Nhân ngày 22/12, nghĩ về đồng đội
Như định mệnh, tôi nối nghiệp cha, làm lính từ khi chưa đến
tuổi nhập ngũ. Cái gọi là định mệnh hay số phận đó kéo dài suốt cả cuộc đời. Dẫu
rằng, trong thẳm sâu, tôi không thích làm lính hơn làm các nghề khác, mà ở tuổi
mộng mơ chẳng ai không thích, như trở thành kỹ sư, bác sĩ chẳng hạn. Không
thích và không dám nói ra suy nghĩ thực của mình, đó là hệ quả một “thói quen” của những người trưởng thành
và sống ở “miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, cũng là cách nói của hầu hết những học sinh
đã học tập, trưởng thành ở những năm sáu, bảy mươi thế kỷ trước. Trưởng thành từ
“mái trường Xã hội chủ nghĩa” thành một “thành ngữ” quen thuộc của lớp người có
đôi chút học hành thời đó.
Tôi tôn trọng rồi dần yêu quý cuộc sống trong quân ngũ của
mình. Cũng phải nói thật, cuộc sống quân ngũ của tôi có nhiều thuận lợi, cuộc sống
binh nghiệp ít xáo trộn và nếu so với những người bạn cùng trang lứa, dù rằng sống
trong thời chiến, cuộc sống quân ngũ của tôi ít nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy
mà tôi vẫn sống , vẫn tồn tại. Có thể vì thế tôi không dám nói đến sự hy sinh,
ngay cả với con cái trong nhà, chúng cũng chỉ biết sơ sơ bố nó chiến đấu trong
B suýt chết. Gặp bạn bè cùng đơn vị, nghe bọn chúng “chém” về những năm tháng
đã trải qua, tôi chưa bao giờ nói về sự “hy sinh quên mình” của anh lính là
tôi, cho dẫu cái “suýt” của mình khi ngẫm lại cũng ghê ghê đấy.
Rất nhiều lúc cảm thấy ngượng khi một ai đó biết về tôi, kể
chuyện “chiến tích ngày xưa”. Một “ngày xưa” mà tôi chỉ dám tự hào với chính bản
thân. Nếu ai đã từng sống những ngày chiến tranh trên chiến trường B5, với những
người lính “cơm Bắc, giặc Nam” như bọn B5, thì chuyện ra vào vùng đất bom đạn
đó cũng bình thường thôi. Ấn tượng về cuộc chiến ngày đó là nỗi sợ chết chỉ xảy
ra trong chuyến đi đầu tiên. Những lần sau, nó quen, nó trơ đến nỗi chỉ đôi lúc
nghĩ: sao số mình đen thế, cứ có việc (đi B) là tên mình được nhắc đến.
Thôi thì chiến tranh, chuyện vui, chuyện buồn đều có. Hôm
nay, sau mấy chục năm, nếu nhắc lại chuyện những ngày chiến tranh gian khổ thì phải
chọn đúng đối tượng (bọn trẻ ngày nay không mấy đứa thích nghe chuyện cha ông
chúng đâu), nghĩa là chỉ nói khi có mặt bọn cựu lính đã cùng nhau tham gia một
chiến dịch nào đó, một mặt trận nào đó. Lúc đó thì thằng nào cũng to mồm
“chém”, thằng nào cũng giỏi, thằng nào cũng trải qua hiểm nguy, thằng nào cũng
xứng đáng là tướng. Tôi đã dự nhiều cuộc hội ngộ và thấy nó là như thế. Cũng từ
cái chuyện “chém” và tự cho là mình thành anh hùng đó, ngộ ra chuyện “ra ngõ gặp
anh hùng” của đất nước ta. Chúng ta cứ tâng nhau lên bằng lời nói để cho đẹp
lòng nhau, “lời nói chẳng mất tiền mua” và từ đó thành quen, ai cũng “ngộ”ra
cái công lớn của mình trong cuộc chiến đó.
Nhiều năm lại đây, thấy “chất lính vì nhân dân” không còn nữa.
Không những vậy, tiếng thân thương gọi người lính là “anh bộ đội” cùng bộ quân
phục mang màu xanh, sắc cây rừng một thời rất gắn bó với lính, cũng đã thay đổi
và chẳng còn đọng được mấy ấn tượng trong lòng người dân.
Tôi nghỉ hưu và vì thế
chất lính, máu lính cũng phai nhạt, sự nhạt phai có phần do lỗi của chính tôi và
có phần của xã hội. Phần của xã hội thì nhiều lắm và như một thứ bệnh của dân
mình, cách nói của người Việt hôm nay là chỉ thích đổ tội cho khách quan. Tội lỗi
mà chúng ta gây ra hôm nay cho đất nước không phải do ta mà do đâu đó bên ngoài
tác động. Cái thằng “đâu đó” phải hiểu chính là thằng phản động, thằng thù địch.
Vì vậy, tôi chỉ nói về phần trách nhiệm của những người
lính, những người lính đã từng làm nên những điều kỳ diệu, vẻ vang năm xưa. Tôi
cũng là một trong những người lính đó, vẫn đang sống với tâm trạng giống họ và
nhận ra, đa phần chỉ biết gặm nhấm quá khứ và hầu như rất nhiều người lính
không biết đến hiện tại hôm nay, một hiện tại đắng cay chua xót.
Những con người đã góp phần tạo “cái vinh quang” hôm qua, vì
rất nhiều lý do, hầu như ai cũng im lặng trước thực trạng xã hội hôm nay. Vài đôi
lần, tôi nói với các bạn cũ của tôi: “ Các ông cùng tôi từng chia sẻ ngọt bùi,
đói khát, ác liệt thời chiến tranh, có thằng đã chết, bọn nó đều chết trẻ, các
ông có khi nào nghĩ đến chúng nó không và đặc biệt có làm gì để tưởng nhớ, cho
vong linh chúng nó được siêu thoát không, chúng nó rất nhiều, đã mấy chục năm
nay, rất nhiều đứa không đưởng suy tôn, bị xã hội hầu như lãng quên”
Nhận ra, cái dũng khí
trên chiến trường năm xưa không còn thấy ở họ, đa phần chỉ thấy một sự yên phận,
sự yên phận có phần nhẫn nhục trước cái ác, cái bất công vẫn nhởn nhơ trong cuộc
sống.
Tôi biết các bạn tôi không quên bạn bè đã chết nhưng câu hỏi
của tôi đánh vào lòng tự trọng của họ. Chúng nó-bọn bạn tôi ngày xưa ấy cũng có
vài ba người thấy xấu hổ, ngượng ngùng. Nhưng họ, những người bạn của tôi ngày
xưa, chưa vượt qua được ngưỡng sợ hãi vô hình mà cố hữu, triền miên trong tiềm
thức từ rất lâu, rồi họ để cho nó trôi đi theo dòng đời.
Nhưng tôi chua xót vì sự im lặng đó. Sự im lặng không những
đáng sợ mà còn đáng lên án, đáng khinh, đáng nguyền rủa, đặc biệt với những ai,
có kiến thức và đủ nhận biết được cái điều “sợ hãi” đó mà lại ngậm miệng thủ thế,
chờ thời.
Buồn hiu hắt và buồn
nhẫn nhục làm sao khi về già có quá ít người có thể sẻ chia, có thể dốc bầu tâm
sự trước nỗi đau của dân tộc đang diễn ra trước mắt. Đau vì phải âm thầm bỏ qua
những điều đất nước bị sỉ nhục, vì lực bất tòng tâm và điều căn bản nhất, mấu
chốt nhất mà những người lính cùng thời với tôi không dám thừa nhận, đó là sự sợ
hãi. Sự sợ hãi đã khiến chúng ta không dám thay đổi nếp sống, nếp nghĩ đã quá ư
là cỗi cằn, cổ hủ.
Tôi muốn dùng thêm chữ
“hèn nhát” để chỉ thêm ra cái đê hèn của sự xấu xa, nhu nhược. Từ ngữ như vậy
có lột tả đúng trạng thái tinh thần, đúng nhân cách những người lính cùng thời
với tôi không? Tôi vẫn thấy từ đó diễn tả chưa đúng cái điều tôi nghĩ. Những
người lính cũ đó không nghĩ như vậy đâu. Họ biết cả đấy! Biết nhưng mà sao họ cứ
âm thầm chịu đựng. Và nỗi bí bách trong lòng tôi lại nổi lên.
VA 20/12/16

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét