Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

Nơi ấy quê tôi

 

Nơi ấy quê tôi 
 Tên nó là Mẩy. Tôi không gọi nó là Mẩy mà gọi là Mây. Nó hỏi tại sao, thì tại vì mày như mây chứ không “mẩy”. Ý tôi bảo nó là, mày còm nhom, bé tí. Vậy là từ bao giờ, không nhớ, tôi cứ Mây gọi nó. Sau, dần dà, tôi thấy đúng vậy. Con bé có tên Mẩy mà bố mẹ đặt cho đó chỉ đúng với tên Mây. Nó thanh thoát, nhẹ nhàng, bay lượn bồng bềnh như đám mây bảng lảng chiều chiều trên đỉnh núi. Nó cũng nhẹ nhàng, tinh khiết như đám sương buổi sớm lởn vởn quanh nhà, lởn trên đám bụi cây phía xa và xa hơn nữa là bìa rừng. Ngoài ra nó còn có tiếng hát vô cùng đặc biệt. Có lần tôi đã cảm thấy khi nghe nó hát. Đó là một hơi thở nhẹ như cánh chim, một bàu trời như có đám mây mát phủ lên, một mặt đất tươi tắn, cây cối mướt mát như đang nở hoa, thậm chí núi rừng ngẩn ngơ, trời đang mưa cũng tạnh, tất cả im lặng lắng nghe.

 Nó thừa hưởng giọng hát nhớ vợ của bố nó. Bố thường ngồi ôm nó rồi cất tiếng: “Em ơi, giờ này em ở đâu. Con chúng mình như chim non đang lớn nhưng không có đôi cánh của mẹ che chở, bao bọc, tình mẹ yêu thương. Em ở đâu, về nhà đi em. Con em không được uống nguồn sữa mẹ, em thương nó, em hãy hàng ngày chăm sóc nó, về đi em. Nhớ em, anh chỉ biết ôm con vào lòng, kể cho nó nghe chuyện của mẹ nó… Chỉ vì cái nghèo mà anh phải để em một mình vất vả bụng mang dạ chửa…” Nhà nó dựa lưng vào rừng, cũng gần trạm biên phòng của tôi, nhưng leo đến khá cheo leo. Giọng hát bố con nó nghe mãi cũng ngấm vào tôi. Tôi như nghe thấy vẳng vẳng tiếng ru: “Ôi chim non của mẹ, ngàn yêu thương của mẹ, hạt ngô hạt gạo của mẹ, nguồn sống và ngọn lửa ấm áp của mẹ. Mẹ yêu con và thương con vô cùng. Con ngoan hãy mau ăn, mau lớn để giúp cha, đỡ đần cho cha, giúp cho mẹ đỡ cực nhọc. Con là nguồn hy vọng, lẽ sống của mẹ những ngày cực khổ, mẹ thương con. Chúng ta cùng cố sống đến ngày bố về, con chịu khó ăn đi... Sau này lớn khôn, con hãy bay xa, tránh đi cuộc sống buồn tủi cực nhọc này...” Tôi rầu rĩ với từng lời ca. 
Thời đầu, khi “tiếng vó ngựa” còn được ngợi ca, cuộc đời lính mang chất anh hùng và lãng mạn lắm. Dẫu cố hiểu nơi nào đó heo hút chân mây, nhiều lời ngợi ca, thì vẫn phải hiểu, hiện thực nơi biên cương vẫn khổ lắm, trăm thứ thiếu thốn. Dân đói nên lính cũng đói. Phần nhường chút ít cho dân, phần thì do xa xôi, đâu có được như ở đồng bằng. Dân lạc hậu, chỉ giỏi trồng thuốc phiện và giỏi hút thuốc phiện. Thuốc phiện mang sang kia biên giới, đi cả mấy ngày đường mới có khách mua. Rồi đổi hàng hóa, mua gạo muối… 
Cái Mẩy sinh ra trong thời kỳ đó, nó quặt quẹo và tưởng đã chết. Bộ đội biên phòng cắm bản cứu được nó bằng nước cháo và đường. Nó khát sữa. Trong nhà chẳng còn gì có thể ăn. Bố đi bán thuốc phiện bên kia biên giới và đang phải trốn chui, trốn lủi trong rừng, bị nghi là thổ phỉ. Mẹ nó chết sau khi sinh nó, còn rất trẻ, đâu như mới ngoài hai mươi, những tưởng nó cũng sẽ bị ông Giời bắt theo mẹ. Vậy là số nó sống, chẳng hiểu có sống được lâu không, nếu dân bản cứ chỉ hút thuốc phiện và trồng thuốc phiện. Phải buôn thuốc phiện cũng vì lẽ sinh tồn. Vì phải sống, nên bố mẹ nó phải trồng thuốc phiện và bán thuốc phiện. Làm cái gì trên những mỏm đá nhọn hoắt này. Thuốc phiện là đặc sản của vùng này và con người nơi đây. Còn các thứ khác là của người khác. Dân ở đây không quan tâm. Có thuốc phiện là có tất cả. Vậy là, suy cho cùng mọi sự xảy ra nơi chỉ có đá và núi cao này đều là vì cuộc sống. Cuộc sống nơi đây quá lạc hậu khiến người ta u mê, đói khổ và không tìm được lối thoát. Thuốc phiện là cứu cánh cho người dân. 
Nếu bộ đội biên phòng không đến, số phận cái Mẩy cũng sẽ như mẹ nó. Lớn lên, chưa biết thế nào là một gia đình, chưa hiểu cách làm vợ, đã phải lập gia đình, đã phải làm vợ, và rồi làm mẹ. Rồi sẽ đẻ ra những đứa con lít nhít, nếu trời thương, chúng sẽ có anh có chị. Nếu không, thì lại vùi thây trên mỏm đá nào đó, như tổ tiên chúng. 
Nhưng cái Mẩy cô đơn. Nó chỉ còn ông bố sống trong rừng. Biết tin vợ sinh rồi chết. Bố nó đòi về mà không được. Vậy là bố nó làm phản, trốn về nhà để được khóc vợ, để được bế con. Bộ đội biên phòng chỉ khuyên nhủ, không bắt bố Mẩy. 

Cách đối xử nhân đạo đó làm bố Mẩy biết ơn. Người Mèo đã biết ơn ai thì luôn nhớ công người đó với mình, còn nhắc nhủ cả con cháu đời sau. Bố Mẩy đến đồn biên phòng thú nhận mọi việc đã làm trước đây và được tha thứ. Công ơn đó bố Mẩy kể lại cho Mẩy nghe trong những ngày lễ, ngày hội khi ngoài kia người ta vui chơi, còn ở nơi đây, chỉ hai bố con. Tiếng hát nhớ vợ thương con của bố Mẩy theo làn sương sớm, theo đám mây chiều, theo những ngọn khói từ bếp lửa, luẩn quẩn vương vấn bên mái tranh, rồi tan trong thinh không, lẫn vào rừng già và ngấm vào máu thịt của Mẩy. Bố ngồi ôm Mẩy nhớ bài hát vợ dặn “ Anh ơi, anh đi xa để mình em ở lại. Anh đi đến bao giờ. Sao anh để mình em ở lại cô đơn với đá, toàn đá thôi anh ơi. Con chim bay tít xa tận chân trời nhưng vẫn biết đường quay lại, còn anh? Anh bao giờ trở lại. Ngô đã bẻ rồi đấy anh ơi, những hốc đá trồng ngô lại thiếu đất. Mùa xuân đã về bản, về với núi rừng rồi đó anh. Hoa mận, hoa lê nở trắng đường chúng mình đi, anh còn nhớ con đường đó không, anh nhớ quay về ngay khi xong việc, đừng ham nơi đất lạ anh nhé…” 
Bố Mẩy thương con nhớ vợ nổi tiếng cả vùng. Mẩy thường bắt bố nói chuyện về mẹ. Những ngày đó bố ở đâu. Cơn mưa rừng nào ngăn lối không cho bố về. Khi vắng bố, mẹ làm gì để nuôi con, lấy đâu ra đất trồng ngô. Vậy làm gì có mèn mén. Làm mèn mén chứng tỏ sự khéo tay của con gái Mèo. Người Mèo đi đâu cũng nhớ mèn mén và chảo thắng cố giữa phiên chợ… Có ngồi ăn hết bát thắng cố nóng hôi hổi giữa chợ mới hiểu hết tấm lòng người Mèo. Mẩy hỏi rất nhiều và nhớ đâu hỏi đấy. Có Mẩy, hai bố vui hơn nhiều, không âm thầm ủ rũ. 
Cũng những ngày đó, tôi về cắm bản. Tôi về bản với cái lãng mạn tuổi trẻ được đáp ứng. Sau mấy tháng huấn luyện vất vả, tôi háo hức vác ba lô về làm anh lính gác biên cương. Cầm tờ quyết định, tôi nhảy cẫng lên, tôi lại như nghe thấy tiếng vó ngựa của anh lính trấn ải biên thùy, lại như nghe thấy tiếng gió rừng già và tiếng suối chảy róc rách. Tôi cất tiếng hát thầm cho riêng tôi cái bài hát mà tôi nghĩ như để riêng tôi, hướng tôi vào đời, với những: Rừng cây xào xạc lá sương chiều dần dần buông/Đỉnh núi cao xa xa còn vang tiếng cồng ngân nga Men đường biên thuỳ ta cố leo, cho dù dốc đèo ta cố leo /Chốn đây núi rừng có ta ngày đêm/ súng cầm chắc tay cho núi rừng ngủ yên/Băng rừng băng đèo ta vẫn đi, cho dù dốc đèo ta vẫn đi/Chiến sĩ biên phòng có muôn lời thơ, câu ca tiếng đàn sáng ngời tình thương...(lời bài hát)
 Nói thật lòng nhé, sướng lắm. Tôi tưởng tượng ra Chốn biên thuỳ mến yêu...như đang đi trong rừng, ngắm rừng rồi vạch rừng tìm đường đi. Tôi thích đi xuống suối, nước suối trong veo và đạp chân lên những hòn cuội. 
Nhưng ở đây, cái bản mà tôi ở cùng đồng bào này, thì có rừng đấy nhưng mà cheo leo, ôi, cheo leo lắm, leo một chút là thở rồi, thở phì phò rõ to, chẳng biết giữ ý gì hết. Thay vào đó là đá. Chao ôi đá, đá nhiều và vô cùng nhiều. Tôi chưa biết gì về mảnh đất này. Cái bài hát về lính biên phòng đó có nói gì về đá đâu. Chỉ nghĩ ra tiếng vó ngựa đạp trên sỏi đá của con đường độc đạo, đầy lau lách và nhiều hiểm nguy thôi. Sau đấy vài ngày, tôi lại vô cùng thích thú về những câu chuyện của vùng đất toàn những mỏm đá nhọn hoắt này. Chuyện kể những ngày xa xưa, người Mèo di cư xuống phía Nam, nơi nào cũng có người, chỗ ở người Kinh thì bên những con sông, người Thái cũng có những cánh đồng lúa ngon nổi tiếng. Khi cha ông họ đến đây, chỗ này vắng teo, không một bóng người, không phải tranh chấp với ai. Vậy là tổ tiên người Mèo quyết định ở lại vùng núi đá này. Nơi đây, ta sẽ sống yên ổn, không lo bất kỳ kẻ quấy rối nào. Từ xửa xưa, người Mèo đã yêu sự bình yên. 
 Chiều chiều những ngày hè, thường khi nắng sắp tắt, mặt trời sắp lặn sau ngọn núi phía Tây xa xa đậm sắc chàm bí ẩn kia, thường nghe được tiếng sáo từ một mỏm đá nào đó bay vọng về. Ôi, kỳ diệu. Giữa mây ngàn gió núi này lại được nghe thanh trầm của tiếng sáo như tiếng lòng thổn thức của người trai, tôi như lâng lâng, bâng khuâng nhơ nhớ cái gì đó xa xôi, lâu cũ rồi. Tiếng sáo mang âm hưởng xưa cũ vọng về, hồn bỗng muốn thả bay cùng gió. 

Tôi tìm cách leo lên những mỏm đá nhọn hoắt đó để nghe được tiếng sáo trong cái không gian thuần chất Mèo hơn và rồi biết được người có tiếng sáo thổi, mang đầy tâm trạng đó là bố Mẩy, người đàn ông trẻ, góa vợ, chẳng hơn tôi bao nhiêu tuổi, chưa gìa mà cuộc đời có quá nhiều nỗi bất hạnh. Tôi quyết chí học thổi sáo và tôi quen thân với người có tiếng sáo u uẩn đó. Tôi mê cái âm âm u u của rừng già và tiếng gió rừng hú gọi. Tôi nghĩ về tiếng sáo và nhìn nét mặt bất động, lạnh ngắt, vô cảm của anh. Cái sáo Mèo này diễn tả đúng y sì phóoc tâm trạng con người và cũng diễn tả được tâm hồn luôn ưu tư của tôi. Tiếng ngân của nó rất dài, lan tỏa khắp các ngọn núi. 
Chính bố Mẩy dạy tôi thổi sáo để sao cho cái dư âm u u của tiếng sáo đậm chất núi rừng kia, thật thao thiết, thật kéo mời, quyến rũ. Anh bảo phải thổi thế nào đó để vợ anh bên kia thế giới nghe thấy. Muốn vậy phải giữ mình, phải làm điều tốt, phải yêu chân thành. Nghe thấy nó sẽ quay về với tao. Vậy là tiếng sáo của anh đầy nỗi lòng thương vợ, thương con. Tôi nghe và nhận ra trong mình có điều ám ảnh nhưng gần gũi, thân thiết và tôi đồng cảm. Tại sao ư? Tại nỗi đau của bố Mẩy cũng chạm tới trái tim mềm yếu của tôi, nhiều lúc tôi nấc lên cùng tiếng sáo của anh. 
Tôi nói với anh, tiếng sáo của anh đằm, cái đằm đó chất đầy tiếng thở dài, anh đừng thổi như vậy nữa. Anh phải thay đổi môi trường sống đi, phải vui để cho Mẩy của anh vui. Nhiều lúc tôi thấy nó buồn lắm đó. Nó thương anh vò võ như mụ đàn bà. 
Tôi ở đây cũng được gọi là lâu, đã gần ba năm. Từ một chàng trai trẻ, chỉ mơ đến những tiếng loóc coóc ngựa phi, tiếng chim hót trên núi rừng, tiếng suối chảy róc rách, tiếng nai hoẵng ngu ngơ kêu tác tác gọi bầy đêm khuya, đến nay đã là một chiến sĩ vững vàng, tôi gắn bó với nơi đây. Các thủ trưởng của tôi khen tôi thế. Tôi thích cuộc sống biên cương này là nhờ nghe bài hát về “người chiến sĩ biên thùy” của ông Tô Hải từ ngày còn đi học, bé tí. Chẳng hiểu sao ngày đó, bài hát này được phát thường xuyên, đến nỗi tôi nghiện. Tôi dần nhận ra qua tiếng đệm đàn là tiếng vó ngựa lộc cộc, tiếng gió rừng già, tiếng suối chảy và tưởng tượng những người lính trong bộ quần áo bông, mũ bông dính đầy sương với tuyết biên giới từ những câu hát. Đó là cuộc đời chiến binh của những chàng trai giữa núi rừng. Đó là những người lính trấn ải lưu đồn thuở phên dậu nước nhà còn rất mong manh. Cuộc đời chiến binh nơi biên cương xa mù đó toàn “miệng ăn măng trúc măng mai”, nghe thăm thẳm vời vợi, nhưng với tôi, rất cao siêu, đầy âm hưởng núi rừng huyền bí, cũng rất lãng mạn học trò. 
 Còn nó, nó từ một con bé gày guộc, nhỏ thó, thành một bé gái đẹp. Cái đẹp của nó tự nhiên như cây rừng, núi rừng, hoa rừng. Cái đẹp trắng phau, nõn nà tỏa hương như hoa mận, hoa mai khiến tôi cứ suýt xoa, nhớ nhớ mỗi khi đi công tác, về phép hay xa trạm lâu ngày. Những ông viết tụng ca, ca tụng thì bảo tôi yêu đồn biên phòng, hi sinh gắn bó, giữ cho biên cương bình yên, xây dựng bản làng biên giới thành pháo đài, thành đồn lũy gì đấy… chứ thực lòng tôi là tôi nhớ nó nhiều, cũng nhớ trạm, nhưng ít hơn. 
Vậy là ngoài bài hát của ông nhạc sĩ gì đấy, còn có nó, cái Mây, chứ không phải Mẩy, khiến tôi vương vấn núi rừng. Cái Mây như giải khăn voan quấn vào tôi, mềm mại, quyến rũ và có cái gì đó rất mong manh. Một cái là mơ ước tuổi trẻ con, một cái là hiện thực “thời trai giữa núi rừng”.
 Tôi chứng kiến nó lớn lên một cách lặng thầm nhưng thuần khiết. Chứng kiến vì tuần nào tôi cũng dạy văn hóa bọn trẻ con ở bản ba buổi. Tôi không thích kiểu nói, thấy “nó lớn lên từng ngày” như người ta thường nói. Nhưng mà, có lần, nhìn bọn trẻ đang cúi đầu làm bài kiểm tra, thấy nó lớn nhanh thật, lớn nhanh và đẹp, cái đẹp trẻ con, rất đáng yêu bởi nét thơ ngây. Nó ngước mắt nhìn tôi, thấy tôi đang nhìn nó, nó ngượng cúi mặt, vậy là nó cũng lớn thật rồi. 
Người đàn ông Mèo cần có bàn tay phụ nữ quán xuyến việc nhà. Việc nhà nhiều lắm, chỉ đàn ông lo không nổi. Đàn bà là linh hồn của ngôi nhà. Đi đâu cũng nhớ về nhà là thế. Ở nhà, đang có người đàn bà chờ ta, người ấy yếu đuối lắm, ta phải về cho người ấy một bờ vai để dựa. Người bản nghĩ vậy và nói bố Mẩy phải đi kiếm vợ để trông cái Mẩy. Cũng có lúc bố Mẩy nghĩ sẽ đi lấy vợ. 
Nhưng chính những lúc đó, hình ảnh mẹ Mẩy lại về trong đầu. Bố Mẩy như nghe thấy ai nói: “ Nó là con gái anh. Nó cũng yếu đuối như những người đàn bà khác, sao anh bỏ nó?” Anh không bỏ. Anh nói với tôi: “Tao cho mày con Mẩy, con Mẩy cũng quý mày. Tao biết. Nó ngoan và sẽ là con vợ tốt. Mày hãy thương nó...” Tôi cười, nói với anh “Anh đi lấy vợ đi, anh giao nó cho bộ đội biên phòng và tôi trông nom. Tôi sẽ trông nom nó. Khi nào nhớ nó thì về... 
Mẩy được bộ đội biên phòng gửi xuống huyện học, được nuôi ăn, không phải hàng ngày lo kiếm ăn nữa. Nó đã mười bốn tuổi, đang học lớp năm trường của bộ đội biên phòng, nghĩa là trường của tôi. Thời gian này, tôi cũng được cử đi học trường sĩ quan biên phòng. 
Tôi học ba năm. Ba năm sau, tôi về lại chốn xưa, ngày đầu tiên vác ba lô về làm chiến sĩ, nhưng kỳ này là làm trạm trưởng. Cũng ba năm đó, Mẩy đã là thành một thiếu nữ, đẹp nổi tiếng cả huyện. 
Tôi về trạm biên phòng xưa kia nhận công tác với trách nhiệm trạm trưởng. Hầu như chẳng có gì thay đổi. Cái bản vẫn nghèo và cái trạm biên phòng có phần cũ kỹ, xiêu lệch hơn. Dân vẫn ngô và mèn mén. Người vẫn xanh bủng và còi cọc. Vẫn anh em họ lấy nhau. Vẫn những đá là đá. Bộ đội vẫn chắt chiu mọi thứ để chia sẻ với dân. Giao thông vẫn khó khăn nên những con ngựa gày gò, già nua thồ một gánh hàng lên núi mất cả ngày. Lớp học ba năm trước tôi từng dạy Mẩy và lũ trẻ như rách nát thêm. Tôi nghĩ lại lời anh từng nói với tôi: “Cuộc đời người Mông như chiếc cối xay cứ xoay tròn, xoay mãi. Vất vả nhất vẫn là người đàn bà. 
 Tôi vào thăm bố Mẩy, căn nhà vẫn như ba năm trước, vẫn cũ kỹ, xơ xác còn anh thì già đi, đầu đã bạc một góc. Anh ôm lấy tôi: “Tưởng mày quên bản, quên tao quên cả cái Mẩy. Cái Mẩy mỗi lần về đều nói chuyện về mày, các anh bộ đội biên phòng cũng đôi khi có tin tức của mày đấy... Tao nhớ mày lắm...” 
Tôi không muốn nhìn gì, nghĩ gì thêm được nữa. Tôi chỉ nói khi nhận lại công tác trên này, ở huyện, tôi có tìm gặp Mẩy, biết em đang học. Để nguyên cho em học...” Tối đó tôi ở lại với anh, đề nghị anh thổi sáo. Anh rút từ trái nhà xuống cái sáo như đã bị bỏ quên rất lâu. Tiếng sáo vang lên, các đám mây đưa tiếng sáo của anh qua các đỉnh núi. Tiếng sáo vẫn như xưa, những âm thanh u u của gió hú, của rừng già và sao ấy... vẫn nặng nề, uẩn khúc, không có gì thay đổi. Tôi vẫn thấy cả một ngàn nỗi buồn hòa trong tiếng sáo của anh. Anh rải nỗi buồn đến mọi đỉnh núi. Tiếng sáo lan đến đỉnh núi nào, đỉnh núi đó như vỡ ra thành trăm ngàn đỉnh nhọn khác. Thảo nào mà ở đây không bao giờ hết đá. Đá như thể được sinh ra từ mọi nỗi buồn, nỗi đau của người Mèo. Biết đến khi nảo người Mèo hết nỗi đau?
 Anh thổi sao rồi anh hát. Anh nhớ Mẩy, đứa con gái xinh đẹp giống y như mẹ nó và mẹ nó còn là người làm mèn mén ngon nhất bản. Con gái Mèo làm mèn mén ngon thì được rất nhiều con trai săn đón. Bố Mẩy chiếm được mẹ Mẩy chính nhờ tiếng sáo nghe âm âm uu u vang xa khắp mọi đỉnh núi, con gái Mèo nghe tiếng sáo là thấy lòng vui khấp khởi, thấy những bước nhảy theo điệu khèn giữa phiên chợ đông. Nhưng đặc biệt, tiếng sáo bố Mẩy còn làm người nghe nhớ đến những ngọn núi uy nghiêm, thâm trầm và bí hiểm, thấy những ngọn núi đá sắc nhọn mà trong các hốc đá có những cây ngô, có thể để con gái trổ tài làm mèn mén. 
Tiếng sáo của bố mẩy trong những đêm rét đã gọi mẹ Mẩy đến bên bếp lửa. Họ đã qua nhiều đêm với nhau và cùng nhau hưởng những giây phút hạnh phúc nhất cuộc đời. Trong những đêm đông rét đó, họ đã say sưa hát cho nhau nghe. Tiếng hát bố Mảy ngày đó trong sáng lắm: “Em ơi, mùa đông sắp qua và chúng ta sẽ về ở chung một nhà. Anh sẽ lên núi tìm con nai con hoẵng để chúng ta sống quanh năm đầy đủ, gác bếp nhà chúng mình sẽ đầy thịt thú rừng, anh sẽ xuống núi đổi nhiều muối và nếp và sẽ mua cho em những sợi chỉ thêu đẹp để em thêu lên bộ váy của em...”
 Nghe nói bên văn công quân khu muốn nó. Mỗi lần anh xuống huyện thăm nó, anh đều nói: “ Mẩy à, học rồi về với bản, với bố... mày có nhớ thằng Hùng bộ đội không? Mày thương nó thì đừng để nó đi mất...” Mẩy không đi hát, Mẩy đi học y tá. Mẩy vẫn nhớ bản, thương bố và không quên người đã đi xa. Người Mèo không thấy núi là thấy trống vắng, như mất người bảo vệ. 
Nhưng quê Mẩy nghèo. Tôi về trạm nghĩ nát đầu để sao cho đời sống của dân nâng lên, đừng chỉ mãi theo một con đường mòn nghèo đói. Nguyên nhân của cái đói chính là từ cái cứ khư khư ôm lấy sự cũ nát. Đến như cái trạm biên phòng đây cũng càng ngày càng cũ. Làm thế nào cho dân bớt khổ? Chỉ có thể phát triển giao thông và dựa vào rừng. Khó quá, lấy đâu ra tiền ra máy. 
Tôi trúng bí thư. Tôi về huyện họp. Tôi có tiếng nói để người khác phải nghe. Tôi nói về cái nghèo của bản, đã bao năm nay bản không khá hơn. Nếu cứ vậy, dân bản sẽ lại trồng thuốc phiện. Muốn dân mãi mãi từ bỏ thứ thuốc độc này phải phát triển kinh tế. Vậy thì giao thông cần được ưu tiên, phải đưa hàng hóa lên bản, đừng chỉ nghĩ đến mấy con ngựa già. Còn dân? Dân phải có hàng hóa đưa về xuôi. Mận, mơ thì chẳng ăn thua. Phải là dược liệu quý, như thuốc phiện ấy. Huyện nên quy hoạch vùng trồng, kiểm soát việc thu hoạch sản phẩm và trồng dược liệu. Những sâm, những hồi hay quế... bài thuốc tắm dân gian mà đồng bào Dao vẫn tắm... cũng là thế mạnh cần phát huy. 
Mẩy học y tá, biết thêm được những bài thuốc dân tộc. Mẩy kết hợp với các bạn người Dao lập hợp tác sản xuất, mua bán, đóng gói sản phẩm thuốc tắm. Mẩy hướng dẫn dân bản vào rừng tìm cây thuốc, cây thì ngâm rượu, cây thì băm nhỏ, phơi khô...
 Sau ba năm, cuộc sống dân bản có khá hơn ngày xưa. Tôi cùng Mẩy có đóng góp một phần. Chỉ một chút chút gọi là khá hơn. Đừng tự hào vỗ ngực quá sớm. Tôi rất sợ những ông vỗ ngực cho là “thế lọ thế chai” nên mới đổi đời thế này. Đời người còn dài chứ đâu chỉ có ba năm. Những người coi ba năm là ba chục năm hay một thế kỷ thì cuộc sống của họ ngắn lắm, họ mới nhìn được có một đoạn. 
Khó nhất là đường xá giao thông. Tiền không có, máy móc không có làm thế nào để có được đường cho xe đi. Bộ đội biên phòng bàn với dân bản và lãnh đạo xã, xin huyện hỗ trợ máy móc để vận chuyển đá và xin bộ đội thuốc nổ để phá đá, còn bao nhiêu thứ khác để dân tự lo. Vậy mà chúng tôi làm xong con đường ba chục cây số, chiều rộng 5 mét để xe đi đấy. Giờ đây, dân bản xuống huyện và sang xã khác dễ hơn xưa nhiều rồi. Đã có nhà mua xe máy để đi cho nhanh, không phải đi bộ nữa. 
Đúng là sau ba năm, đổi khác nhiều quá. Con đường đó được gọi là đường “chiến sĩ biên thùy”. Ai chứ, riêng tôi, tôi vô cùng sung sướng. 
Tôi với Mẩy thành vợ chồng. Đầu bố Mẩy tự nhiên xanh lại, trẻ ra, có khi trẻ hơn tôi. Tôi không biết gọi bố Mẩy thế nào cho hợp. “Anh ta” thì cứ mày tao, nên xưng hô đơn giản hơn tôi. Mẩy cười mỗi khi tôi ngập ngừng trong cách xưng hô... “Gọi bố đi cho quen”. Vậy là vùng đá nhọn hoắt nơi đây thành quê thứ hai của tôi. Mẩy nói với tôi: “Em sẽ đẻ cho anh hai đứa con. Đứa con gái là Mây, hát như chim rừng, còn đứa con trai là Gió, nó sẽ bay đi muôn phương, như bố nó, cho mọi người những làn gió mát lành. Tôi sung sướng, ôm chặt Mẩy vào lòng: “Còn em mãi là bóng mây che mát đời anh”. 
 Vinh Anh-15/10/21

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét