coi nhẹ hẳn đi, coi nhẹ đến ngỡ ngàng như là một lời nhận
tội với ngày xưa. Thế mới lạ chứ. Lão là người trong cuộc cái thời “l…tù cu hãm “ấy, lão hiểu rõ lắm. Quả thật,
thời của lão, con người sống sao mà đơn điệu, mông muội, ép xác nhau đến khổ sở
như vậy cơ chứ. Sau này nghĩ lại, lão thấy cũng lạ, sống như vậy mà vẫn cứ sống
được. Tuyệt chẳng thấy một lời kêu ca. Nếu có chăng, thì những tiếng kêu đó cũng
rất lạc lõng và nó bị chìm vào ngay trong cái thâm u rừng già. Nó chỉ như những
hạt cát bé nhỏ giữa mênh mông sa mạc, như những giọt nước mưa trong những trận
mưa rừng Trường Sơn xối xả mà thôi.
Nhờ giời, với
cái tính khí đặc sệt bao cấp, lão lại lấy được cô vợ đảm. Đảm với cái nghĩa biết
lo toan chu tất mọi việc nhà. Cái thời đó cũng chỉ mới đây, chưa xa là mấy đâu
nhưng mà nghĩ lại, lão rùng mình, lão không thể tưởng được làm sao lão lại tồn
tại đến ngày hôm nay, nếu không có được người vợ như vợ lão.
Cũng vì có cô vợ đảm, biết lo toan việc nhà nên
lão hết sức ú ớ trước khó khăn thường nhật cuộc sống. Lão không hề biết chuyện
chợ búa, cơm nước, càng mù tịt trước những ô tem phiếu lủng củng những thịt với
cá, đậu phụ với mắm tôm…Chỉ khi tết đến, công đoàn cơ quan ban phát cho cân thịt,
cân cá lão mới “dính” đến. Chính vì vậy lão đâu có nghĩ đáng ra lão cần phải là
thương binh, cần một cái thẻ thương binh.
Tuy cũng gọi là bị thương, tay chân cũng đôi
chỗ bị sứt sẹo nhưng không đến nỗi nào. Chỉ được có 12%. Đấy là chuyên môn người
ta tính. Chưa được coi là thương binh. Lão nhận một lần đâu được gần 100 đồng từ
lâu lắm rồi. Vậy là lão hả hê: nhân dân và đất nước đã ghi công lao của lão.
Ngày vợ lão đẻ
đứa con đầu lòng, mọi công việc nhà cửa, cơm nước dồn vào vai lão. Đáng sợ nhất
là khoản mua lương thực và thực phẩm. Muốn mua gạo phải dạy từ bốn năm giờ sáng
xếp “lốt”. Chuyện gạo ngon gạo dở lão rất tù mù. Thôi thì miễn là mua được. Mình
thế nào cũng xong. Riêng chuyện nuôi gái đẻ, phải lo cho nó có cái gạo quê,
ngon ngon, có chất một chút. Cứ nghĩ đến gạo là lão lo sốt cả ruột, bủn rủn chân
tay. Cũng may có gia đình vợ chi viện cho một ít, cũng đủ cho gái đẻ ăn một tháng.
Nhưng sợ hơn hết
là sợ phải mua thực phẩm. Mua cái gì cũng phải xếp hàng. Bấy giờ lão mới nghĩ đến
cái ưu việt của thẻ thương binh. Có cái thẻ đỡ tốn biết bao thời gian. Lão đã
thử mượn thẻ của mấy ông thương binh, nhưng lại thấy nó thế nào ấy. Lão nghĩ đến
các bạn lão nằm lại nơi rừng rú lạnh lẽo, lão lại thôi. Cái “sĩ” của người lính
năm xưa không cho lão mượn. Lão đành xếp hàng. Đến lượt mua thì trên phản thịt
của cô mậu dịch chỉ còn lại mấy miếng bèo nhèo bạc nhạc, con ruồi bay qua bay lại
cũng đã uể oải vì đã no say, muốn thái được cho nó ra miếng ra khúc lão phải luộc
miếng thịt lên, nhìn vợ lão ăn miếng thịt bèo nhèo mình mua, lão xót cả ruột.
Lại nghe gái đẻ
thì cần phải ăn chân giò để có sữa cho con bú. Lão cũng lặn lội xếp hàng từ
tinh mơ. Khốn nỗi một con lợn chỉ có bốn cái chân, đa phần bên hàng ưu tiên có
thẻ thương binh mua hết. Sau vài lần lỡ,
lão nghĩ phải liều. Lão dở hơi đến độ thắp hương, lẩm bẩm xin phép các liệt sĩ
cho lão được dùng cái thẻ giả để mua. Vậy mà lần đó lão mua được cái chân giò
to tướng nặng đến một kí lô cho vợ. Lão sướng đến nỗi lập cập đánh rơi ngay xuống
đất, sướng đến tận tối đi ngủ. Vợ lão nhìn cái mặt hả hê của lão sau chiến công
mua chân giò mà ứa nước mắt.
Còn hắn thì lại
khác. Chuyện chợ búa bằng tem phiếu hắn đảm đang hết. Hắn có cái thẻ thương
binh thứ thiệt mặc dù hắn chẳng vào chiến trường đánh đấm trận nào. Đó thực là điều
lạ với lão. Lão vẫn đang sống với những ngày vinh quang đã qua chẳng hề biết cái
thời oanh liệt của lão đã sắp qua. Một thời kỳ ganh đua cạnh tranh đang tới. Chất
con người xã hội chủ nghĩa “mình vì mọi người”cũng đang phai nhạt. Đạo đức theo
nếp nghĩ cổ xưa, tuy chẳng ai nói ra nhưng lại như đang bị coi là cổ hủ. Ra đường
động một tí là dừng lại cãi nhau, đi đến chém giết nhau vì những lý do chẳng đâu
vào đâu. Nhiều cái tưởng như chân lý bị xem xét lại. Cuộc sống đang bị những rối
bời các khái niệm và định nghĩa bao vây, che phủ. Người ta vẫn tìm đường đi và
vẫn nói đường đi đã được định hướng. Nói để an ủi nhau và cũng để lừa dối nhau.
Biết đấy mà cứ im lặng. Lão cảm như thấy cái số im lặng càng ngày càng nhiều. Lão
buồn. Lão đã vào cái tuổi chiêm nghiệm và ngẫm nghĩ rồi. Lão buồn.
Hắn thì lại phới
phới. Hắn trẻ hơn lão và nhạy cảm với cuộc sống hơn lão. Cuộc sống công chức và
có chút quyền thế làm hắn có bộ mặt thụ hưởng, hả hê lồ lộ. Công chức nhà ta hễ
có một chút bổng lộc là nó cứ lồ lộ ngay trên nét mặt cấm có dấu đi đâu được. Một
điều nữa là thể hiện trong câu chuyện, qua lời ăn tiếng nói. Chuyện gì của công
chức quay đi quay lại rồi cũng sẽ là bàn, là nói về con đường thăng tiến. Đúng
thôi! Làm quan ai chẳng mong muốn con đường đó thành đạt.
Phải nói là hắn
thành công trên đường quan. Cứ bước thúc thắc từng bước, từ thấp lên cao. Không
có khó khăn. Vậy cũng là tại số. Công chức bây giờ tin vào số lắm. Nhiều nơi vẫn
có bàn thờ thắp hương ngày rằm mùng một. Nơi nào cấm thì vào những ngày đó vẫn
cứ có thể làm “chui”. Phong thuỷ cũng được tôn trọng và đi vào cuộc sống rất tự
nhiên. Bàn ghế ngồi là phải đúng hướng, hợp tuổi. Vì vậy mới có chuyện nhận ghế
mới là phải thay đổi nội thất, trang thiết bị. Mới đây nghe nói, ngay cả cái ông
tổng thống bên Hoa Kỳ cũng đã sắp xếp lại phòng bầu dục cơ mà. Khoa học về
phong thuỷ mặc nhiên được công nhận và đi vào cuộc sống khi đất nước có chiều
phát triển đi lên.
còn tiếp




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét