Đứa con gái là Dung. Anh nó là Dũng. Bố mẹ Dung về sau, ở nhà xây, mặt phố. Nhà hai tầng nhưng chỉ được ở tầng hai. Đó là nhà kiểu chung cư xưa, ông chủ giàu có xây nhà cho những người làm thuê thuê lại.
Cả khu nhà xây theo hình chữ U. Đó là một thửa đất rộng, sau dãy nhà là một khoảng đất trống. Tất tật có bốn năm chục hộ. Cuộc sống sàn sàn như nhau, đều là dân tứ chiếng, từ khắp nơi đổ về đất này làm thuê. Chẳng là mảnh đất gần cảng, cái cảng thời đầu tinh khôi cũng chỉ có sáu cái kho. Bây giờ thì cả trăm kho, người ngày xưa vẫn gọi là “Sáu kho”. Nghe “Sáu kho” là nghe được tiếng vọng một thời.
Nhà nó đến sớm hơn, khi dãy nhà phía ngoài đường còn chưa được xử dụng, ở với ba gia đình nữa trong một cái lán xộc xệch, mà mỗi nhà có biên giới lãnh thổ là một cái phản gỗ tạp. Tối ngủ, mắc màn mới phân biệt được lãnh thổ. Ban ngày thì phản nào cũng có thể ngả lưng. Nhà nó đã có thời sống trông ngôi đền như thế.
Bốn mẹ con nó chiếm một cái phản rộng hơn những cái khác. Nó chẳng hỏi mẹ vì sao, đang yên lành nhà cửa đàng hoàng tử tế, rộng rãi, cao ráo, đẹp đẽ, khang trang… thật chẳng còn từ gì để tả nữa, lại dọn về ở với quần chúng lao động.
Lý do nó biết hờ hờ, phải chạy trốn khỏi cái gọi là cải cách ruộng đất. Trốn thật sự. Càng xa ảnh hưởng của gia đình, càng xa tầm nhìn của họ hàng, càng biệt vô âm tín, càng tốt. Bố nó tuy là cán bộ cốp ở trong quân đội đấy nhưng thành phần cực kỳ phản động: địa chủ kiêm tư sản. Ngày đó, với cái thành phần đó, gợi lên sự nhơ nhuốc(!)
Kinh lắm. Hãi lắm. Sợ lắm. Kinh, hãi, sợ như thế nào chỉ bố nó biết, mẹ nó biết. Nó mười tuổi rồi, vẫn vô tư, rồi mười một tuổi, vẫn vô tư. Sau này nó mới nghĩ ra và nó thấy sợ. Sợ lắm! Nếu ngộ nhỡ… Bố nó sa lưới cải cách ngày đó, thì nhà nó thế nào, anh em nó thế nào? Nghĩ mà cứ rùng mình với câu hỏi, sẽ thế nào, sẽ thế nào?
Nhưng rồi, như nó đã nói nhiều lần, tội vạ dòng dõi, máu mủ gia đình, mình bố nó chịu, lộc của bố nó, nó được hưởng nhiều nhất. Vậy mà trần đời không ai như nó, phải đến cái ngày học xong đại học, nó mới nhận ra điều đó. Nghĩa là nó cũng ngu lâu. Chính nỗi sợ về gốc gác làm nó ngu. Ở nhà có ai dám nói gì về ruộng đất với cải cách đâu. Ngay cả họ hàng cũng như bị cách li, quan hệ sơ sài lắm. Cái kiểu sợ bóng sợ gió đó là “mình thì sợ mình làm ảnh hưởng người ta, còn người ta thì sợ làm ảnh hưởng mình”. Đấy, sợ bóng sợ gió là thế, cứ lửng lơ, lơ lửng chẳng thể biết khi nào nó bập xuống. Cứ vậy mà giữ ý giữ tứ. Vậy nên họ hàng gần thành xa. Khác gì “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi…”
Xã hội mình tươi đẹp, trong sạch, trăm nhà như một là nhờ biết sợ kiểu như nhà nó. Tất cả cứ im lìm, tất cả cứ đứng nhìn, đứng ngó, tuyệt không bình bán câu nào. Sau đó, phải sau đó cơ, mới nói, nói cái gì? Nói cái bâng quơ, ngửa mặt lên giời, hỏi ông giời, có đất nào như đất này không. Có nhiều lúc nó tự hỏi, nó trong sạch không/ trong sạch quá đi chứ và nhe răng cười, chẳng hiểu cười cái gì, cười nỗi gì.
Chính vì cái ngu mà nó tinh khôi. Tinh khôi nhờ ngu. Người yêu bảo “ngoan”.
Vậy là, ngoài mấy năm nó được biết về kinh, về bổn, về đạo đức, cái thiện, cái lành, cái ngoan của con chiên và các ông thánh… nó chẳng học thêm, biết thêm được gì về cuộc sống ngoài đời. Đến tận mười tuổi, nó chỉ biết đi lễ chủ nhật, đi xưng tội để chịu mình thánh. Nó rất ngoan đạo. Vì phải xưng tội thường xuyên, nó cấm bao giờ nói dối, ăn cắp hoặc trong đầu mơ tưởng một cái gì đó không thuộc về mình. Thấy ăn xin, trong túi có tiền, nhất định nó chia sẻ, một ít thôi, nhưng là chia sẻ. Không có, nó buồn. Lòng trắc ẩn của nó được tạo ra từ những buổi xưng tôi, đi lễ và hát thánh ca. Nói thêm, đi lễ nhà thờ, nó hát rất to, thuộc rất nhiều kinh và bài hát. Bà nội nó tự hào về thằng cháu lắm.
Vậy là nó tinh khôi, tinh khôi như những người có đạo gọi cái sự tinh khôi là thiên thần. Thiên thần nhỏ bé, xinh xắn có đôi cánh bay lượn và mỗi lần xuất hiện là một lần mang niềm vui đến cho con người.
Đấy là cái tinh khôi về đạo. Cái tinh khôi này phần nào mang màu lễ nghĩa, tôn giáo, niềm tin hay đức tin gì đấy. Mọi thứ đều có vẻ xa xa, mờ mờ, ảo ảo, không thể nắm bắt chỉ mường tượng trong đầu, như là có và cũng như là không.
Thì đấy, cái chuyện xưng tội để được hưởng bánh thánh, nó cảm thấy đấy như trò diễn. Nó đã được tham gia làm bánh, nó biết miếng bánh nhỏ xíu, mỏng tang, đang từ rất trần tục bỗng thành thiêng liêng. Nó cũng tin, nhưng, hình như, sự thiêng liêng mơ hồ đó vận vào ai thì nó không biết. Không biết và cũng chẳng nghi ngờ. Nó tinh khôi.
Còn cái tinh khôi khác, tinh khôi về đời. Đời là cuộc sống, là cái trần tục, là làm và ăn. Đời là gia đình, bạn bè, thày cô, trường học… Đời có vẻ như đa dạng, phức tạp và đặc biệt, nó gần cuộc sống hơn. Vậy chăng? Nó không biết, nhưng nó sợ “đời”. Đời là cái gì đó như cạm bẫy, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa… Những giăng mắc bùng nhùng đó nhiều hơn thánh thiện.
Nó là đứa bé chục tuổi, nó sợ là đúng. Nỗi sợ cũng khiến nó tinh khôi. Nó chưa vẩn bụi bặm cuộc sống.
Nhưng cái Dung, em thằng Dũng, ngày mới quen, lại bảo nó, có ý khác. Cái Dung còn kém tuổi nó, kém nhiều ấy, nó nghĩ thế vì, thấp hơn nó cái đầu. Nó bảo, mày chỉ được cái to xác, chẳng biết gì. Bọn trẻ con cái khu mấy chục hộ này vẫn ăn nói như vậy, chẳng phân biệt tuổi tác gì hết, sàn sàn nhau là “mày tao”. Nó tức, nó bảo, mày liệu, anh mày học với tao, tao mách nó, cho mày một trận. Cái Dung bĩu môi, thua hả, phải nhờ anh tao can thiệp à? Ngữ mày tao không chấp. Cái con bé đến là đanh đá.
Thằng anh cái Dung tuy cùng lớp nhưng học dốt, nó như mất gốc, hỏi những cái đã học của năm trước, nó bảo, chưa học. Phải nói lại thật kỹ, cái thằng Dũng ấy mới chịu khôn ra một tí. Nhưng nó được cái khỏe. Nó, thằng Dũng ấy, đặc biệt quý nó, vì bài vở của thằng Dũng đều chép từ vở của nó. Từ khi cái Dung biết chuyện ấy, có phần nể nó hơn. Đôi khi, nó mang sách vở xuống tận lán lao động, hỏi cách giải một bài toán. Nó bảo cái Dung đọc đầu bài, chưa đọc hết nó đã chỉ ra cách phải làm. Cái Dung từ đó nhìn nó e ngại khang khác. Vậy mà nó thì vẫn cứ ngu ngơ: “Mày dốt quá!”.
Khu nhà nó ở có một cái tăng-xê nghĩa là hầm tránh bom to, do ông chủ xây cho những người làm công, đề phòng bị quân đồng minh ném bom, đâu như vận cái sự học sử ra, nó bảo, “tăng-xê” phải có khoảng năm trước cách mạng. Sau hơn chục năm bỏ hoang, gạch vỡ, đất cát, rác rưởi được đổ đắp lên cao, trông như quả núi, cỏ phủ kín và chắc chắn nước ngập vào tận trong hầm. Nó muốn khám phá. Cái Dung sợ nhưng vì nó là đầu trò, nên cái Dung theo, theo vì thích nó. Nó hô hào bọn trẻ con khu tập thể làm đuốc, soi đường vào hầm. Bọn con trai hăng hái nhưng khi đốt đuốc lên thì chỉ có mỗi đuốc của nó, cái Dung và thằng Dũng. Bọn còn lại đều sợ. Có đứa bảo trong đó nhiều rắn lắm. Nghe đến rắn, thằng Dũng anh cái Dung cũng sợ, bàn, hay là thôi đi mày.
Nó cũng sợ rắn nhưng đã hô quyết tâm khám phá rồi, bây giờ bỏ thì ngượng chết. Nó nhìn cái Dung, cái Dung sợ, nắm vạt áo nó rõ chặt, nó gỡ tay cái Dung ra, cái Dung bám chặt hơn, nó phải cầm tay cái Dung, cái Dung buông vạt áo, nắm chặt tay nó và nó nghe giọng run run, thì thào bên tai, không sợ… đừng sợ… vào nhé.
Vậy là nó cầm đuốc chui vào hầm. Đôi dép cao su đi đủ quai nghiêm chỉnh giẫm bước đầu tiên xuống lớp gạch chắn cửa hầm và ngay sau đó là bì bõm trong nước, lạnh ngắt. Thoáng chút rùng mình. Đợi cho nỗi sợ tan vào khắp cơ thể, nó nắm tay cái Dung đang bám sát nó. Giờ thì nó cần người bên cạnh tiếp thêm dũng khí. Nó chẳng ngờ đó lại là cái Dung chứ không phải thằng Dũng, anh nó. Thằng Dũng đã lẩn đâu mất, chỉ còn vài đứa con trai đứng ngóng ở cửa hầm. Ánh đuốc cũng chỉ ở ngoài cửa hầm.
Nó dọi đuốc xuống ngang mặt nước, thấy nước trong veo và toàn gạch vỡ. Hầm được xây rất chắc chắn, trong hầm được mắc dây điện và đầy mạng nhện. Nó và cái Dung lần mò trong nhập nhoạng ánh đuốc. Cái Dung thì sợ, im thin thít. Còn nó thì lại ra vẻ, cố nói to để át cái sợ. Hóa ra, sợ cũng có những biểu cảm khác nhau. Nó thì là cái sợ của nam nhi, cái Dung của nữ nhi. Đều là nỗi sợ tinh khôi.
Đang đi thì một đàn chuột rích rích kêu. Chúng thấy ánh đuốc và rẽ nước rào rào. Nó giật mình, trống ngực đập loạn cả lên. Cái Dung khỏi nói, bám chặt lấy nó. Cái Dung sợ không nói lên lời, nó thấy bỗng như bị đè nặng một bên, đứng không vững, một tay đã quờ xuống nước. Nó cầm được nửa cục gạch, giang tay ném mạnh về phía có tiếng chuột kêu. Nó giang tay và vướng phải cái Dung. Cái Dung suýt ngã, ôm chầm lấy nó. Nó quát to để át nỗi sợ: “cho chúng mày chết…” Và hai đứa cứ dính vào nhau, do sợ nên vậy. Đúng là nỗi sợ tinh khôi.
Từ đó, nó nhớ mãi cái ôm của cái Dung. Nó bé mà ôm chặt thế.
Đấy mới là tinh khôi.
Vinh Anh
26/9/20

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét