NẺO ĐỜI
Tiểu thuyết
14. Ngân học sĩ quan hậu cần, ngành học đặc lính, nghe đã thấy chất lính bốc ngùn ngụt rồi, ngành quân khí. Đến tận khi học, qua các bài giảng, Ngân mới biết tiền của đổ vào cho quân đội thật vô cùng lớn. Ngày đầu nhập ngũ, nghe nói đến bắn đạn thật cũng rất tốn kém, mà mỗi người chỉ được bắn ba viên, ấy vậy cả đại đội cũng đã tiêu tốn tiền ngàn tiền vạn. Lại thêm một điều rất khắt khe, bao nhiêu vỏ đạn bắn ra phải thu hồi hết. Để so sánh, cán bộ chính trị thường dẫn chứng, một quả đạn pháo, có giá trị bằng một gia đình trung nông làm đằng đẵng cả năm trời. Cứ nghe những con số đó mà phát sợ, muốn bỏ lính luôn. Tiền đâu mà nuôi một đội quân tốn kém đến như vậy. Lại thấy cái sự quan trọng của người chuyên lo bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí, khí tài, đạn dược. Đó chính là cái nghề mà Ngân được phân công học và phải tình nguyện phục vụ lâu dài trong quân đội.
Những
ngày đầu buồn và nhớ. Con người ta như cánh chim. Vậy là xa bọn Ngọc, Nhân và
Sen cả tháng rồi. Những ngày mới nhập trường còn hăm hở với sự mới lạ. Cả bỡ
ngỡ nữa. Rồi quen, rồi buồn, rồi nhớ. Nghe nói trường kỹ thuật kỷ luật cũng
không đến nỗi nào. Vậy mà nghiêm còn hơn cả nghiêm. Kỷ luật còn hơn cả kỷ luật.
Điều đầu tiên học viên được học là kỷ luật và nghiêm. Hình như chỉ có thế. Lơ
mơ là chết. Chết tan thây. Chết mất xác. Mọi công việc cần phải thận trọng và
chính xác. Không được sai, không khi nào được phép sai. Chao ôi, kinh quá.
Chuyện kể có một giáo viên, học bảy năm ở Liên Xô, bằng đỏ hẳn hoi. Nghĩa là
giỏi. Một ông thầy giỏi có thể đào tạo ra hàng chục, hàng trăm thợ giỏi. Vậy mà
cái nghề không cho phép sai một lần trong đời ấy, thầy lại mắc, và đúng là
không còn dịp để thầy sửa sai. Nghe kể mà Ngân cứ nổi gai ốc.
Bài
học đầu tiên chỉ để ghi nhớ, nhớ suốt cuộc đời. Không có điều kiện thực tập về
những chuyện‘‘chết’’như vậy, nên phải nhớ. Những bài học sau lại kích thích
tính tò mò của con người nhiều hơn. Đó là tìm hiểu khái quát về các loại vũ
khí, lần lượt là bộ binh, công binh, pháo binh, hải quân, cao xạ... Cái gì cũng
muốn sờ, muốn nhìn lâu lâu một chút cho bõ. Thầy giáo bảo, yên tâm đi, chỉ sợ
không yêu nghề thôi. Suốt ngày dầu mỡ đấy em ạ. Có vợ chưa ? Chưa hả, rồi
chẳng gái nào nó theo đâu. Như thầy đây này, ba chục tuổi đầu vẫn phòng không
đấy. Cả lớp cười ồ. Tại thầy kén. Không phải đâu, bọn con gái nó biết hết đấy,
nó bảo nghề thầy nguy hiểm, súng với đạn. Nguy hiểm lắm. Nhưng thực tâm chúng
nó thích kỹ sư, bác sĩ hơn, cái nghề này dầu mỡ nhem nhuốc...
Từ
buổi chuyện vui với thầy, Ngân lại nhớ bọn Ngọc, Nhân và đặc biệt nhớ Sen. Dẫu sao
thì cô bé đó cũng để lại một dấu ấn không phai của tuổi học trò ngây ngô, mới
lớn đang hăm hở đòi làm người lớn và để chứng tỏ, đòi luôn cả được yêu. Càng
nhớ, Ngân càng thấy Sen có vẻ đẹp hồn nhiên mang cả tính thánh thiện nữa. Cứ
nghe cô nói về tình cảm với các anh bộ đội thì biết, rất vô tư và ngây thơ. Lại
cả chuyện em mặc bộ đồ dân tộc ra tiễn mình tại sân ga nữa chứ, tình cảm thể
hiện thật trong sáng, chẳng màu mè giả dối chút nào. Tình cảm trong Ngân bỗng
ngân nga, một tiếng ca từ sâu thẳm núi rừng, từ tận đáy con tim, Ngân
viết :
Để ta nhớ
Em tóc dài
Trinh nguyên
gió núi
Áo chàm xanh
Tiếng suối
vọng ảo mờ
Khúc then,
tiếng đàn vồng ngực nhấp nhô
Ngậm hương
rừng bồng bềnh dìu dặt
Lời hát như
cánh chim
Buông lưng
trời
Tôi cảm nhận
qua từng khuôn mặt
Nét mộc mạc
đơn sơ
Mà tỏa hương
se sắt
Cảm ơn đời
vẫn nguyên thủy tinh khôi
Xóm nghèo em
ôm mây chơi vơi
Gờn gợn trong
tôi đời thường tranh chấp
Những cô gái
ôm chiếc đàn dân tộc
Ngón tay xinh
giữ nhịp cuộc đời
Bất chợt ngỡ
ngàng
trước thăm
thẳm núi cao
Mà gần lắm
bởi em đằm
thắm
Đời có thể
sóng xô chìm đắm
Khoảnh khắc
với em ta lại dạt dào
Cơn gió nào
mà cây lá lao
xao
Để ta nhớ…
Đêm không ngủ, nhớ tất cả các
bạn
*****
Nhân viết cho Ngân:
“Không ngờ thằng si tình có một bài thơ hay như thế. Thì hóa ra, khi yêu, tâm
hồn và con tim người ta bay bổng thật. Mày biết không, nhận được thư, tao lập
tức đi tìm Sen. Vẫn là cô bé ngày xưa mày mê mẩn đấy. Mà sao mày biết cô bé chơi
đàn tính nhỉ? Vừa rồi, trường cô bé tổ chức liên hoan văn nghệ, tao đi xem, mới
biết cô bé trong tốp ca của trường, vừa gảy đàn vừa hát “Cô gái Tày, cầm đàn
lên đỉnh núi…” mới phát hiện, người mộng của mày lại thêm một tài năng. Cô ấy
bảo sao “đã hớt lẻo cho các anh ấy rồi, ngượng chết”. Mỗi lần gặp, chúng tao
đều nói chuyện về chúng mày rất nhiều. Chẳng thể nào quên được một thời lính binh
bét, vác chuối nuôi lợn cùng nhau phải không? Cũng may mà do vác chuối nuôi
lợn, bọn mình mới thêm thân nhau hơn. “Có một người bạn khăng khít còn hơn
những người anh em ruột thịt”. Người đời ca ngợi những người bạn tốt như vậy cơ
mà.
Chỗ chúng mày
giờ này ra sao? Xứ Lạng vẫn như xưa, đẹp một cách yên bình. Chuyện chiến tranh
ở đây ít nói tới ngoài mấy ông bộ đội. Sông Kỳ Cùng vẫn trong veo mùa nước cạn
và ngầu đỏ mùa nước lớn. Tao và Sen vẫn vào chùa bên đầu cầu, ngắm đôi bờ dòng
sông, ngồi ăn hồng ngâm và mắc cọoc chua loét ấy, cả quýt nữa chứ, quýt rừng cũng chua. Sen đã
dẫn tao vào rừng quýt. Ngày đó chúng mình cũng muốn đến rừng quýt nhưng toàn
bận vào chuyện tình yêu, tình báo của mày nên lỡ dịp. Khi nào chúng mày lại có
dịp quay lại xứ Lạng để đi chơi nhỉ? Sông Kỳ Cùng, cầu Kỳ Lừa, nhà thờ, sân ga
sớm nào tiễn đưa, cả giếng Tiên nữa. Tao và Sen cũng đã trèo lên đó, lấy bút
máy ra ghi tên mình vào khe đá. Thật dở hơi phải không? Đứng trên ngọn núi này
nhìn thấy hết thị xã, càng thấy cái thị xã nhỏ bé con con này đẹp lắm. “thị xã Lạng Sơn với tôi/dọc ngang sải tay một với/chu
vi vòng tay… chờ đợi / tháp chuông nhà thờ ngẫm ngợi/ con sông Kỳ Cùng xanh
xanh”. Chúng mày thấy đúng thị xã mình chưa? “Tầu vào ga đỗ rất nhanh/ khác nào ga là ga xép/ bóng tầu lẩn vào đêm
rét/ lờ mờ sắc chàm vây quanh/ rêu phong hằn trên mái cổ/ cho tôi cảm giác tự
hào/ biết mình đang thời trai trẻ/ muốn thử sức với trời cao…”. Chúng mày thấy hình ảnh chúng ta ở trong đó
chưa?Những cây phượng trong thị xã mùa này đang xanh mà sao cái thị xã này
trồng nhiều phượng thế. Mỗi lần hè về, nhìn hoa đỏ, nhớ thuở nào da diết. Mình
nói với Sen, em học năm cuối phổ thông rồi, hãy nhìn và nhớ những cảnh này, lần
cuối trong đời học sinh đấy. Vậy là từ khi chúng mình biết Sen, cô bé bây giờ
đã là một thiếu nữ rồi đấy. Đi chơi với cô ta, tự hào phết! Người đẹp của thị
xã đấy.”
... …
Thư còn dài nữa, Nhân vốn là thằng hay chữ từ hồi còn
học với nhau, Ngân đã biết. Gấp bức thư lại. Đọc đi đọc lại cũng buồn. Buồn vớ
vẩn, buồn xa xôi. Vậy mà đã gần hai năm xa Lạng Sơn rồi. Nhanh thế. Chưa khi
nào Ngân lại nghĩ thời gian trôi nhanh như vậy. Một thoáng bóng Sen, bóng Nhân
đang trên rừng quýt. Sen đang bóc quýt đưa cho Nhân như buổi đầu mời ba chàng
lính. Một thoáng tức tối. Ngân nhắm mắt. Vậy có lẽ… Ngân không muốn nghĩ nữa.
Tình đầu dẫu đã phôi pha nhưng chưa thể quên. Mà sao Nhân không nói rõ tình cảm
của nó với Sen để mình biết nhỉ? Chỉ thấy “lúc nào chúng mình cũng nghĩ đến các
cậu…” Có thật vậy không? Thôi, phải bỏ qua thôi…
Lại nhớ chuyện của thầy giáo. Thật hay bịa chưa ai rõ
nhưng đúng là thầy đã ba mươi tuổi mà vẫn “phòng không”. Hay là nghỉ phép về
lại Lạng Sơn chơi nhỉ? Thăm bạn, thăm cố hương… Rủ cả thằng Ngọc cùng đi nữa
cho nó “vô tư”. Những hình ảnh về thị xã Nhân viết đúng thế. “Gác chuông nhà
thờ ngẫm ngợi…” Hay! Cái thị xã bé con con ấy chỉ đáng “một vòng tay” ôm thôi
mà đầy ý nghĩa. Đọc thư của nó lại càng nhớ.
Vậy thì với cách viết của nó, nó không nghĩ đến cô bé
cùng xóm chơi trò vợ chồng nữa rồi. Có người đẹp thị xã lúc nào cũng cặp kè còn
gì. Nó là thằng nhiệt tình vun vào cho mình nhất. Vậy mà… Có thật thế không?
Sau đó mấy ngày, cả lớp xôn xao, thầy giáo ế vợ sẽ lấy
vợ. Cứ tưởng thầy bị chê làm cho học trò của thầy cũng ế theo. Mọi người xúm
vào trang trí hội trường cho ngày cưới của thầy. Cô dâu là một cô giáo dạy toán
ở địa phương. Học toán chắc khô không khốc… Khi đến thông báo với lớp, thày đùa
nói như vậy. Tình yêu mà cứ A cộng B bằng C thì chán chết. Đúng không các bạn?
Các cậu phải lấy các cô dạy văn cho nó tình cảm. Mình nhỡ rồi, không rút kinh
nghiệm được nữa. Nhìn thấy Ngân, thầy nói, bẻm mép như Ngân đây chắc lấy phải
một cô suốt ngày im thin thít cho mà xem. Ghét của nào trời trao của ấy đấy…
Đám cưới của thầy thật vui. Bạn bè của cả thầy và cô
đều nhiều. Hội trường mượn của đơn vị thiếu chỗ ngồi, thành ra kẻ đứng người
ngồi nhấp nha, nhấp nhô. Các cô học trò và các chú lính mới như Ngân được phân
các vai rót nước, giúp việc loong toong trong đám cưới vẫn liếc được nhau. Mồm
mép như Ngân ngay lập tức được các nữ sinh để ý.
Sau các huấn thị của đại diện cơ quan hai họ với câu
thành ngữ được nhắc nhở liên tục “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” là đoạn
văn nghệ cây nhà lá vườn của hai trường mà lớp trẻ và quan viên hai họ chờ đợi
nhất. Đám cưới “Đời sống mới” xôm nhất là vai trò của người dẫn chương trình và
chương trình văn nghệ. Tất cả những bài tình ca, những bài hát hùng tráng về
cách mạng và người chiến sĩ nối tiếp nhau. Xen kẽ những bài hát mà ai cũng
thuộc đôi lời và giai điệu là tiết mục đặc biệt của Ngân. Ngân đọc bài thơ viết
trong những đêm đầu tiên về trường, nhớ về người bạn gái nơi xa: “Để ta nhớ”.
Khi đọc, hội trường im phăng phắc. Một tiết mục lạ, tự biên tự diễn của nhà
trai. Chàng lính đọc với nỗi nhớ u hoài thật lòng về người bạn gái tuổi học
sinh tóc dài ngang vai, nỗi nhớ về mảnh đất đầu đời thuở lính học trò, nỗi nhớ
một mối tình trẻ thơ bỏ ngỏ, nỗi nhớ các bạn thân giờ đã mỗi đứa một nơi. Hình
ảnh núi rừng và khuôn mặt tươi sáng như bông hoa, chao đi chao lại trong đầu
Ngân, tiếng suối róc rách và trong vắt bắt nguồn từ thăm thẳm rừng sâu. Và khi
câu kết “để ta nhớ” chấm dứt bài thơ thì hội trường vang dậy tiếng vỗ tay. Các
bạn nữ sinh ùa lên tặng hoa cho Ngân. Anh lính Ngân của chúng ta rất ga-lăng
mang tất cả hoa tặng lại cho cô dâu. Một hình ảnh đẹp, lạ của đám cưới “Đời
sống mới”.
Khi Ngân xuống đứng cùng các bạn lính của mình, mấy cô
nữ sinh túm đến nói chuyện. Ngân phải kéo các cô gái ra ngoài để chương trình
văn nghệ còn tiếp tục. Và trong số học sinh cấp ba, học trò của cô dâu, Ngân đã
làm quen được nhiều bạn mới.
Nhưng ký ức không thể trôi qua nhanh mà không để lại
dấu vết. Một người còn trẻ, Ngân còn trẻ lắm, điều gì khiến con tim Ngân rung
động, thôi thúc viết ra được những điều như vậy về nỗi nhớ, một nỗi nhớ thổn
thức thì không thể chỉ là người hoạt bát nhưng hời hợt, vô lo, vô nghĩ được. Có
thể nói Ngân là người hoạt ngôn thì đúng hơn. Đó là nói về sự phản ứng tức thì,
nhanh nhạy của con người trước sự việc xảy ra, hoàn toàn không định được trước.
Phản ứng được ngay và được nhiều người chấp nhận là điều không dễ.
Có thể chính cái rạp chiếu phim di động ngày xưa tạo
cho Ngân có sự phản ứng lại nhanh và làm nên một Ngân bẻm mép, như cách dùng từ
của thầy giáo.
Ngày bé học lớp một, lớp hai, Ngân đã từng đứng cả
tiếng đồng hồ bên chiếc máy chiếu phim
quay tay bằng xe đẩy, cái máy chiếu phim mà bọn trẻ con có năm xu tiền vé được
ngó vào tám cái ống nhòm, thông vào một màn hình bên trong chia đều ra hai bên,
dọc thân xe. Khán giả được ngồi trên những chiếc ghế bạt gấp lại được và dán
mắt nghển cổ vào ống nhòm.
Chủ rạp chiếu phim di động này là một ông gia ngoài
năm mươi. Kho phim của ông rất nhiều chủng loại. Có thế mới thu hút được khách.
Từ các loại phim hề của Sác-lơ, đến Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung. Từ các
phim chiến đấu thời chiến tranh thứ nhất, thứ hai với các cảnh máy bay ném bom,
xe tăng tấn công, hồng quân chiến thắng cắm cờ đến phim các phim võ hiệp vật
vã, ám sát giết người ông đều có. Ông chủ rạp phim di động này vừa thuyết minh
phim không cần xem trên màn hình, vừa từ từ quay để các cảnh trong phim chuyển
động. Tiếng thuyết minh làm Ngân đứng bên ngoài cũng sốt ruột, tay cấu sườn
thằng bạn có năm xu cho xem nhờ một tí. Những bộ phim chỉ dài chừng năm mười phút
với lời thuyết minh hấp dẫn từ miệng ông chủ rạp làm bọn trẻ con đứng ngoài ngứa ngáy và mê mẩn. Ngân nghe nhiều nên rất
thuộc và đôi khi nhắc bài cho ông khiến ông chủ rạp rất thích cậu bé. Khi không
đủ khách, trông thấy Ngân đứng cạnh, bao giờ cũng nhường cho cậu cái ghế thừa
sát cạnh để tiện còn vỗ vai cậu đứng dậy trả chỗ cho đứa có tiền.
Trong giờ chơi, nhiều lúc cao hứng khi nhìn thấy một
cảnh nào đó liên tưởng với các bộ phim “ống nhòm”, Ngân cứ vậy nói thao thao
như đang thuyết minh cho khán giả xem phim. Bọn trẻ con rất thú quây lại nghe
Ngân nói. Nói xong một tràng dài như vậy, Ngân cúi đầu rất nghệ sĩ, chào khán
giả và làm động tác xin tiền rất có “nghề”, mặc dù chẳng bao giờ được bọn trẻ
cho một xu.
Có lẽ vì vậy mà giọng đọc thơ của Ngân truyền cảm.
Ngân cứ vậy lớn lên rất “hoang dại”. Bố Ngân công tác
xa, xa lắm tận biên giới Việt-Lào, mỗi năm chỉ về đúng một lần phép. Ông thường
kể cho cả nhà nghe chuyện của núi rừng, chuyện mưa như tầm như tã, chuyện nước
lũ về mênh mông năm nào. Cũng có khi ông kể về chuyện đói và thường xuyên đói.
Ngân thích nhất là chuyện tiễu phỉ của bố. Ngân tưởng tượng chuyện của bố y như
những chuyện chống gián điệp mà Ngân được đọc. Cậu cũng rất thích được phiêu
lưu như bố trong khi bố chỉ mong mỏi được về gần nhà. Đã gần chục năm hòa bình
rồi, bố mẹ vẫn chỉ như cặp vợ chồng Ngâu, mỗi năm chỉ một lần được qua cầu Ô Thước.
Ngân hiểu cuộc đời của bố là núi rừng. Bố nói người ta
sẽ chết nếu không có rừng. Cả đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng, cả đồng bào Kinh
dưới xuôi. Rừng vàng là thế! Bởi vậy, núi rừng đã ăn vào tâm khảm của Ngân,
thành người quen từ rất lâu của Ngân. Gặp Sen, cậu cảm giác ngay đó như một sự
giăng mắc của cuộc đời nếu chắp nối, liên hệ lại: bố và rừng, mình yêu bố và
rừng một cách tự nhiên, Sen và mình… tất cả những cái đó đều liên quan đến
rừng. Đấy có phải là định mệnh.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét