Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

 

Chuyện gia giáo

Lão không quen ở chung với người lạ. Chuyện thật từ xửa xừa xưa, hễ người khác giới đụng vào hắn là hắn thấy nhột, thấy khó chịu và muốn chạy ngay. Thời đi làm hay được chiêu đãi ca ba, ca hai, lão luôn bỏ, dù rằng là đang phải tháp tùng sếp. Chuyện đến tai mụ vợ, mụ yên tâm. Ở một gia đình gốc công giáo, mụ biết điều cấm kỵ đó.

Nói không ngoa, anh em nhà lão đều như vậy. Cái “như vậy” là cái chỉ có ý nghĩa từ thời xã hội mở cửa, đổi mới, đón gió mới thổi vào từ bên ngoài. Cứ như ngày xưa, nhà nhà đóng cửa cùng giờ với gà lên chuồng, chuyện đó chẳng bao giờ có. Thật đấy, kết hôn rồi thì ít li hôn, nên vợ nên chồng thì coi như yên bề gia thất. Đàn ông thì còn coi đó là việc lớn thứ nhì trong đời người phải làm. Đâu có như thời nay phóng khoáng, đóng mở cứ như là trò đùa. Người sâu sắc hơn bảo bọn trẻ bây giờ nó thế, nó có đâu như các cụ ngày xưa. Vậy là được lời giải thích để yên cái tâm vẫn đang bất an, chỉ ai đang trong cái vùng xoáy đổi mới, mới thấy quý cái ngày xưa. Cái ngày xưa lễ nghi phép tắc để rồi nuối tiếc, nuối tiếc cái mà người ngày nay tôn lên là gia giáo. Vâng, đấy là gia giáo. Người ta nuối tiếc ngày xưa. “Ngày xưa đâu có như thế…” Chuyện chẳng nhỏ nữa. Chẳng nhỏ thì nghĩa là to. Vâng, to đấy, vì gia giáo là lễ nghi phép tắc trong gia đinh mà. 

Nói đến gia giáo lại liên hệ đến mẹ lão. Nói đến mẹ là nói đến con người cụ thể và rộng hơn là tình người, tình mẹ. Vì mẹ lão già lắm nên cái tình, cái nghĩa với đời nhiều lắm, không khúc này cũng khúc khác, không đoạn này thì đoạn nọ, chỗ nào cũng có. Nói vậy, mẹ lão đã quá tuổi xế chiều rồi. Cây cao bóng cả của xóm. Cả xóm cứ phải cúi đầu trước cụ. Và cũng là quy luật, cụ cần người chăm sóc chứ “tao không còn hơi sức đâu chăm sóc cho chúng mày nữa”. Mắt cụ nói thế chứ mồm cụ có nói được nữa đâu. Thì đương nhiên, cụ cứ ngồi đấy chúng con hầu. Hiện thì giao tiếp bằng tiếng nói loài người, với cụ hạn chế đi mất quá nửa. Và lại thấy ta phải quay về cái ngày xưa. Cái ngày xưa chứa đựng những cái tình, ngày đó cụ nói còn có người hiểu.

Cái ngày xưa mà hôm nay đã bị đảo lộn. Nói bị đảo lộn thì ối người không muốn nghe, có khi mang thù mang oán chứ chơi. Ai đảo lộn? Chính chúng ta “đảo” lên chứ ai? Nghĩ đến cái ngày ấy mà kinh hãi. Có đâu trên trái đất, có xứ nào tự xưng là nghìn năm văn hiến mà con cái dám cả gan xỉa xói, gọi bố mẹ là địa chủ ác độc. Ở đâu, ở đâu, chẳng ở đâu cả, chỉ có ở xứ Việt này thôi. Vậy là cái nghìn năm đó bị rũ sạch sau một cơn bão đi qua. Một cơn bão để lại di chứng và sự hủy hoại cả trăm năm không sạch vết. Và bây giờ người ta lại nói đến sự gia giáo, lại nhớ ngày xưa.

Nhà chị giúp việc cụ bà cũng trên sáu chục. Trên sáu chục với phụ nữ là qua tuổi nghi hưu chục năm. Vậy mà chị vẫn kẽo kẹt hết nhà này đến nhà khác với công việc là người giúp việc. Thời hiện đại gọi là ô-sin. Sự tích từ “ô-sin” bắt nguồn từ đâu, ối người không biết. Nó đã được Việt hóa, nó đã là một nghề, một nghề thật ra không sang trọng nhưng là một nghề cũng có thu nhập kha khá. Còn nỗi vất vả ? Cũng tùy từng hoàn cảnh, nhưng nói chung là không đến nỗi. 

Nhà lão có được bà chị trên sáu chục này ở cùng cũng nhờ mai mối, mách bảo. Chẳng bao giờ hết người già cần giúp đỡ. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi thân phận mỗi kiểu. Nhưng người nhận việc giúp đỡ mỗi ngày một ít đi, một khó thêm. Cái khó chẳng ở riêng ta, nó loang ra từ mấy nước phát triển, họ giàu, họ có nhu cầu. Vậy là nhà lão cũng giàu, giàu theo kiểu con nhà nghèo. Hì…hì.

Bà chị hơn sáu chục cũng là người biết việc và biết điều. Hơi một chút xưa và nhiều chút nay, luôn tỏ ra là người tân tiến. Bà chị biết nhiều là do chắc được phục vụ nhiều hoàn cảnh, nên cũng đặc biệt biết chiều chủ nhà. Chiều chủ nhà là khôn. Lão không thích cái khôn đó, có phần sợ. Ai có cái khôn đó thường là loại phải đề phòng. Có điều chắc chắn, lão không ưa sự so sánh của bà chị với thời gian giúp những chủ cũ. Lão nghĩ thế, chẳng hiểu đúng hay sai. Có khi bà chị bột phát nói thôi, đừng nghĩ oan cho người ta, phải tội.

Cái sợ bà chị hơn sáu chục là cái gia giáo, mà bà chị đôi khi nhắc đến và lão cũng đôi khi phụ họa cho thêm đầy câu chuyện. Chuyện phải có người nghe, người hưởng ứng thì người kể mới thích thú và mới có hứng nói. Bà chị này cũng hay chuyện, trong cái chuyện bà chị kể, đôi khi nhắc khéo đến sự gia giáo, khiến lão giật mình thon thót, không hiểu bà này có ý gì nói về lão không, lão cảnh giác và luôn đối chiếu với bản thân. Có hôm bà kể:

Sắp đến giỗ cụ nhà chị rồi, mấy đứa em cứ tán tác, chẳng chú ý gì đến ngày giỗ cả. Cả thằng trai trưởng nữa. Mọi chuyện cứ ì ra. Chuyện giỗ chạp bây giờ cũng nhẹ, đúng không? Bà chị chẳng như hỏi ai và cũng chẳng như chờ nghe ai trả lời, tiếp dòng suy nghĩ của mình: “nhà gia giáo đâu thế.”

Lão đủng đỉnh, thời nào thế đó. Lễ giáo với gia giáo làm gì cho mệt. Tất cả sẽ là hư vô.

Bà chị hơn sáu mươi nổi khí, nói như chú cũng gọi là nói. Tôi tưởng chỉ có nhà tôi. Danh gia vọng tộc như nhà chú, phải nghĩ khác chứ?

Lão ôi dào. Danh gia vọng tộc làm gì. Chỉ nổ cho oai thôi. Danh gia vọng tộc là truyền thống gia đình, là cái thứ mà người ngoài nhìn vào phải ngưỡng mộ, người trong tộc thấy tự hào. Ông nội tôi giỏi, từ người nông dân thành anh thầu khoán và cứ thế đi lên. Ông bố tôi được các cụ kỳ vọng nhất, mà thi cử cứ trượt lên trượt xuống, ra gì đâu. Vậy là ngắt quãng. Ai muốn thì muốn, tôi nghe bề gia thế, chỉ thấy ngượng, gì đâu mà vống lên. Cái cần là cái hôm nay… 

Bà chị ngoài sáu mươi nghĩ đến ông trai trưởng, ừ mà vậy nhỉ. Ai đời, lo cho đủ chuyện, tốn kém bao nhiêu công sức, tiền của, vậy mà cái thằng đít nhôm đó vẫn chứng nào tật nấy. Cái chứng nào tật nấy của nó, như bà sáu mươi hơn đó nói, là vẫn chẳng ra làm sao, làm thằng người chẳng ra thằng người. Ừ, nếu vậy thì đâu ra giáo, ra mác nữa. 

Chuyện chưa hết. Cậu chàng có thằng con cưng đó bây giờ sinh chuyện bỏ vợ bỏ con. Thì đã nói, chuyện vợ con là chuyện của chúng nó, thế hệ nó như vậy. Bây giờ hình như, đôi khi người ta lại quay về gia đình, bớt nói đi cái tự do rồi thì phải, đúng không? Không biết , lão trả lời, xã hội quay đến chóng mặt, biết đâu mà lần. Ta đây cứ sống cho ta, hiểu chúng nó thế nào được. Bà chị: vậy còn đâu là gia giáo? Ôi dào, lão buông, rách việc, lại giáo với mác…

Mà xem ra thời nay, người ta đua nhau, gọi là đua nhau… đúng không nhỉ? Lão nghĩ, thì đấy thôi, cứ mồ to, mả to là danh gia vọng tộc, đúng không nhỉ. Đấy, lại đấy, cái xứ Huế hẹp bằng gang tay, chẳng toàn mồ to, mả to là gì? Gần cạnh nó, cái ông gió Lào, cát trắng đấy, cũng mồ to, mả to, lại còn cả đường lớn nữa chứ. Khiếp! Kinh!

Lão vẫn còn đang nghĩ thì bà chị ngoài sáu mươi kia lại tiếp. Đúng là bà này không chịu yên. “Chú biết không, quê tôi ý, đạo gốc toàn tòng, không thế đâu. Chú về quê tôi chưa? Chưa à? Thế thì phải về mà thăm quê tôi. Quê tôi có nhà thờ đá, toàn bằng đá nhé, nhỏ thôi, nhỏ thôi nhưng tất cả đều bằng đá, là kiến trúc đặc biệt đấy, chú cần phải biết để mà viết về nó. Cả nhà thờ chính tòa nữa, đẹp lắm, rất quê Việt. Nó không to đùng to đoàng để nổi danh nhất nhì đâu. Cái to đó để các ông lớn tự hào, người quê tôi tự hào vì cái đặc biệt, chẳng nơi nào có, tuy rằng nó nhỏ, nhỏ nhưng dễ cũng đến ngoài trăm năm, mới chỉ thế thôi. Có cả mộ ông Sáu, cha chánh xứ khiêm nhường nằm đó. Ngài là người có công với xứ đạo nhưng mộ ngài khiêm nhường lắm, cứ như nằm trong lòng giáo dân, được giáo dân che chở… Người quê tôi nhỏ nhoi thôi, không phô trương, bé mọn lắm. Những gì to lớn, kỳ vĩ là không đúng với người quê tôi đâu, họ học mót ở đâu đó đấy, dân ai người ta tôn trọng như cụ Sáu nằm nhỏ nhoi ở kia. À mà chú tìm trong đống sách của chú xem, chắc thế nào cũng có cái nhà thờ đá quê tôi đấy.

Ồ, cái mụ này, biết nhiều kinh. Bây giờ cái sợ của lão với người giúp viêc mới lộ ra. Bà ấy biết nhiều chắc không phải do bà ấy được “phục vụ” các gia đình giàu có, có người già, mà là do hiểu biết, cái hiểu biết này xuất phát từ truyền thống, chứ đâu cứ dăm ba chữ ba lăng nhăng mà thành. Lão lần mò hỏi bác Gúc trên mạng và thấy bà chị ngoài sáu mươi này nói đúng. “Trong hệ thống 5 nhà thờ nhỏ ở Phát Diệm, có một ngôi được làm hoàn toàn bằng đá, có tên là Trái Tim Đức Mẹ, công trình được cụ Sáu cho xây đầu tiên trong cụm di tích này. Nhà thờ dài 15,3 m, rộng 8,5 m, cao 6m. Hầu hết nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp hay bàn thờ đều bằng đá, do đó người ta quen gọi là nhà thờ đá.”

Lão sợ thật. Cái gia giáo cho người ta hiểu biết nhiều đấy chứ, cái danh gia vọng tộc cũng tùy, có “gia” được đời nay ca ngợi, đời sau xuống bùn đen, có “gia” đời nay dưới bùn đen, được đời sau lại đưa lên ngang trời. Cả con người cũng vậy. Lúc thì bị chửi, khi thì lại được tụng ca. Sửa sai với sửa đúng chẳng theo một pháp luật nào. Chóng cả mặt. Cũng khó phân biệt thật. Lão nghĩ, hay là hỏi bà chị ngoài sáu chục xuân… Lão thấy mất sĩ diện sao ấy. Ai lại hỏi ô-sin… Nhưng lão hiểu thêm về con người. Con người, nếu chỉ nhìn bề ngoài, thật chưa thể nói được điều gì.

Vinh Anh

3/10/20


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét