Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

LÃO DỞ HƠI (truyện ngắn)


 Lão dở hơi

 Truyện ngắn

 Người ta bảo thế, người ta nói thế, chứ thực hư thế nào có hỏi cũng chẳng ai trả lời được cho rõ ngọn ngành. Dân ta thường vẫn vô tư sống như vậy. Hầu như điều gì cũng đơn giản. Ít ai chịu lật lại vấn đề lắm. Cái bệnh đó ngấm vào từ bao giờ, mà câu đầu tiên của mỗi người khi phát biểu về một vấn đề, là phải: “Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt...” Mặc dù cái sự sáng suốt đó với nhiều người rất là trừu tượng. Đố có ai trả lời được cụ thể. Có người cứng: “Thì đấy, ông xem, thành tích đất nước ta như vậy, chẳng nhẽ từ trên trời rơi xuống, phải có sự lãnh đạo sáng suốt chứ...” Thực ra, cái lí đó cũng dễ phản bác, nhưng dân ta vốn hiền, nhịn đi một điều, chẳng mất gì, chẳng hại ai lại được chín cái sự lành... Chả việc gì phải tranh cãi. Nếp sống “dễ hoà vi quí” đó cứ vậy ngấm, ăn sâu vào từng con người rồi từng thế hệ. Vậy là kéo dài. Cứ tin tưởng đi, lo mà làm đi, mọi việc đã có trên lo, trên nghĩ...mọi việc sẽ đâu vào đó...Đã có sự lãnh đạo sáng suốt...

Nhà lão có cả thảy năm người. Hai vợ chồng lão, hai vợ chồng đứa con trai và một thằng cháu đích tôn. Vậy là quá đẹp cho một gia đình thời hiện đại. Sống êm ấm, hoà thuận và nếu như lão không dở hơi, chắc còn êm ấm hơn, hoà thuận hơn. Ừ mà không hiểu sao, cả nhà lão, từ bao giờ không biết, cũng cho là lão dở hơi. Vậy thì lão dở hơi là cái chắc rồi còn gì. Chỉ phải cái, người nhà cũng không đủ lí lẽ để chứng minh lão dở hơi. Mà nếu dở hơi thì gia đình còn đâu là hạnh phúc nữa, còn đâu là gia đình văn hoá nữa chứ.


         Lại nói đến cái gia đình văn hoá. Cũng chính từ cái danh hiệu cao quí này mà lão bị người làng gọi là dở hơi thì phải. Chuyện xảy ra cũng từ lâu lắm rồi, từ cái ngày mà lão còn chưa nghỉ hưu kia. Cứ như theo lão, chuyện bắt đầu từ cái ngày mà lão nhận cái bằng khen của cơ quan. Chuyện có bằng khen của cơ quan là tuyệt đối quan trọng. Nó sẽ kéo theo chuyện lên lương, thăng chức và đương nhiên, kèm với cái bằng khen, chuyện thăng chức lên lương cũng còn nhiều bổng lộc và quyền lợi khác nữa. vậy là bằng khen quá quan trọng còn gì phải bàn nữa. Nhưng, ở đây là nhưng, lão không nhận bằng khen. Chuyện động trời. Lại có người phản đối việc cấp trên ban cho một danh hiệu vẻ vang, có khác nào nói cấp trên không sáng suốt. Động trời là thế.




Cái lí của lão thì lại vô cùng đơn giản. Để được bằng khen hay giấy khen gì đó, ắt cái người được trao tặng danh hiệu phải có thành tích đáng để người ngoài khâm phục. Đằng này có ai khâm phục ai, học tập ai trong cái cơ quan này đâu. Mọi người đều hoàn thành công việc được giao một cách bình thường, chẳng có một phản hồi khen ngợi nào từ người dân cả. Thậm chí còn có lời kêu ca là đằng khác. Nhưng họ không dám nói ra, nói ra là sợ cái sự khó dễ. Lý lẽ không nhận bằng khen của lão là lão chỉ tự xác định mới hoàn thành công việc được giao y như anh nông dân vác cày ra đồng. Anh nông dân phải cày ruộng thì mới có thóc gạo, mới có cái ăn. Lão làm đây cũng vì đồng lương, phải làm mới được nhận lương, mới có cái ăn. Nếu tặng bằng khen cho lão thì còn khối anh nông dân vác cày kia, ai tặng bằng khen?

Cũng phải nói là do lão làm việc ở bộ phận văn phòng nên có nhiều mối liên hệ với đủ mọi kiểu khách đến giao thiệp công việc. Lão cũng nghe ngóng được nhiều. Qua việc này, phải nói là lão rất dũng cảm, dám nói ra một sự thật mà ai cũng biết, nhưng ai cũng bỏ qua. Bỏ qua một cách vô tư, không chút vướng víu bận bịu hay cắn rứt điều gì cả. Vô tư đến nỗi cho đó là bình thường, việc bình thường ấy mà. Công chức ta nói chung là như thế đấy. Vậy là tổng kết năm, ai cũng bằng khen. Vậy lão có dũng cảm không? Dũng cảm quá đi chứ! Nhưng mà rồi từ đó, từ cái vụ không chịu nhận bằng khen đó, lão bị người ta nhìn lão khang khác một chút. Rồi từ đâu đó, cái tiếng dở hơi gắn vào lão. Đầu tiên là xa xa, quần chúng chỉ nói về lão khi không có mặt lão. Cứ bảo quần chúng là sáng suốt, là môi trường thử thách rèn luyện và đào thải con người. Câu nói đó nói chung thì đúng. Đứng về mặt lí luận mà nói thì đúng. Nhưng cũng vẫn cứ phải xem cái nề nếp của cơ quan đó có dân chủ không. Cái dân chủ mới là quyền quyết định. Ở trong cái cơ quan mà ông thủ trưởng nắm quyền chuyên chế thì đố có tìm ra quần chúng tốt. Đã là quần chúng thì như thế thôi, đừng đòi hỏi cao. Đằng thằng ra thì lão là quần chúng tốt đấy, có khí phách đấy và đặc biệt là có đầu óc. Nhưng rồi ở đây, trong môi trường không khí này, lão lại biến thành kẻ dở hơi. Bảo lão là kẻ dở hơi là có thể  lão không gặp thời, không biết cách làm rõ về mình cho quần chúng hiểu. Nói thật, làm để cho người khác hiểu được mình là nghệ thuật cao lắm, có thể nói là cao nhất trong các hình thức nghệ thuật đấy. Những kẻ dở hơi như lão cũng dễ tìm ra yếu điểm bởi họ có tìm cách che đậy bao giờ đâu. Và cũng phải thêm một yếu tố nữa, đa phần là họ sống chân thành, chân thành đến đáng thương. Trong cuộc đời mọi cái đáng thương cũng thường kèm theo cái đáng trách. Khi chưa có địa vị thật vững vàng, họ không có được hoặc ít có những người bạn chí cốt. Buồn thay! Bởi người đời đa phần vẫn “gió chiều nào theo chiều đó, vẫn phù thịnh chứ ai phù suy” đâu.




Có lẽ người ta nhận thấy, để lão dở hơi ở vị trí thường xuyên được tiếp xúc với nhiều người sẽ không tốt cho công việc, và vì thế lão được điều về tổ lưu trữ, chuyên tiếp xúc với các loại giấy tờ “quá đát”. Người ta cho đó là một sự hợp lí. Nếu ngộ nhỡ có chuyện gì xảy ra, thì cũng đã là quá khứ, đã là lịch sử. Người ở thời hiện tại chỉ cần rút kinh nghiệm, và để rút được kinh nghiệm thì cũng cần phải có một quá trình. Cứ như vậy, mọi người yên tâm về lão. Chuyện động trời chắc không thể xảy ra được nữa.

Lão cũng yên tâm với công việc mới. Hàng ngày lão chỉ lo sắp xếp và bảo quản các tài liệu sao cho nguyên vẹn và khoa học để khi cần tìm là có thể có ngay. Công việc cũng không khó khăn gì hết. Cũng có khi phải thanh lí các tài liệu cũ, quá niên hạn lưu trữ. Một trong các tài liệu cần thanh lí là các báo cáo tổng kết các loại của cơ quan. Vốn có thói quen tổng hợp khi còn làm ở văn phòng, lão đọc các thông tin tổng hợp. Và lúc này, điều kiện thuận lợi không gì bằng là nhâm nhi các báo cáo tổng kết. Hồ sơ lưu các báo cáo này khá nhiều và đầy đủ. Chẳng gì cũng là báo cáo tổng kết mà lị. Lão đọc và thấy một điều, giống nhau quá. Từ trước, có mấy ai quan tâm đến loại báo cáo khen thưởng cuối năm. Nhưng năm nào cũng phải tổng kết. Cuối năm là cuộc gặp gỡ để vui là chính. Niềm vui hồ hởi trên nét mặt mọi người. Ai lại nỡ nói những chuyện không vui. Vậy là báo cáo tổng kết toàn chuyện vui và toàn số đẹp. Lão đọc và lão bực mình. Chuyện chẳng có gì liên quan đến lão lão xía vô làm gì. Chuyện đã cũ mèm và lại toàn chuyện cũ, bới ra làm gì. Đã qua rồi, thông thường đã qua là cho qua. Với lại quan niệm của nhiều người, tổng kết phải là vui, vui từ báo cáo các con số, vui đến các bộ mặt hớn hở, vui vì liên hoan, vui vì tương lai sáng sủa được vẽ ra trong báo cáo. Mà cũng có ai nghe, ai đọc đâu ngoài cái ông được phân công viết và phân công đọc. Chuyện chẳng chết ai. Bình tĩnh và cho qua. Đừng bức xúc!

Năm nay cũng vậy, thủ trưởng cũng cần số đẹp để đưa vào báo cáo tổng kết. Bộ phận thư kí chạy xuống bộ phận lưu trữ xin số liệu của các năm trước. Không một lời, lão quẳng ra tập hồ sơ lưu các loại báo cáo mà lão đã nhâm nhi thời gian vừa qua. Khi mấy anh thư kí và văn phòng mang tài liệu đi, lão mới nói “Các cậu đừng nói dối và đừng ru ngủ nhau nữa, có tội đấy. Hãy hiểu đúng nghĩa của từ tổng kết. Hãy nói với sếp, nếu không tôi cũng nói...”

Đương nhiên là chuyện đến tai sếp và lan truyền trong cơ quan và cũng đương nhiên, mọi chuyện vẫn diễn ra như những năm cũ, mặc dù sếp cũng có bố trí thời gian nghe “bức xúc” của lão. Nhưng lão hiểu, giả vờ thôi, nghe và để đó là chuyện vẫn xảy ra. Ý chí của sếp mới là quyết định.Mọi người vẫn hồ hởi vui vẻ gặp nhau, vẫn nhận bằng khen và vẫn mặt đỏ phừng phừng sau bữa liên hoan mừng công. Ý kiến của những người như lão thì nói ra cũng có ai nghe. May ra, lão nhận được một ánh mắt đồng cảm. Nhưng cũng đã chắc gì có. Lão buồn, đầu bạc thêm.

Cơ quan lại có chuyện nói về cái lão dở hơi. Chỉ có điều, mọi người cứ như thế nào ấy mỗi khi gặp lão. Họ tránh phải gặp, bất đắc dĩ mới gặp. Mỗi lần gặp lão, lương tâm con người hình như lại “nhúc nhắc”. Con người ta đôi khi, mặc dù rất yếu ớt, cũng nhìn ra mình khi có những tấm gương phản chiếu. Chỉ sợ cái sự im lặng. Im lặng ở đây có thể là nhẫn nhục. Nhưng mà lẽ đời có bao giờ thuộc về kẻ yếu.

Tóc lão bạc thêm và lão nghỉ hưu. Nỗi buồn cơ quan chưa được giải toả và có lẽ chẳng bao giờ giải toả được. Lão hạ cánh với nỗi buồn u trầm như thế.





Bây giờ phải đối mặt với cuộc sống thường ngày, lão có nhiều tâm sự muốn nói và có chỗ để nói. Lão tham gia hội các cụ ở tổ dân phố, toàn các cụ đã một thời vang bóng. Lão cảm thấy lão nhỏ bé trước các bậc cao niên nghỉ trước. Lão ít tiếng. Chỉ đôi khi tham gia vài câu đưa đẩy. Trong thâm tâm lão nghĩ, ngày còn đi làm, mình có ý kiến với lãnh đạo đấy, họ đâu có thèm nghe. Bây giờ lãnh đạo là ai, lão đâu có biết. Nói ra phỏng có ích gì? Vậy mà mấy cụ già kia hăng máu gớm, vẫn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, vẫn như đang đứng trên tuyến đầu... Chẳng hiểu sao, cứ nghe các cụ nói là lão hình dung cái cối xay gió và thằng cha quí tộc Đôn-ki-hô-tê. Giống nhau quá nhỉ? Ngày xưa các cụ này có bảo vệ chân lí hăng như vậy không? Lão cứ thầm tự hỏi và đầu  óc để đâu đó bay bay. Những chuyện đó, lão ngại và biết sức của mình, sức tàn của một lão già đã rời khỏi vũ đài. Lão không tham gia

Nhưng chuyện ở nhà không giống chuyện cơ quan. Trong cuộc sống có nhiều mối quan hệ với bà con xóm giềng. Ông nuôi con chó. Con chó mà ị bậy là phiền toái rồi. Phải tìm cách mà tránh đừng để chuyện con chó thành chuyện phải mang ra bàn bạc ở tổ dân phố. Cũng đừng có bao giờ để nó cắn người, đừng để nó sủa ầm ĩ ban đêm và mờ sáng, lúc mà con người vừa mới chợp mắt hoặc còn đang mơ nhức giấc mơ tuyệt đẹp. Khó là thế đấy!

Nhưng đấy vẫn là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện liên quan đến con người với nhau. Ông bà ta có câu “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Nếu vớ phải ông láng giềng khó tính hoặc trái tính là khổ lắm. Cứ thử hình dung xem, ra đụng vào chạm mà toàn những móc ngoáy, những chửi chó mắng mèo, thì hỏi khổ gì hơn cái tuổi già nghỉ hưu đang cần thanh thản.







Lão không mắc những chuyện chó mèo lợn gà đó, chuyện lão mắc là chuyện với con người, chuyện của con người. Vốn dĩ lão hay nghĩ, mà cũng chẳng hiểu sao, cái nghĩ đó nó cứ chẳng giống ai. Ngày còn đi làm đấy, toàn những chuyện chẳng vào guồng vào máy gì hết, cứ một mình một đường đi, tưởng đi một mình thì đường rộng, ai ngờ, vì một mình một đường nên mới bị cản, cản ác liệt ấy chứ.

Đầu năm, mỗi gia đình được phát một tờ “ Đăng ký xây dựng gia đình văn hoá. Khu phố văn hoá”. Việc nên làm qúa đi chứ. Chỉ có cuộc sống văn minh mới có thể có những gia đình văn hoá, khu phố văn hoá. Tờ giấy in sẵn mọi điều khoản, từng gia đình tự xác định và tự cho điểm. Cũng hay! Lão về hưu, bà vợ già đưa tờ giấy cho lão, bảo làm việc với làng nước cho quen đi. Lão ngâm cứu và nhận ra một điều, gia đình lão không đạt được tiêu chuẩn gia đình văn hoá. Lý do là có mấy điểm trong  bản in sẵn đó gia đình lão không đạt yêu cầu. Tỉ như chuyện giữ vệ sinh đường phố, nhà mình nuôi chó thả rông. Bà vợ càu nhàu, rách việc! Thà mình cứ khai như mọi năm. Lại tỉ như, việc nuôi dạy con cái. Bà vợ kêu, chuyện của chúng nó, thằng chồng có đam mê, gái mú thì con vợ nó dạy. Bà vợ càu nhàu, bới ra làm gì, rách việc! Thà mình cứ khai như mọi năm. Lại nữa, việc cha mẹ làm gương cho con cái nhìn vào, hàng xóm nhìn vào, gia đình mình làm cũng chưa được tốt, bọn trẻ bây giờ ăn nói láo lếu, chửi bới văng tục tùm lum, mình là người già, có đóng góp gì cho việc này không? Không, chắc là chưa làm được chút gì. Vậy thì gia đình mình chưa đạt tiêu chuẩn văn hoá. Bà vợ nhăn nhó, chuyện giời ơi, chuyện thiên hạ, ông tham gia làm gì, rách việc. Thà mình cứ khai như mọi năm... Bà vợ chán chường, giằng lấy tờ giấy in sẵn mà ông đang cầm. Tờ giấy đăng kí gia đình văn hoá rách. Vậy là xong. Bà ca cẩm “Thế này thì Văn hoá gì nữa.. Đúng là đồ dở hơi”.

Chuyện của gia đình lão đến tai tổ trưởng dân phố. Thực ra thì cái “gia đình văn hoá” có gì là ghê gớm đâu. Nhưng mà nhà lão không được lại kéo theo một số nhà nữa không được. Cái giấy chứng nhận chẳng để làm gì, thời buổi nay có ai đem nó treo lên tường để khoe với bàn dân thiên hạ nữa đâu, nhưng lại quan trọng cho mấy ông lãnh đạo tổ, lãnh đạo phường. Không có cái đó thì tổ hay phường gì đó mất điểm thi đua. Lại cái cảnh con gà tức nhau tiếng gáy. Ông tổ trưởng đến nói chuyện để lão “thông cảm” cho cái khó của tổ của phường. Lão không nghe. Người nhẹ nhàng như tổ trưởng dân phố, được lòng tất cả bà con, cũng phải thốt lên: “đồ dở hơi”.

Chuyện vậy nhưng chả ai có lí nói được với lão. Thì gia đình lão không nhận, có chết ai đâu, có ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới đâu, an ninh vẫn đảm bảo. Chỉ có cái điều, lão bảo : vô lí và vô bổ, chẳng ra cái quái gì sất! Cũng như chuyện ngày trước ở cơ quan của lão thôi. Đất nước này chỗ nào chẳng như vậy. Lão buồn, đầu còn tí tóc nào bạc nốt.

Nhưng chuyện về vợ chồng đứa con và đứa cháu mới làm cho bà vợ lão “uất ức. Số là, mẹ thì thương con trai và khe khắt một chút với nàng dâu. Đời vẫn thường như thế. Cậu con trai thì còn ham chơi. Đúng mốt thôi. Chúng còn trẻ. Bởi cái tật ham chơi, nghĩa là ham đàn đúm ấy, nó làm cái gia đình nho nhỏ của nó lục đục. Lão ở nhà một thời gian và lão phát hiện, con trai lão nhiễm nhiều thói hư ở đời hơn mức bình thường, hơn hẳn mẹ nó vẫn nghĩ về nó và cũng không ngờ về nó. Cũng vẫn là thói đời cả, hay tốt bao giờ chẳng thuộc về mình, xấu dở là thuộc kẻ khác. Ngoài cái đau của sự đàn đúm với những thành phần "không thật an tâm” ra, con lão còn dính đến tệ nạn. Lão gọi con trai ra răn dạy cái đạo làm chồng, làm bố, làm con. Nghĩa là cái đạo ở đời. Những chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Nhân, chữ Lễ. Đại loại là vốn có bao nhiêu chữ thánh hiền, lão mang ra nói hết với con. Thằng con trời đánh làm bố trẻ con rồi vừa nghe vừa ngáp, được một lúc nó ngủ. Lão bây giờ mới thấm thía cái khổ của người làm cha. Lão không đổ cho vợ nhưng vẫn nghĩ “con hư tại mẹ”.

Chuyện trở nên to, nhà lão như vậy đương nhiên không đạt tiêu chuẩn “gia đình văn hoá”. Bây giờ thì “cái văn hoá” bóng bày hào nhoáng kia không còn tác dụng với bà vợ nữa. Cũng chẳng ai trong nhà thích thú gì cái mỹ từ đẹp đó, cái danh hiệu cao quí đó nữa. Lão âm thầm lên xin các cấp chính quyền cho con lão đi cai. Lại vướng phải sự truy cản của bà vợ và ông tổ trưởng. Ảnh hưởng đến cái tập thể mà ông nắm giữ bao nhiêu năm nay. Chuyện vẫn được giấu kín. Lạ chưa? Chỉ mình lão đau khổ.

Nhưng giấu mãi sao được. Bà con thấy nhà lão không quan tâm đến “cái văn hoá” thì lại thắc mắc “chẳng hiểu nhà lão xảy ra chuyện gì?” Nhưng rồi thì “cái nhà văn hoá” đó nó cũng lịm luôn vì nhiều điều khác của cuộc sống đáng phải lo toan hơn. Chỉ riêng lão, lão thấy “cái nhà văn hoá “được phân phát đại trà để ai cũng hỉ hả sao mà vô duyên thế. Nhưng bây giờ há miệng mắc quai. Nhà mình thế, nói ra người ta lại chẳng bảo là tị nạnh ư. Cái sự đời vốn phức tạp mà!









   ảnh trên internet





 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét