Bản giao hưởng bên vách đá
Tuỳ bút
“Đồng đội ơi, chúng tôi đã về đây…” lời ca
da diết của những người đang sống gọi những linh hồn là bạn mình đang bay lượn
trên những điểm cao này về để gặp nhau. Họ cất tiếng hát gửi đồng đội đã hi
sinh nhưng cũng cất tiếng hát để những người đang sống cùng nghe, những tiếng
lòng sâu lắng ngậm trong nước mắt của thương nhớ và biết ơn sự hy sinh của đồng
đội. Tôi đã gai người khi nghe những lời ca đó bên những nén hương nghi ngút
khói, lời ca bay đến mọi nơi, đến tất cả những ngọn núi đá cheo leo, những vách
đá lởm chởm sắc nhọn và tưởng tượng ra những linh hồn đang còn nằm rải rác khắp
nơi trên các chốt giữ của những ngọn núi mà năm 1984, nơi các anh lính trẻ mười
tám đôi mươi, đã bỏ mình để bảo vệ, gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc đã hoà tan
vào tất cả và hoá thành đá.
Chuyện gì đã xảy ra nơi đây từ năm 1984? Một
điều đau lòng, bởi rất nhiều người trong 90 triệu đồng bào ta không biết nhiều
về những trận chiến đẫm máu xảy ra ở Vị Xuyên, nơi rất nhiều người con trên khắp
mọi miền đất nước, đã ngã xuống vì một lời nguyền “không để một tấc đất rơi vào
tay kẻ thù”, thực hiện đúng lời dạy của Đức vua Trần Thái Tông.
Đa phần người dân Việt chỉ hiểu, cuộc chiến
tranh biên giới do Trung Quốc khởi xướng năm 1979 và kết thúc sau một tháng. Chả
cứ người Việt trên cả nước, ngay người miền Bắc rất gần gũi với Hà Giang, cũng
không biết rõ gì hơn. Thậm chí người dân Hà Giang cũng chỉ biết Vị Xuyên là một
địa danh của tỉnh mình
Đó chẳng phải là một điều rất đau lòng ư?
Vị Xuyên là một huyện trung tâm của Hà
Giang có biên giới phía Tây với Trung Quốc. Cuộc chiến bảo vệ biên giới ở Vị
Xuyên kéo dài, rất dài từ 1984, khi quân Trung Quốc xâm lấn dần các điểm cao của
các tỉnh phía Bắc, cho đến tận năm 1988 mới gọi là kết thúc và đương nhiên đau
khổ, hệ luỵ do chiến tranh kéo theo cũng rất nhiều, rất nhiều.
Nhưng có những con người, cách đây cả chục
năm, sau những bươn chải, mưu sinh, vật lộn với cuộc sống đời thường, nhiều cựu
chiến binh của mặt trận Vị Xuyên, (trong đó nòng cốt là những cựu chiến binh sư
đoàn 356, một sự đoàn sau đó đã bị xoá phiên hiệu trong danh sách các sự đoàn
Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một sự đoàn, có lẽ là duy nhất, có ngày giỗ trận của
sư đoàn, ngày 12 tháng 7 năng 1984, ngày mà gần 600 con người, vì chiến đấu để
dành lại cao điểm 772, đã hy sinh) đã tập hợp nhau, tìm về chiến trường xưa, lục
lại những kỷ niệm một thời trai trẻ hào hùng và điều cốt yếu, những người lính
này mong muốn được thắp một nén nhang cho những người đồng đội đã hy sinh trong
cuộc chiến, những người mà khi ngã xuống, họ đều còn rất trẻ. Chính sự ra đi
trong trẻ trung, vô tư, thanh khiết đó để lại cho những người còn sống những nuối
tiếc cồn cào, những nỗi niềm day dứt, nỗi khắc khoải khôn nguôi.
Tôi không muốn dùng những lời sáo rỗng để
ca ngợi tuổi trẻ. Ai cũng có một thời trẻ trai đẹp và đáng yêu nhưng không phải
ai cũng có một tình yêu đẹp với người con gái. Nhưng nhiều chiến sĩ nằm lại nơi
đây đều có thời trẻ trai hào hùng và có tình yêu đẹp với Tổ quốc.
Tổ quốc vang lên trong trái tim mỗi con người
chúng ta là một tiếng gọi thiêng liêng. Người ta ví Tổ quốc là những người mẹ
là thế.
Trong suy nghĩ của những người lính Vị
Xuyên về Tổ quốc ngày đó đơn giản hơn. Tổ quốc là những mỏm núi mà họ được lệnh
trông coi, gìn giữ. Họ đã luân phiên nhau, khi thi ba tháng, khi thì sáu tháng,
có khi còn dài hơn sống bám đá, chết hoá đá, thành bất tử(1)
Đứng trên cao điểm chật chội, nhỏ nhoi 468,
nơi đã từng là chỉ huy sở trung đoàn………. một miếu
thờ nho nhỏ mới được dựng lên năm 2013, nhìn thấy phía bên kia xa xa là điểm
cao 1509. Phía này là điểm cao 772 và liền kề là điểm cao 685 đứng trước mặt, với
vách đá dựng đứng như bức tường thành. Tất cả những vị trí trọng yếu này, kẻ địch
đã lấn chiếm từ tháng 4 năm 1984, mới thấy hết sự gian nan và hiểu sao máu đã đổ nhiều như vậy
ngày hôm đó, ngày 12 tháng 7 năm 1984, 31 năm trước.
Tại điểm cao này, bên miếu thờ, nhìn sang
bên kia phía 772, biết bao máu xương đã đổ và cũng không rõ còn bao nhiêu các
anh chưa được về yên nghỉ trong những nấm mộ có khắc tên các anh trên nghĩa
trang Vị Xuyên kia. Hồn các anh vẫn bay trên các vách đá, thân xác các anh vẫn
gắn liền với đá và chắc chắn trong hoàn cảnh như vậy, hồn người chưa yên.
Đứng giữa đỉnh cao này, những người lính kể
lại cho nhau nghe về những ngày ác liệt. Tôi nhớ chuyện của anh lính trinh sát:
Trong cuộc chiến chống Mỹ, ta biết, những
người lính công binh tạo nên kỳ tích ở cổng trời. Cổng trời là điểm cao nhất của
một con đèo mà đường vận chuyển phải đi qua và đó cũng là nơi thử thách lòng
yêu nước, lòng dũng cảm của người chiến sĩ.
Trong cuộc chiến chống quân bành trướng những
năm 1980, những người lính bảo vệ biên cương tạo nên một kỳ tích khác, cao
không kém gì cổng trời. Nó nhỏ bé và không thể một phương tiện cơ giới nào có
thể đến được ngoài đôi chân và đôi vai người lính. Vì nó nhỏ bé, người lính
biên giới gọi nó khiêm tốn hơn: điểm chốt. Từ “điểm” đã gợi cho ta thấy nó nhỏ
bé rồi.
Cuộc sống trên chốt của những người lính
không có từ nào lột tả được hết. Hàng tháng trời không được tắm rửa, có chốt
lính phải đợi thay phiên, ba tháng trở lên mới được xuống tắm. Ăn uống cũng
kham khổ hết mức: cá khô và mắm tôm rang với giềng gió cho át mùi tanh. Nước
dùng mỗi ngày 4 lít. Sau thời gian trên chốt, cuộc sống trên những mỏm đá đã biến
những anh lính măng tơ thành những người rừng với tóc tai, râu ria kín mặt.
Những ngày đầu giữ chốt, lính leo lên được
phải nhờ các dây song như những chiếc thừng bện lại được thả từ đỉnh chốt xuống.
Sau này có thời gian, lối đi mới được lính “đẽo gọt” lại, có thể bám trên vách
đá và có chỗ để đặt bàn chân làm điểm tựa, dùng tay và chân nhún thân lên.
Đường đi của lính chốt là như vậy. Nước
nôi, lương thực, súng đạn đều dựa vào đôi chân và đôi vai người lính. Phương tiện
cơ giới nào giúp được cho họ nhẹ nhàng hơn?
Và người trinh sát ôn lại:
“Chiến đấu trên các chốt giữa các đỉnh núi
cao, không có đường đi lại thì đương nhiên quân số cũng không nhiều
“ Cuộc chiến hôm đó, suốt từ bốn giờ sáng,
pháo địch bắt đầu bắn vào cao điểm 772 và 685. Trên một chốt có mười một người
lính, đúng một tiểu đội đã quần nhau với một tiểu đoàn lính sơn cước Trung Quốc.
Quân ta đã đánh lui quân giặc hết đợt này đến đợt khác. 9 trong số 11 người
lính bị thương, máu chảy ngấm đất chiến hào. 9 người bị thương và không một ai
hy sinh, một kỳ tích có cộng thêm cả sự may mắn. Cuộc chiến không cân sức đó
kéo dài đến tận 12 giờ trưa cho đến lúc điều nguy hại đến, hết đạn. Hết đạn đồng
nghĩa với mất chốt. Cái may đến là đây. Bọn giặc rút quân. Chốt vẫn được giữ vững…”
Tôi nghĩ, trận chiến ngày
12 tháng 7 năm 1984 đúng là bản giao hưởng của tuổi trẻ, của máu, mồ hôi, bụi
“lò vôi thế kỷ” 686 và “cối xay người” 772. Máu, thịt da và cả hồn lính quyện
theo gió, đã bay vào mọi ngóc ngách của vách đá 772 và 685, phủ hết cả vùng đất
Thanh Thuỷ-Vị Xuyên. Bản giao hưởng kỳ vĩ, hào sảng này sẽ vang mãi trên từng
vách đá, ru mãi các linh hồn còn nằm lại, chưa được trở về với đồng đội. Tiếng
gọi đồng đội cứ thắc thỏm trong tôi, nhắc lại câu chuyện cổ tích nói về một
loài chim. Và trong đêm, tôi như ngỡ nghe được tiếng hú của gió ngàn hoà lẫn tiếng
gọi, như một lời năn nỉ “đồng đội ơi, về
đi…” khiến mắt tôi rưng rưng…
Chúng tôi, những đồng đội cũ, đang hát về
các anh và gọi các anh về. “Đồng đội ơi, về đi..” cứ vang mãi trong nỗi day dứt.
Chỉ có bạt ngàn gió với nắng tháng bảy bỏng cháy và xanh ngát màu xanh cây cỏ
giống thuở ra đi của các anh tiếp nhận những lời ca, thể hiện mong muốn từ sâu
thẳm trong lòng chúng tôi.
Và tôi mong ước, những người còn sống chúng
tôi mong ước, chúng tôi đấu tranh cho sự mong ước đó được thực hiện, sự hy sinh
của các anh phải được đặt đúng vị trí như mọi sự hy sinh vì Tổ quốc. Nhân dân
này, đất nước này và cả các anh nữa đòi hỏi như vậy.
Có phải đất nước này chưa yên vì những người
còn sống chưa nhận rõ được cái đẹp của sự hy sinh của những người rất trẻ. Những
người chết trẻ thường rất thiêng.
(1)
Dòng chữ khắc trên báng AK của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn
Viết Ninh
15/7/2015


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét